1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ

61 796 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 17,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng việc phối hợp giáo viên — gia đình trẻ trong vấn đề giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động vẽ Chương 3: Đề xuất của các giáo viên về việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIAO DUC TIEU HOC

kkwwwwkwkwkwwwwkk&

HOÀNG THỊ CHÀM

NÂNG CAO HIỆU QUÁ GIAO DUC THAM Mi CHO TRE MAU GIAO LON

TRUONG MAM NON HOA SEN - VINH YEN - VINH PHUC

THONG QUA HOAT DONG VE

KHOA LUAN TOT NGHIEP

Chuyén nganh: Phuong pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô giáo

trong khoa Giáo dục Tiểu học, các giáo viên trường Mầm non Hoa Sen, đặc

biệt là thầy giáo Vũ Long Giang - người đã hướng dẫn tận tỉnh và giúp đỡ tôi

trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này

Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất

mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Hoàng Thị Chàm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận là kết quả cỗ gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu tại trường Đại học Bên cạnh đó, tôi còn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học,

các thầy giáo bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình” và đặc biệt

là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Vũ Long Giang

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Mới số giải pháp nâng cao giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mâm non Hoa Sen — Vĩnh Yên —

Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ” không trùng lặp với bất kì một đề tài nào

khác và chưa được công bồ trên bất kì công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên Hoàng Thị Chàm

Trang 4

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

GDTM: Giáo dục thâm mĩ NXB: Nhà xuất bản

SL: Số lượng

KHXH: Khoa học xã hội

Trang 5

Nhiệm vụ nghiên cứu

giả thuyết khoa học

phương pháp nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lí luận

1.1 Một số vấn đề về giáo dục thấm mĩ và giáo dục thấm mĩ cho trẻ

mẫu giáo lớn

1.1.1 Khái niệm giáo dục thấm mĩ

1.1.2 Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

1.2 Giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn

1.2.2 Một số vấn đề về hoạt động vẽ cho trẻ mẫu giáo lớn

1.2.3 Giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ Chương 2: Tìm hiểu việc giáo dục thắm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường Mam non Hoa Sen — Vĩnh yên — Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ

2.1 Một số nét về khách thể nghiên cứu

2.2 Thực trạng về việc giáo dục thâm mĩ thông qua hoạt động vẽ ở trường Mầm non Hoa Sen — Vĩnh yên — Vĩnh phúc

Trang 6

2.2.1 Thực trạng nhận thức của các giáo viên về vai trò của việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

2.2.2 Thực trạng về việc tố chức và thực hiện các phương pháp nhằm giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

2.2.3 Thực trạng việc phối hợp giáo viên — gia đình trẻ trong vấn đề giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động vẽ

Chương 3: Đề xuất của các giáo viên về việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ

mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

3.1 Đề xuất của các giáo viên về việc giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

Trang 7

Trong đó, giáo dục mầm non là những viên gạch đầu tiên của hệ thống

giáo dục quốc dân Nhân cách của trẻ cũng được hình thành mạnh mẽ trong giai đoạn lứa tuổi này Vì vậy, giáo dục trẻ trong giai đoạn này vô cùng quan

trọng và cần được sự quan tâm của cả cộng đồng

Nhà giáo dục Xô Viết A S Makarenkô khẳng định: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuôi lên 5 Những điều dạy

cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những

nụ hoa thơm đó được vun trồng trong 5 năm đầu

Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đánh giá: “Những năm đâu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của

sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi” “Bằng chứng cho thấy rằng sự chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát

triển nhận thức và xã hội tốt hơn ”

Trong điều 21, 22, Luật Giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục mầm non “Giáo đục Mẫm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc,

giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục Mâẫm non là

giúp trẻ về thé chất, tỉnh than, tri tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tô đầu

tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”

Trang 8

Như vậy, giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo

dục quốc dân Nó là nền móng ban đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn nhân cách bắt đầu được hình thành tuy chưa hoàn toàn định hình nhưng nó có cơ sở tương đối ồn định trong việc tiếp tục phát triển và hình thành nhân cách Các công trình nghiên cứu khẳng định: ở giai đoạn phát triển này “7ính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm

đã tạo nên đặc trưng tâm lí ở tuổi mẫu giáo” (A V Daparojets) Lúc này trẻ đặc biệt dễ đàng tiếp nhận những ấn tượng từ phía bên ngoài mang tính hình

tượng và giàu màu sắc cảm xúc Đó là những cái đẹp trong thiên nhiên, trong

đời sống và trong nghệ thuật Một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ đều dễ gợi lên những rung động trong lòng đứa trẻ Đó chính là những cảm xúc thâm mĩ - những xúc cảm về cái đẹp Hơn nữa, tuổi mẫu giáo lớn là thời

kì nhạy cảm với cái đẹp xung quanh, có thể coi đây là thời kì phát cảm của những xúc cảm, thắm mĩ - những xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với “cái đẹp” Tạo nên tinh thần khoan khoái khiến trẻ cảm thấy gắn bó thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh, làm nảy nở

ở các cháu lòng mong muốn làm những điều tốt lành để đem lại niềm vui đến cho mọi người Vì vậy, tuối mẫu giáo lớn là thời kì “hoàng kim” cho giáo dục

thấm mĩ và chính việc giáo dục thâm mĩ lại có khả năng kì diệu tạo ra hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách đặc biệt là giáo dục đạo đức, giáo dục lòng nhân ái

Ở trẻ mẫu giáo lớn mặt thâm mĩ phát triển nhanh nhất Bởi đặc trưng

tâm lí của giai đoạn này được biểu hiện ở tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm Hơn thế nữa, bản thân sự phát triển thấm mĩ dễ kéo theo sự

phát triển của các mặt khác như đạo đức, trí tuệ và ca thê chất Do vậy giáo

dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn là một việc làm không thể chậm trễ, là một

Trang 9

việc cần được tiến hành một cách nghiêm túc Vì vậy, dé nâng cao chất lượng

giáo dục nói chung và giáo dục thắm mĩ nói riêng cho trẻ mẫu giáo lớn thì việc tìm ra phương thức giáo dục thâm mĩ hiệu quả là vấn đề cần thiết, rất quan trọng và luôn được quan tâm chú ý một cách đặc biệt trong các trường mầm non hiện nay

Giáo dục thắm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn có thê theo nhiều con đường,

nhiều hoạt động và nhiều hình thức khác nhau Song con đường giáo dục

thấm mĩ cho trẻ mầm non thông qua hoạt động vẽ được coi là con đường cơ

bản và hiệu quả cao Bởi hoạt động vẽ ở trường mầm non có vai trò to lớn

trong việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ về trí tuệ, đạo đức và đặc

biệt về mặt giáo dục thâm mĩ Qua hoạt động vẽ và làm quen với các tác

phẩm của hoạt động vẽ tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và tập tạo ra

cái đẹp để chúng nâng cao nhận thức giáo dục thẩm mĩ và vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày như ăn mặc sao cho đẹp, ở sao

cho gọn gàng ngăn nắp Từ đó trẻ có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp

Hơn thế nữa, hoạt động vẽ là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với trẻ mẫu giáo lớn, được tham gia vào tiết học vẽ là trẻ được tiếp xúc, khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh làm cho chúng cảm thấy rất thích thú, say mê muốn tạo ra những cái đẹp, cái hay làm cho quá trình giáo dục có hiệu quả cả về trí tuệ,

đạo đức và đặc biệt là giáo dục thâm mĩ Như một nhà văn đã nói “Phải giáo

dục cho trẻ biết yêu cái đẹp từ tuổi bé nhất vì nó là cơ sở ban đầu cho việc

hình thành nhân cách con người”

Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo

lớn thông qua hoạt động vẽ được thực hiện như thế nào? Thực trạng ở một số

trường Mầm non ra sao? Có những biện pháp gì để nâng cao hiệu quả giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động này?

Trang 10

Việc lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vế” đê tìm hiểu sẽ giúp chúng ta nâng cao trình độ nhận thức Từ

đó tìm ra những phương pháp, biện pháp hữu hiệu trong hoạt động này, phát huy tối đa tác động của nó đối với việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo

lớn Tất cả đều tạo ra cho trẻ một nền tảng vững chắc, thuận lợi cho sự phát

triển toàn diện ở trẻ

như sự cân xứng, sự hài hòa, trật tụ, số lượng, chất lượng với Baumgacten

(Giáo sư người Đức) cho rằng: Cái hoàn mĩ là cơ sở của cái đẹp, sự hoàn mĩ

là nhận thức thuẫn túy bao gồm có li tính và ý chí, do đó sự hoàn mĩ là sự

thống nhất của chân - thiện - mĩ và nhiều quan điểm của các nhà mĩ học

khác

Bên cạnh đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: L.X Vugotxki (1896 - 1955), tri trởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhỉ NXB Phụ nữ, Hà Nội, 19835

C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, TI, NXB Sự thật, Hà Nội (1980) đã

đưa ra quan điểm về cái đẹp: Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người

Krupkaia N.K về giáo dục Mẫu giáo XN 1975 - TR208§ “Cứ để các em

làm con tàu mà các em đi bằng những chiếc ghế, cứ để các em dựng ngôi nhà bằng các mảnh gỗ vụn Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn,

Trang 11

nhận biết những cái xung quanh mà tìm ra lối thoái, phát triển óc tưởng tượng, sáng tạo trong quá trình choi”

Các công trình nghiên cứu về tâm lí học khẳng định: “Tính hình tượng,

tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng của tuổi mẫu giáo” (A.V.Daparojets)

Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thâm mĩ nói chung và việc giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo nói riêng như:

Thẩm mĩ học đại cương của tác giả Tào Văn Ân - Trường ĐH Cần Thơ Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội (1989) của tác

giả Nguyễn Ánh Tuyết

Và nhiều công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích nghiên cứu

Giáo dục thâm mĩ là một nội dung không thể thiếu trong quá trình

chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non Nó có khả năng kì diệu tạo ra hiệu quả to

lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách Tìm hiểu đề tài này, nhằm tìm

ra những biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ

mẫu giáo lớn, giúp trẻ hình thành những xúc cảm thấm mĩ - yêu thích cái đẹp;

tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc, khám phá cái đẹp; phát triển các chức

năng tâm lí như khả năng tri giác sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp Qua tìm hiểu đề tài này còn giúp giáo viên trau dồi những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

- Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen - vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua

hoạt động vẽ

Trang 12

5 Phạm vi nghiên cứu

Việc giáo dục thâm mĩ cho trẻ trong trường Mầm non có thê thực hiện

bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau Nhưng do thời gian và điều kiện có hạn nên trong để tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu và nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả giáo dục thâm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu các vấn đề lí luận về giáo dục thâm mĩ và hoạt động vẽ của

trẻ mẫu giáo lớn

Tìm hiểu thực trạng về giáo dục thấm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh yên - Vĩnh Phúc và bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao việc giáo dục thẩm mĩ trong hoạt động vẽ

7 Giả thuyết khoa học

Hoạt động vẽ là một hoạt động quan trọng trong nội dung giáo dục

mầm non Nó có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách

cho trẻ cả về trí tuệ, đạo đức và đặc biệt là về thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường Mầm non Hoa sen Nhận thức đúng ý nghĩa của hoạt động vẽ trong việc giáo dục trẻ, sẽ làm hiệu quả của giáo dục toàn diện nói chung và giáo

dục thâm mĩ nói riêng được nâng cao

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: thông qua những tài liệu về tâm lí học, giáo

dục học, mĩ thuật học, phương pháp hoạt động tạo hình

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: dự giờ và quan sát tiết học vẽ

+ Phương pháp điều tra: phiếu hỏi, trò chuyện

+ Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị nội dung chính của khóa luận bao gồm:

Chương I: Cơ sở lí luận

Chương 2: Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ

Chương 3: Đề xuất của các giáo viên về việc nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

Trang 14

PHẢN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Một số vấn đề về giáo dục thẩm mĩ và giáo dục thắm mĩ cho tré mẫu giáo lớn

1.1.1 Khái niệm giáo dục thẩm mĩ

1.1.1.1 Khái niệm thẩm mĩ

Thắm mĩ là một phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của tự nhiên, con người và xã hội

Nói đến thắm mĩ không thể không nói đến khái niệm cái đẹp Cái dep

là cái hài hòa, sự cân đối cả trong đời sống vat chat va tinh than Cai đẹp là sự

kết hợp của các quan niệm cả khách quan lẫn chủ quan Đã có rất nhiều quan

điểm của các nhà Mĩ học về cái đẹp Arixtôt cho rằng, cái đẹp có thuộc tính

như: sự cân xứng, sự hài hòa, trật tự, số lượng còn Palaton lại coi cái đẹp là

ý niệm chung được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà tạo thành vẻ đẹp, ông cho rằng cái đẹp có tính chất vĩnh cửu trong mọi thời gian, mọi địa điểm,

mọi ý nghĩa Với Baumgacten - giáo sư người Đức: cái hoàn mĩ là một cơ sở

của cái đẹp, sự hoàn mĩ là nhận thức thuần túy bao gồm có lí tính và ý chí, do

đó sự hoàn mĩ là sự thống nhất của chân - thiện - mĩ Theo Mác: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ

phẩm chất người” Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo

giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo và thích dụng cho

mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái

đẹp” (C.Mac Ănghen Tuyên tập, T1, NXB sự thật, Hà Nội 1980, trang 19) Như vậy, cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người gắn với

quá trình hoàn thiện, hoàn mĩ Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời

sống vật chất lẫn tinh thần

Trang 15

1.1.1.2 Giáo dục thẩm mĩ

Giáo dục thâm mĩ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển

toàn điện đối với trẻ và cần được tiễn hành ngay từ tuổi mẫu giáo

Theo quan điểm của Mĩ học Mac - Lenin, giáo dục thấm mĩ có thể hiểu

theo hai nghĩa:

Nghĩa hẹp: GDTM là quá trình giáo dục có tính trường quy về cái đẹp, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp

Nghĩa rộng: GDTM là quá trình giáo dục và tự giáo dục nhằm phát huy

mọi năng lực của con người theo quy luật của cái đẹp trong đó có việc bôi dưỡng nhận thức, thị hiểu thâm mĩ và lí tưởng thẩm mĩ của con người Xây dựng những tình cảm mạnh mẽ để con ngudi CÓ thê phân biệt rạch ròi giữa cái

đẹp - cái xấu, cái cao cả - cái thấp hèn

GDTM cho trẻ em với tư cách là một môn khoa học để giáo dục trẻ và đây được hiểu như một khái niệm rộng trong đó chủ yếu là giáo dục thái độ

thấm mĩ của trẻ đối với thiên nhiên, đời sống xã hội, lao động, sinh hoạt và nghệ thuật Nhiệm vụ của GDTM là hình thành ở trẻ các quan hệ thắm mĩ đối

với hiện thực, thúc đấy trẻ hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Một cách đơn giản cũng có thể hiểu được cái đẹp trong hiện thực, trong thiên

nhiên, trong lao động sinh hoạt, trong các mối quan hệ và hành vi của con người và trong nghệ thuật, phát triển các quan điểm thị hiếu, tình cảm, nhu cầu và năng lực xây dựng cái đẹp một cách tích cực và sáng tạo

Giáo dục thâm mĩ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích

vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái

đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội

Giáo dục thấm mĩ trong trường Mầm non là quá trình giáo dục nhằm

hình thành ở trẻ những nhận thức đúng đắn về cái đẹp trong tự nhiên, đời

Trang 16

sống xã hội và trong nghệ thuật, phát triển năng lực cảm thụ đánh giá và sáng tạo cái đẹp

1.1.2 Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

1.1.2.1 Ý nghĩa của giáo dục thắm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

Giáo dục thâm mĩ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển,

trẻ mẫu giáo là thời kì “hoàng kim” của giáo dục thâm mĩ Hầu hết trẻ thơ đều

có một tâm hồn nhạy cảm Đối với các em, thế giới xung quanh chứa đựng

bao điều mới lạ, hấp dẫn Trẻ thơ thường tỏ ra dễ xúc cảm đối với người và

cảnh vật xung quanh Tính hình tượng đang phát triển mạnh mẽ hầu như chỉ

phối mọi hoạt động tâm lí của trẻ Với các đặc điểm tâm lí như vậy mà năng

khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi thơ và tất nhiên việc giáo

dục thấm mĩ và nghệ thuật cần tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo để ươm trồng những tài năng cho tương lai

Giáo dục thâm mĩ là một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục

thái độ thấm mĩ đối với thiên nhiên, lao động, đời sống, sinh hoạt và nghệ

thuật Bởi vậy, thắm mĩ thuộc phạm trù quan hệ và đánh giá Khi có quan hệ

đến những đối tượng thâm mĩ, cá nhân bộc lộ thái độ của mình qua sự đánh

giá Thái độ trong tâm lí được lí giải như một mối liên hệ giữa con người với

hiện thực tất nhiên, thái độ phản ánh cả tập hợp, động cơ, tình cảm, ý thức

Thái độ thâm mĩ của trẻ đối với thế giới xung quanh là một hệ thống hoàn chỉnh của những mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc của trẻ với những phẩm

chất mĩ học của xung quanh Thái độ thâm mĩ của trẻ bao gồm: phản ứng xúc cảm của trẻ đối với cái tuyệt vời, cái đẹp, những xúc cảm lành mạnh; hoạt

động sáng tạo của trẻ, nguyện vọng biến đối xung quanh vừa sức mình

Giáo dục nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của giáo dục thâm mĩ

Tuy nhiên, việc nhận thức nghệ thuật rất đa dạng và độc đáo đến mức nó

được tách ra trong hệ thống giáo dục thẩm mĩ như một bộ phận riêng biệt của

Trang 17

nó Giáo dục trẻ bằng các phương tiện nghệ thuật là đối tượng nghệ thuật, một

bộ phận của giáo dục thắm mĩ

Giáo dục thâm mĩ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và giáo

dục trí tuệ Cảm xúc thầm mĩ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ

cái đẹp mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dung, tư tưởng của tác phẩm

nghệ thuật Những cảm xúc thâm mĩ có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đạo đức

của con người và làm cho tính cách của con người thêm cao thượng Cảm xúc thâm mĩ làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ, góp phần giáo dục tính lạc quan yêu đời của các em, mối quan hệ của các em với cuộc sống và những

người xung quanh Giáo dục thâm mi lam cho sy tri giac duoc sac bén hon,

giúp cho việc hiểu cái đã tự giác được sâu sắc hơn và góp phần phát triển

năng lực nhận thức của con người

Giáo dục thẩm mĩ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục

Bản thân lao động được tổ chức tốt là phương tiện giáo dục thẩm mĩ

Với tất cả những ý nghĩa ở trên, giáo dục thấm mĩ là một bộ phận của

giáo dục XHCN, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách phát

triển toàn điện GDTM cần được tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo Các hiện

tượng nghệ thuật tác động vô cùng mạnh mẽ đến trẻ em Bởi vì, trẻ cảm thụ

nhờ tư đuy trực quan hình tượng, nhờ tính dé xúc cảm và nhờ mối quan hệ tích cực của trẻ mẫu giáo đối với hiện tượng xung quanh

Hình thành cơ sở của thị hiếu thâm mĩ thông qua việc tìm hiểu và tiếp xúc với các tác phẩm cô điển của thiếu nhỉ, với các tác phẩm âm nhạc, hội

họa Trẻ học cách nhận biết, yêu mến các tác phẩm chân chính

Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ vẻ đẹp trong cuộc sống xung quanh trẻ

và có ý thức bảo vệ những vẻ đẹp đó Ví dụ: Những bông hoa đẹp, một lớp học ấm cúng và sạch sẽ đều là những cái đẹp trong cuộc sống cần được bảo

vệ và chăm sóc, giữ gìn và nâng nĩu

Trang 18

1.1.2.2 Nội dung gido duc tham mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

Sự phát triển tri giác, tình cắm và khái niệm thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn

GDTM bắt đầu từ sự tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, cảm thụ cái đẹp,

hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật

Theo quan điểm của Mĩ học Mac - Lênin “Sự tri giác cái đẹp được

hiểu là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả nó là những rung cảm thắm mĩ, những tình cảm thắm mĩ”

Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thâm

mĩ Nhìn và nghe là co sở đầy đủ về phương diện tâm lí, sinh lí đề tri giác cái

đẹp Từ “đẹp” sớm ổi vào cuộc sống của trẻ Trẻ say sưa lắng nghe bài hát, sớm bị lôi cuốn một cách vô thức vào những gì sống động, sặc sỡ, hấp dẫn Song, đó chưa phải là tỉnh cảm thâm mĩ mà chỉ là sự biểu hiện ra của hứng

thú nhận thức Cô giáo cần làm cho trẻ chú ý đến những sự vật hiện tượng của

tự nhiên, đến những hành vi của con người, dạy cho các em biết nhìn ra và phát triển được cái đẹp trong đời sống, trong thiên nhiên lao động, tròn hành

vi và hành động của con người, dạy cho các em biết nhìn nhận về phương diện thắm mĩ đối với thế giới xung quanh

Tri giác thẩm mĩ bao giờ cũng có liên quan chặt chẽ với cảm xúc và

tình cảm thẩm mĩ Với trẻ em, đặc điểm của tình cảm thẩm mĩ là niềm vui vô

tư là cảm xúc tâm hồn trong sáng xuất hiện khi thấy cái đẹp Tình cảm thấm

mi gift vai tro rất to lớn trong việc đánh giá các sự vật hiện tượng khác nhau

trong việc rèn luyện thị hiếu thẩm mĩ sau nàycho trẻ

Giáo viên cũng có nhiệm vụ dẫn dắt trẻ đi tìm sự tri giác cái đẹp, cảm

xúc đối với nó đến chỗ hiểu và hình thành các khái niệm, các nhận xét và

đánh giá thâm mĩ

Trang 19

Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ

Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh

động, cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm (từ điển tiếng Việt - NXB - KHXH 1994) Bởi vậy, giáo dục nghệ thuật cho

trẻ là một quá trình khó khăn và phức tạp

Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động trẻ thực hiện

một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính chân thực cao khi thê hiện tình cảm và tư tưởng Hơn nữa đặc điểm tâm lí

được thể hiện rất rõ ở tuôi mẫu giáo là sự bắt chước Đặc điểm này thể hiện

rất rõ trong hoạt động vui chơi của trẻ Trong trò chơi trẻ bắt chước những

hoạt động của người lớn, trẻ biết thể hiện bằng hình ảnh những ấn tượng lấy

trong thế giới xung quanh

Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau Các em lấy tư tưởng từ chuyện cổ tích hay những câu chuyện trong cuộc sống, phim ảnh, từ các vở diễn trên sân khấu các em phối hợp các tri thức, ấn tượng và thống nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh Thường các em mô tả những cái có thé không có trong thực tế (trò chơi trên cung trăng, ước mơ bay lên những vì sao) song tính chân thực của trẻ trong trò chơi vẫn thé hiện rõ nhất

Tính sáng tạo cũng thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác: vẽ, nặn, ca hát, kế chuyện Trẻ thỏa mãn nhu cầu của mình trong việc thé hiện có hiệu quả, bằng hình tượng các ấn tượng của mình Chính ở đây bắt đầu nảy sinh ra chủ định sau đó tìm phương tiện thực hiện và trẻ biết phối hợp các ấn

tượng của mình thu được

Ở tuổi mẫu giáo đã có mầm mống của tính sáng tạo, chúng thể hiện ở

sự phát triển năng lực xây dựng các chủ định và thực hiện nó; ở kĩ năng phối

Trang 20

hợp các tri thức, khái niệm của mình ở việc truyền đạt chân thực tư tưởng,

tình cảm, cảm xúc

Hình thành những cơ sở của thị hiểu thấm mĩ

Sự cảm thụ cái đẹp có liên hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn Thị hiếu thẩm mĩ của con người luôn được biểu hiện ở sự

phán đoán đánh giá

Cần dạy cho trẻ phân biệt được cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch

và cái xấu xí Giáo dục cho các em năng lực trình bày lí do tại sao lại thích bức tranh này, bài hát này, tại sao lại thấy đẹp, tại sao lại thấy không đẹp

Hình thành cơ sở của thị hiểu thâm mĩ thông qua việc tìm hiểu các tác

phẩm cô điền của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội họa Trẻ học cách nhận

biết, yêu mến các tác phẩm nghệ thuật chân chính

Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống xung quanh và

biết bảo vệ nó

Tóm lại, nghiên cứu các nhiệm vụ cơ bản của GDTM cho trẻ mẫu giáo

lớn cho thấy chúng có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách của trẻ,

đồng thời cũng thấy được quá trình GDTM rất phức tạp, nhiều hình, nhiều vẻ

và đòi hỏi ở nhà giáo dục một vốn tri thức và kĩ năng văn hóa thâm mĩ nhất

định

1.2 Giáo dục thắm mĩ cho tré mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn

1.2.1.1 Đặc điểm sinh lí

Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn

trước Về số lượng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 - 6cm, đạt từ 105,5 - 125,2em Về cân nặng tăng khoảng 1 - 2,5kg, đạt khoảng 25,7kg Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng

Trang 21

Về hệ thần kinh, ở trẻ mẫu giáo lớn, cường độ và tính linh hoạt của các

quá trình thần kinh tăng lên rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối

tượng nhất định trong thời gian 15 - 20 phút Đồng thời, lứa tuổi này, vai trò

của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng Tư duy bằng từ đã tăng lên, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần

như ở người lớn, ở chỗ, sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ

vật Vì thế tư duy bằng hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thần

kinh cấp cao của trẻ Ở lứa tuôi này, trẻ có thể đọc và học viết Ngoài ra, do

sự phát triển của hệ thần kinh, nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ cũng giảm xuống, còn 11 giờ trong ngày

Về hệ vận động, trẻ mẫu giáo lớn có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ như ở người lớn Còn việc tiếp thu những thới quen vận động còn

phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập phù hợp

Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ mẫu giáo lớn cũng tăng lên và

biến đổi về chất: Huyết sắc tố: 80 - 90%, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch

cầu 7 - 10 nghìn, tiểu cầu 200 - 300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim

cũng tăng lên từ 80 - 110 lần/phút

Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển

1.2.1.2 Đặc điểm tâm lý

Trẻ mẫu giáo lớn đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt

hang ngày Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ này ở trẻ được diễn ra theo các hướng: Nắm vững ngữ âm, ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kế Trẻ thường dung ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến Ngược lại, khi giận giữ, trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh

Trang 22

Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích

lũy được khá phong phú, không chỉ về đanh từ mà cả về động từ, tính từ, liên

từ, không chỉ hiểu được từ ngữ mà trẻ còn nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng đủ đề diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày

Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc: Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng nắm được ý nghĩa của các từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của

người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là

nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tỉnh

vi nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái

Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý

Tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có biểu hiện ý chí tương đối lâu Trong sự phát triển

các hành động ý chí của trẻ có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: Thứ nhất

là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ

giữa mục đích của hành động với động cơ, thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động

Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư đuy trực quan sơ

đồ và những yếu tố của kiêu tư duy logic Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu

rằng, có thể biểu thị một sự vật hay một hình tượng nào đó bằng từ ngữ hay

các kí hiệu khác nhau khi phải giải những bài toán tư duy độc lập

Cả tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng đều liên

hệ mật thiết với ngôn ngữ Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn

Trang 23

Tiến vào bước ngoặt 6 tuổi Tuổi mẫu giáo lớn là thời kì trẻ dang phat

triển tiễn vào bước ngoặt 6 tuổi với sự biến đối của hoạt động chủ đạo Hoạt

động vui chơi vẫn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những

yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan

trọng khiến các nhà giáo dục cần phái quan tâm, một mặt là giúp trẻ hoàn

thiện những thành tựu phát triển tâm lý suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích

cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập

và cuộc sống ở trường phô thông

Một mặt quan trọng của trình độ chuẩn bị sẵn sảng về mặt tâm lý cho

việc học tập là làm sao cho trình độ phát triển ý chí của trẻ đủ để có thê điều

chỉnh hành vi của mình tuân theo nội qui của nhà trường và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra, tự giác tuân theo qui định nơi công cộng

Tính chủ định của các hoạt động tâm lý cũng cần được tăng tiến để trẻ

có thể kiên trì theo đuổi các mục đích học tập, là tiếp nhận những tri thức

khoa học có hệ thống Những hoạt động trí tuệ như quan sát, ghi nhớ, tư duy cần phải đạt tới một mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức khoa học một cách dễ dàng

Đứa trẻ bước vào trường học cần phải có một tri thức nhất định về thế

giới xung quanh, về giới hữu sinh, về con người và lao động của họ về nhiều

mặt của đời sống xã hội, về các chuẩn mực đạo đức hành vi Đặc biệt là khơi

dậy ở trẻ lòng ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới

tự nhiên và cuộc sống xã hội

Trình độ phát triển ngôn ngữ được coi là một điều kiện hết sức quan

trọng trong việc lĩnh hội các tri thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa học

xã hội Bởi vậy, lứa tuổi mẫu giáo lớn, việc trẻ em sử dụng thông thạo tiếng

Trang 24

mẹ đẻ được coi là yêu cầu nghiêm túc Trước khi đến trường, trẻ phải biết nói

năng mạch lạc khi giao tiếp với người xung quanh, biết sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện dé tu duy, dé giao tiếp

Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sang về mặt tâm lý cho việc học tập ở

trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh

chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý

thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung Đó là những động cơ xã hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi

1.2.2 Một số vấn đề về hoạt động vẽ cho trẻ mẫu giáo lớn

1.2.2.1 Khái niệm hoạt động vẽ ở trường mầm non

Hoạt động vẽ (cho lứa tuổi mầm non) là hoạt động tạo ra sản phẩm trên mặt phẳng giấy bằng các chất liệu khác nhau Ở hoạt động này trẻ phải quan sát đối tượng, nhận xét thông qua ước lượng bằng mắt về hình dáng, tỉ lệ và

diễn tả lại trên nền giấy bằng cảm nhận riêng của mình Vì thế bài vẽ của trẻ

chỉ điển tả được “hao hao” với mẫu thực, nhưng cần rõ đặc điểm và hồn

nhiên, trong sáng Màu sắc của bài vẽ thường tươi sáng, có thể là như thực

hoặc vẽ màu theo ý thích (không giống thực), nhưng cần có sự thay đổi về độ

đậm nhạt

Hoạt động vẽ bao gồm nhiều nội dung:

Vẽ mẫu (vẽ theo mẫu): trẻ nhìn mẫu có thực hoặc nhớ lại những gì đã

thấy và vẽ lại sao cho rõ đặc điểm Mẫu để cho trẻ vẽ là đồ vật (cái bát, cái lọ ); quả cây (quả táo, quả cam, xoài, bưởi ); con vật (con vật nhồi bông hoặc bằng nhựa )

Vẽ trang trí: trẻ quan sát hình minh họa hoặc đồ vật để tập vẽ nét, vẽ họa tiết; sắp xếp họa tiết theo cách nhắc lại, xen kẽ hoặc đối xứng và vẽ màu

tự đo Các loại bài tập thường là: trang trí cơ bản (đường điềm, trang trí hình

Trang 25

vuông, hình tròn) và trang trí ứng dụng (trang trí đường diềm ở khăn, áo, váy, trang trí cái khăn vuông, cái đĩa tròn, cái lọ hoa )

Vẽ tranh: trẻ tập vẽ tranh các thể loại đơn giản như: tranh tĩnh vật (lọ hoa, quả); tranh phong cảnh, tranh chân dung, tranh đẻ tài sinh hoạt và tranh các con vật quen thuộc Tranh vẽ rõ nội dung (có hình ảnh chính, phụ) và vẽ

mau tu do

1.2.2.2 Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn

Trẻ mẫu giáo lớn đã hình thành kiểu tư duy mới - trực quan sơ đồ giúp

trẻ hiểu được những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Đây là một

bước ngoặt về sự phát triển tư duy của trẻ chuyền từ tính hình tượng sang tính trừu tượng Ở độ tuổi này, do sự phát triển về thê lực, cơ bắp và sự khéo léo của vận động, trẻ đã có khả năng sáng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá phức tạp Cùng với sự tăng lên ngày càng phong phú của kinh

nghiệm nhận thức, xúc cảm, tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và

vẻ hấp dẫn của các hình vẽ khái quát với những nét đơn điệu, sơ lược Đặc

biệt, trẻ ở độ tuổi này khá linh hoạt trong việc biến đối, phối hợp tính chất của

các đường nét và hình thê đề thể hiện hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình

tượng, sự vật cụ thể Ở độ tuổi này, nhiều trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong

phú về cảm giác màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ

linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật hiện tượng trong hiện thực

và làm quen trong quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc Tính tích cực quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc

một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung vẽ, qua đó mà

biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình qua những bức tranh trẻ vẽ

Trang 26

Cụ thể như sau:

Về sử dụng phương tiện vẽ:

Trẻ mẫu giáo lớn biết cầm bút, màu, chì gọn nhẹ, thoải mái hơn

Điều khiển các khớp ngón tay, cổ tay linh hoạt

Về nét vẽ, vẽ hình:

+ Trẻ vẽ nét theo ý muốn, định hướng được dài - ngắn, cao - thấp - vừa với bố cục cho phép

+ Nét vẽ không bị gò bó về kĩ thuật, mà đưa nét vẽ theo sự thích thú

Hình vẽ đã rõ đặc trưng của đối tượng, những hình ảnh phục vụ cho nội dung

xuất hiện ngày càng nhiều tạo cho bài vẽ rõ đề tài, phong phú và vui mắt

Tuy nhiên bài vẽ của một số trẻ ở lứa tuổi này còn có một số điểm cần

lưu ý như vẽ hình nhỏ và đều làm cho bài vẽ vụn, xếp hình nhiều bài vẽ trở

nên rối, sắp xếp hình vẽ như kẻ, liệt kê

Về vẽ màu:

Vẽ màu tươi sáng, đã chú ý đến độ đậm nhạt của màu gọn trong hình

Tuy nhiên, trẻ khi vẽ màu thường di nhiều lần làm cho lì, bóng lên, khó đẹp; còn yếu về màu bột và màu nước

Vẽ theo mẫu

- Về quan sát, nhận biết:

+ Trẻ mẫu giáo lớn đã có quan sát có chủ định hơn - quan sát có nhận

xét để hiểu biết về đối tượng, quan sát từ bao quát đến chỉ tiết, tìm ra đặc

điểm của vật mẫu: hình dáng, đường nét tiêu biểu và tí lệ bộ phận

- Tìm ra cách vẽ: từ hình hướng dẫn trẻ biết vẽ gì trước, vẽ gì sau

- Hình vẽ: đã rõ đặc điểm

- Vẽ màu: vẽ theo cảm nhận riêng Ví dụ: mẫu là một bông hoa màu đó, một quả táo màu xanh nhưng trẻ có thể vẽ bông hoa màu hồng, quả táo

màu đỏ

Trang 27

Vẽ trang trí

- Trẻ ở lứa tuổi này biết được cách sắp xếp họa tiết trong các hình thé trang trí: đường diềm, hình vuông và một số đồ vật quen thuộc như khăn,

áo, mũ, bát

- Trẻ nhận ra cách sắp xếp họa tiết: nhắc lại, xen kẽ, đối xứng

- Trẻ vẽ được họa tiết theo mẫu hoặc tự vẽ vào các hình trang trí theo các cách: nhắc lại, xen kẽ

- Vẽ màu vào họa tiết và nền, có đậm có nhạt, màu ít ra ngoài hình

Vẽ tranh

- Trẻ biết được các loại tranh: phong cảnh, tĩnh vật

- Trẻ biết cách vẽ tranh, vẽ được các hình ảnh có các hình ảnh rõ nội dung

- VỀ màu sắc: vẽ màu theo cảm nhận riêng, vẽ màu kín mặt tranh, có đậm, có nhạt

1.2.3 Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ 1.2.3.1 Chức năng của giáo dục thấm mĩ trong hoạt động vẽ đối với trẻ mẫu giáo lớn

Khi phản ánh về cuộc sống, hoạt động vẽ có chức năng góp phần làm

thỏa mãn các nhu cầu về cái đẹp, trau dồi năng lực và thị hiếu thẩm mĩ cho

trẻ Hoạt động vẽ làm thỏa mãn những nhu cầu về cái đẹp bằng cách tạo cho trẻ những rung động sâu sắc về tình cảm: một bức tranh đẹp, hình ảnh ngộ nghĩnh, có màu sắc tươi sáng hấp dẫn trẻ, cái đẹp do chính bàn tay tự vẽ ra là

cái đẹp chân thực, là sản phẩm của chính bản thân trẻ, được tô điểm bằng

những màu sắc trẻ yêu thích và chính mắt trẻ nhìn thấy Nó có khả năng nuôi

dưỡng những xúc cảm thâm mĩ, sự sáng tạo, tưởng tượng và giúp con trẻ phát triển những phẩm chất nghệ sĩ vốn có của mình

Trang 28

Hoạt động vẽ là một trong những nội dung giáo dục thâm mĩ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, thông qua đó phát triển cảm giác, tri giác,

phát triển khả năng cảm thụ và sáng tạo, đồng thời vẽ còn là sự biểu lộ thái

độ, tình cảm yêu ghét của trẻ với thế giới xung quanh

Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng là một hoạt

động nghệ thuật, tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển cám

giác, tr1 giác thâm mĩ: việc quan sát, tìm hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra đặc điểm thắm mi (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỉ lệ, sự sắp xếp không gian, ) nhận ra nét độc đáo, tạo nên sức hấp dẫn của đối tượng miêu

tả

Các đặc điểm thâm mĩ phong phú và đa dạng của đối tượng miêu tả là những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, những xúc cảm

thấm mĩ (cảm xúc về vẻ dep của hình, màu, nhịp điệu, ) Từ các xúc cảm

thâm mĩ hình thành nên những tình cảm thâm mĩ, thái độ thâm mĩ, giúp trẻ

biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên và từ các tác phẩm nghệ thuật

Quá trình thể hiện các sản phẩm vẽ là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận

dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm vẽ của trẻ ngày càng trở nên sinh động, đầy sức hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật

Khác với mọi hoạt động khác trong trường mầm non, tham gia hoạt

động vẽ trẻ không chỉ được làm quen với cái đẹp trong đời sống mà cả trong nghệ thuật (qua tranh ảnh, các sản phẩm vẽ, ) Các sản phẩm vẽ phù hợp với lửa tuổi sẽ mở ra trước mắt trẻ sự phong phú sống động, vẻ rực rỡ của các

màu sắc, hình dang,

Su phan anh hién thuc va biéu 16 tinh cam qua cac phuong tién truyén

cảm đặc trưng cho loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, hình dạng, bố

cục, màu sắc, chính là con đường lĩnh hội các kinh nghiệm văn hóa thẩm

Trang 29

mĩ rất phù hợp với lứa tuối của trẻ em, trên cơ sở đó mà hình thành thị hiếu

thâm mĩ sau này

Đối với trẻ thế giới xung quanh thật mới mẻ và lí thú, trẻ luôn muốn

thông qua mọi phương tiện để biểu đạt những cảm xúc của mình Trong điều kiện khả năng ngôn ngữ phát triển chưa hoàn thiện thì hội họa là phương tiện

để biểu đạt hiệu quả nhất, lí thú nhất, đặc biệt là trẻ ở gần tuôi đi học lớp một

Hơn thế nữa, tranh vẽ cũng là một phương pháp truyền đạt thông tin khá hiệu quả của trẻ

Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ đã tiếp thu một lượng tri thức đáng kế

về thế giới xung quanh do trẻ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy hoặc

do người lớn kể lại qua các câu chuyện, phim ảnh Từ đó thế giới biểu tượng của trẻ cũng phong phú dần lên và làm nảy sinh tính ham hiểu biết, hứng thú

nhận thức, muốn khám phá những điều mới lạ Xuất phát từ đó trẻ bắt đầu quan tâm đến các kiểu đáng, cách trang trí, thiết kế, bỗng kết hợp lại với nhau

và được trẻ thể hiện qua tranh vẽ một cách tượng trưng Những nét vẽ nguệch

ngoạc, hồn nhiên, hết sức bình dị nhưng rất cần thiết trong quá trình hình

thành khả năng cảm thụ cái đẹp và khả năng tư duy sáng tạo của trẻ Từ

những nét vẽ, bức tranh đó chính là cảm xúc, tình cảm là ước mơ mà trẻ đã

thể hiện trên trang giấy

Lứa tuối mẫu giáo lớn là lứa tuôi tràn ngập xúc cảm, phát triển trí tò

mò, trí tưởng tượng bay bồng, khả năng liên tưởng mạnh Vì vậy, đây là giai

đoạn tối ưu, là “mảnh đất” màu mỡ để gieo hành vi sáng tạo Mọi trẻ em đều tiềm ấn năng lực sáng tạo, sự sáng tạo của người lớn là tạo ra cái mới, cái độc

đáo, gắn với tính chủ đích, có tính bền vững và thường là kết quả của quá

trình nỗ lực tìm tòi Sự sáng tạo của trẻ lại khác, thường bắt đầu bằng sự tái tạo, bắt chước, mô phỏng và thường không có tính chủ đích

Trang 30

Thế giới trong mắt trẻ thơ là một thế giới sinh động, rực rỡ sắc màu và

được trẻ thể hiện những điều trẻ muốn nói qua những “tác phẩm nghệ thuật” mang dấu ấn của riêng mình Những gì trẻ miêu tả trong tranh vẽ thể hiện trí tưởng tượng vô cùng phong phú, đáng yêu và ngộ nghĩnh Màu sắc, đường nét mà trẻ vẽ nhiều khi phi lí, trái với thực tế nhưng lại vô cùng có lí khi nghe trẻ lí giải Ví dụ: trẻ vẽ những đường ngoằn ngoẻo sau con gà và bảo đó là con gà đi vệ sinh Chúng ta thường có thói quen dùng màu sắc thực tế để tô màu nhưng với trẻ màu sắc không nhất thiết là màu xanh tô lá cây, màu nâu tô cho mặt đất điều thú vị nhất khi khám phá các tác phẩm của trẻ là những điều diễn giải thú vị đằng sau những nét vẽ ngộ nghĩnh, ngây thơ

Trẻ 5 tuổi hình thành kiểu tư duy mới - trực quan sơ đồ giúp trẻ hiểu

được những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Đây là một bước ngoặt trong sự phát triển tư duy của trẻ chuyền từ tính hình tượng sang tính trừu

tượng, ở tuổi này do sự phát triển về thể lực, cơ bắp và sự khéo léo của vận

động, trẻ đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá phức tạp Cùng với sự tăng lên ngày càng phong phú của các kinh nghiệm

nhận thức, các ấn tượng, xúc cảm, tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn

chế và vẻ hấp dẫn của các hình vẽ khái quát với những đường nét đơn điệu, sơ

lược Đặc biệt trẻ ở tuổi này khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường nét và hình thể để thể hiện hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi

hình tượng, sự vật cụ thê Ở tuổi này nhiều trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong phú về cảm giác màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ

linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật hiện tượng trong hiện thực

và làm quen qua quá trình tri giác với một số cách phối hợp sử dụng màu sắc

một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó

mà biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình qua những bức tranh trẻ vẽ

Ngày đăng: 08/10/2014, 02:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Thị Hoài - Đinh Văn Vang Khác
2. Đỗ Văn Khang (2002), My hoc dai cuong, NXB Dai hoc Quéc Gia Khác
3. Bộ Giáo dục đào tao (2009), Tạp chí giáo đục số 214 (kì 2/5/2009), Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến Phương Khác
4. Nguyễn Quốc Toán (Đại học Huế trung tâm đào tạo từ xa)(2006) - Phương pháp hoạt động tạo hình cho trẻ mâm non, NXB Giáo dục năm2006 Khác
5. Nguyễn Ánh Tuyết (2005), Giáo dục học Mâẫm non những vấn đề li luận và thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm Khác
6. Nguyễn Ánh Tuyết (1989), Giáo dục cái đẹp cho (rẻ thơ, NXB Giáo dục Hà Nội Khác
7. Lê Thanh Thủy (2006), Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho tré mam non, NXB Dai hoc su phạm. Tâm lí học lứa tuổi mâm non, Đại học sư phạm Hà Nội Khác
8... Bộ Giáo dục và đào tạo, Luật giáo duc 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2:  Thực  trạng  sử  dụng  các  phương  pháp  trong  giáo  dục  thấm - Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ
ng 2: Thực trạng sử dụng các phương pháp trong giáo dục thấm (Trang 36)
Bảng  3:  Thực  trạng  sứ  dụng  các  hình  thức  tổ  chức  trong  hoạt  động  vẽ - Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ
ng 3: Thực trạng sứ dụng các hình thức tổ chức trong hoạt động vẽ (Trang 38)
Bảng  4:  Thực  trạng  việc  khuyến  khích  các  hoạt  động  sáng  tạo  của  trẻ - Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ
ng 4: Thực trạng việc khuyến khích các hoạt động sáng tạo của trẻ (Trang 39)
Bảng  5:  Thực  trạng  việc  phối  hợp  giữa  giáo  viên  và  gia  đình  trẻ  trong  vấn  đề  giáo  dục  thẩm  mĩ  cho  trẻ  thông  qua  hoạt  động  vẽ - Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thông qua hoạt động vẽ
ng 5: Thực trạng việc phối hợp giữa giáo viên và gia đình trẻ trong vấn đề giáo dục thẩm mĩ cho trẻ thông qua hoạt động vẽ (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w