LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Chuẩn mực ngôn ngữ và thực trạng mắc lỗi chính tả ở lớp 2A1 trường Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc” là công trìn
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận này, chúng tôi xin chân thành cảm
ơn tới Ths Lê Bá Miên - người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ chúng tôi
rất nhiều trong quá trình thực hiện bài khóa luận của mình
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện khóa luận tôi còn nhận được rất
nhiều sự động viên, giúp đỡ từ gia đình, người thân và tập thé các bạn trong lớp Do đó, kết quả cũng như tính khả dụng của bài luận văn này trong thực tế
là lời cảm ơn sâu sắc nhất của em gửi tới mọi người và là nguồn động lực để chúng tôi có thể tự tin vào các kiến thức mình đã thu được sau khi tốt nghiệp
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Chuẩn mực ngôn ngữ và thực trạng mắc lỗi chính tả ở lớp 2A1 trường Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc” là công trình nghiên cứu của bản thân Những phần sử
dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong tài liệu tham
khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực
Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và
nhà trường đề ra
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Tú Oanh
Trang 33 Muc dich, yéu CAU ceececscsecececscsesscscsesesusecsnscsusessesesesecsesesessescaussacassnsusaceeecanees 4
4 Nhiệm vụ nghiÊn CỨU - - << x1 11 11911 1 1 9 vn nh ng gà 5
5 Phương pháp nghiên CỨU 6 6 SE 9191 11 1 011 ng re 5
6 Giả thuyết khoa hỌC: 2-2-2 Ss2S+EE9EE2EE2E1211221173211211211211211 2111111 xe 6
7 Giới hạn vấn đề nghiên cứu - 2 2+2s+EE+EESEE2EE2E12212112112112121x xe 6 PHAN 2: CHUAN MUC NGON NGU VA THUC TRANG MAC LOI
CHÍNH TẢ Ở HỌC SINH LỚP 2A; TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN HOA
- THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC ¿©-2+cxz+ce+re¿ 7 CHƯƠNG 1: CHUẦN MỰC NGÔN NGỮ 52cc2ccccccccccee 7 1.1 Chuẩn mực ngôn ngữ là gÌ? -:¿- 2-52 22<2E 2222111122121 creC 7 1.2 Chuẩn mực chính tả là gÌ? 2¿©22+222++vSE++tEEkxrSrxxretrrerrrxrrsrkree 10
CHUONG 2: THUC TRANG MAC LOI CHINH TA O HOC SINH LỚP 2A, TRUONG TIEU HOC XUAN HÒA THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH
" n n6” 30
2 Kiến nghị 2 2-52 <2EESE32E32112112112152112111112152121211E1111111121 211C 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 222 S52 +52 SE2SE92E2E12 2122122521221 221 23 xe 31
Trang 4
Mục tiêu của giáo dục tiêu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban
đầu cho sự phát tiền đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các kỹ năng cơ bản
Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban
đầu hết sức quan trọng đề tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới
Ở tiểu học, chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học Tiếng Việt là rèn luyện kỹ năng viết chính tả và
kỹ năng nghe cho học sinh kết hợp rèn luyện một số kỹ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh Mở rộng vốn hiểu biết về con người, cuộc sống góp phần hình thành nhân cách con người mới Phát triển tiếng mẹ
đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữ viết.Dạy tốt chính tả cho học sinh
tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kỹ năng cơ bản mà các em cần đạt tới.Đó là kỹ năng viết đúng, muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì học sinh phải viết đúng đơn vị từ
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kỹ năng viết đúng
đơn vị từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kỹ năng sử
dụng tiếng Việt có hiệu quá Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, người xưa thường nói “Nét chữ nết người”
Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các
từ của một ngôn ngữ.Nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của một
Trang 5ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân.Mục đích của nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết và
người đọc thông nhất những điều đã viết
Trong thực tế hiện nay, thói quen và viết đúng chính tả của học sinh
tiểu học chưa tốt.Đặc biệt là đối với học sinh tiểu học ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa do điều kiện học tập ở nhà trường còn hạn chế.Các em ít được
rèn luyện về ngôn ngữ qua các phương tiện sách báo
Một trong những nguyên nhân đưa đến thực trạng học sinh viết sai lỗi
chính tả hiện nay là đo các em đọc như thế nào viết như thế ấy
Các em chưa nắm vững ngữ âm của chữ quốc ngữ và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả cơ bản
Tiếng Việt là một trong những bộ môn quan trọng trong nhà trường nhằm thực hiện mục đích giáo dục phát triển toàn diện nhân cách học sinh
Mục đích của dạy môn Tiếng Việt là: Dạy cho học sinh biết sử dụng Tiếng
Việt để giao tiếp và mở rộng hiểu biết thông qua các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết, thông qua các giờ dạy môn học này có nhiệm vụ phát triển năng lực, trí tuệ của học sinh, rèn luyện cho các em phương pháp suy nghĩ và giáo dục cho các em những tình cảm mới Đọc đúng thành thạo Tiếng Việt, viết đúng thành thạo chữ Việt là hai yêu cầu cơ bản nhất, trọng tâm nhất trong suốt quá trình học tập của học sinh trong nhà trường tiểu học Đó cũng là hai yêu cầu luôn tồn tại song song với nhau.Có đọc đúng thành thạoTiếng Việt mới giúp các
em viết đúng chữ Việt.Ngược lại, quá trình viết là quá trình giúp các em tư
duy chính xác lại kí hiệu về âm, vần, tiếng, từ cũng như kí hiệu về ngữ âm,
ngữ pháp trong Tiếng Việt Qua đó kĩ năng đọc của các em được củng cố thêm, góp phần lớn vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Trong quá trình viết thì viết chính tả luôn luôn được coi trọng trong hàng đầu Học tốt
Trang 6môn chính tả ở bậc tiểu học sẽ giúp cho các em có một nền tảng vững chắc để
tiếp thu và học tốt các môn học khác và dễ dàng học tốt ở các lớp trên
Cơ sở lý luận: Kĩ năng viết chính tả của học sinh lớp 2A1 trường Tiểu
học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc còn ở mức độ thấp
Cơ sở thực tiễn: Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, hiện tượng học sinh
viết sai lỗi chính tả là rất phổ biến Muốn khắc phục được tình trạng viết sai lỗi chính ta hiện nay của học sinh tôi tiến hành điều tra, khảo sát để nắm được những lỗi chính tả phố biến của học sinh Các em còn mắc rất nhiều lỗi chính
tả, mắc lỗi về phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh và viết hoa Tình trạng đó có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan của giáo viên
và học sinh trong đó có nguyên nhân thuộc về cách phát âm lệch chuân của từng địa phương, và các em chưa nắm được các quy tắc viết chính tả
4 Lịch sử đề tài
Vấn đề chính tả luôn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng
đã đạt được rất nhiều thành quả.Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề chính tả đã ra đời
Năm 1976, Hoàng Phê trong tạp chí Ngôn ngữ số I đã bàn về: “Một số nguyên tắc giải quyết vấn đề chuân hóa chính tả” Trong đó, đã đề cập đến những quy định về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách viết các âm, cách phiên âm nước ngoài
Trong những năm gần đây, vấn đề chính tả được quan tâm nhiều hơn
Năm 1997, Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn giáo trình tiếng Việt thực hành A — Nha xuất bản Đại học Quốc gia kế thừa những thành tựu đi trước tác giả đã nghiên cứu về quy tắc viết hoa và quy tắ phiên âm tiếng nước ngoài Phân loại lỗi chính tả và đưa ra biện pháp khắc phục chung Tác giả cũng đưa ra những mẹo luật để nhằm khắc phục những lỗi đó
Trang 7Năm 2006, tác giả Hoàng Anh viết cuốn Số tay chính tả - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Cuốn sách đã chia ra những lỗi tiêu biểu và một số mẹo luật chính tả nhằm khắc phục chúng
Đến năm 2007, Nguyễn Thi Ly Kha viết cuốn Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản - Nhà xuất bản Giáo dục Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến các quy tặc viết chính tả tiếng Việt, cách chữa lỗi thông thường về chính
tả và cách quy định tạm thời về cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa Gần đây nhất, nhà nghiên cứu ngôn ngữ Giáo sư Phan Ngọc đã viết cuốn Mẹo chữa lỗi chính tả - Nhà xuất bản Khoa học Xã hôi vag Nhân văn
2009 Trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu về nguyên tác dạy mẹo chính tả, tìm hiểu về cấu tạo âm tiết tiếng Việt và cách phân biệt từ Hán - Việt.Tác giả cũng cung cấp một số mẹo phân biệt chính tả và một số dạng bài tập chính tả
3 Mục đích, yêu cầu
3.1: Mục dich
Để hoàn thành đề tài “Chuẩn mực ngôn ngữ và thực trạng mắc lỗi
chính tả ở lớp 2A1 ở trường Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh
Vĩnh Phúc” cần có những mục đích sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính tả Tiếng Việt và dạy học chính tả trong nhà trường tiểu học
Nghiên cứu về thực trạng lỗi chính tả của học sinh lớp 2A1 trường Tiểu
học Xuân Hòa — Thị xã Phúc Yên — Tỉnh Vĩnh Phúc
Đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng viết sai lỗi chính tả của
học sinh
3.2: Yêu cầu
Đề đạt được mục đích của đề tài này cần những yêu cầu sau:
Trang 8Tập hợp và nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đê tài (Chuẩn mực ngôn ngữ và thực trạng mắc lỗi chính tả ở học sinh lớp 2A1
trường Tiểu học Xuân Hòa -Thị xã Phúc Yên -Tỉnh Vĩnh Phúc)
Thống kê và phân loại được lỗi thường mắc ở học sinh lớp 2A1 trường
Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài “Chuẩn mực ngôn ngữ và thực trạng mắc lỗi chính tả ở học sinh lớp 2AI trường tiểu học
Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Hai là, tìm hiểu thực trạng mắc lỗi chính tả ở lớp 2A1 trường tiểu học Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Ba là, đưa ra các biện pháp khắc phục lỗi chính tả thường mắc của học sinh lớp 2A1 trường tiêu học Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
5 Phương pháp nghiên cứu
Qua đợt thực tập, tôi nhận thấy được những mặt ton tại của học sinh khi
viết chính tả là: chữ viết không cần thận, sai rất nhiều lỗi chính tả, những chữ rất đơn giản và gặp thường xuyên mà có em vẫn viết saicacs tiếng có âm đầu trích; s⁄x; d/gi/r; ng/ngh; g/gh Sở di các em thường viết sai là do không nắm vững quy tắc viết chính tả hoặc đo ảnh hưởng cách phát âm của địa phương
Vậy muốn học sinh viết đúng chính tả, trước tiên giáo viên phải giải thích cho học sinh hiểu nghĩa các từ khó, phân tích kĩ những từ học sinh thường viết sai
trên lớp, có như thế thì mới khắc phục lỗi chính tả cho các em
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đề ra, tôi xây
dựng nhóm phương pháp sau:
-_ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Trang 9Nghiên cứu tài liệu, các khóa luận tốt nghiệp và luận văn có liên quan
đến đề tài
-_ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp điều tra
Phương pháp quan sát
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
Quá trình tiến hành nghiên cứu dé tài đề tài như sau:
Bước I: Tập hợp và xử lý về lý luận
Bước 2: Điều tra, thống kê
Bước 3: Xử lý số liệu, điều tra thống kê
Bước 4: Viết khóa luận
6 Giả thuyết khoa học:
Nếu việc tìm hiểu nguyên nhân về các lỗi chính tá của học sinh thường
mắc phải được chú trọng thì việc vận dụng những nguyên tắc, biện pháp,
phương pháp dạy học về phân môn chính tả sẽ thuận lợi và giúp học sinh khắc phục được các lỗi thường mắc, giúp giáo viên đạt kết quả cao trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết đúng cho học sinh tiêu học
7 Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu đi sâu vào việc tìm hiểu thực trạng mắc lỗi chính tả
ở lớp 2A1 trường Tiểu học Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 10PHAN 2: CHUAN MUC NGON NGU VA THUC TRANG MAC LOI CHINH TA O HQC SINH LOP 2A, TRUONG TIEU HỌC XUÂN HÒA - THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
CHƯƠNG 1 CHUÁN MỰC NGÔN NGỮ
1.1 Chuẩn mực ngôn ngữ là gì?Những vấn đề liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ
Chuẩn mực ngôn ngữ là tập hợp những điều hướng dẫn việc sử dụng thống nhất các phương tiện ngôn ngữ, như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng của một thứ tiếng rút ra từ thói quen diễn đạt chúng, vận dụng chúng có nâng cao,
phù hợp với một cộng đồng ngôn ngữ nhất định trong điều kiện lịch sử, văn
hóa nhất định
Sáu vấn đề liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ:
Thứ nhất, nói đến chuẩn mực là nói đến cái đúng về mặt ngôn ngữ.Hệ
thống ngôn ngữ so với các hệ thống xã hội khác.Nó có tính đặc thù Vì thế cái đúng của ngôn ngữ cũng có tính đặc thù
Đối với nhận thức: thì tính đúng - sai là tính chất chân lý
Đối với ngôn ngữ: thì không được đo bằng tính chất chân lý mà thước
đo của nó là tính chất phù hợp và dễ dàng Vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
và tư duy Đã là công cụ của con người thì công cụ nào thuận tiện thì con người sử dụng Chính vì thế, ngôn ngữ có quy luật theo thói quen và võ đoán
Thứ hai, nói đến chuẩn mực là nói đến tính lịch sử
Chuẩn mực ngôn ngữ là một biến thể của ngôn ngữ.Biến thể ấy phải
được đặt trong một thể nhất định, một giai đoạn nhất định
Trang 11Ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì các phương tiện ngôn ngữ đạt
chuẩn.Nhưng ở trong một giai đoạn lịch sử khác thì các phương tiện ấy có thé
không đạt chuẩn Nói khác đi, chuân mực ngôn ngữ có sự thay đôi Cái đó gọi
Nói thêm về tính giai đoạn của ngôn ngữ Tính giai đoạn của chuẩn
mực ngôn ngữ so với các hiện tượng xã hội khác thì một giai đoạn lịch sử của
ngôn ngữ không chỉ kéo dài vài chục năm mà thậm chí kéo dai toi hang tram
năm, hàng thế ki Cho nên mặt tĩnh của ngôn ngữ có thể là một thời gian rất
Chuẩn mực lời nói (chuẩn mực sử dụng hay chuẩn mực phong cách):
đó là những chuẩn mực sử dụng cụ thể trong lời nói ở những hoàn cảnh giao tiếp nhất định Chuẩn mực này phụ thuộc vào các nhân tố giao tiếp như: người nói, người nghe, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp
So với chuẩn mực ngôn gữ thì chuẩn mực lời nói phức tạp hơn và khó
vận dụng hơn Vì nó phụ thuộc vào nhiều điều kiện
Trang 12Sự phân biệt giữa chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn mực lời nói dựa trên
sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói: một bên có tính xã hội (chuẩn mực
ngôn ngữ), một bên có tính cụ thể (chuẩn mực lời nói)
Thứ tư, nói đến chuẩn mực ngôn ngữ là nói đến sự lựa chọn
Khi phải vận đụng chuẩn để xem xét các đơn vị ngôn ngữ thì các đơn vị ngôn ngữ ấy phải có từ hai cho đến một dãy các ngôn ngữ Dựa vào các đơn
VỊ ay để lựa chọn sử dụng Nếu không có sự lựa chọn thì sẽ không có chuẩn
Thứ năm, chuân ngôn ngữ gắn voi su trong sang của tiéng Việt
Chuẩn ngôn ngữ gắn liền với sự trong sáng của tiếng Việt là hai khái niệm đồng thời cũng là hai nhiệm vụ hiện nay của tiếng Việt
Chuẩn là việc xác định cái đúng, xây dựng một ngôn ngữ thống nhất,
chuẩn mực Còn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là giữ gìn bản sắc, tỉnh
hoa tiếng nói của dân tộc
Trong đó, đặc biệt chú ý tới quan hệ tiếp xúc với các ngôn ngữ và vay mượn các yếu tố của ngôn ngữ khác
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Đó là nhiệm vụ lâu dài và có tính chiến lược
Còn chuẩn mực ngôn ngữ có tính chất giai đoạn, tính chất lịch sử Vì thế, chuẩn mực ngôn ngữ sẽ nằm trong khuôn khô của sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Hiện nay, có ba nhiệm vụ chính:
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Xác định chuẩn mực tiếng Việt
Việc giảng, dạy tiếng Việt trong nhà trường
Thứ sáu, chuẩn mực ngôn ngữ, sự sáng tạo của người dùng
Nói đến chuân mực là nói đến những điều quy định hướng dẫn việc sử dụng.Nói đến những quy định, quy tắc trong khi nói và viết Nhưng chuẩn
Trang 13mực ngôn ngữ không mâu thuẫn, không hạn chế với sự sáng tạo của người
Chuẩn mực về các văn bản được sử dụng
Trong các loại chuẩn mực này, thì chuẩn mực phát âm là chuẩn mực có
mức độ thực hiện thấp nhất.Vì bản thân âm thanh, ngôn ngữ không lưu giữ
được
Chuẩn mực từ ngữ rồi đến ngữ pháp
Chuẩn mực về chữ viết và chính tả là chuân mực có mức độ thực hiện cao nhất Vì nó là đơn vị văn tự (chữ viết) Và người ta thực hiện nó bằng phương pháp hành chính
Ở đây chúng ta chỉ xét chuẩn mực về mặt phát âm và chính tả
1.2 Chuẩn mực chính tả là gì?
Hiện nay, trong các trường học và trong sách giáo khoa phô thông đã thống nhất cách viết tiếng Việt theo chính tả truyền thống Tuy nhiên, trong
sách báo và giữa các nhà xuất bản vẫn chưa có sự thống nhất, nhất là việc
phiên chuyên tiếng nước ngoài và chưa có văn bản quy định của Nhà nước Trong lúc chờ đợi quy định thống nhất của Nhà nước, được phép của thủ
Trang 14tướng chính phủ (Công văn số 4: 1635/VPCP-KG ngày 27 tháng 4 năm 2000)
và thực hiện nghị quyết của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam trong Hội nghị toàn thê ngày 3-4.5.2000, sau khi lấy ý kiến của các uỷ viên Hội đồng và được Ban thường trực thông qua, chủ tịch Hội đồng ban hành quy tắc chính tả và phiên chuyên tiếng nước ngoài để áp dụng thống nhất trong bộ Từ điển bách khoa Việt Nam và các công trình khoa học của Hội đồng
1.2.1 Bảng chữ cái tiếng Việt gồm các chữ cái xếp theo thứ tự: a, š, â, b, œ,
d, d, e, é, g, h, i, k, 1, m, n, 0, 6, 0, P, q, Vy S, t, U, W, V, X, ÿ
1.2.2 Các từ tiếng Việt viết theo quy tắc chính tả hiện hành (tham khảo các
từ điển chính tả), chú ý phân biệt:
c/k: ca, co, cô, cơ; ke, kê, ki
d/gi: da, dô, dơ; gia, gio, gio, gid
g/gh: ga, go, gô, gơ; ghe, ghê, ghi
Viết rời các âm tiết, không dùng dấu gạch nói
1.2.3.Diung ‘i’ thay cho ‘y’ 6 cuối âm tiét mé Vi du: hi sinh, hi vọng, biệt
li
Trừ trong các âm tiết “uy” và các trường hợp sau “qu' hoặc “y° đứng
một mình hoặc đứng đầu âm tiết
Ví dụ: ý nghĩa, ý chí, yêu mến
Một số từ có *ỉ' làm thành tố thì vẫn viết theo thói quen: ỉ eo, am i;
hoac ‘i’ dtmg dau mét sé 4m tiét: in, im, inh, it Oi, ut it, iu xiu.Ngoai 1é: trong cách viết tên riêng (tên người, tên đất), tên các triều đại đã quen dùng *y' thì vẫn viết theo truyền thống Ví dụ: triều Lý, Lý Bôn, Lý Thường Kiệt, xã Lý
Nhân, Nguyễn Thị Lý, vv
Trang 151.2.4 Viết hoa
1.2.4.1 Viết hoa tên người:
Tên người Việt Nam, Trung Quốc (đọc theo âm Hán - Việt) bao gồm
tên thật, tên tự, tên hiệu, đều viết hoa tất cả các chữ đầu của âm tiết và
không dùng gạch nối Ví dụ: Trần Quốc Tuần; Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên
Một số tên gọi vua chúa, quan lại, trí thức Việt Nam, Trung Quốc thời
phong kiến được cấu tạo theo kiểu danh từ chung (đề vương, hoàng hậu, tông,
tổ, hầu, tử, phu tir, vv.) kết hợp với danh từ riêng thì viết hoa tất cả các chữ
đầu của âm tiết, Ví dụ: Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng, Hùng Vương, Lạc
Long Quân, Bố Cái Đại Vương, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Phù Đồng
Thiên Vương, Không Tử, La Sơn Phu Tử, vv
Một số tên người Việt Nam cấu tạo bằng cách kết hợp một danh từ chung (ví dụ: ông, bà, thánh, cả hoặc từ chỉ học vị, chức tước, vv.) với một
danh từ riêng dùng để gọi, làm biệt hiệu, thì đanh từ chung đó cũng viết hoa Ví dụ: Bà Trưng, Ông Gióng, Cả Trọng, Đề Thám, Lãnh Cô, Cử Trị,
Nghè Tân, Trạng Lường, Đồ Chiểu, Tú Xương, Đội Cấn, vv
Tên người trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng viết hoa tat cả
các chữ đầu của âm tiết và không dùng gạch nối, Ví dụ: Lò Văn Bường,
Giang A Pao, Y Niém, A Ma Pui, vv
1.2.4.2 Viết hoa tên địa li:
Tên địa lí Việt Nam và tên địa lí đọc theo âm Hán - Việt viết hoa các chữ đầu của âm tiết và không dùng gạch nối, ví dụ: Hà Nội, Trung Quốc,
Trường Giang, vv
Tên địa lí thế giới phiên gián tiếp qua tiếng Hán và đọc theo âm Hán -
Việt cũng viết hoa tất cả các chữ cái đầu của âm tiết và không dùng gạch nối,
Trang 16ví dụ: Hà Lan, Phần Lan, Na Uy, Thuy Điển, Đan Mạch, Ai Cập, Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha, vv
Từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương hướng hoặc một từ
chung đơn tiết nào đó dùng để chỉ một vùng, một miền, một khu vực nhất
định thì viết hoa tất cả các thành phần của nó, ví dụ: Tây Bắc Kỳ, Đông Nam
Kỳ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Hà, Nam Hà, Dang Trong, Dang Ngoài, Đông Nam Bộ, Trường Sơn Tây, Bắc Bán Cầu, Nam Bán Cầu, Bắc Cực, Trung Phi, Cận Đông, khu Đông Bắc, vùng Tây Nam, quan hệ Đông -
Tây, đối thoại Bắc - Nam, các nước phương Đông, văn học phương Tây, vv Địa danh Việt Nam cấu tạo bằng cách kết hợp danh từ chung (biến, cửa, bến, vũng, lạch, vàm, buôn, bản, vv.) với danh từ riêng (thường chỉ có một âm tiết
thì viết hoa tất cả các chữ đầu tạo nên địa danh đó, ví dụ: Cửa Lò, Bến Nghé,
Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm Có, Vàm Láng, Buôn Hồ, Bản Keo, Sóc
Trăng, vv
1.2.4.3 Tên các tổ chức:
Tên các tổ chức được viết hoa chữ đầu của thành tố đầu và các từ, cụm
từ cấu tạo đặc trưng (nét khu biệt) của tổ chức và tên riêng nếu có Ví dụ: Chính phủ Việt Nam, Quốc hội Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nhà Xuất bản Từ
điển bách khoa, Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Tổ chức Trung ương, nước
Cộng hoà Hồi giáo Pakixtan, vv
1.2.4.4 Viết hoa các trường hợp khác:
Tên các năm âm lịch: viết hoa cả hai âm tiết Ví dụ: năm Ki Tị, Cách mạng Tân Hợi, Cuộc chính biến Mậu Tuất, Tết Mậu Thân, vv.Tên các ngày tiết và ngày tết: viết hoa âm tiết thứ nhất Ví dụ: tiết Lập xuân, tiết Đại hàn, tết Đoan ngọ, tết Trung thu, tết Nguyên đán.Từ chỉ số trong những đơn vị là
tên gọi các sự kiện lịch sử: không viết bằng con số mà viết bằng chữ hoa Ví