Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng nghề việt sô số 1 bộ xây dựng Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng nghề việt sô số 1 bộ xây dựng Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng nghề việt sô số 1 bộ xây dựng Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng nghề việt sô số 1 bộ xây dựng
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ DUY CHUNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT XÔ SỐ 1, BỘ XÂY DỰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Thái Nguyên - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển dạy nghề là một chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhằm đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp CNH - HĐH, tăng khả năng cạnh tranh sức lao động trong khu vực Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động" Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX tại Đại hội lần thứ X của Đảng đã chủ trương:
“Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề (CĐN), trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh
tế động lực và cho việc xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện Tạo bước chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt, dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề ; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số” [40,tr.96]
Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi con người là mục tiêu
và động lực của sự phát triển Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng khan hiếm Vì lẽ đó, các quốc gia đều quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực, thông qua chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Giáo dục Việt Nam bước vào thế kỷ XXI đã có bước phát triển nhiều mặt: Đổi mới quản lý, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục Luật dạy nghề năm 2006 đã cụ thể hóa: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước” [44,tr 22]
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý, trong những năm qua đã tạo cho các trường Cao đẳng, Đại học những cơ hội phát triển; đồng thời trong sự phát triển cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức trong công tác quản lý Cơ chế thị trường đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, bên cạnh mặt tích cực thì mặt trái cũng ảnh hưởng xấu đến các hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có môi trường sống của sinh viên (SV)
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng được thành lập theo Quyết định số 1992/QĐ-BLĐTBXH ngày 20/12/2006 trên cơ sở nâng cấp từ trường Kỹ thuật Cơ giới cơ khí xây dựng Việt Xô số 1 Là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và các bậc đào tạo khác theo cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân Hiện nay trường có 183 cán bộ giáo viên, được bố trí sắp xếp làm việc tại 12 Phòng, Khoa, Trung tâm Cơ sở vật chất được đầu tư từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn từ các dự án của Liên
Xô (cũ) và Cộng hòa Pháp
Nhiệm vụ của trường là đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua đào tạo nghề nhằm trang bị cho SV về văn hóa nghề nghiệp, giúp SV cơ hội học tập, khả năng tìm kiếm việc làm Năm học 2007 - 2008, Trường bắt đầu tuyển sinh đào tạo nghề ở 3 cấp trình độ: cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề theo quy định của Luật Dạy nghề đã được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 Từ khi được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng; quy mô đào tạo mở rộng, chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo hàng năm tăng từ 1.700 đến 2.000 HSSV Việc tạo điều kiện cho HSSV thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình đào tạo:
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Từ hoạt động học tập, hoạt động thực hành, thực tập chuyên nghề đến các hoạt động rèn luyện nhân cách, đạo đức, tác phong nghề nghiệp… là việc làm quan trọng hướng SV vào thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường
Những năm qua, công tác quản lý giáo dục (QLGD) nếp sống cho SV của nhà trường đã đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, tổ chức và thực hiện còn bộc lộ một số hạn chế bất cập như: Đội ngũ cán bộ quản lý HSSV thiếu chuyên trách thường chuyển từ công tác khác sang làm công tác QLGD , sự phối hợp giữa các đơn vị Phòng, Khoa chức năng, trong trường còn yếu, chưa chủ động phối hợp Các hoạt động của tổ chức Đoàn thể còn đơn điệu chưa thu hút được đông đảo HSSV tham gia , vai trò của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn trong công tác QLGD chưa thực sự quan tâm và sát sao trong việc rèn luyện và nhắc nhở HSSV Trước những yêu cầu của thực trạng đòi hỏi công tác QLGD nếp sống cho SV nội trú cần được đổi mới Đổi mới công tác QLGD nếp sống cho SV nội trú nhằm giáo dục SV
tự giác tích cực trong học tập; tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức; tác phong nghề nghiệp để phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Đây
là những vấn đề cần thiết mà nhà trường đang tìm kiếm biện pháp, giải pháp
thực hiện Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý và đào tạo
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Vấn đề QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô
số 1, Bộ Xây dựng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng công tác QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng; từ đó đề xuất một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng
4 Giả thuyết khoa học
QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng còn nhiều hạn chế, bất cập; nếu phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý; đề xuất được một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
5 Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Khảo sát đánh giá đúng thực trạng qụản lý giáo dục nếp sống cho SV nội trú, thông qua hoạt động học tập, lao động , sinh hoạt và giao tiếp
- Đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả QLGD nếp sống cho SV nội trú
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu công tác QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Để nghiên cứu tác giả đã thu thập, tổng hợp phân tích các tài liệu liên quan
- Phương pháp khái quát hóa nhận định khách quan: Dựa trên những nhận định, đánh giá, góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà giáo
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu câu hỏi với 180 SV nội trú,
20 cán bộ, giáo viên bao gồm các cán bộ quản lý ký túc xá (KTX), cán bộ Phòng công tác học sinh sinh viên (HSSV),các cán bộ làm công tác Đoàn thanh niên, Hội SV và giáo viên chủ nhiệm
- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các sinh hoạt, hoạt động của HSSV ở KTX cũng như hoạt động quản lý giáo dục (QLGD) của các cán bộ quản lý nhằm thu thập các tư liệu bổ xung
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các SV ở KTX, các cán bộ quản lý KTX và các bộ phận Phòng Khoa, các tổ chức liên quan
6.3 Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu;
- Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú Trường cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú Trường cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHẦN II NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu lối sống, nếp sống đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công trình nghiên cứu công phu như công trình “Việt Nam Phong tục” của tác giả Phan Kế Bính (1875 - 1921) Ông đã nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam qua bề dầy lịch sử 4000 năm Tất cả những thói quen, nếp sống của con người Việt Nam từ xưa đến đầu thế kỉ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, cái đẹp của con người Việt Nam đồng thời cũng mạnh dạn đánh giá, phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong lối sống, nếp sống đi ngược lại thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc
Trong tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng lối sống, nếp sống mới, cách làm việc mới
Đại hội IV và V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng nếp sống mới Trong văn kiện đại hội IV có ghi khái niệm “nếp sống mới có văn hoá”, “vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hoá trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất” Trong Đại hội
V, văn kiện dùng khái niệm lối sống: “Cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến và lạc hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng và lối sống đang diễn ra hàng ngày rất phức tạp”[ 36,Tr10] Trong Nghị quyết V Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, bàn về lĩnh vực văn hoá Nội dung nghị quyết gồm 6 vấn đề quan trọng thì vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống, nếp sống được đặt lên đầu tiên Trong toàn văn Nghị quyết V thuật ngữ lối sống, nếp sống được nhắc đến như “tư tưởng đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá” hay như “lối sống lành mạnh, nếp sống văn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
minh” Như vậy, vấn đề nếp sống đã được quan tâm rất sâu sắc không chỉ các nhà khoa học mà các nhà quản lý xã hội cũng rất chú trọng tới việc QLGD nếp sống
Trong thời gian gần đây hàng loạt những công trình nghiên cứu về lối sống, nếp sống đã được thực hiện theo tinh thần đổi mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do những thay đổi về kinh tế, xã hội đang phát triển đưa đến những biến đổi trong lối sống, nếp sống, định hướng giá trị con người Việt Nam nói chung, giới HSSV nói riêng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu lối sống, nếp sống ở đối tượng SV đã được công bố như sau:
- “Tổ chức tốt cuộc sống sinh viên ở ký túc xá nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho họ” (Kỷ yếu hội thảo định hướng giá trị giáo dục đạo đức trong các trường đại học; Hà Nội 1996) của Nguyễn Thị Kỷ
- “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” của PGS PTS Mạc Văn Trang làm chủ nhiệm đề tài (Năm 1998, mã số B94-38-32)
- “Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm Mâu giáo Trung ương 3” của Đặng Văn Thuân (Luận văn thạc
sĩ khoa học giáo dục, năm 1999)
Ngoài ra một số chuyên đề bài báo viết về lối sống, nếp sống SV như:
- “Nếp sống xã hội của sinh viên” của PTS Vũ Dũng, viện tâm lý trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 01/1997)
- “Sinh hoạt trong ký túc xá sinh viên, sân chơi chưa lành mạnh” của Hồ Thu (Báo Sài Gòn giải phóng, 24/11/2003)
Qua những công trình, tài liệu nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các tác giả đã tiếp cận với những góc độ khác nhau trên các đối tượng SV thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau Riêng mảng đề tài về SV trường Cao đẳng nghề thì chưa có tác giả nào đề cập Từ những bức xúc về công tác QLGD nếp sống
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong kí túc xá trường Cao đẳng Nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng, chúng tôi đã chọn đề tài “Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng” Hy vọng và mong muốn của chúng tôi là đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng công tác QLGD nếp sống
SV nội trú của trường mà chúng tôi đang công tác
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
và trên toàn cầu
Có nhiều định nghĩa về các khía cạnh khác nhau của quản lý, nhưng trong luận văn chỉ nêu một số định nghĩa tiêu biểu, đó là:
“Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con người.”[ 13]
“Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.”[ 23]
1.2.2 Quản lý giáo dục
Cho đến nay cũng đã có rất nhiều định nghĩa về “quản lý giáo dục”, nhưng trên bình diện chung, những định nghĩa này đều thống nhất về mặt bản chất
Theo F G Panatrin thì “Quản lý giáo dục là tác động một cách có hệ
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hòa ở thế hệ trẻ”
Theo P.V Khudominxki thì “Quản lý giáo dục là việc xác định những đường lối cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan trong hệ thống giáo dục”
Theo M Zade thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Tác giả Nguyễn Gia Quý khái quát “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân”
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nhiệm vụ của trường cao đẳng nghề:
+ Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
+ Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
+ Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
+ Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
+ Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường
đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề
+ Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội
+ Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính
+ Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền hạn của trường cao đẳng nghề:
+ Được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch phát triển mạng lưới các trường CĐN
+ Được huy động, nhận tài trợ, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động dạy nghề
+ Quyết định thành lập các đơn vị trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức
đã được phê duyệt trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường; quyết định
bổ nhiệm các chức vụ từ cấp trưởng phòng, khoa và tương đương trở xuống
+ Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của trường, chi cho các hoạt động dạy nghề và bổ sung nguồn tài chính của trường
+ Phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động dạy nghề về lập kế hoạch dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, tổ chức thực tập nghề Hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn dạy nghề với việc làm và thị trường lao động
+ Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất; được hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo đơn đặt hàng; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Thực hiện các quyền tự chủ khác theo quy định của pháp luật
1.2.4 Quản lý sinh viên nội trú
1.2.4.1 Sinh viên
SV Việt Nam hầu hết là đoàn viên thanh niên, đang học tại các trường đại học và cao đẳng
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Như vậy, tất cả những người học ở bậc Cao đẳng và Đại học đều được gọi là SV
Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội
và học tập là công việc suốt đời Các trường Cao đẳng và Đại học được tăng leentaoj cơ hội học tập cho cho tất cả những ai có nguyện vọng vào học và người học đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác nhau như: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2 Do đó, với khái niệm SV như trên thì ngoại diên của nó rất rộng
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu với đối tượng là SV
hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông
- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh, xét tuyển vào trường cao đẳng và đỗ vào trường
- Họ thường thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 đến 25 tuổi
1.2.4.2 Quản lý sinh viên nội trú
Công tác quản lý SV nội trú là một phần quan trọng trong công tác HSSV là công tác quản lý của nhà giáo dục, các lực lượng giáo dục và tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội
Mục đích quản lý SV nội trú nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Chủ thể chính thực hiện biện pháp QLSV nội trú là phòng Công tác HSSV, Tổ QLGD HSSV, chịu trách nhiệm phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV, các Phòng, Khoa, chuyên môn, chính quyền địa phương nhằm thực hiện các biện pháp quản lý
do mình hoạch định đối với đối tượng chịu quản lý là SV nội trú theo yêu cầu của công tác SV nội trú
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý
Như vậy, xét cho cùng thì biện pháp QLSV nội trú chính là một loại công cụ quản lý HSSV, nhằm từng bước đi đến mục tiêu của công tác HS/SV nội trú Bởi vì công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng trong việc đạt được mục tiêu đề ra
Theo Quy chế Công tác HSSV Khu nội trú thì: SV nội trú là những người đang học tại trường và được nhà trường bố trí ở trong khu nội trú theo hợp đồng của SV đã đăng ký với nhà trường
SV đăng ký ở nội trú nếu số người có nguyện vọng vào ở nội trú lớn hơn khả năng tiếp nhận của khu nội trú thì thứ tự ưu tiên theo đối tượng HSSV như sau:
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động, thương binh bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, HSSV khuyết tật
- Con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách thương binh, con của người có công
- HSSV có hộ khẩu thường trú tại vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
- Người cha hoặc người mẹ là dân tộc thiểu số
- Con mồ côi cả cha lẫn mẹ
- HSSV con hộ nghèo, cận nghèo theo quy định hiện hành của nhà nước
- HSSV nữ
- HSSV tích cực tham gia các hoạt động do nhà trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV, khu nội trú và các tổ chức xã hội tổ chức
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.5 Khái niệm về lối sống
Max Weber, nhà xã hội học người Đức, là người đầu tiên khi nghiên cứu
về lối sống đã cho rằng lối sống thể hiện vị trí của các nhóm xã hội Khái niệm lối sống được mô tả như kiểu sống của một nhóm xã hội, giai cấp, là một cộng đồng người cùng chung một vị trí kinh tế
Thuật ngữ lối sống có sự biện chứng giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần gắn liền với phương thức sản xuất xã hội, với chế độ chính trị xã hội, với hình thái kinh tế xã hội
Ở Liên Xô cũ, một số công trình nghiên cứu lối sống đã đặt vấn đề nghiên cứu nội hàm khái niệm lối sống với 3 cách tiếp cận được tóm lược như sau:
- Cách tiếp cận thứ 1: xem xét lối sống như một phạm trù có liên quan bên trong của chủ thể như nếp nghĩ, nếp hành động, thói quen mà ít quan tâm đến hoạt động sống và các điều kiện sống Mặt hạn chế của cách tiếp cận này ở chỗ, theo A I Buchenco, nó đã loại ra một yếu tố quan trọng của lối sống là hoạt động của chủ thể và lao động
- Cách tiếp cận thứ 2: định nghĩa lối sống bằng cách liệt kê ra các hoàn cảnh sống của con người, xã hội do đó lối sống được kiến giải như một phạm trù xã hội học bao gồm các điều kiện sống, các hình thức hoạt động sống của con người, các quan hệ xã hội, các sinh hoạt, các hình thức thoả mãn nhu cầu thế giới quan
- Cách tiếp cận thứ 3: xem lối sống như là một sự thống nhất các hình thức hoạt động sống và các điều kiện sống của con người, xã hội Như vậy, lối sống là một phạm trù của xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ của các hình thức hoạt động sống và các điều kiện sống nhất định
Từ 3 cách tiếp cận trên, M N Rukevich, tiến sĩ triết học viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ đã khái quát như sau: Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu, nói lên hoạt động của các nhóm dân tộc, giai
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh
tế xã hội nhất định Có nhiều cách phân loại lối sống:
- Từ bình diện sử dụng năng lực, T Makiguchi nêu lên 3 lối sống của con người như sau:
+ Lối sống đóng góp: trong mối quan hệ với thời gian, con người có các thái độ mang tính lạc quan hay bi quan khi hoạt động phản ứng với các kích thích của hiện tại, hoạt động hướng về quá khứ và hoạt động hướng về tương lai
+ Lối sống trao đổi: lối sống văn hóa, lối sống chính trị, lối sống kinh tế + Lối sống phụ thuộc: sống bằng hưởng thụ hay chiếm đoạt
- Từ bình diện xã hội học, lối sống được chia theo các tiêu chí sau:
+ Theo lãnh thổ vùng miền: có lối sống thành thị, lối sống nông thôn + Theo phân tầng giai cấp: có lối sống tư sản, lối sống tiểu tư sản, lối sống công nhân, lối sống SV, lối sống trí thức, lối sống thương gia, lối sống nông dân
+ Theo hình thái kinh tế xã hội: có lối sống phong kiến, lối sống tư bản chủ nghĩa, lối sống XHCN
Tác giả Đỗ Trung Lai cho rằng: “Lối sống suy cho cùng là cách dùng đạo đức mà hành đạo ở đời Lối sống thể hiện bên ngoài của đạo và đức Nó đã
là và luôn là văn hoá” [14,Tr.21]
Tác giả Phạm Ngọc Định cho rằng lối sống còn là một phạm trù của duy vật lịch sử Tác giả dựa vào luận điểm của Marx và Ăngen khi cho rằng
“Phương thức sản xuất phải xét không đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân và hơn thế nữa nó là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ: những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là người như thế ấy Nó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ đã sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất ra”
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Phạm Ngọc Định đã đưa ra định nghĩa lối sống dưới dạng luận đề “Lối sống là tổ hợp các phương thức hoạt động sống điển hình của con người đối với
xã hội nhất định mà nó được xét thống nhất với các điều kiện hoạt động Lối sống bao gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống” [6,Tr.14]
Tác giả Thanh Lê cho rằng “Lối sống là quan niệm sống của con người, tức là nói đến nhân sinh quan Nói đến lối sống là nói đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội và cá nhân - hoạt động lao động; hoạt động sinh hoạt, gia đình; hoạt động xã hội, chế độ; hoạt động văn hoá tinh thần Trong đó, hoạt động lao động là cơ bản nhất” [16,Tr.22]
Các định nghĩa, các cách phân loại lối sống trình bày ở trên giúp cho nhà quản lý, nhà nghiên cứu có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm của từng khách thể, từng nhóm xã hội để từ đó xác định phương hướng cụ thể xây dựng lối sống phù hợp
1.2.6 Nếp sống
Thuật ngữ nếp sống được dùng rất phổ biến Theo thói quen trong ngôn ngữ tiếng Việt, trên sách báo hiện nay sử dụng hầu như cả hai thuật ngữ lối sống và nếp sống với một nội hàm giống nhau Hai thuật ngữ này không hoàn toàn như một nhưng cũng không nói lên hai phạm trù khác nhau
A p Buchenco cho rằng: “nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của sự sống”
L V Cokan cho rằng: “nếp sống của con người được xem như là sự phản ánh của cá nhân vào xã hội, lối sống của con người được xem như là sự phản ánh của xã hội vào cá nhân”
Nếp sống là cách xử sự của mỗi người, những giá trị được rút ra từ đời sống hiện thực Những giá trị ấy là sự điều tiết các xu hướng, quan niệm và
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hành vi của con người làm cơ sở cho việc đánh giá các giá trị xã hội; các nguyên tắc của trật tự xã hội và hoạch định của nếp sống cộng đồng
Lối sống gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người Lối sống phải được thông qua nếp sống Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người, được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nề nếp, thành thói quen, thành phong cách được xã hội công nhận Những hành vi trong lối sống chưa được lặp đi lặp lại, chưa có tính ổn định và chưa trở thành bản tính tự nhiên của con người trong các hoạt động, trong các ứng xử thì không nằm trong phạm trù nếp sống Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là bản năng của lối sống nên khi nói đến nếp sống nghĩa là nói đến một lối sống ổn định
Thật là khó khăn khi tách rời nếp sống ra khỏi lối sống, lối sống có tính định tính, định hướng Còn nếp sống có tính định hình, định lượng trong cuộc sống của con người Nếp sống với tư cách là biểu hiện của của lối sống, thể hiện ở tính cụ thể, ở những chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử của xã hội mà mỗi
cá nhân đó tự ý thức, tự biến đổi bản tính của mình thành những hành động ổn định mang tính chung của xã hội So với lối sống, nếp sống có tính ổn định, bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có sự biến đổi Cùng với sự biến đổi của lối sống, nếp sống cũng biến đổi nhưng chậm và khó khăn hơn
Xung quanh khái niệm lối sống, nếp sống chúng ta còn gặp một số khái niệm liên quan như nếp sống văn minh, nếp sống văn hoá, mức sống, lẽ sống, phong cách sống, nếp sống mới Nội hàm các khái niệm trên đều nằm trong phạm vi nếp sống
- Nếp sống văn minh có sự phân biệt với nếp sống văn hoá: Nếp sống văn minh là nếp sống được thừa hưởng các thành tựu của nền khoa học kĩ thuật
cơ khí, điện tử, mang sắc thái nếp sống công nghiệp Nếp sống văn hoá là nếp sống thể hiện trình độ văn hoá cao, bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc hoà quyện với nhau
- Cách sống: Là kiểu sống có nghĩa hẹp cụ thể Đó là lối sống theo cá
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tính, thị hiếu của cá nhân trong một điều kiện môi trường sống nhất định Ví dụ: Cách sống của một gia đình, một tầng lớp, của giới văn nghệ sĩ, của người độc thân Tuy nhiên cách sống, kiểu sống mang tính độc đáo, đa dạng nhưng vẫn phải tuân thủ lối sống nhất định trong một cộng đồng, trong một xã hội
- Mức sống: Là mức thu nhập, mức hưởng thụ phúc lợi xã hội của cá nhân là thước đo chất lượng cuộc sống Trong sự hưởng thụ có sự hưởng thụ vật chất, hưởng thụ tinh thần Mức sống cao, con người có điều kiện thỏa mãn các yêu cầu về vật chất và tinh thần Mức sống thấp, con người chưa có cơ hội
để thoả mãn nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần
- Lẽ sống: Là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học Lẽ sống là phần nhận thức của lối sống, nếp sống Lẽ sống là sự thống nhất biện chứng giữa nghĩa vụ và hạnh phúc Lẽ sống cao nhất thể hiện ở lối sống, nếp sống mình với mọi người, mọi người với mình Chúng ta có thể tìm thấy lẽ sống cao quý ở các anh hùng, các bậc vĩ nhân, các nhà khoa học và ngay cả ở những con người bình thường biết hy sinh với cộng đồng hoặc giữ gìn phẩm chất trong sáng trong mọi hoàn cảnh thực sự khó khăn
Khái quát toàn bộ các vấn đề lý luận đã trình bày ở trên có thể nêu lên định nghĩa tổng quát về nếp sống là những cách thức hành động và suy nghĩ, những quy ước được lặp đi lặp lại hàng ngày và trở thành thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, phong tục, lễ nghi, hành vi đạo đức, trong pháp luật
Từ định nghĩa cho ta thấy nếp sống chính là cách thức ứng xử, việc làm, việc thực hiện các quy ước của cộng đồng đã trở thành thói quen Nếp sống được thể hiện trong tất cả các hoạt động của con người từ sinh hoạt, giải trí, vui chơi, học tập đến lao động, ứng xử, giao tiếp Có thể chia nếp sống theo nhiều cách, dựa vào các đặc điểm và các tiêu chí xã hội học, người ta phân loại như sau:
- Theo đặc điểm nghề nghiệp: có nếp sống nông dân, nếp sống nghệ sĩ VD: Người nông dân có nếp sống chất phát, thật thà, giản dị
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Theo đặc điểm vùng miền có nếp sống đô thị, nếp sống nông thôn
- Theo đặc điểm độ tuổi nếp sống thanh niên, nếp sống người cao tuổi VD: Thanh niên họ có nếp sống nhanh thích nghi và tiếp thu những cái mới, sống phóng khoáng và thích thay đổi Còn người cao tuổi họ luôn có nếp sống là: Có tính ổn định cao và họ khó thích nghi những cái mới
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống công nhân, nếp sống trí thức
- Theo hình thái kinh tế xã hội có nếp sống tư bản chủ nghĩa, nếp sống XHCN
Nếp sống có một số tính chất như sau: Nếp sống là những phẩm chất có tính ổn định; là biểu hiện của đạo đức; là những hành vi đã trở thành thói quen; không tách rời khỏi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của con người;
Nếp sống được biểu hiện ở các mặt hoạt động: Lao động, học tập; quan
hệ, ứng xử; hoạt động cá nhân; hoạt động đoàn thể xã hội
Đối với HSSV nếp sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, lao động, giao tiếp, ứng xử Đây là những hoạt động trong nhà trường, trong KTX là những hoạt động cơ bản của SV
Nhìn chung, nếp sống là phương thức xử sự trong một hoàn cảnh nhất định của cá nhân trong cuộc sống, nó còn là một phương thức xử sự được quy định bởi các giá trị đạo đức chuẩn mực Vì vậy, nếp sống là những quy ước tạo thành thói quen cho mỗi con người và xã hội Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn phải chứng kiến cuộc xung đột gay gắt giữa lối sống mới và đủ loại nếp sống trong các mối quan hệ xã hội, buộc mỗi cá nhân phải nhìn nhận lựa chọn cho mình một cách sống lành mạnh, có văn hoá
1.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HSSV nói chung và SV ở các trường dạy nghề nói riêng là những người
có độ tuổi từ 18-25, hầu hết là Đoàn viên thanh niên, tại thời điểm này được thụ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hưởng thành quả của 25 năm đổi mới, điều kiện sống (cả vật chất và tinh thần) tốt hơn; cơ hội học tập, rèn luyện được mở rộng hơn, được tiếp nhận nhiều kênh thông tin Đặc biệt trong thời đại nền kinh tế tri thức, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, SV được tiếp cận với nhiều phương tiện giáo dục hiện đại; điều kiện học tập của SV tốt hơn, tiếp thu được tri thức rộng hơn, tư duy năng động, sáng tạo, ham mê khoa học và đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực học tập, nghiên cứu, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao
Sự tác động của cuộc sống đối với SV có nhiều mặt tích cực, song cũng có nhiều mặt hạn chế
Có nhiều cơ hội để thể hiện khả năng, lòng nhiệt tình, nhạy cảm, vươn lên trong học tập, nghiên cứu khoa học; năng động trong các hoạt động xã hội, quyết tâm thực hiện những hoài bão của bản thân Đối lập với những mặt tích cực lại là những hạn chế của tuổi trẻ: Đó là thiếu kinh nghiệm sống, bồng bột chủ quan, khả năng kiềm chế bản thân chưa tốt, gặp khó khăn dễ hoang mang,
dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo, thiếu tính tự chủ, thiếu tính kỷ luật Do vậy vấn
đề đáng lo ngại hiện nay chính là sự lệch lạc, trong tư tưởng và trong hành xử, trong hưởng thụ văn hóa, hiện tượng tha hóa, sai lệch chuẩn mực giá trị đạo đức, sống không lành mạnh, tính vi phạm thuần phong mỹ tục bản sắc văn hóa dân tộc của một bộ phận không nhỏ HSSV Điều đó không chỉ gây hoang mang cho dư luận xã hội mà còn gióng lên những hồi chuông cảnh báo về đạo đức, nhân cách của HSSV hiện nay
Vấn đề này đặt ra yêu cầu công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục
lý tưởng cách mạng, lối sống đối với thế hệ trẻ trong bối cảnh đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và hội nhập quốc tế là rất cần thiết; đồng thời phải có những đổi mới QLGD, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của HSSV nói chung và SV trường CĐN nói riêng
Đối tượng SV học nghề thường là những HSSV con em nông thôn gia đình có kinh tế khó khăn không có khả năng theo học đại học, và một bộ phận
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
không nhỏ là các em học sinh có học lực trung bình và yếu, đặc biệt có những
em là những học sinh thuộc diện cá biệt lười học và có hạnh kiểm trung bình,
do vậy không có khả năng để thi đại học Do đó, công tác QLSV ở các trường CĐN gặp rất nhiều khó khăn Để thực hiện tốt nhiệm vụ đào đạo, ngoài việc đào tạo nghề, thì các trường CĐN cần phải có sự đổi mới trong công tác QLGD, giúp SV phấn đấu vươn lên trong quá trình học tập, rèn luyện đạo đức
cá nhân, đạo đức nghề nghiệp và yêu cầu của đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ
1.4.1 Giáo dục nếp sống cho sinh viên trong hoạt động học tập
Thời gian ngoài giờ lên lớp là khoảng thời gian khá dài trong quỹ thời gian của SV Để sử dụng thời gian cho việc học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của SV Tuy nhiên vai trò kiểm tra giám sát của cán bộ quản lý HSSV, của ban cán sự lớp, cán bộ Đoàn, Hội cũng không thể bỏ qua Đặc biệt là quá trình tự học của SV, các em phải tự nhận thức được việc học tập của mình, việc học tập đòi hỏi SV không chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của thầy mà còn phải tự tìm kiếm tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở những kiến thức đã lĩnh hội trước đó Để chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn thành tốt mục đích và nhiệm vụ học tập, SV phải coi trọng việc tự học
Ngoài giờ lên lớp, thời gian tự học SV sử dụng thời gian vào các hoạt động lao động, sinh hoạt giải trí văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao Đây là những hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp HSSV
bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn cuộc sống nếu như những hoạt động đó nằm trong kế hoạch và có tổ chức, có định hướng giáo
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dục rõ ràng của Phòng, Khoa cũng như của trường Đối với những hoạt động này cần tạo điều kiện tốt để HSSV thể hiện năng lực của mình trong hoạt động thực tiễn, đồng thời phát hiện những thiếu sót, yếu điểm để kịp thời bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện các nội dung đào tạo Kịp thời ngăn chặn và nghiêm khắc xử lý đối với các hoạt động dưới hình thức tổ chức nhóm, cục bộ, vùng miền, địa phương, mang tính tự phát mà nội dung không lành mạnh ảnh hưởng tới môi trường đào tạo của nhà trường Đó là những hoạt động vừa mất thời gian và ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của các em
1.4.2.Giáo dục nếp sống sinh viên trong hoạt động tập thể, cá nhân
và lao động
Thời gian tự học SV sử dụng vào các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và lao động Đây là những hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp HSSV bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách
vở vào thực tiễn cuộc sống Đặc biệt những hoạt động đó nằm trong kế hoạch
và có tổ chức, có định hướng giáo dục rõ ràng của Phòng, Khoa cũng như của trường Đối với những hoạt động này cần tạo điều kiện tốt để HSSV thể hiện năng lực của mình trong hoạt động thực tiễn, đồng thời phát hiện những thiếu sót, yếu điểm để kịp thời bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện các nội dung đào tạo cho HSSV Kịp thời ngăn chặn và nghiêm khắc xử lý đối với các hoạt động sai trái vi phạm nội quy nhà trường của HS/SV, những hoạt động đó mang tính
tự phát mà nội dung của những hoạt động đó vô bổ và gây mất thời gian, dễ tạo thành những thói quen tật xấu, làm ảnh hưởng đến quá trình học tập và rèn luyện của các em
1.4.3 Giáo dục nếp sống cho sinh viên trong quan hệ và ứng xử
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, mở cửa đem lại những thành tựu không nhỏ về kinh tế giúp cho đời sống của nhân dân được nâng cao, cơ hội đi học đại học, cao đẳng cho thanh niên đượcnhiều hơn và thuận lợi hơn Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó thì cũng kéo theo những mặt hạn chế không nhỏ đặc biệt
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cho thanh niên ở độ tuổi học cao đẳng đại học trong đó có quan hệ ứng xử Đặc biệt là quan hệ giữa SV với SV, giữa SV với cán bộ giáo viên không chuẩn mực, quan hệ nam nữ không phù hợp, không trong sáng, lối sống thực dụng
Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi phải có sự đầu tư công sức, sự quan tâm thường xuyên của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà trường, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và đặc biệt là ý thức tự giác trong học tập và rèn luyện của bản thân mỗi SV; xây dựng một môi trường giáo dục thống nhất, cán bộ giáo viên và HSSV, phải phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và gia đình theo mục tiêu giáo dục đào tạo
1.5 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGHỀ
Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến sự nghiệp “trồng người” Ngày nay, bước sang giai đoạn CNH - HĐH đất nước, Đảng ta đã đề ra định hướng lớn về phát triển giáo dục và khoa học công nghệ: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước” [39,Tr.112] Trong đó đặc biệt chú trọng việc phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 Việt Nam phải đạt được trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến trong khu vực ở phần lớn các ngành trọng điểm
Việc chuyển giao công nghệ ở nước ta hiện nay có thể nói là rút ngắn giai đoạn khi so sánh với lịch sử phát triển lâu dài của các nước phương Tây Việc chuyển giao công nghệ đã đòi hỏi nhu cầu thực tế về đội ngũ nhân lực có kiến thức, kĩ năng để tiếp thu và làm chủ được khoa học kỹ thuật để phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN
CNH - HĐH nền kinh tế là con đường duy nhất để có thể đuổi kịp nền kinh tế các nước trong khu vực và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam phát triển Muốn sự nghiệp CNH - HĐH thực hiện thắng lợi thì nguồn lực con người - nhân tố thực hiện CNH - HĐH đóng vai trò nòng cốt phải được ưu tiên
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phát triển: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [39,Tr.108-109]
Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX về phát triển giáo dục, đào tạo đã ghi:
“Mở rộng quy mô giáo dục đại học, làm chuyển biến ra nét về chất lượng và hiệu quả đào tạo Từng bước xúc tiến việc nối mạng Internet ở trường học, tạo điều kiện học tập nghiên cứu trên mạng” [39,Tr.110] “Đào tạo trình độ cao đẳng giúp SV có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo” [45,Tr.25]
Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi trọng giáo dục và đào tạo trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Giáo dục và đào tạo luôn cần phải được đầu tư đúng mức để đảm nhận vai trò cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao về mọi mặt, gánh vác trọng trách xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, được sự quan tâm của các cấp, các nghành và toàn xã hội, công tác dạy nghề đã được quan tâm, từng bước được đổi mới và phát triển, quy mô dạy nghề được
mở rộng, chất lượng dạy nghề được nâng cao, đa dạng hóa các loại hình, hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu cấp trình độ đào tạo, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, chất lượng dạy nghề đã chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng nhu cầu đội ngũ lao động qua đào tạo nghề phục vụ cho phát triền kinh tế - xã hội và xuất khẩu lao động
Tuy nhiên, công tác dạy nghề vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học nghề của xã hội và hội nhập quốc tế Dạy nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung; chất lượng dạy nghề còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động; quy mô đào
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tạo nghề còn nhỏ, nhất là đào tạo nghề trình độ cao; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với cơ cấu nghành nghề của thị trường lao động; chưa đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho các nghành kinh tế mũi nhọn, nghành kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi dạy nghề phải được đổi mới và phát triển mạnh mẽ toàn diện, góp phần phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
- Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ khẳng định Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; đòi hỏi phải có sự tham gia của Chính phủ, các Bộ, nghành, địa phương, các
cơ sở dạy nghề, cơ sở sử dụng lao động và người lao động để thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động
- Thực hiện đổi mới cơ bản quản lý nhà nước về dạy nghề, nhằm tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
- Nâng cao chất lượng và phát triển quy mô dạy nghề là một quá trình, vừa phổ cập nghề cho người lao động, đồng thời phải đáp ứng nhu cầu của các nghành, nghề sử dụng nhân lực có tay nghề cao trong nước và xuất khẩu lao động
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển dạy nghề, tập trung xây dựng các trường nghề chất lượng cao, trong đó ưu tiên các trường đạt đẳng cấp quốc tế; các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định
“Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lực và cho việc xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề Quận, Huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới” [40,tr.96]
Trường CĐN là trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ
và vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật không chỉ chú trọng đến tay nghề cao để phục vụ xã hội mà còn phải rèn luyện cho đội ngũ này phẩm chất, đạo đức, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN
1.6 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO HỌC SINH SINH VIÊN
1.6.1 Quan điểm giáo dục nếp sống cho học sinh sinh viên
Quan điểm giáo dục HSSV được cụ thể hoá ở Nghị quyết 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII khẳng định: Việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Bởi với sự nghiệp đổi mới của đất nước có thành công hay không tuỳ thuộc vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên
Nghị quyết Trung ương khoá VIII nhận định: tư tưởng, đạo đức, lối sống
là những lĩnh vực then chốt của văn hoá Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Tăng cường giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống cho học sinh, SV”, “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa
xã hội hóa”,“Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của HSSV” [39,Tr 110]
Đại hội X của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, SV, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam” [40,Tr.106]
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng có nhiệm vụ đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ bậc thợ là 4/7, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu nghề, có kiến thức và kĩ năng làm việc trong các lĩnh vực nghề nghiệp được đào tạo, có sức khoẻ và nhiệt tình công tác, có ý thức học tập thường xuyên và vươn lên tiếp thu những kiến thức mới đáp ứng được yêu cầu của công việc Mục tiêu giáo dục đào tạo của trường CĐN bao gồm một hệ thống phẩm chất cơ bản của người SV:
- Về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, nếp sống: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu nghề; thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước; có nếp sống kỷ luật, tự giác, tự quản, có ý chí vươn lên; có lòng thương người, vị tha, lạc quan, hồn nhiên; có thái độ ứng xử văn hoá, khéo léo, tế nhị; có quan
hệ trong sáng, mực thước, có hệ thống kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
- Về kiến thức: Có kiến thức về các bộ môn cơ bản (triết học, pháp luật, chính trị ); có kiến thức về các môn kỹ thuật cơ sở chuyên ngành;
- Về kĩ năng: Có kĩ năng thực hành, tay nghề cao; có kĩ năng tự học, nghiên cứu khoa học; có kĩ năng giao tiếp, ứng xử
Tóm lại: Để đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước,
SV Trường cao đẳng nghề cần có các phẩm chất: Lập trường chính trị kiên định, đạo đức tốt, sức khoẻ tốt, giỏi kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, hiểu biết rộng, giao tiếp có văn hoá, luôn nỗ lực vươn lên, khéo léo trong quan
hệ, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật lao động tốt, quý thời gian, thẳng thắn,
tự chủ, thích ứng nhanh
Các chuẩn mực đạo đức nếp sống cần giáo dục cho SV: Có lý tưởng, ý thức độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh; tâm huyết và quý trọng nghề nghiệp; không ngừng học tập, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp; giàu lòng thương người, sống vị tha; đoàn kết giúp đỡ mọi người, chống thói vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân;
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khoan dung, độ lượng; khiêm tốn, tự trọng; tin vào con người và cuộc sống, hướng về cái thiện; trung thực, thẳng thắn, tự tin; sống gọn gàng, ngăn nắp, giản dị, tế nhị, lịch sự trong giao tiếp ứng xử; tôn trọng tự giác thực hiện pháp luật và các quy định chung; thực thi bổn phận, nghĩa vụ; tôn trọng danh dự bản thân; không ngừng tự rèn luyện, hoàn thiện nhân cách
Để phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện theo các mục tiêu giáo dục nếp sống cũng như các yêu cầu về phẩm chất năng lực vừa trình bày ở trên, SV cần chú ý
ba mặt sau đây:
- Nhận thức: SV trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng tự ý thức được sứ mệnh của mình là góp phần vào đội ngũ công nhân có tay nghề cao đáp ứng nhu cầu CNH - HĐH đất nước
- Thái độ: Tôn trọng và noi theo các giá trị đạo đức nếp sống truyền thống dân tộc của thời đại công nghiệp hóa Chấp hành các nội quy, quy chế của nhà trường, của khu nội trú Bảo vệ, cổ vũ cái đúng, cái tích cực trong nếp sống tập thể cộng đồng, làm cho nhân tố tích cực, tiến bộ ngày càng phát triển
Có thái độ phê phán, phản đối nghiêm khắc trước các thói quen xấu, những biểu hiện tiêu cực không lành mạnh
- Hành vi: Kính trọng thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên, có hoạt động thiết thực giúp đỡ các bạn con em thương binh liệt sĩ, các bạn có hoàn cảnh gia đình khó khăn trong KTX, trong cộng đồng Gương mẫu chấp hành các quy định yêu cầu về đạo đức, nếp sống, pháp luật Tự phê bình và phê bình thường xuyên có hiệu quả Tự giác rèn luyện theo các chuẩn mực nếp sống văn hoá, không cần có sự kiểm soát thường xuyên chặt chẽ của người khác Tác phong
“miệng nói tay làm” là nếp sống tốt mà SV là người hăng hái cần thực hiện trước Thước đo mọi giá trị ở hành vi, ở hoạt động, ở việc làm cụ thể làm sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức được tập thể công nhận Muốn có hành vi tốt phải có ý chí, nghị lực thực hiện
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.6.2 Mục tiêu giáo dục nếp sống cho học sinh sinh viên
Mục tiêu giáo dục nếp sống cho HSSV nói chung và quản lý nếp sống
SV nội trú nói riêng; hướng SV vào các hoạt động học tập, rèn luyện để SV thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường Xây dựng nếp sống “kỷ cương tình thương, trách nhiệm” trong việc QLSV nội trú, giáo viên QLSV cần nắm bắt kịp thời thực trạng nếp sống của SV Các hoạt động của SV, diễn biến tư tưởng của SV, đời sống ăn ở sinh hoạt của SV có những khó khăn, thuận lợi gì Công tác quản lý nếp sống SV nội trú phải nắm bắt được để từ đó có những biện pháp điều chỉnh kịp thời, hướng các em vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ của SV
Với môi trường sống phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của những mặt trái của nền kinh tế thị trường, do vậy nguy cơ bị nhiễm các tệ nạn xã hội, những tiêu cực không lành mạnh trong SV là không thể tránh khỏi Vì vậy công tác quản lý nếp sống cho SV phải nhằm mục đích ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ cơ bản những biểu hiện tiêu cực không lành mạnh trong SV, đặc biệt là các tệ nạn
xã hội
Nếp sống cơ bản cần giáo dục cho SV: Cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ luật, nội quy, bảo vệ môi trường; có ý thức trong cuộc sống, lịch sự trong giao tiếp quan hệ; tôn trọng người khác giúp đỡ và khiêm tốn học hỏi; giữ đúng lời hứa, làm việc, học tập, vui chơi đúng kế hoạch; tích cực tham gia các hoạt động Đoàn, Hội; nghiêm khắc với các hành vi sai trái, các vi phạm chuẩn mực đạo đức, các quy định về nếp sống văn hoá
Từ góc độ lý luận, nhận thấy việc xây dựng nếp sống cho SV, giúp SV có định hướng đúng đắn về bản thân Nói cách khác là SV phải tự nhận được những hành vi chuẩn theo các giá trị giáo dục như:
- Chăm chỉ học tập, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp; giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; tự giác trong kiểm tra, không quay cóp, không mở tài liệu; tìm tòi vận dụng các phương pháp học tập tốt; xây dựng nền nếp học tập, thói quen đọc tài liệu và nghiên cứu tài liệu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Ngăn nắp, gọn gàng, ăn ở vệ sinh, tiết kiệm, bảo vệ của chung; chấp hành tốt quy định KTX; tham gia các hoạt động văn hoá giao lưu, thể dục thể thao; chống lại các hành vi như: Cờ bạc, bia rượu, lưu trữ văn hoá phẩm đồi trụy, tuyên truyền mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác; sử dụng thời gian hợp lý hơn vào các hoạt động học tập; xây dựng hành vi thói quen tự quản, tự rèn luyện
- Thể hiện tình cảm với thầy cô, cán bộ công nhân viên bằng lòng kính trọng; với bạn bè bằng tình cảm thân thiện, đúng mực; quan tâm giúp đỡ mọi người; xây dựng mối quan hệ tình bạn, tình yêu trong sáng; sống hồn nhiên, vui tươi, yêu đời
Kết luận chương 1
Giáo dục nếp sống cho SV có vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất nhân cách của con người Giúp SV có đủ năng lực thực hiện các quan hệ phù hợp với các quy tắc ứng xử chuẩn mực
Công tác QLGD, quản lý nếp sống cho SV nội trú là một nhiệm vụ lâu dài; các nội quy, quy chế cần phải được xây dựng, sửa đổi bổ sung thường xuyên cho phù hợp với mục tiêu đào tạo, phù hợp với đặc điểm của từng loại hình nhà trường Các cơ sở đào tạo phải có kế hoạch, nội dung quản lý và phương pháp tổ chức thực hiện hiệu quả Hướng các hoạt động giáo dục nếp sống cho SV nội trú phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, phù hợp mục tiêu đào tạo, phù hợp đặc điểm nhà trường
Công tác quản lý giáo dục nếp sống cho SV trường CĐN có nhiệm vụ tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả; trên cơ sở vận dụng cơ sở lý luận khoa học QLGD để tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức trong và ngoài nhà trường cùng tham gia
QLGD nếp sống cho SV, đặc biệt là SV nội trú, để công tác QLGD nếp sống cho HSSV thực sự chất lượng và hiệu quả
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT XÔ SỐ 1, BỘ XÂY DỰNG
2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT XÔ SỐ 1, BỘ XÂY DỰNG
2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển
Quá trình xây dựng và phát triển của Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số
1, Bộ Xây dựng chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn I (1977 - 1989): Giai đoạn trong thời kỳ quản lý theo cơ chế
hành chính bao cấp Mọi hoạt động đào tạo của Trường đều tuân thủ theo kế hoạch của Bộ giao Nhà học lý thuyết, Xưởng thực hành, KTX và các công trình phụ trợ khang trang, rộng rãi Máy móc, trang thiết bị mới, đầy đủ Kinh phí đào tạo phù hợp với chỉ tiêu đào tạo Học sinh tốt nghiệp được phân công công tác Do đó việc đào tạo nghề rất thuận lợi Đây là thời kỳ rất ổn định về
tuyển sinh đào tạo trong trường
- Giai đoạn II (1989 - 1992): Giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý của
Nhà nước Từ cơ chế quản lý hành chính bao cấp sang cơ chế kinh tế mở cửa Giai đoạn này kinh phí cho đào tạo rất hạn hẹp Các công trình kiến trúc bắt đầu xuống cấp, thiết bị cũ nát, hư hỏng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy, học tập Học sinh ra trường khó kiếm công ăn việc làm Đây là giai đoạn
rất khó khăn cho việc duy trì hoạt động đào tạo trong Nhà trường
- Giai đoạn III (Từ năm 1993 đến 2007): Giai đoạn sự nghiệp đổi mới về
kinh tế, chính trị thắng lợi, xã hội ổn định đã tạo đà cho công tác dạy nghề phát triển Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất, phù hợp với sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, nhu cầu học nghề của học sinh và người lao động rất cao Nên công tác tuyển sinh, đào tạo trong Nhà trường gặp nhiều thuận lợi Mặc dù hàng năm chỉ tiêu đào tạo Bộ giao cho Trường đều tăng (ban đầu 450 học
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sinh/khoá, nay tăng lên 1500 học sinh/khoá) nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của học sinh Số học sinh đến trường đăng ký học nghề vẫn vượt
xa so với chỉ tiêu đào tạo của Trường
- Giai đoạn IV (Từ năm 2007 đến nay): Giai đoạn nhà trường nâng cấp
từ trường Kỹ thuật Cơ giới Cơ khí Xây dựng Việt Xô số 1 lên trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, đào tạo 3 cấp trình độ và mở rộng ngành nghề đào tạo Chỉ tiêu tuyển sinh tăng lên từng năm, năm 2013 chỉ tiêu được giao là 1700 đến
2000 HSSV
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
- Đào tạo lao động kỹ thuật ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề
và sơ cấp nghề với các chuyên ngành cơ giới, cơ khí, xây dựng nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
- Tổ chức xây dựng, ban hành và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
- Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ Lao động TB&XH
- Tuyển dụng, quản lí đội ngũ giáo viên, cán bộ, viên chức của Trường
đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật
- Tổ chức nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ viên chức và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội
- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính
- Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý
- Ban giám hiệu: Hiệu trưởng, các Phó hiệu trưởng
- Hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình và các hội đồng tư vấn khác
- Các tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, các đoàn thể và tổ chức xã hội
- Các phòng nghiệp vụ: Phòng Đào tạo; Phòng Tổ chức Hành chính; Phòng Tài chính Kế toán; Phòng Quản trị thiết bị; Phòng Công tác HSSV
- Các khoa nghề: Khoa Cơ khí; Khoa Điện; Khoa Máy xây dựng; Khoa
Cơ bản;
- Các Trung tâm: Trung tâm Đào tạo lái xe; Trung tâm Tin học Ngoại ngữ; Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Hợp tác quốc tế;
- Các lớp HSSV:
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng
HTQT
Trung tâm đào tạo lái xe
Phòng
Tổ chức Hành chính
Phòng Tài chính Kế toán
Phòng Đào tạo
Khoa
Cơ bản
Khoa Điện
Khoa
Cơ khí
Các lớp học sinh
Khoa Máy Xây dựng
Trung tâm Tin học ngoại ngữ
BAN GIÁM HIỆU
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.1.4 Ngành nghề, quy mô đào tạo của Trường
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, đào tạo 3 cấp trình độ Cao đẳng nghệ, Trung cấp nghề, sơ cấp nghề và mở rộng ngành nghề đào tạo Căn cứ Giấy chứng nhận số 45/2013/CNĐKHĐ – TCDN ngày 22/8/2013 của Tổng cục dạy nghề về Đăng ký hoạt động dạy nghề, chỉ tiêu tuyển sinh, quy mô đào tạo nghề cụ thể: Hàn Cao đẳng nghề 90 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 100 chỉ tiêu,
Sơ cấp nghề 50 chỉ tiêu; điện Công nghiệp Cao đẳng nghề 90 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 100 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 35 chỉ tiêu; lắp đặt thiết bị cơ khí, Cao đẳng nghề 40 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 70 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 35 chỉ tiêu; kỹ thuật sửa chữa lắp ráp máy tính Cao đẳng nghề 30 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 30 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; kế toán doanh nghiệp Cao đẳng nghề 35 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 35 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ Cao đẳng nghề 35 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 35 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; sửa chữa máy thi công và xây dựng Cao đẳng nghề 50 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 100 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 35 chỉ tiêu; gia công kết cấu thép Cao đẳng nghề 50 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 60 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề
35 chỉ tiêu; công nghệ ô tô Cao đẳng nghề 90 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 35 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí Cao đẳng nghề 35 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 70 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 35 chỉ tiêu; điện dân dụng Cao đẳng nghề 50 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 60 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 50 chỉ tiêu; cấp thoát nước Cao đẳng nghề 35 chỉ tiêu, Trung cấp nghề
70 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 20 chỉ tiêu; cơ điện tử Cao đẳng nghề 35 chỉ tiêu, Trung cấp nghề 40 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; vận hành cầu, cần trục Trung cấp nghề 50 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 35 chỉ tiêu; vận hành thi công nền Trung cấp nghề 110 chỉ tiêu, Sơ cấp nghề 40 chỉ tiêu; cắt gọt kim loại Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; cắt gọt kim loại trên máy CNC Sơ cấp nghề 50 chỉ tiêu; hàn 3G sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; hàn 6G: Sơ cấp nghề 30 chỉ tiêu; vận hành máy
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nâng hàng Sơ cấp nghề 50 chỉ tiêu; vận hành cần trục tháp Sơ cấp nghề 50 chỉ tiêu; lái xe ô tô, sơ cấp nghề 450 chỉ tiêu
2.1.5 Điều kiện cơ sở vật chất của Trường Cao đẳng nghề Việt Xô
số 1, Bộ Xây dựng
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng là cơ sở đào tạo công nhân có trình độ cao đẳng và các cấp bậc khác theo cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân Hiện nay trường có 183 cán bộ giáo viên, được bố trí sắp xếp làm việc tại 12 Phòng, Khoa, Trung tâm Trường có nhiều giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia; cơ sở vật chất được đầu tư từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia và từ các dự án của Liên Xô, Pháp, cũng như của Bộ Xây dựng, nhà nước cho đầu tư mua sắm các thiết bị đào tạo nghề Năm 2013 được sự đầu tư của Bộ Xây dựng nhà trường đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhà học Đa năng 09 tầng với tổng diện tích 12.000m2 được bố trí 80 phòng học thực hành và lý thuyết Bên cạnh đó nhà trường còn có 01 nhà học chính 04 tầng với 40 phòng học lý thuyết và 04 dãy nhà xưởng với tổng diện tích khoảng 2000m2 Hàng năm nhà trường được đầu tư nâng cấp mua sắm thiết bị giảng dạy hiện đại phù hợp với quá trình phát triển của xã hội
Do công tác tuyển sinh của nhà trường trong những năm gần đây không đảm bảo 100% chỉ tiêu được giao đào tạo nên lưu lượng HSSV của trường chỉ đạt khoảng 2000 HSSV Trong đó số lượng SV hệ cao đẳng chiếm khoảng
900 SV còn lại các hệ trung cấp và hệ bổ túc văn hóa nghề
Số lượng HSSV ở nội trú khoảng 900 HSSV trong đó 500 em SV và
400 em học sinh còn lại HSSV ở ngoại trú
Nhà trường hiện có 1200 chỗ ở cho các em HSSV ở nội trú Các phòng
ở của KTX đều được đảm bảo việc sinh hoạt và học tập của SV như: mỗi phòng trang bị 3 bóng đèn neon, 01 quạt trần Mỗi tầng đều có khu vệ sinh và
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phòng tắm chung, trên mỗi một KTX đều có 02 bể chứa nước đảm bảo đủ cung cấp nước vệ sinh và sinh hoạt cho HSSV
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT XÔ SỐ 1, BỘ XÂY DỰNG
Thời gian học tập của SV theo yêu cầu của chương trình đào tạo bắt buộc (6giờ/ngày), thời gian còn lại SV nội trú thực hiện các hoạt động cơ bản sau: hoạt động cho nhu cầu tự nhiên của con người (ăn uống; vệ sinh cá nhân; ngủ, nghỉ ngơi); hoạt động tự học được quy định cụ thể trong nội quy, quy chế
Trong khoảng thời gian ngoài giờ quy định, SV thường tham gia vào các hoạt động như văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí, giao tiếp, đi làm thêm Các hoạt động của SV đa dạng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu nếp sống SV biểu hiện qua những hoạt động học tập; hoạt động sinh hoạt tập thể, cá nhân và lao động; hoạt động giao tiếp và ứng
xử
Chúng tôi đã tiến hành thăm dò để tìm hiểu SV thường thực hiện các hoạt động cơ bản trong ngày có kế hoạch hay không qua phiếu câu hỏi và kết quả thu được như sau:
Bảng 2.1: Cách thực hiện các hoạt động của SV
(SV năm 1: 54 SV; năm 2: 59 SV; năm 3: 67 Tổng số SV: 180)
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Qua thăm dò chúng tôi nhận thấy trong cả ba khóa SV, số SV thực hiện các hoạt động tự do tuỳ tiện chiếm tỷ lệ cao 80,6% so với số SV thực hiện hoạt động theo kế hoạch, có thời gian biểu chỉ chiếm 7,2% Điều này cho thấy phần lớn SV không có kế hoạch cụ thể cho các hoạt động của mình, chưa có định hướng rõ ràng cho các việc thực hiện trong ngày và chưa có sự phân chia thời gian cụ thể để thực hiện các việc đó Các em chưa có thói quen sử dụng thời gian có kế hoạch, khoa học mà phụ thuộc vào những điều kiện, tình huống cụ thể để thực hiện công việc một cách bị động
Ngoài các hoạt động cơ bản đáp ứng nhu cầu tự nhiên của con người,
SV còn tham gia vào các hoạt động chủ yếu sau: tự học, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, lao động và giao tiếp ứng xử Chúng tôi tiến hành tìm hiểu biểu hiện về nếp sống SV qua các hoạt động này
2.2.1 Nếp sống của sinh viên trong hoạt động học tập
Qua khảo sát thời gian tự học của SV bằng phiếu xin ý kiến, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.2: Thời gian dành cho tự học của SV
Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực và các phẩm chất nhân cách của bản thân người học bằng hành động của chính mình, ở bậc cao đẳng, đại học, việc học tập đòi hỏi SV không chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của thầy mà còn phải tự tìm kiếm tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở những kiến thức đã lĩnh
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hội trước đó Để chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn thành tốt mục đích
và nhiệm vụ học tập, SV phải coi trọng việc tự học Theo kết quả khảo sát trên thời gian SV nội trú dành cho việc tự học là chưa cao
Với việc dành thời gian như trên vào việc ôn tập thi cử cho thấy tính tự giác tích cực học tập của SV chưa cao, việc học mang tính chất đối phó với việc thi cử vẫn là hiện tượng phổ biến Ngoài thời gian dành cho tự học, biểu hiện của nếp sống SV trong học tập còn được thể hiện qua các mặt sau:
Bảng 2.3: Các biểu hiện của nếp sống SV trong học tập
(điểm trung bình tối thiểu là 1, tối đa là 5)
trong học tập
Năm thứ 1
Năm thứ 2
Năm thứ 3
Trung bình chung