LỜI MỞ ĐẦU 2 Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn từ dân cư của ngân hàng thương mại: 4 1.1.Nguồn vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại 4 1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn cuả ngân hàng thương mại 4 1.1.2. Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động cuả NHTM: 6 1.1.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM 8 1.2. Khái quát về huy động vốn từ dân cư: 14 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của vốn dân cư: 14 1.2.1. Vai trò của huy động vốn từ dân cư: 15 1.2.3. Các hình thức huy động vốn dân cư của NHTM: 15 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn dân cư của NHTM: 16 1.3.1 Nhân tố khách quan. 16 1.3.2 Nhân tố chủ quan 18 Chương 2: Thực trạng huy động vốn dân cư tại ngân hàng Vietcombank Thanh Hóa 22 2.1 Khái quát chung về Vietcombank Thanh Hóa 22 2.1.1.Quá trình phát triển và Bộ máy tổ chức hiện nay 22 2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh: 25 2.2. Thực trạng về huy động vốn dân cư tại Chi Nhánh Vietcombank Thanh Hóa: 32 2.2.1. Các hình thức huy động vốn dân cư. 32 2.2.2. Đánh giá chung về thực trạng huy động vốn dân cư 36 LỜI MỞ ĐẦU Nguồn vốn có vị trí hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, bởi nguồn vốn chính là cơ sở để ngân hàng thực hiện các chính sách và hoạt động kinh doanh của mình. Nhìn vào nguồn vốn của một ngân hàng, ta có thể đánh giá được phần nào uy tín cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó. Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam có hàng trăm ngân hàng lớn bé khác nhau, họ đang không ngừng cạnh tranh quyết liệt để giữ chân cũng như thu hút nguồn vốn về phía mình. Cũng lãi suất như vậy, cũng dịch vụ như thế, các cá nhân và tổ chức rất khó có thể ra quyết định. Đấy vừa là cơ hội, vừa là thách thức không hề nhỏ đối với các ngân hàng. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Làm thế nào để khách hàng lựa chọn mình để gửi tiền ? Tại sao khách hàng lại rời bỏ mình để lựa chọn một ngân hàng khác? Việc tìm kiếm nguồn vốn mới đã khó, làm thế nào để giữ chân được các nguồn vốn cũ lại càng khó hơn. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: chỉ mất 1 đồng để giữ chân một khách hàng, nhưng nếu ta mất khách hàng đó thì sẽ phải bỏ ra đến 6 đồng để tìm kiếm một khách hàng mới. Điều đó cho thấy việc duy trì khách hàng hiện tại của ngân hàng là một việc vô cùng quan trọng. Vậy làm thế nào để giữ chân được khách hàng trước những lời mời chào vô cùng hấp dẫn từ các đối thủ cạnh tranh? Trên cơ sở lý luận thu được ở khi học ở trường và kinh nghiệm thu được khi thực tập tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đối với vấn đề huy động vốn dân cư tại ngân hàng Vietcombank Chi Nhánh Thanh Hóa”. Chuyên đề đi sâu vào phân tích thực trạng huy động vốn dân cư của ngân hàng, chỉ ra những đạt được và hạn chế từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện vấn đề huy động vốn từ dân cư tại Chi nhánh Thanh Hóa. Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề về huy động vốn từ dân cư của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng huy động vốn dân cư tại Vietcombank Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn dân cư tại Chi nhánh.
Trang 2hàng, bởi nguồn vốn chính là cơ sở để ngân hàng thực hiện các chính sách và hoạtđộng kinh doanh của mình Nhìn vào nguồn vốn của một ngân hàng, ta có thể đánhgiá được phần nào uy tín cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam có hàng trăm ngân hàng lớn bé khácnhau, họ đang không ngừng cạnh tranh quyết liệt để giữ chân cũng như thu hútnguồn vốn về phía mình Cũng lãi suất như vậy, cũng dịch vụ như thế, các cá nhân
và tổ chức rất khó có thể ra quyết định Đấy vừa là cơ hội, vừa là thách thức không
hề nhỏ đối với các ngân hàng Câu hỏi được đặt ra ở đây là:
Làm thế nào để khách hàng lựa chọn mình để gửi tiền ?
Tại sao khách hàng lại rời bỏ mình để lựa chọn một ngân hàng khác?
Việc tìm kiếm nguồn vốn mới đã khó, làm thế nào để giữ chân được các nguồnvốn cũ lại càng khó hơn Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: chỉ mất 1 đồng để giữ chânmột khách hàng, nhưng nếu ta mất khách hàng đó thì sẽ phải bỏ ra đến 6 đồng đểtìm kiếm một khách hàng mới Điều đó cho thấy việc duy trì khách hàng hiện tạicủa ngân hàng là một việc vô cùng quan trọng Vậy làm thế nào để giữ chân đượckhách hàng trước những lời mời chào vô cùng hấp dẫn từ các đối thủ cạnh tranh? Trên cơ sở lý luận thu được ở khi học ở trường và kinh nghiệm thu được khithực tập tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa, em đã quyết
định lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đối với vấn đề huy động vốn dân
cư tại ngân hàng Vietcombank Chi Nhánh Thanh Hóa” Chuyên đề đi sâu vào
phân tích thực trạng huy động vốn dân cư của ngân hàng, chỉ ra những đạt được vàhạn chế từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện vấn đề huy động vốn từ dân
cư tại Chi nhánh Thanh Hóa
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về huy động vốn từ dân cư của ngân hàng thương mại.Chương 2: Thực trạng huy động vốn dân cư tại Vietcombank Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn dân cư tại Chi nhánh
Trang 3Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn từ dân cư của ngân hàng
thương mại:
1.1.Nguồn vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về nguồn vốn cuả ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng
cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền Để thựchiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợinhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải cần một yếu tố hết sức quan trọng đó
là vốn Vốn chính là cơ sở hình thành, tổ chức hoạt động của ngân hàng cũng nhưquyết định quy mô và năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Có thể nói vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thânngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặcthực hiện các dịch vụ kinh doanh khác
Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệcủa chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi Họchuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu,nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng Việc này có thểhiểu đó là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàngphải trả hay làm dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó.Nhờ việc có được nguồn vốn các ngân hàng mới có thể tiến hành kinh doanh: chovay, bảo lãnh, cho thuê … Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vàphân phối lại vốn dưới hình thức thực tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn,kích thích hoạt động kinh doanh phát triển Các hoạt động này quyết định đến sựtồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc biệt nên nhu cầu về vốn củaNgân hàng thương mại là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại baogồm :
* Nguồn vốn tự có :
Nguồn vốn này được hình thành từ hai bộ phần là :
+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại, là tiêuchuẩn được thành lập và đi vào hoạt động của NHTM Về mặt quy mô thì vốn điều
lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định
Trang 4Vốn điều lệ có thể do ngân sách Nhà nước cấp (đối với vốn NHTM quốcdoanh), có thể do các thành viên đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu (đối vớiNHTM cổ phần) hoặc vốn điều lệ có thể do cá nhân tự bỏ vốn ra (đối với Ngânhàng tư nhân).
Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban đầu củaNgân hàng Các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốnnày (đối với NHTM quốc doanh)
+ Vốn tích lũy: Vốn này được hình thành trong quá trình hoạt động của Ngânhàng thông qua việc trích nộp các quỹ Cứ mỗi Ngân hàng căn cứ vào kết quả hoạtđộng của mình mà trích một phần lợi nhuận nhằm bổ xung vào vồn tự có của Ngânhàng Tuy nhiên, tỷ lệ này lại tuỳ thuộc vào quy định của từng nước
* Vốn dự trữ :
Theo quy định chung của các NHTM đều phải mở tài khoản tại các Ngânhàng trung ương và nộp vào đó các khoản dự trữ bao gồm :
- Dự trữ tối thiểu pháp định
- Dự trữ để đảm bảo các hoạt động của Ngân hàng
- Các khoản dự trữ đặc biệt được pháp luật qui định
* Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống
Vì các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiệntình trạng ở Ngân hàng này có hiện tượng thừa vốn do huy động nhiều nhưng không
sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn Sở dĩ có tình trạng này là do :
Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở thị trường đầu ra dẫn đếnviệc không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việc huy động vốn vìmục đích giữ khách hàng Còn về phía bên Ngân hàng thiếu vốn do thị trường đầu
ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào không thể mở rộng được hơn nữa, dẫn đếntình trạng thiếu vốn Chính lúc này Ngân hàng trung ương hoặc các hội sở chính sẽthực hiện việc điều phối chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở hai bêncùng có lợi
Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp Ngânhàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường đầu vào vẫncòn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng
* Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua hình thứcchiết khấu các giấy tờ có giá Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của kháchhàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà
Trang 5nước, tiền triết khấu Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo kảh năngthanh toán của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :
Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nước đang phát triển,bởi vì ở các nước này Ngân hàng muốn có được vốn ở nguồn này phải được phépcủa Ngân hàng Nhà nước và thường dưới hình thức vay theo hiệp định
* Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể hoạtđộng để cho vay Đây là số tiền Ngân hàng nhận được dưới nhiều hình thức khácnhau
- Nhận tiền gửi của khách hàng
- Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng
- Vốn phát hành
Ngân hàng có quyền sử dụng số tiền này để phục vụ cho các mục đích củamình Nếu như trong thời kỳ bao cấp, việc huy động vốn của Ngân hàng theo quychế tập trung toàn ngành và phụ thuộc vào chủ tiêu do trên giao thì này chuyển sanghạch toán kinh doanh, huy động vốn đuợc thực hiện một cách linh hoạt căn cứ vàocác chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước và nhu cầu vay vốn của nền kinh tế
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động cuả NHTM:
Nguồn vốn là một trong những cơ sở quan trọng nhất cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại đặc biệt là nguồn vốn huy động được vì nó chiếm
tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nguồn vốn ở các ngân hàng Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh củaNHTM Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp
nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với
Trang 6Vốn đi vay của tài chính tín dụng Tiền gửi của
khách hàng
Vốn phát hành
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng thương mại
Tiền tiết kiệm
lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ
nợ do ngân hàng phát hành Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng
bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông
qua huy động vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có
quan hệ tín dụng với ngân hàng Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn
đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham
ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng Từ đó có biện
pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM
Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách còn
ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được Nếu một ngân hàng huy động
được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn
Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu
đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để
cho vay trung và dài hạn nhưng không được vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó
sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy
động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn
càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy,
công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định
rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng
1.1.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM
Một trong những hoạt động chủ yếu nhất của Ngân hàng thương mại là huy
động vốn để cho vay, để hiểu rõ hơn về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng
thương mại ta có thể phân loại ra nghiệp vụ vốn theo sơ đồ sau :
Trang 7• Tiển gửi của khách hàng:
Tiền gửi của khách hàng bao gồm : tiền gửi tiết kiệm và tiền ký gửi
a) Tiền ký gửi:
Tiền ký gửi gồm các khoản tiền gửi vào Ngân hàng có kỳ hạn và không kỳ hạn Lịch sử phát triển hoạt động Ngân hàng cho thấy để bảo quản tốt tiền vàng, người ta đã thuê sở đúc tiền giữ hộ và sở này sẽ có một khoản thu nhập từ việc bảo quản tiền vàng Đây là hình thức ban đầu của nghiệp vụ ký gửi Hiện nay có rất nhiều loại tiền ký gửi Đó là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tài khoản của các cơquan xí nghiệp Để có được tuận lợi trong sản xuất kinh doanh các cơ sở kinh tế có thể lựa chọn một hay nhiều Ngân hàng thương mại để giao dịch nhằm giải quyết việc thu chi chuyển tiền thanh toán và các dịch vụ tài chính khác
Trang 8Xét về mặt nghiệp vụ Ngân hàng thì tiền ký gửi có thể phân thành hai loại chính đó là :
Tiền gửi không kỳ hạn : Đây là số tiền nằm trong tài khoản vãng lai hoặc
tài khoản thanh toán và có thể rút ra vào kỳ lúc nào Pháp luật một số nước không cho phép tính lãi đối với tiền tạm thời nhãn rỗi trong tài khoản cơ quan xn Tuy nhiên, cũng có nước cho phép tính lãi nhưng rất thấp
Tiền gửi không kỳ hạn trước hết được dùng để thanh toán vãng lai, vịecthanh toán vãng lai này có thể tiến hành dưới dạng tiền mặt, séc hoặc uỷ nhiệm chi.Sau khi mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, chủ tài khoản phải giao cho Ngânhàng quyền ghi chép, theo dõi các nghiệp vụ phát dinh trên tài khoản của họ ở Ngânhàng Chi phí hoạt động này của Ngân hàng khá lớn nhưng trên thực tế Ngân hàng
có thể bù đắp được khoản chi phí này qua việc sử dụng số dư các tài khoản này đểcho vay lại, và đây chính là nguồn mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng
Tiền gửi không kỳ hạn có thể để ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi Hai loại tài khoản này khác nhau ở chỗ nếu để ở tài khoản tiền gửi thì chủ tài khoản được sử dụng số thực của mình nghĩa là tài khoản khách hàng phải luôn luôn dư có Loại tài khoản này thuận lợi, an toàn, tuy có lãi suất thấp, thuận tiện trong thanh toán (có thể chuyển đổi thành tiền mặt 100%) nên đây là loại tài khoản rất hấp dẫn khách hàng, tạo ra một lượng vốn lớn phục vụ hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nếu ở tài khoản vãng lai thì chủ tài khoản có thể rút tài khoản ra bất cứ lúc nào hoặc tạm vay trong thời hạn nhất định vì tài khoản có thể dư nợ hoặc dư có Nhưng trên thực tế hiện này trong các tài khoản tiền gửi cũng có thể dư nợ nếu có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng
Đối với tài khoản vãng lai có hai loại lãi suất được áp dụng đồng thời: lãi suất mà đơn vị phải trả cho Ngân hàng (nếu dư nợ trên tài khoản) và lãi suất lãi suất này do chủ tài khoản và Ngân hàng phải trả cho đơn vị (nếu tài khoản dư có), hai lãi suất này di chủ tài khoản và Ngân hàng thoả thuận trước và lãi suất trả cho số
dư nợ luôn lớn hơn lãi suất trả cho số dư có Chính vì vậy mà khách hàng luôn tìm cách bỏ tiền vào tài khoản nhằm giảm mức dư nợ đến mức thấp nhất, từ đó làm tăngnguồn vốn của Ngân hàng
Trang 9Trong những năm qua ý nghĩa của tiền gửi không kỳ hạn ở Ngân hàng tăng lên rõ rệt Nếu trước đây những tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng chủ yếu của doanh nghiệp và của những người thu nhập cao thì ngày nay đa số công nhân viên chức đều có tài khoản tiết kiệm bởi vì một mặt các công ty, xí nghiệp hợp lý nhất là trả lương không bằng tiền mặt, thêm vào đó ngân hàng thương mại lại có rất nhiều dịch
vụ giúp cho chủ tài khoản thanh thanh toán kịp thời nhanh chóng các tài khoản chi tiêu thường kỳ của họ như : tiền thuê nhà, thuê bao điện thoại, nộp thuế Do đó tiền gửi không kỳ hạn đã trở thành một nguồn cho vay hết sức quan trọng đồng thười cũng đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho Ngân hàng
Tiền gửi có kỳ hạn : là loại tiền gửi không dùng để thanh toán mà chủ yếu
là để kiếm lời cao So với tiền gửi vãng lai thì loại tiền gửi này có thời hạn gửi tiền dài hơn thông thường ít nhất là 1 tháng Tiền gửi có kỳ hạn đối vơi snhh là số tiền gửi đến một ngày nhất định mới phải trả lại cho khách hàng Điều này giúp cho Ngân hàng nắm được vốn trong các thời kỳ đã có kế hoạhc cho vay không phải tồn quỹ cao để đề phòng sự rút vốn bất thường Đo đó việc sử dụng nguồn vốn này cho vay rất hiệu quả, vì vậy lãi suất trả cho tiền gửi có kỳ hạn cao hơn tiền gửi không kỳhạn
Đối với tiền có kỳ hạn đến hạn mới được lấy ra, nếu xét về nguyên tắc Tuy nhiên trong trường hợp ngoại lệ người gửi muốn rút tiền ra trước thời hạn, trong trường hợp này có 2 cách giải quyết Hoặc người gửi tiền ấy được vay của Ngân hàng một khoản tiền mà họ cần, sau đó khi đến hạn trả tiền sẽ sử dụng tiền đó để hoàn trả cho Ngân hàng Hoặc thoả thuận với Ngân hàng rút trước thời hạn nhưng hưởng lãi suất thấp Ta thấy trong mọi trường hợp thì Ngân hàng luôn tự chủ được
về thời hạn hoàn trả tiền ký gửi cho khách hàng, vì vậy đấy là một nguồn rất quan trọng, có độ ổn định cao của Ngân hàng
b) Tiền gửi tiết kiệm:
Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp hoá phát triển tiền tiếtkiệm là loại tiền có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi vào Ngân hàng Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được giao cầm sổ tiết kiệm, sổ nàyđược coi như là giấy chứng nhận việc gửi tiền vào Ngân hàng của khách hàng Gửi
Trang 10tiết kiệm là những người có được một số tiền tích luỹ bằng ngoại tệ hay nội tệ nhất định và muốn tích luỹ số tiền này theo kiểu “tích tiểu thành đại”, Hoặc do số tiền của họ không đủ lớn để đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc người chủ không có khả năng hoặc không thích kinh doanh, khi đó họ sẽ đến Ngân hàng để gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm chia làm 2 loại :
- Gửi tiền có kỳ hạn
- Gửi tiền không kỳ hạn
Gửi tiền có kỳ hạn : nghĩa là gửi tiền theo một thời gian nhất định đến một ngày
mới trả lại cho người gửi tiền Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng Với loại tiền gửi này tuỳ theo pháp luật của từng nứoc mà sẽ có những quy định cụ thể khác nhau về việc rút tiền Đối với loại gửi tiền này thì ngườigửi tiền và quỹ tiết kiệm không phải thoả thuận trước về thời hạn rút tiền mà cả hai bên đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật Ví dụ như : trong một thời hạn nhất định người gửi tiền chỉ được rút ra một số tiền nhất định, muốn rút số tiền lớn hơn phải báo trước cho Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định được quy định
Gửi tiền không kỳ hạn: đây là hình thức gửi tiền mà thời hạn rút do bên người gửi
và Ngân hàng tự thoả thuận Đối với tiền gửi này các Ngân hàng thuộc cấc thành phần như nhân dân lao động, công nhân viên chức, học sinh, các khoản tiền này chủyếu là để dành dụm nhằm trang trải chi tiêu cần thiết, đồng thời có một khoản tiền lãi bù đắp co sịnh hoạt hàng ngày Trong trường hợp đa số thời hạn báo trước là mộtvài ngày kể từ sau thời hạn thoả thuận rút tiền ban đầu
Qua một số điểm phân tích ta thấy, với loại tiền gửi có kỳ hạn thì Ngân hàng
có thể dự tính được toàn bộ các vấn đề phát sinh đối với khoản tiền này như : khi nào phải trả tiền và sử dụng bao nhiêu và trong bao lâu theo các thời hạn khác nhau cho Ngân hàng chủ động biết được thời hạn của người gửi tiền và do tính thời hạn
ổn định của loại tiền gửi này Trong khi đó với loại tiền gửi không kỳ hạn, thời hạn rút tiền không ổn định do khách hàng có thể rút tiền vào bất cứ lúc nào, nếu họ cần
vì vậy Ngân hàng không thể sự dụng toàn bộ số tiền này để cho vay mà chỉ dùng
Trang 11một phần mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn, số còn lại thường thì Ngân hàng đầu tư vào cầm cố bất động sản, vào mua chứng khoán, công trái nhà nước đễ dễ dàng nhanh chóng chuyển để thanh thanh toán bằng tiền mặt Chính vì vậy mà lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn luôn cao hơn lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn và Ngân hàng làm như vậy là nhằm tăng cường khối lượng vốn ổn định cho mình.
Trên đây là các hình thức huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế trong khuôn khổ nguồn tiền ký gửi và tiết kiệm Hiện nay, ở các nước trên thế giới (kể cả Việt Nam) người ta cho rằng vận động nhân dân gửi tiết kiệm là một trong các nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng Bởi vì nếu huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ có tiền cấp phát cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế xã hội
Bên cạnh các hình thức huy động vốn như trên, Ngân hàng thương mại còn một số hình thức huy động tiền tiết kiệm của dân cư như :
Tiết kiệm xây dựng nhà ở: đây là hình thức “đi vay để cho vay” của Ngân hàng
Hình thức đưa ra nhằm mục đích tạo vốn cho Ngân hàng nhưng đồng thời giúp dân
cư có tiền để giải quyết vấn đề nhà ở, thông qua đó giảm bớt thời gian vốn bị ứ đọng Theo hình thức này thì khách hàng phải gửi đủ tiền theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, sau một thời gian tối thiểu là 1 năm khách hàng được rút tiền gửi cả gốc và lãi đồng thời được Ngân hàng cho vay một số vốn tối đa bằng số tiền đã gửi
và Ngân hàng phải chịu trách nhiệm về việc huy động vốn và chuẩn bị đủ vốn để thanh thanh toán với khách hàng theo quy định
Tài khoản séc dùng cho cá nhân: thủ tục mở tài khoản này giống như thủ tục gửi
tiền tiết kiệm nhứng thay vì được phát một quyển sổ tiết kiệm người mở tài khoản
sẽ được cấp một tập séc Mọi khoản thanh toán của họ có thể thực hiện dưới hình thức phát séc
• Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng :
Trong thực tế , các Ngân hàng thương mại luôn có sự không cân đối giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, vì vậy khi thiếu vồn đột xuất Ngân
Trang 12hàng thương mại có thể vay của các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường liên Ngân hàng.
Thị trường này giúp cho Ngân hàng thương mại bổ sung nguồn vốn cho nhau, giải quyết nhanh nhu cầu thiếu hụt trong thanh toán vủa nền kinh tế Hoạt động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả năng sẵn có một cách triệt để trước khi cần yêu cầu đến tiền trung ương
Tỷ trọng của nguồn này trong tổng nguồn vốn phản ánh quan hệ của Ngân hàng với các tổ chức tài chính khác và chất lượng công tác thanh toán của Ngân hàng bởi nếu tỷ trọng của nguồn này lớn, chứng tỏ rằng Ngân hàng rất có uy tín trong quan hệ thanh toán cả đối với khách hàng và đối với các tổ chức tín dụng khác
Ở nước ta hoạt động của thị trường liên Ngân hàng còn hạn chế về quy mô hoạt động , do đó khó khăn chung về nguồn vốn vủa cả hệ thống và thiều các định chế thích hợp
• Vốn phát hành:
Vốn phát hành của Ngân hàng thuộc loại : “ chủ động thu gom” đây là hình
thức huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu Những hình thức huy động
vốn ở trên đựoc xếp vào loại “bị động thu gom” Xét về bản chất thì hai loại này
không khác nhau nhiều, tuy nhiên nó khác nhau ở chỗ :
1* Lãi suất “vốn chủ động đi vay” cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
2* “vốn chủ động đi vay” được huy động theo sáng kiến của từng Ngân
hàng, đây là khoản tiền nhận gửi có bảo đảm ché không phải tiền gửi đơn thuần Vốn này cũng thuộc loại tín dụng dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
Với loại “vốn chủ động đi vay” Ngân hàng hoàn thanh toánàn tự chủ về mặt
thời hạn hoàn trả do đó có thể sử dụng cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn là tuỳ thuộc vào thời hạn của vốn vay và mặc dù lãi suất xao hơn thông thường Ngân hàngvẫn được lợi nhiều từ hình thức huy động này
Trang 13Tóm lại, với những hình thức huy động vốn như trên của Ngân hàng thương mại, các Ngân hàng có thể thực hiện được việc kết hợp giữâ huy động vốn và cho vay một cách nhịp nhành Do đó, nếu thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của mỗi hìnhthức huy động vốn nói trên, Ngân hàng có thể vừa mở rộng đuợc thị trường đầy vàođồng thời mở rộng được luôn thị trường đầu ra cho mình, bảo đảm cho Ngân hàng luôn luôn nắm được thế chủ động trong kinh doanh kinh doanh.
Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế, đặc điểm của từng khu vực hoạt động và đặc điểm của từng Ngân hàng mà các hình thức huy động này đuợc biến đổi và thực hiện cho phù hợp
1.2 Khái quát về huy động vốn từ dân cư:
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn dân cư:
Huy động vốn từ dân cư chiếm tỷ trọng không lớn trong nguồn vốn củaNHTM nhưng lại là mục tiêu tăng trưởng hằng năm của các NHTM nên các NHTMthường tìm mọi cách để duy trì và thu hút vốn huy động từ các dân cư
Huy động vốn từ dân cư có một số đặc điểm đáng chú ý như sau:
Quy mô tiền gửi của dân cư lớn: đặc điểm này là do bản chất của nhữngkhoản huy động từ dân cư chính là những khoản nhàn rồi tạm thời trong xã hội vàđược người dân tích trữ lại như một khoản tiết kiệm để phục vụ cho nhu cầu sửdụng trong tương lai Vì dân cư là đối tượng đông nhất trong nền kinh tế nên vềtổng thể thì tập trung nguồn vốn này sẽ tạo ra một nguồn vốn có quy mô lớn choNHTM, đối với NH thì đó là những nguồn mà NH tổ chức huy động từ dân cư đểđược tái đầu tư sinh lời thông qua NH cho nên chi phí của vốn của huy động từ dân
cư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động chung của tổng nguồn huy động và
là một trong những chỉ tiêu quan trọng để NHTM xác địch lãi suất cho vay
Tiền gửi dân cư lại là nguồn ổn định nhất: là cơ sở để các NHTM quy định tỷ
lệ dự trữ và tỷ lệ cho vay ,vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác và của các tổchức kinh tế xã hội thường không ổn định do sự di chuyển liên tục của dòng tiềntrong nền kinh tế, còn vốn chủ sở hữu có chi phí sở hữu rất lớn nên không cho hiệuquả cao khi cho vay Trong khi đó, vốn huy động từ dân cư có được tính chất ổnđịnh cho người dân khi gửi tiền vào NHTM thường do mục địch tích lũy để tiêu
Trang 14dùng những việc lớn hơn trong tương lại, nên NH có kế hoạch và có thể dự báođược thời điểm tăng giảm của nó.
Vốn huy động từ dân cư là nguồn vốn có thời hạn tương đối dài, là tiền đề đểNHTM cho vay trung và dài hạn, điều nay được quy định bởi hành vi tích lũy củangười dân khi gửi tiền hay cho NHTM vay, các nguồn khác như vay từ NHNN vàcác tổ chức kinh tế xã hội thì thời hạn là rất ngắn hoặc không có kỳ hạn do việc sửdụng thường xuyên vốn của các tổ chức này
1.2.1 Vai trò của huy động vốn từ dân cư:
Vai trò đối với Xã Hội: huy động tiền gửi dân cư tăng cường tiết kiệm vàgiảm chi tiêu, tạo công ăn việc làm cho người lao động , tăng cường sản xuấtkinh doanh, tiết kiệm chi phí phát hành và lưu thông tiền mặt cho xã hội
Vai trò đối với người dân: Tăng thêm thu nhập cho người dân thông quakhoản thu nhập từ lãi, chênh lệch mua bán các loại chứng từ có giá, thu nhập
từ quà tặng của hình thức tiết kiệm dự thưởng
Vai trò đối với NHTM: giúp tăng cường nguồn vốn của NHTM, là tấm đệmcho hoạt động kinh doanh của NH, dân cư không chỉ là đối tượng hoạt độngcủa NHTM mà còn là khách hàng của NHTM từ đó giúp cho hoạt động kinhdoanh của NH trở nên có hiệu quả
1.2.3 Các hình thức huy động vốn dân cư của NHTM:
• Huy động vốn dưới hình thức chứng chỉ tiền gửi
• Huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu và trái phiếu
Kỳ phiếu: đây là hình thức huy động nợ ngắn hạn với khối lượng lớn của NH,lãi suất thông thường của kỳ phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, trả lãi trước
và sau kỳ phiếu có thời gian ngăn hơn, tính lỏng cao hơn trái phiếu nên được thịtrường ưa thích hơn
Trái phiếu: đây là hình thức huy động nợ dài hạn của NH để chuẩn bị cho những
dự án cụ thể có vốn đầu tư lớn nên lãi suất cao hơn lãi suất của kỳ phiếu
• Huy động vốn dưới hình thức mở tài khoản cá nhân
NHTM có thể huy động tiền gửi dân cư dưới hình thức mở tài khoản cá nhâncho khách hàng để thanh toán Tài khoản thanh toán của cá nhân là loại tài khoản
mà người chi có toàn quyền sử dụng trong phạm vi số dư như: khách hàng có thể
Trang 15rút tiền tại quầy giao dịch hoặc máy rút tiền tự động, có thể thực hiện thanh toánqua NH Khách hàng phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của NH trong quátrình thực hiện thanh toán, còn NH phải thực hiện tính thanh khoản theo yêu cầucủa khách hàng, và chỉ được từ chối khi số tiền thanh khoản vượt quá số dư tiếtkiệm hoặc giấy tờ thanh khoản không đúng yêu cầu Ở nhiều nước trên thế giới cónền kinh tế phát triển thì việc sử dụng tiết kiệm này chỉ được hưởng các dịch vụ NHchứ không được hưởng lãi, còn ở việt nam để khuyến khích hình thức này pháttriển, NH để người gửi tiền được hưởng một mức lãi suất thấp và không phải trả lệphí
Môi trường kinh tế xã hội
Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, người dân có thu nhập cao hơn,
từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, tức là huy động vốn từ tiền gửi dân cư sẽtăng Đồng thời tạo môi trường kinh doanh cho NH có hiệu quả, và từ đó làm tăngvốn tự có của NH
Khi nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuất bị kìm hãm nền kinh tế suy thoái,lạm phát tăng cao, khả năng tiết kiệm của dân cư giảm, huy động vốn từ dân cư tạingân hàng sẽ giảm
Cơ chế chính sách của Nhà Nước
Hoạt động huy động tiền gửi từ dân cư chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cơ chế củaNhà nước, trước hết là hành lang pháp lý có ảnh hưởng đến tất cả mọi hoạt độngcủa NH trong đó có hoạt động huy động vốn tiền gửi từ dân cư như luật tổ chức tíndụng, luật NHNN…
Trang 16VD các luật đó quy định hệ số an toàn vốn tối thiểu của một NHTM bé hơn bằng8%, hoặc đối với tiền gửi thì các NHTM phải thành lập dự trữ Ngoài ra hoạt độnghuy động vốn từ dân cư còn chịu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ qua hai công cụchủ yếu là lãi suất chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Chính sách tiền tệ gián tiếpđiều chỉnh lãi suất huy động vốn từ dân cư của NHTM, nếu chính sách tiền tệ nhằmchống lại lạm phát thì NHNN cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất tái chiết khấulàm hạn chế việc đi vay của NHTM, dẫn đến các NHTM tích cực hơn trong việchuy động vốn từ dân cư, do đó có thể làm lãi suất huy động vốn từ dân cư tăng vàngược lại Khi NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm thắt chặt hoặc nớilỏng khả năng tạo tiền của các NHTM do đó ảnh hưởng đến lãi suất huy động vốn
từ dân cư Hơn nữa mục tiêu của các chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát bình
ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm , chính sách tiền tệ làm tăngthêm thu nhập cho người dân, từ đó dân cư có thêm khoản tiền nhàn rỗi để gửi vào
NH nhằm mục đích sinh lời
Thói quen tập quán và thu nhập của dân cư
Ngân hàng là nơi mà khách hàng rất tin tưởng nên khách hàng giao túi tiền củamình cho NH nhằm thực hiện các mục đích khác nhau như, đảm bảo an toàn chitiền bạc của mình hoặc nhằm sinh lãi, hoặc hưởng các dịch vụ của NH … Cho nên
ta thường ví NH như người nắm túi tiền của nền kinh tế Nếu NH không được ngườidân tin tưởng thì NH không thể thực hiện được vai trò là trung gian tài chính vàchắc chắn là sẽ không phát triển
Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy đôngvốn của các NH, đặc biệt là tập quán sử dụng tiền tệ Nếu người dân có thói quên sửdụng tiền mặt ít thì khả năng tiết kiệm của người dân tăng làm nguồn vốn huy động
từ dân cư của NH được tăng cường
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NH Nếu ởnhững vùng dân cư người ta quen dùng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất giữ là chínhthì việc huy động vốn của NH sẽ gặp nhiều khó khăn, chẳng hạn vào thời kỳ vàngcòn có giá trị thì người ta dùng tiền nhàn rỗi để mua vàng cất trữ, còn khi người dân
có nhu cầu hưởng lãi thì hoặc bảo quản thì họ gửi tiền vào NH nhiều hơn làm cơ hộihuy động vốn của NH tăng lên…Ở những nước phát triển, nhu cầu giao dịch thanh
Trang 17toán qua NH rất nhiều, hầu hết những người dân có thu nhập đều mở tài khoản séc
để thanh toán qua NH, còn những nước kém phát triển, thu nhập của người dânthấp, nhu cầu giao dịch thanh toán quan NH còn rất hạn chế nến ít người mở tàikhoản tại NH Điều này sẽ làm giảm khả năng tạo tiền tại hệ thống NHTM, khôngphát huy được tính hiệu quả của tài khoản giao dịch
Thu nhập của người dân cũng ảnh hưởng lớn đến công tác huy động vốn củaNHTM, thu nhập của người dân càng cao thì khả năng tiết kiệm của họ cang lớnlàm lượng tiền gửi vào NH sẽ lớn và ngược lại
Khi các ngân hàng thương mại đưa ra các hình thức huy động vốn ngày càng đadạng và hợp lý, cùng với việc mở rộng hệ thống màng lưới hoạt động, và nâng caochất lượng hoạt động các dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút ngày càng nhiều kháchhàng đến với ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc huy độngvốn Ngược lại khi các hình thức huy động vốn của ngân hàng chưa đa dạng,phong phú, chất lượng hoạt động dịch vụ chưa cao, hệ thống màng lưới còn ít, chưathuận lợi cho khách hàng trong việc giao dịch với ngân hàng, thì nó sẽ ảnh hưởngkhông tốt tới huy động vốn của ngân hàng
Hiện nay với sự đổi mới sâu sắc của ngành ngân hàng, các ngân hàng thươngmại không ngừng đổi mới về khoa học, công nghệ, về phong cách giao dịch, mởrộng các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng, phát triển thêm mạng lưới hoạtđộng từ chi nhánh cấp 3, cấp 4, các ngân hàng lưu động, và các ngân hàng hoạtđộng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ
Chất lượng hoạt động tín dụng