1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013

80 707 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “ Sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chă sóc và điều trị HIV/AIDS tại các bệnh viện của tỉnh Hòa Bình và Nghệ An, nă 2013” với mục tiêu:

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kể từ những trường hợp đầu tiên đến nay đại dịch HIV/AIDS đã trở thànhmột đại dịch lớn nhất thế giới và có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử Tổng kết của UNAIDS cho thấy tỷ lệ Nhiễm HIV mới hàng năm đãgiảm 21% trong giai đoạn năm 1997 và 2010[1] Tuy nhiên ngày càng nhiềungười phải sống chung cùng những bệnh nhân HIV, theo báo cáo củaUNAIDS năm 2011 cho thấy vào cuối năm 2010 có khoảng 34 triệu ngườiđang sống với HIV trên toàn thế giới, tăng 17% so với năm 2001, có tỷ lệtăng này là do hiệu quả của điều trị và chăm sóc ngày càng tốt lên

Ở Việt nam dịch HIV/AIDS có xu hướng chững lại và không tăng nhanhnhư những năm trước đây, nhưng về cơ bản chưa khống chế được dịch HIV ởViệt Nam Hình thái lây nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn đang trong giaiđoạn dịch tập trung[1].[2]

Theo báo cáo công tác Phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012của Bộ Y tế: cả nước hiện có 213.413 người nhiễm HIV còn sống, 63.373bệnh nhân AIDS còn sống và kể từ đầu vụ dịch đến nay có 65.133 người tửvong do HIV/AIDS [2]

Hệ thống chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đã được thành lập trên toànquốc Tính đến ngày 30 tháng 05 năm 2013, toàn quốc có 485 phòng tư vấn

và xét nghiệm, 299 phòng điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS Nguồn nhânlực tham gia vào lĩnh vực điều trị và phòng chống HIV/AIDS đang thiếu hụtnghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.[2]

Trước năm 2005: do TTYT dự phòng đảm nhiệm, sau năm 2005: Bộ Y

tế đã quyết định thành lập Trung tâm AIDS tỉnh thuộc Sở Y tế tỉnh, chịu tráchnhiệm thực hiện phòng chống HIV

Tuy nhiên, việc tuyển dụng nhân viên tại Trung tâm AIDS tỉnh đã khôngđược dễ dàng Do nhân viên y tế thích làm việc trong khám, chữa bệnh và tại cácbệnh viện hơn là làm việc trong y học dự phòng cũng như trong chăm sóc và

Trang 2

điều trị HIV/AIDS, vì lương và ưu đãi thấp Nhân viên y tế không muốn làmviệc với người sử dụng ma túy, gái mại dâm vì sự kỳ thị xã hội và nguy cơ cao.

Mô hình mới chăm sóc và điều trị HIV/AIDS diễn ra ngay cả ở cấp huyện,nhưng tình trạng thiếu cán bộ và kiêm nhiệm là chủ yếu, ở các huyện thậm chí cònnghiêm trọng hơn Số cán bộ có trình độ và kinh nghiệm được tuyển dụng thêm ít,các cán bộ kinh nghiệm và năng lực xin chuyển công tác khác hoặc chuyển lĩnhvực khác Nguyên nhân chính do công việc căng thẳng vất vả và nguy hiểm, thunhập còn quá thấp, đãi ngộ ngành nghề, phụ cấp đặc thù, phụ cấp vùng miền vàphụ cấp thâm niên chưa tương xứng

Bên cạnh đó nguồn ngân sách cho công tác phòng chống HIV/AIDS bịcắt giảm xuống còn 1/3,các dự án quốc tế ngừng hoặc cắt giảm đang lànguyên nhân gây khó khăn trực tiếp cho nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnhvực chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS[2, 3] Vậy những nhân viên y

tế đang đang làm trong chăm sóc và điều trị HIV/AIDS họ có hài lòng vớicông việc hay không, những yếu tố nào giúp họ gắn kết với công việc? Hiệnnay còn rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Vì vậy chúng tôi tiến hành

đề tài: “ Sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chă sóc và điều trị HIV/AIDS tại các bệnh viện của tỉnh Hòa Bình và Nghệ An, nă 2013” với

mục tiêu:

1 Mô tả sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một số bệnh viện của tỉnh Hòa Bình và Nghệ An, năm 2013.

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một số bệnh viện của tỉnh Hòa Bình và Nghệ An, năm 2013.

Từ đó góp phần cung cấp bằng chứng để đưa ra các khuyến nghị, giúp các nhà hoạch định chính sách cải thiện động cơ thúc đẩy nhân viên Y tếlàm việc trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sự hài lòng của nhân viên

1.1.1 Định nghĩa sự hài lòng đối với công việc

Định nghĩa của trường Đại học Oxford về hài lòng đối với công việc làcảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện mộtcông việc Một số nhà nghiên cứu lý luận cho rằng có thể đạt được mức độhài lòng với công việc chỉ với một vấn đề Một số khác gợi ý chúng ta có thể

có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (tiềnlương) nhưng cảm xúc tích cực về những mặt khác (đồng nghiệp) Sự hàilòng với công việc cần được xem xét cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hưởngcủa cán thay đổi về tổ chức[3]

Thuật ngữ hài lòng với công việc và động cơ làm việc thường được dùngthay cho nhau, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt Hài lòng đối với công việc làđáp ứng cảm xúc của một người đối với tình trạng công việc Động cơ làmviệc là động lực theo đuổi thỏa mãn nhu cầu

Nhu cầu : Theo A.G Kôvaliôp: “ Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân

và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định đểsống và phát triển”[3]

Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân vàtập thể Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của conngười Mặt khác, nhu cầu quy định và tích cực hóa hoạt động của con người

Động lực : là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc Động

cơ phản ánh mong muốn, còn động lực là những phương tiện mà nhờ chúng

Trang 4

các nhu cầu mâu thuẫn nhau được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề caohơn để sao cho nó sẽ được ưu tiên hơn các nhu cầu khác.

Động cơ: là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu

của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năngkhơi dậy tính tích cực của chủ thể

Động cơ là nguyên nhân, là cơ sở của sự lựa chọn hành động của các cánhân và nhóm trong tổ chức Động cơ của con người gắn liền với nhu cầu vàđược hình thành từ nhu cầu Khi nhu cầu gặp đối tượng và có điều kiện thỏamãn thì trở thành động cơ của chủ thể

1.1.2 Sự hài lòng của nhân viên y tế

Trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam cũng như của Toàn thế giới đangtrong giai đoạn khủng hoảng về tài chính nghiêm trọng, đời sống của đa sốnhân viên y tế còn gặp nhiều khó khăn Mặc dù những năm qua, Đảng vàChính phủ đã có nhiều chính sách nâng cao đời sống cho cán bộ y tế Nghịquyết 46-NQ/TW của bộ chính trị - Ban chấp hành trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam đã nêu: Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đàotạo và sử dụng và đãi ngộ đặc biệt Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải khôngngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với

sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ ChíMinh: “ Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Sự hài đối với công việc của nhân viên hay chính là khách hàng bên trong

có vai trò rất quan trọng Chất lượng và hiệu quả công việc chỉ đạt được khi có

sự hiểu biết lẫn nhau về sự hài lòng giữa nhà quản lý và nhân viên

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm điều kiện làmviệc, tính chất công việc, cơ hội thăng tiến, lương, thưởng, quan hệ với đồng

Trang 5

nghiệp, quan hệ với lãnh đạo, công ty quản lý, an ninh được thể hiện bằng sơ

đồ dưới đây:

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và mối liên

quan với hiệu suất vàc chất lượng công việc

Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng dến sự hài lòng bao gồm phươngpháp quản lý công việc và sự tham gia của người lao động, sự tự chủ và làmviệc theo nhóm Sự hài lòng đối với công việc là yếu tố rất quan trọng và cáchthông thường để đo sự hài lòng là sử dụng các mức độ đánh giá khác nhauthông qua phản ứng của người lao động đối với công việc của họ [4]

1.1.4 Đo lường sự hài lòng

Trong nhiều bộ câu hỏi đo lường sự hài lòng được sử dụng nhiều trongcác năm qua thì có 3 bộ công cụ được các tác giả trên thế giới thường sử dụng

Hiệu suất và chất lượng công việc

Cơ sở vật chất

Tính chất công việc

Lương và phúc lợi

Mối quan hệ với lãnh đạo

Học tập, phát triển

và khẳng định

Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc

Sự hài lòng đối với công việc

Mối quan hệ với đồng nghiệp

Trang 6

nhiều nhất đó là Minnesota Satisfaction Questionnaire (MSQ), bản mô tảcông việc - Job Descriptive Index (JDI) và điều tra sự hài lòng đối với côngviệc - Job Satisfaction Servey (JSS) Cả ba bộ câu hỏi này đều bao gồm các ýkiến nhận xét của mọi người về sự hài lòng đối với công việc

Đối với bộ câu hỏi JDI, có các yếu tố, đó là lương, phúc lợi xã hội, khảnăng và cơ hội thăng tiến, đồng nghiệp (tôn trọng và hòa hợp xã hội), chấtlượng và giám sát của cấp trên (kỹ thuật giám sát, hỗ trợ xã hội), tự làm việc(chịu trách nhiệm, quan tâm và mong đợi) Câu hỏi JDI, được thiết kế bởiSmith, Kendall, & Hulin (1969), bao gồm 5 yếu tố mỗi yếu tố bao gồm 9 hoặc

18 câu hỏi, tổng bao gồm 72 câu hỏi.[5]

Bộ câu hỏi MSQ đo lường sự hài lòng với điều kiện làm việc, thăngtiến, khẳng định mình, khen ngợi khi làm việc tốt và giao tiếp với mọi người

Bộ câu hỏi này bao gồm 20 yếu tố với 100 câu hỏi với phiên bản đầy đủ và 20câu đối với phiên bản rút gọn (mỗi câu hỏi một yếu tố)[6]

Ngoài 2 bộ câu hỏi trên, còn một bộ câu hỏi của tác giả Paul E Spector– bộ câu hỏi JSS bao gồm 36 câu hỏi đo lường với 9 yếu tố (tiền lương, sựthăng tiến, đồng nghiệp, giám sát-nhận xét của cấp trên, quy chế cơ quan, phúclợi ngoài lương, khen thưởng, quy chế cơ công việc, thông tin nội bộ)[7]

1.1.5 Các lý thuyết động viên nhân viên

Thuyết nhu cầu theo thứ bậc của Maslow:

Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ, gốc Nga Năm 1943 bắtđầu nghiên cứu lý thuyết thang bậc nhu cầu Đầu tiên ông chia nhu cầu củacon người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh

tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc Theo ông, hành vicon người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, động cơ bên trong được hìnhthành từ những nhu cầu của con người[8]

Trang 7

Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và nhữngnhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao.Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:

Hình 1.1 Tháp nhu Cầu của Abraham Maslow

(1) Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học: là những nhu cầu đảm bảo

cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống vàcác nhu cầu của cơ thể khác

(2) Nhu cầu về an ninh và an toàn: là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an

toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ

(3) Nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về

tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội

(4) Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người

khác, được người khác tôn trọng, địa vị

(5) Nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: là các nhu cầu như chân,

thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước

Trang 8

Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp Nhu cầucấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn Nhu cầu cấp caobao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện Sự khác biệt giữa hailoại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi

đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người

Ứng dụng Lý thuyết trong hoạt động quản trị

Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối vớicác nhà quản trị đó là muốn lãnh đạo nhân viên thì điều quan trọng là bạnphải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào Từ sự hiểu biết

đó cho phép bạn đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu củangười lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu tổ chức

- Đối với nhu cầu sinh lý: Trả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn

trưa, ăn giữa giờ, giữa ca miễn phí; đảm bảo các phúc lợi……

- Đối với nhu cầu về an toàn: Bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo

đảm công việc được duy trì ổn định và chăm sóc sức khoẻ tốt cho nhân viên(an toàn tính mạng, thu nhập, công việc ….)

- Nhu cầu liên kết, chấp nhận: Người lao động cần được tạo điều kiện

làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận,khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanhnghiệp hoặc tổ chức, các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệmhoặc các kỳ nghỉ khác

- Nhu cầu tôn trọng: Người lao động cần được tôn trọng về nhân cách,

phẩm chất, tôn trọng các giá trị của con người Do đó, cần có cơ chế và chínhsách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cánhân một cách rộng rãi Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp

Trang 9

kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới cómức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn

- Nhu cầu tự thể hiện: Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển

những thế mạnh cá nhân, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cầnđược khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổchức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp

Như vậy, Nhà quản lý cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu củanhân viên và có biện pháp hữu hiệu để đáp ứng, nghĩa là họ cần biết “chiều”nhân viên một cách hợp lý và có dụng ý.[8]

1.1.6 Mong đợi của nhân viên

Theo mức độ ưu tiên: (kết quả điều tra ở 300 người tại VN)

- Thăng tiến và phát triển

- Tiền lương xứng đáng

- An toàn về công ăn việc làm

- Công việc hấp dẫn và tương xứng với khả năng

- Được người khác đánh giá cao, được tôn trọng

- Có quyền lực

Cảm nhận của nhân viên

So sánh phần đóng góp và phần đãi ngộ của bản thân và của người khác > Căng thẳng và bất mãn nếu cảm thấy bất công

Tìm kiếm sự công bằng > Điều chỉnh phần đóng góp của bản thân so vớiphần đãi ngộ bản thân được hưởng Chuyển công tác hoặc xin nghỉ việc [9]

Trang 10

1.2 Nguồn nhân lực Y tế

1.2.1 Phân bổ nguồn nhân lực theo tuyến

Biểu đồ 1.1 Phân bố nhân lực ngành y tế theo tuyến - tính toán từ số liệu

Niên giám thống kê y tế 2011[12]

Số liệu từ cơ sở dữ liệu Kiểm tra bệnh viện hàng năm cung cấp thông tincho phép ước tính nhân lực của lĩnh vực khám chữa bệnh theo các tuyến Kếtquả trình bày trong biểu đồ 1

Biểu đồ 1 và số liệu từ biểu đồ phản ánh bức tranh phân bổ nhân lực y tếtheo 4 tuyến kỹ thuật (TW, tỉnh, huyện và xã)

Bức tranh này phản ánh thực trạng tổ chức hệ thống 4 tuyến trong đónguồn nhân lực KBCB đang tập trung theo cách rất thiếu cân xứng khi tuyến

kỹ thuật chuyên sâu (tuyến tỉnh với chức năng chẩn đoán và điều trị bệnhchuyên khoa –chuyên sâu) đang chiếm phần lớn nhân lực, trong khi nhân lựccho tuyến Huyện và tuyến xã – tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu lẽ ra có thểgiúp giải quyết phần lớn nhu cầu CSSK người dân nguồn lực nhân lựcKCBchiếm thấp hơn[12]

Trang 11

1.2.2 Nguồn nhân lực cho chăm sóc và điều trị HIV/AIDS.

1.2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực y tế trong hệ thống HIV/AIDS

Phòng, chống HIV/AIDS thuộc lĩnh vực Y tế dự phòng, là một trongnhững lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành rủi ro nhiều và thiếu hấp dẫn vềthu nhập đang phải đối mặt với một thách thức lớn về nguồn nhân lực [13]

Hiện nay, có 63 trung tâm phòng, chống HIV/AIDS bao phủ khắp 63tỉnh thành trên cả nước Theo đánh giá chung, số lượng cán bộ đáp ứng đượcnhu cầu cơ bản trong công tác phòng chống HIV/AIDS Các cán bộ, nhânviên trong hệ thống đều có trình độ, chuyên môn khá cao Hiện nay, về trình

độ chuyên môn, cả nước có 355 bác sỹ, 5 dược sỹ, 62 cử nhân Y tế côngcộng… công tác trong hệ thống phòng chống HIV/ AIDS; về trình độ họcvấn, có 613 cán bộ tốt nghiệp đại học, 47 cán bộ tốt nghiệp cao đẳng, 585 cán

bộ tốt nghiệp trung cấp…[14] Theo khu vực địa lý, số lượng cán bộ đang làmviệc trong hệ thống được phân bố như sau[14, 15]:

Bảng 1.1 Số lượng cán bộ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS phân

theo khu vực năm 2012

KV miền Nam (20 TT)

KV Tây Nguyên (4 TT) Tổng sốNgành Y

Trang 12

Số liệu từ bảng 1.1 cho thấy, hiện tại trong hệ thống phòng chống HIV/AIDS, 72,3% cán bộ y tế có chuyên ngành y tế, còn lại là các chuyên ngànhkhác Trong số 1.004 cán bộ có chuyên ngành y tế, trên 50% số cán bộ cóbằng trung cấp, 35.7% cán bộ có bằng bác sỹ Đặc biệt số cán bộ có bằngdược sỹ đại học rất ít, chỉ có 5 cán bộ trong toàn hệ thống Ở khối cán bộ cóchuyên ngành khác, số cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng chỉ chiếm57,8%, còn lại là trình độ trung cấp và trình độ khác

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạnđến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, cơ cấu nhân lực HIV/AIDS cóchuyên ngành y tế cần tăng từ 72.3% lên 81% Nhân lực có bằng bác sỹ, chủyếu cần chuyên ngành bác sỹ y học dự phòng cần phải tăng thêm 565 người;

số cử nhân Y tế công cộng cần tăng thêm 333 người Đặc biệt các loại hình cửnhân xét nghiệm và kỹ thuật viên xét nghiệm hiện nay rất ít, cần phải tăngthêm khá nhiều trong hệ thống

Theo niên giám thống kê năm 2012, số lượng người nhiễm HIV/AIDScòn sống trên cả nước là 272.372 người, ở khu vực miền Bắc, Trung, Nam,Tây Nguyên lần lượt là 111.098 người, 23.916 người, 131.960 người, 4.758người [1, 16] Như vậy, trung bình mỗi cán bộ chuyên môn Y tế trong hệthống phòng chống HIV/AIDS cần quản lý gần 1.273 đối tượng nhiễmHIV/AIDS và thực hiện công tác dự phòng cho 4.146.994 người dân [17]

1.2.2.2 Thực trạng công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam

Công tác chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS hiện nay đượccác ban, ngành, đoàn thể ở trung ương, địa phương quan tâm đặc biệt Số cơ

sở điều trị cho bệnh nhân HIV tăng lên tục Hệ thống chăm sóc và điều trịHIV/AIDS đã được thành lập trên toàn quốc Tính đến ngày 30 tháng 6 năm

2013, toàn quốc có 299 phòng điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS Trong đó

Trang 13

5 ở tuyến trung ương, 68 phòng ở bệnh viện tỉnh, 28 phòng đặt tại trung tâmphòng chống HIV/AIDS tỉnh, 4 phòng đặt tại các bệnh viện quân đội, còn lạiđặt tại các cơ sở y tế tuyến Huyện [2]

Thống kê đến ngày 31/05/2013, số bệnh nhân HIV hiện còn sống là213.413, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 có 74.401 ngườinhiễm HIV đang được điều trị bằng ARV Điều trị bằng Methadone trên cảnước có 13.838 bệnh nhân với 61 điểm điều trị [2]

Điều trị liên tục HIV/AIDS trong các trung tâm xã hội được đẩy mạnh.Hiện đã có một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, TP HồChí Minh, Nghệ An, Bà Rịa- Vũng Tàu thực hiện điều trị HIV/AIDS Điều trịliên tục bao gồm điều trị ARV trong một số Trung tâm 05, 06, đồng thời thiếtlập cơ chế chuyển tiếp chăm sóc, điều trị liên tục cho người nhiễm HIV/AIDSkhi họ ra, vào các Trung tâm 05, 06 sở điều trị HIV tại cộng đồng tránh tìnhtrạng bệnh nhân bị gián đoạn điều trị [2]

Việc xét nghiệm chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV ở trẻ dưới 18tháng tuổi đã được tiến hành và đem lại hiệu quả thiết thực Nước ta có 2 cơ

sở thực hiện xét nghiệm HIV cho trẻ em là Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

và Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh Việc xét nghiệm giúp trẻ nhiễm HIV đượctiếp cận sớm với điều trị bằng thuốc ARV Từ tháng 12/2009 đến tháng6/2011 có 2.557 trẻ dưới 18 tuổi được làm xét nghiệm, trong đó đã phát hiện

290 trẻ có kết quả dương tính [2]

1.2.2.3 Những thách thức trong công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS

Công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS đối mặt với rấtnhiều khó khăn trong đó vấn đề Nhân lực tham gia vào điều trị và phòngchống HIV/AIDS là vấn đề nhức nhối và khó giải quyết Nguồn nhân lựctham gia vào lĩnh vực điều trị và phòng chống HIV/AIDS đang thiếu hụtnghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Việc tuyển dụng nhân viên mới

Trang 14

làm trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS rất khó Lý do cho những khókhăn trong việc tuyển dụng được mô tả như là: (1) nhân viên y tế thích làmviệc trong khám, chữa bệnh và tại các bệnh viện hơn trong việc chăm sóc dựphòng, (2) nhân viên y tế thích làm việc trong các lĩnh vực phòng chống HIV

vì lương và ưu đãi thấp và (3) nhân viên y tế không muốn làm việc với người

sử dụng ma túy và gái mại dâm vì sự kỳ thị xã hội cực đoan liên kết với cácnhóm như vậy Mô hình mới của chăm sóc và điều trị HIV/AIDS diễn ra ngay

cả ở cấp huyện, nhưng tình trạng thiếu cán bộ ở các huyện thậm chí cònnghiêm trọng hơn

Trong khi số cán bộ có trình độ và kinh nghiệm được tuyển dụng thêm

ít, các cán bộ kinh nghiệm và năng lực xin chuyển công tác khác hoặc chuyểnlĩnh vực khác, nguyên nhân chính do công việc căng thẳng vất vả và nguyhiểm, trong khi thu nhập còn quá thấp, đãi ngộ ngành nghề, phụ cấp đặc thù,phụ cấp vùng miền và phụ cấp thâm niên chưa tương xứng Các đối tượngnhiễm HIV/AIDS lại thường tập trung vào các thành phần có nguy cơ cao nhưnghiện, chích làm tăng nguy cơ của cán bộ khi chăm sóc các đối tượng [16]

Theo Nguyễn Văn Kính và cộng sự trong một nghiên cứu 2007, bêncạnh những khó khăn về số lượng mà cả về chất lượng trong công tác chămsóc và điều trị HIV/AIDS, đó là kiến thức về chuyên môn hạn chế (68%), thờigian làm việc quá quy định (52%) thiếu thông tin pháp luật liên quan đếnphòng chống chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS (20%) và điều kiện kinh tế vàhoàn cảnh gia đình khó khăn (12%) Thu nhập thấp đã được báo cáo là mộttrong những lý do khiến động lực làm việc thấp [17]

Thu nhập chỉ là một trong những mối quan tâm Hầu hết các lĩnh vực y

tế được liên kết với việc nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, ví dụ nếu bạn làmột bác sĩ, bạn càng điều trị bệnh nhân nhiều kinh nghiệm Sau đó, bạn trởthành một bác sĩ giỏi Nhưng nếu bạn làm việc về dự phòng HIV, kinh

Trang 15

nghiệm chuyên môn mà bạn có thể nhận được sau 10-15 năm Bên cạnhnhững yếu tố phổ biến trong số các nhân viên y tế, các nghiên cứu về tác độngcủa công việc bệnh nhân HIV cho thấy một số tác động cụ thể như căng thẳng

và kiệt sức, sợ lây nhiễm, mối quan tâm về việc trở thành kỳ thị Tuy nhiên,các công việc để giúp đỡ bệnh nhân HIV có tình trạng sức khỏe ổn định, khắcphục sự tuyệt vọng và tìm thấy hy vọng mới mẻ trong cuộc sống , cũng có thểmang lại cho các nhân viên cảm thấy niềm tự hào của nhân đạo và kiên định

về công việc của họ

Ngoài ra còn một số khó khăn khác như: nguồn kinh phí của chươngtrình mục tiêu quốc gia dành cho phòng chống HIV/AIDS đến đầu năm 2013

đã bị cắt giảm 1/3 so với nhu cầu và cũng bắt đầu từ năm 2013 thì các dự ánquốc tế sẽ ngừng hoạt động hoặc cắt giảm Ảnh hưởng rất lớn đến công tácchăm sóc và điều trị HIV/AIDS Mặt khác thuốc cho điều trị HIV/AIDS cònphụ thuộc vào nguồn của nước ngoài nước ta chưa sản xuất được

Dù còn nhiều những khó khăn và thách thức tuy nhiên các các bộ y tếvẫn hoàn thành tốt công việc với tất cả lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.Một nghiên cứu về tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân về thái độ, cử chỉ và hànhđộng của các bác sĩ khi khám bệnh cho thấy tới 99,67 % bệnh nhân và ngườinhà bệnh nhân hài lòng với thái độ chuyên môn và hành động của nhân viên y

tế (kết quả khảo sát dư án chăm sóc hỗ trợ và điều trị thuốc kháng virus HIVtrên bệnh nhân HIV/AIDS tại quận Bình Thạch trong 3 năm 2007-2009) [17]

1.3 Quản lý nguồn nhân lực y tế:

1.3.1 Định nghĩa quản lý nguồn nhân lực

Quản lý nguồn nhân lực được định nghĩa là sự tiếp cận có tính chiếnlược và chặt chẽ đối với sự quản lý nguồn tài sản có giá trị nhất của một tổchức đó là những con người đang góp phần trên phương diện cá nhân và tậpthể để đạt được những mục tiêu của nó [10]

Trang 16

1.3.2 Chiến lược nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực hiện có

Sơ đồ 1.2 Những chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp [11]

Chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp và năng suất lao động đối với lực lượng lao động y tế phụ thuộc vào nguồn vào, lực lượng lao động và sự ra đi của nhân lực Nguồn vào là chuẩn bị nguồn lực lao động thông qua việc đầu tư chiến lược trong đào tạo và thực hiện tuyển dụng hiệu quả, hợp lý Lực lượng lao động là tăng cường hiệu suất lao động thông qua quản lý tốt hơn nguồn lực lao động ở cả khu vực công và khu vực tư nhân Sự ra đi là quản lý việc di cư và sự suy kiệt sức lao động để làm giảm sự mất mát một cách lãng phí nguồn nhân lực [11].

1.4 Tình hình nhiễm HIV/AIDS

1.4.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Tính đến cuối năm 2011, Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc vềHIV/AIDS đã công bố “Báo cáo toàn cầu về HIV/AIDS năm 2012”, trong đónêu rõ tình hình dịch và đáp ứng với HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu đến hếtnăm 2011 Đây là năm thứ 31 của cuộc chiến chống HIV/AIDS nhân loại vẫn

Trang 17

phải “nhận” thêm 2,5 triệu người mới nhiễm HIV (dao động từ 2,2 triệu - 2,8triệu) và 1,7 triệu người (dao động từ 1,5 triệu - 1,9 triệu) tử vong do các bệnhliên quan đến AIDS Số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống trênhành tinh này là 34 triệu (dao động từ 31,4 triệu - 35,9 triệu)[2] Trong 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống có khoảng 1/2(17triệu người) không biết về tình trạng nhiễm vi rút này của mình Điều này hạnchế khả năng của họ tiếp cận được các dịch vụ dự phòng và chăm sóc, và do

đó làm tăng khả năng lây truyền HIV từ họ ra cộng đồng.Tỷ lệ hiện nhiễmHIV/AIIDS trên thế giới đến cuối năm 2011 vào khoảng 0,8% số người lớn(từ 15-49 tuổi) Khu vực cận Sahara của châu Phi vẫn là nơi bị HIV/AIDS tấncông nặng nề nhất, hiện khu vực này chiếm 69% tổng số người nhiễmHIV/AIDS còn sống của thế giới.Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS ở khuvực cận Sahara châu Phi cao gấp 25 lần so với tỷ lệ này ở châu Á, nhưng tổng

số người nhiễm HIV đang sống ở châu Á (bao gồm Nam Á, Đông Nam Á vàĐông Á) lên tới con số 5 triệu Sau Cận Sahara của châu Phi là vùng Caribê,Đông Âu và Trung Á - những khu vực đang có khoảng 1,0% số người lớnđang mang trong mình HIV [18]

1.4.2 Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

Tình hình nhiễm HIV/AIDS đến hết năm 2012

Tính đến hết năm 2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là210.703 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 61.669 và 63.372trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là

239 người trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễmHIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8), tiếp đến là thành phố HồChí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6) Riêng trong năm 2012, cảnước phát hiện 14.127 trường hợp nhiễm HIV, 6.734 bệnh nhân AIDS và

2149 người tử vong do AIDS So với cùng kỳ năm 2011, số trường hợp nhiễm

Trang 18

HIV phát hiện và báo cáo giảm 26%, số người tử vong giảm gần 2 lần 10 tỉnh

có số trường hợp xét nghiệm phát hiện dương tính lớn nhất trong năm 2012

và tỷ lệ phát hiện của tỉnh, thành phố so với tổng số phát hiện của cả nướctrong năm 2012, bao gồm TP Hồ Chí Minh: 2721 trường hợp (chiếm 19,26%

so với tổng số trường hợp phát hiện); Hà Nội: 751 trường hợp (chiếm 5,32%);Điện Biên: 671 (chiếm 4,75%); Nghệ An: 556 trường hợp (chiếm 3,94%);Thái Nguyên: 479 trường hợp (chiếm 3,15%); Cần Thơ: 422 trường hợp(chiếm 2,99%); Thanh Hóa: 335 trường hợp (chiếm 2,37%); Yên Bái: 328trường hợp (chiếm 2,32%) Các tỉnh có số người nhiễm HIV phát hiện trongnăm 2012 tăng với cùng kỳ năm 2011, bao gồm Đồng Nai (0,58%); Đắk Lắk(0,41%), Cần Thơ (0,32%); Tây Ninh (0,29%); Bình Định (0,12%); các tỉnhkhác tăng nhẹ như Trà Vinh, Lào Cai [2, 16]

Biểu đồ 1.2 Số trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS hiện còn sống và tổng số người đã tử vong do AIDS tính đến hết năm 2012 [16].

Trang 19

Danh sách 10 tỉnh có số người nhiễm HIV còn sống cao nhất cả nước [2].

Bảng 1.2 Danh sách Tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả nước

Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ % số xã/phường, quận/huyện và tỉnh/ thành phố báo

cáo có người nhiễm HIV

Trang 20

Bản đồ 1.4: Phân bố tình hình nhiễm HIV/AIDS theo địa bàn địa lý

Theo kết quả phân tích số người nhiễm HIV theo địa bàn địa lý cho thấy,

số người nhiễm HIV chủ yếu tập trung các tỉnh miền bắc và bắc Trung Bộ,các tỉnh vùng đồng bằng sông cửu long và miền đông nam bộ, khu vực có sốngười nhiễm HIV cao là các tỉnh miền núi tây bắc ( trong đó có Hòa Bình) vàcác huyện miền núi Nghệ an và Thanh Hóa

1.5 Thông tin địa Bàn nghiên cứu

1.5.1 Tỉnh Nghệ An

1.5.1.1 Thông tin chung tỉnh Nghệ An

Nghệ An là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ, có ranh giới phía Bắc giápThanh Hóa, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông và Phía tâygiáp nước bạn Lào Nghệ An có diện tích 16.490,25 km2, lớn nhất cả nước;dân số hơn 3,1 triệu người (tính đến năm 2010), đứng thứ tư cả nước [19]

Trang 21

Với 419 km đường biên giới trên bộ; bờ biển ở phía đông dài 82 km Vịtrí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế - xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mởrộng hợp tác quốc tế Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam(tuyến quốc lộ 1A dài 91 km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và thành phố Vinh; đường Hồ Chí Minh chạy songsong với quốc lộ 1A dài 132 km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn,Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và thị xã Thái Hòa; quốc lộ 15 ở phía Tâydài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh); các tuyến quốc lộ chạy từ phía Đông lên phía Tây, nối với nước bạn Lào thông qua các cửa khẩu (quốc lộ 7 dài

225 km, quốc lộ 46 dài 90 km, quốc lộ 48 dài trên 160 km) Tỉnh có tuyếnđường sắt Bắc - Nam dài 94 km chạy qua

Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2 (TP Vinh), 3 thị xã (Cửa Lò,Thái Hòa, Hoàng Mai) và 17 huyện: 10 huyện miền núi (Thanh Chương, KỳSơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn) và 7 huyện đồng bằng (Đô Lương, Nam Đàn,Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành)

Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Mianma Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum – Luôngprabang - Viêng Chăn -Băng Cốc và ngược lại qua Quốc lộ 7 và đường 8) [19]

-Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh

tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hóa với cả nước và các nướckhác trong khu vực, nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điềukiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Nhưng đây cũngchính là đặc điểm mà các tệ nạn xã hội và dịch bệnh dễ dàng xâm nhập, trong

Trang 22

đó có đại dịch HIV/AIDS Đây được gọi là vùng nóng “Tam giác vàng” của

tệ nạn buôn bán ma túy, Nghệ An là trạm trung chuyển ma túy từ Lào sang để

từ đó vận chuyển ra Bắc hay vào Nam

1.5.1.2 Mô hình tổ chức hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Nghệ An.

Tuyến tỉnh: Tháng 4-2006, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Nghệ Anthành lập theo Quyết định số 1191/QĐ.UBND ngày 07-4-2006 của UBND tỉnh.Trụ sở đặt tại Trạm chống Lao Nghệ An Trung tâm có 1 phòng và 4 khoachuyên môn Đến nay đã có 36 cán bộ ( gồm 32 biên chế và 04 hợp đồng), trong

đó trình độ sau đại học là 04; trình đại học 10; trung cấp và cao đẳng là 22 Tuyến huyện: Các Trung tâm Y tế huyện hoạt động trên lĩnh vực phòngchống HIV/AIDS đã phần lớn có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, phươngtiện, trang thiết bị và cán bộ làm việc được củng cố Nhiều đơn vị đã triểnkhai phòng xét nghiệm, đã xét nghiệm sàng lọc HIV và các xét nghiệm khác

- Với mô hình tuyến huyện gồm Bệnh viện đa khoa, Trung tâm y tế dựphòng, Phòng y tế Khoa kiểm soát dịch bệnh thuộc Trung tâm y tế dự phòng

và có 01 chuyên trách hoặc kiêm nghiệm phụ trách chương trình phòng chốngHIV/AIDS Tổng số có 20 huyện trong đó có 411/480 xã phường, thị trấn cóphát hiện người nhiễm HIV[20]

Tuyến xã, phường:Các xã, phường, thị trấn đều có Trạm y tế, mỗi Trạm

y tế có 01 cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm chương trình phòng chốngHIV/AIDS tổng số 210 trong đó trình độ đại học 35; cao đẳng, trung cấp 175

Y tế thôn bản: Y tế thôn bản kiêm nhiệm nhiều chức năng như cộng tácviên dân số, KHHGĐ, các chương trình y tế

1.5.1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Nghệ An.

- Đến 30/10/2013 lũy tích số người nhiễm HIV tại Nghệ An là 7195trong đó số bệnh nhân AIDS là 4077; số người tử vong do AIDS là 2284 và

có 4911 người nhiễm HIV còn sống

Trang 23

- Số liệu tình hình nhiễm cho thấy dịch HIV tại Nghệ An đang trong giaiđoạn tập trung, các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện nhiều nhất trongnhóm NCMT chiếm 84,67% Nam giới chiếm phần lớn số người nhiễm HIV với84,85% Đường lây truyền chủ yếu là đường máu, nhóm tuổi nhiễm HIV caonhất từ 20-39 tuổi Các trường hợp nhiễm phát hiện chủ yếu tại thành phố Vinh

và một số huyện miền núi như Quế Phong, Tương Dương và Quỳ Châu [21]

1.5.1.3 Tình hình chăm sóc và điều trị nhiễm HIV/AIDS tại Nghệ An

Lãnh đạo, cồng đồng và các ban ngành đoàn thể ở Nghệ An nhìn chung

có thái độ khá tốt và ủng hộ việc triển khai các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ vàđiều trị người nhiễm HIV/AIDS[22] Công tác quản lý, chăm sóc và tư vấnngười nhiễm HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng đã được triển khai ở tất cảcác huyện trong tỉnh Tuy nhiên , các hoạt động quản lý, chăm sóc và hỗ trợngười nhiễm HIV/AIDS còn nhiều hạn chế:

- Số cán bộ chuyên trách cho công tác phòng chống HIV/AIDS rất ít,hầu hết là cán bộ kiêm nhiệm [22]

- Sự tham gia của các ban ngành trong công tác phòng chống HIV/AIDScòn rất hạn chế, chủ yếu là công tác thông tin- giáo dục- truyền thông

- Mạng lưới giáo dục cộng đồng còn rất mỏng, với số lượng ít, năng lựcyếu và ít được hỗ trợ Việc tiếp cận các nhóm nguy cơ cao còn gặp nhiều khókhăn Tuy nhiên tất cả cán bộ làm trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị HIV tạiNghệ An hiện nay đã hoạt động khá tốt trên một địa bàn có số lượng nhiễmHIV nằm trong tốp cao nhất nước và đã có được những thành công như:

- Đến 30/9/2013 có 2058 bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ARV tại

- 13 cơ sở, trong đó có 9 phòng khám ngoại trú, 2 trung tâm giáo dục xãhội và 2 trại giam

- Điều trị ARV cho 2058 bệnh nhân, trong đó:

Trang 24

Bảng 1.3 Hoạt động điều trị ARV tại 13 phòng khám ngoại trú tỉnh Nghệ An [21]

1.5.2.1 Thông tin chung tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Bắc nằm trên trụcđường quốc lộ 6 nối liền Hà Nội với các tỉnh vùng tây bắc, phía Bắc giáp vớitỉnh Sơn La, phía Tây Nam giáp nước bạn Lào và tỉnh Thanh Hóa Phía Tâygiáp thủ đô Hà Nội Diện tích đất tự nhiên 4684 km2 chủ yếu là đồi núi, giaothông đi lại khó khăn

Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 10 huyện với

210 xã, phường, thị trấn dân số khoảng 809.000 người có 7 dân tộc anh emchung sống, Mường, Thái, Kinh, Dao, Hmông, Nùng, Hoa Dân tộc Mườngchiếm 62,2%

Thu nhập bình quân đầu người 8,7 triệu đồng/người/năm nguồn thuchủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp, dịch vụ thương mại 80% dân số sốngbằng nghề nông nghiệp, nghề phụ ít vì vậy tỷ lệ người dân đi lao động làm ăn

Trang 25

xa trong những năm gần đây có su hướng ngày càng gia tăng, đó cũng là mộtthách thức lớn đối với công tác quản lý cũng như công tác phòng chống HIV/AIDS của tỉnh và đó cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệnhiễm HIV/AIDS ở cộng đồng dân cư.

Hòa Bình là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các tỉnh đồng bằngbắc bộ với khu vực Tây Bắc có nhiều điểm thăm quan du lịch là điều kiệnthuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát triển như mại dâm, tiêm chích ma tuý.Hòa Bình cũng là tỉnh nằm trong cung đường vận chuyển ma túy lớn từ Làosang Việt nam nhiều năm qua với 659 vụ, thu 165,144 kg Heroin và nhiềutang vật khác do Cơ quan công an bắt giữ được trong 5 năm từ 2006-2010.Theo báo cáo hàng năm của ngành Lao động-TB và XH, Công an tỉnh, sốngười sử dụng ma túy ngày càng tăng Tính đến ngày 31/5/2012, số ngườiNCMT có hồ sơ quản lý 1.187 người; Số nghi nghiện 500 người Gái mạidâm có hồ sơ quản lý là 340 các hình thức sử dụng ma túy ngày càng đadạng, đặc biệt là người tiêm chich ma túy vẫn tăng hàng năm tỷ lệ tái nghiệnsau cai rất lớn Tình hình buôn bán ma túy trên địa bàn tỉnh diễn ra hết sứcphức tạp, tính chất vụ việc ngày càng trở nên nghiêm trọng điển hinh tại xãHang Kia, Pà Cò của huyện Mai Châu

1.5.2.2 Mô hình tổ chức hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Hòa Bình

Tuyến tỉnh:Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành lập năm 2006 đếnnay đã có 37 cán bộ, trong đó trình độ sau đại học là 05; trình đại học 08;trung cấp và cao đẳng là 17

Tuyến huyện:Với mô hình tuyến huyện gồm Bệnh viện đa khoa, Trungtâm y tế dự phòng, Phòng y tế Khoa kiểm soát dịch bệnh thuộc Trung tâm y

tế dự phòng và có 01 chuyên trách hoặc kiêm nghiệm phụ trách chương trìnhphòng chống HIV/AIDS Tổng số có 11 chuyên trách tuyến huyện, trong đótrình độ đại học 02; trung cấp, cao đẳng 09

Trang 26

Tuyến xã, phường:Các xã, phường, thị trấn đều có Trạm y tế, mỗi Trạm

y tế có 01 cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm chương trình phòng chốngHIV/AIDS tổng số 210 trong đó trình độ đại học 35; cao đẳng, trung cấp 175

Y tế thôn bản: Y tế thôn bản kiêm nhiệm nhiều chức năng như cộng tácviên dân số, KHHGĐ, các chương trình y tế

Phòng khám ngoại trú HIV/AIDS, bao gồm 2 phòng khám Phòng khám do

Dự án LIFE-GAP đặt tại BV tỉnh Hòa Bình, nhân lực bao gồm 17 người [23]

1.5.2.3 Tình hình dịch HIV/AIDS, diễn biến và xu hướng tại Hòa Bình

Biểu đồ 1.5 Xu hướng nhiễm HIV tại Hòa Bình qua các năm

1.5.2.4 Công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tỉnh Hòa Bình:

Hiện công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tỉnh Hòa Bình bao gồm tưvấn, xét nghiệp tự nguyện, điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trúHIV/AIDS được đặt tại BV đa khoa tỉnh và bệnh viện đa khoa huyện LạcSơn, ngoài ra các bệnh viện huyện đều tham gia chăm sóc và điều trị chongười bệnh HIV/AIDS khi bị bệnh/nhiễm trùng cơ hội Một số nội dung báocáo hoạt động của 2 phòng khám được thể hiện ở bảng 1 dưới đây [24]:

Trang 27

Bảng 1.4 Hoạt động điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú tỉnh Hòa

Bình

2008

Năm2009

Năm2010

Năm2011

Năm20121

Luỹ tích số bệnh nhân đã

từng được điều trị ARV

tính đến cuối kỳ báo cáo

2

Số bệnh nhân hiện đang

được điều trị ARV tính

đến cuối kỳ báo cáo

Nguồn: Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS [24](Tính đến 10/11/2012)

1.6 Nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của NVYT nói chung và của NVYT làm việc trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS nói riêng

1.6.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với côngviệc của NVYT sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượngcác dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế[25, 26]

Nghiên cứu của Mohammad Ali Mosadeghrad, Evan Ferlie, DuskaRosenberg về quan hệ giữa thoả mãn với công việc, tận tụy với tổ chức và ýđịnh bỏ việc của người lao động trong bệnh viện ở Isfahan - Iran, nghiên cứuđược tiến hành năm 2005 trên 3 bệnh viện của nhà nước, một bệnh viện báncông và 2 bệnh viện tư Kết quả cho thấy sự hài lòng với công việc trong cácloại bệnh viện có sự khác biệt nhiều Nhân viên ở các bệnh viện tư hài lòngvới công việc cao hơn bệnh viện công và bán công Nhân viên y tế trong cácbệnh viện được quý an sinh xã hội tài trợ hài lòng về lương, phụ cấp, đánh giá

và thăng chức hơn các đồng nghiệp trong bệnh viện công và bệnh viện tư,nhưng ít thoả mãn với các điều kiện làm việc hơn Sự tận tâm với bệnh viện

Trang 28

của các nhân viên trong khoa khám bệnh và điều trị ít hơn trong các bộ phậnquản lý và trực thuộc Sự khác biệt này rất lớn trong các nhân viên tuỳ thuộctuổi tác, tình trạng hôn nhân, năm công tác vv Những người có gia đìnhthường gắn bó với tổ chức hơn, tận tuỵ hơn và ở lại lâu dài hơn [27].

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Kebriaei A và Moteghedi M.Sgiữa nhiều bộ phận được tiến tiến hành vào tháng 5/2005 về sự hài lòng vớicông việc trong cộng đồng nhân viên y tế ở quận Zahedan, nước cộng hoà hồigiáo Iran Số người khảo sát là 76 nhân viên y tế công cộng ở Farsi, làm việctại 44 trạm y tế thôn trong quận Zahedan, tỉnh Sistan và Baluchestan, nướccộng hoà hồi giáo Iran Kết quả cho thấy số người được hỏi không hài lòngvới công việc cao hơn số người hài lòng Tỷ lệ % số người hài lòng với côngviệc cụ thể như sau: Sự hài lòng chung là 40,5%; trong đó hài lòng với bảnthân công việc 70,3%; đồng nghiệp 60,9%; quản lý 27%; khối lượng côngviệc 23%; thăng tiến 12,2%; cơ cấu tổ chức 6,8%; điều kiện làm việc 5,4% vàhài lòng với lương, phúc lợi là 4,1% [10]

1.6.2 Những nghiên cứu về hài lòng với công việc của nhân viên y tế tại Việt Nam

Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên theo nghiên cứu củaDieleman M, Cuong PV, Anh LV, Martineau T đối với nhân viên y tế nôngthôn vùng phía Bắc Việt Nam, thì chịu tác động của cả yếu tố tài chính và phitài chính Những yếu tố chính động viên cho nhân viên là sự đánh giá đúng từngười quản lý, đồng nghiệp và cộng đồng; công việc ổn định, thu nhập cao, ;đào tạo tốt Yếu tố khiến nhân viên y tế không hài lòng là lương thấp và điềukiện làm việc khó khăn [28]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng phiếu tự điền của tác giả VũHoàng Việt về Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên bệnhviện huyện Tuy An và bệnh viện huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên năm 2010.Nghiên cứu trên 142 nhân viên của hai bệnh viện (81 người ở Tuy An và 61

Trang 29

người ở Đông Hoà) cho thấy: yếu tố quan hệ dồng nghiệp dược nhân viên bộphận lâm sàng hài lòng cao nhất (66,7%), sau đó là yếu tố dặc điểm công việc48,3%, sự quan tâm của lãnh đạo 46% và đào tạo 43,7% Điều kiện làm việc,lương và chế độ là hai yếu tố chiếm tỷ lệ hài lòng thấp nhất (16,1% và20,7%) Tỷ lệ hài lòng khá thấp ở tiểu mục biểu dương của lãnh đạo (khen màkhông có thưởng) - ở mức 37,5% Lãnh đạo còn quan tâm đến các phòngchức năng hơn các bộ phận chuyên môn trong bệnh viện [29]

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành để xác định mức độ của sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Lạc (TLGDH), tỉnh Hòa Bình năm 2012 của tác giả Nguyễn Hữu Thắng với những phát hiện chỉ ra rằng mức độ chung sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại TLGDH ở mức độ trung bình [30].

Nghiên cứu "Thực trạng nhân lực và sự hài lòng đối với công việc củanhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đức Giang Hà Nội, năm 2010" của MaDoãn Quý thì cho thấy, tỷ lệ hài lòng chung của nhân viên y tế là 47,9%,trong đó bộ phận lâm sàng (49%) cao hơn bộ phận cận lâm sàng (41,4%) [31]

Nghiên cứu của Diêm Sơn trên 67 bác sỹ lâm sàng làm việc tại bệnhviện Đa khoa Yên Bái băm 2010 nhằm mô tả sự hài lòng và một số yếu tố liênquan với khối lượng công việc họ đang thực hiện, kết quả cho thấy các bác sỹlâm sàng chưa hài lòng đối với khối lượng công việc họ đang thực hiện [32]

Ngoài ra theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phúc, về "sự hài lòng đối vớicông việc của NV TYT quận Hà Đông và huyện Thanh Oai, Hà Nội, năm2009" Mức độ hài lòng đối với công việc của các NVYT được điều tra là58,3% (tỷ lệ này ở Hà Đông là 65,6% và ở Thanh Oai là 53,8%)[8]

Sự hài lòng trên có mối liên quan đến một số yếu tố như: sự quan tâmgiám sát của cấp trên, yếu tố tiền lương và phúc lợi, quan hệ với đồng nghiệp,

sự đào tạo và phát triển trong công việc, cơ hội thăng tiến, điều kiện làm viêccông tác, sự khen thưởng, thông tin nội bộ và một số yếu tố khác như sau:

Trang 30

Sự hài lòng của nhân viên y tế đối với yếu tố tiền lương và phúc lợiđang ở mức thấp (chỉ một số ít nghiên cứu đạt mức trung bình): 45% bộ phậnlâm sàng và 37,9% bộ phận cận lâm sàng (trong nghiên cứu của Ma DoãnQuý) [31]; 35,6% bộ phận lâm sàng, 50% bộ phận cận lâm sàng và 38,7% bộphận hành chính (trong nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt) [29]; đạt ở mức trungbình (nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng) [30]; 57,6% (Lưu Ngọc Hoạt)[33]; và NVYT cho rằng mức thu nhập hiện tại là khá thấp (26,6%) trongnghiên cứu của Đỗ Thị Phúc [8]

Đối với yếu tố quan tâm giám sát của cấp trên: sự hài lòng ghi nhậnđược ở mức cao trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng [30]; 55,7% bộphận lâm sàng và 41,1% bộ phận cận lâm sàng (Ma Doãn Quý) [31]; 46% bộphận lâm sàng, 41,7% bộ phận cận lâm sàng, 48,4% bộ phận hành chính, hàilòng với sự quan tâm của lãnh đạo trong nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt [11];95,1% NVYT hài lòng với sự giám sát của cấp trên (Lưu Ngọc Hoạt) [33]

Hầu hết các nghiên cứu tìm thấy được đều có sự hài lòng cao đối vớiyếu tố đồng nghiệp: sự hài lòng của NVYT đối với quan hệ đồng nghiệp là62,4% bộ phận lâm sàng và 41,4% bộ phận cận lâm sàng trong nghiên cứucủa Ma Doãn Quý [31]; 66,7% bộ phận lâm sàng và cận lâm sàng, 80,6% bộphận hành chính nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt [29] ; 79,4% trong nghiêncứu của Lưu Ngọc Hoạt [33] và ở mức độ trung bình trong nghiên cứu củaNguyễn Hữu Thắng [30]

Đối với sự đào tạo và phát triển trong công việc của nhân viên y tế thìtheo nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt cho kết quả như sau: 43,7% hài lòng vớiđào tạo và phát triển ở bộ phận lâm sàng, 37,5% ở bộ phận cận lâm sàng và41,9% ở bộ phận hành chính[29]; 64,4% bộ phận lâm sàng và 48,3% bộ phậncận lâm sàng (Ma Doãn Quý) [31]

Trang 31

Về yếu tố cơ hội thăng tiến, thì mới có ít nghiên cứu đề cập đến: đạt86,3% NVYT cho rằng công việc tạo điều kiện cho cá nhân phát triển đi lên(Lưu Ngọc Hoạt) [33] và hài lòng ở mức độ trung bình trong nghiên cứu củaNguyễn Hữu Thắng [30].

Có sự khác biệt trong các nghiên cứu về điều kiện làm viêc công tác: ởmức độ hài lòng thấp (16,1% bộ phận lâm sàng, 20,8% bộ phận cận lâm sàng

và 16,1% bộ phận hành chính) trong nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt [29] vàhài lòng cao (79,9%) nghiên cứu của Lưu Ngọc Hoạt [33] hay hài lòng trungbình trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng [30]

Đạt mức trung bình đối với yếu tố có sự khen thưởng trong công việc

và thông tin nội bộ; và mức cao đối với yếu tố chất lượng dịch vụ trongnghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng [30] Ở mức thấp với yếu tố đặc điểmcông việc trong nghiên cứu của Vũ Hoàng Việt [29] Mức độ hài lòng về một

số đặc điểm của cơ quan họ đang công tác thì tỷ lệ NV TYT hài lòng thấp(điều kiện trang thiết bị 36,5% và 52,4% hài lòng với điều kiện cơ sở vậtchất của trạm), tuy vậy tỷ lệ nhân viên hài lòng với sự đoàn kết nội bộ(84,9%) và đánh giá của người dân (80,9%) là khá cao (Đỗ Thị Phúc) [8]

Các nghiên cứu trên được thực hiện trên nhân viên y tế nói chung,hiện nay chỉ duy nhất có tác giả Phạm Nguyên Hà, thực hiện nghiên cứuđịnh tính trên đối tượng là nhân viên y tế tuyến Trung ương và tuyến tỉnhtrong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS (tại 5 tỉnh/thành phố) năm 2011cho kết quả: các yếu tố liên quan đến việc làm hài lòng bao gồm các cơhội đào tạo, công nhận xã hội và nhiệm vụ có ý nghĩa Yếu tố liên quanđến việc không hài lòng bao gồm khen thưởng không thỏa đáng, thiếuthông tin phản hồi tích cực và hỗ trợ từ các giám sát viên, làm việc căngthẳng liên quan đến từ một khối lượng công việc nặng nề, sợ nhiễm trùng,

và kỳ thị liên quan đến HIV và với người sống với HIV[34]

Trang 32

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực phòng chốngHIV/AIDS và còn rất ít nghiên cứu liên quan đến nhân lực và sự hài lòng củanhân viên y tế làm công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS, đặc biệt là tại cácbệnh viện huyện nơi mà thiếu cả về nhân lực, trang thiết bị và cán bộ y tế cónguy cơ phơi nhiễm với HIV/AIDS Cũng có rất nhiều nghiên cứu liên quanđến sự hài lòng của nhân viên Y tế nói chung và chủ yếu là nghiên cứu địnhlượng theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn Chỉ có một vài tác giả nghiên cứu địnhtính Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu này vừa kết hợp nghiên cứu địnhtính và nghiên cứu định lượng đối với nhân viên Y tế làm trong lĩnh vực chămsóc và điều trị HIV/AIDS trên hai tỉnh Nghệ An và Hòa Bình Với mongmuốn nghiên cứu này tiến hành góp phần cung cấp thông tin góp phần hoạchđịnh những chính sách thích hợp của ngành y tế đối với công tác phòngchống HIV/AIDS nói chung và công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tạicác bệnh viện huyện nói riêng.

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi chọn chủ đích hai tỉnh Hòa Bình và Nghệ An, vì đây là hai tỉnhnằm trong vùng có số người nhiễm HIV/AIDS cao và có hệ thống y tế cho người nhiễm HIV/AIDS lớn

Tỉnh hòa bình

Bệnh viện tỉnh Hòa Bình

10 bệnh viện huyện, 3 trung tâm y tế huyện

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hòa Bình, Sở y tế tỉnh Hòa Bình

Tỉnh nghệ an

Bệnh viện tỉnh Nghệ An

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh nghệ an

7 bệnh viện huyện và trung tâm y tế huyện

2.2 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 15/5/2013 đến hết tháng 9/2014

- Thời gian thu thập số liệu

Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập:

Tại Hòa Bình từ 1/9/2013 đến 30/10/2013 tại các bệnh viện, tỉnh HòaBình năm 2013, bao gồm các bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa tỉnh.Tại Nghệ An từ tháng 2/ 2014 đến tháng 3/ 2014 gồm các bệnh việnhuyện và bệnh viện đa khoa tỉnh cũng như một số phòng khám ngoại trú

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang (phối hợp định tính

và định lượng

Trang 34

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.1 Chọn bệnh viện:

- Bệnh viện phải làm công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS

- Có số lượng bệnh nhân HIV/AIDS lớn đang điều trị

- Khối lượng công việc cũng như số nhân viên y tế nhiều hơn so với các bệnh viện khác

2.3.2 Chọn nhân viên y tế:

Đối tượng điều tra định lượng

Đối tượng phỏng vấn: là nhân viên y tế đang làm công tác chăm sóc vàđiều trị HIV/AIDS bao gồm: (1) Các nhân viên y tế làm công tác tại cácphòng khám ngoại trú HIV/AIDS, (2) các nhân viên y tế công tác tại bệnhviện huyện và bệnh viện đa khoa tỉnh tham gia chăm sóc và điều trị bệnhnhân HIV/AIDS

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Trực tiếp tha gia chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS

+ Có đủ sức khỏe, tự nguyện tham gia trả lời được các câu hỏi

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Nhân viên y tế không trực tiếp tham gia chăm sóc và điều trị bệnhnhân HIV/ AIDS hoặc có tham gia nhưng không đủ sức khỏe, không muốntham gia nghiên cứu

+ Cán bộ trạm y tế xã và nhân viên y tế thôn bản

Đối tượng điều tra định tính

- Đối tượng phỏng vấn sâu: lãnh đạo Trung tâm phòng chống HIV/AIDScủa tỉnh, lãnh đạo một số Trung tâm y tế huyện và Bệnh viện huyện

- Tại một số Bệnh viện huyện nghiên cứu sẽ tiến hành thảo luận nhómnhân viên y tế làm công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS Nhóm nhân viênnày sẽ lấy ngẫu nhiên (trong số được điều tra định lượng bằng phiếu tự điền).Khoảng 7 người trong một cuộc thảo luận nhóm

Trang 35

- Các báo cáo, nghiên cứu, số liệu có sẵn của ngành Y tế, của tỉnh, củahuyện và bệnh viện liên quan đến nhân lực, tình hình chăm sóc và điều trịHIV/AIDS

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

+ Toàn bộ nhân viên y tế đủ các tiêu chuẩn lựa chọn đã nêu của các bệnhviện trong địa điểm nghiên cứu Cụ thể số lượng như sau:

- Tỉnh Hòa Bình

Bệnh viện tỉnh Hòa Bình: 10 nhân viên

Các Bệnh viện huyện: 7 x 11 = 77 nhân viên

2 Phòng khám ngoại trú (1 Phòng khám tại tỉnh: 17 nhân viên, 1 Phòngkhám tại huyện Lạc Sơn: 4 nhân viên, tổng là 23 nhân viên)

Tổng số tỉnh Hòa Bình: khoảng 120 nhân viên

- Tỉnh Nghệ An

Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An: 10 nhân viên

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An: 10 nhân viên

Các bệnh viện huyện: 7 x 10= 70 Nhân viên

2 Phòng khám ngoại trú (1 phòng khám tại tỉnh: 10 nhân viên, 1 phòngkhám tại huyện: 5 nhân viên, tổng là 15 nhân viên)

Tổng số tỉnh Nghệ An: khoảng 105 nhân viên

- Cấp huyện: chọn 3 huyện/ Tỉnh Mỗi huện gồm:

Trang 36

1 lãnh đạo Trung tâm y tế huyện.

1 chuyên trách chương trình phòng chống HIV/AIDS của huyện

1 lãnh đạo Bệnh viện huyện

Tổng số 3 x 3 huyện x 2 tỉnh = 18 cuộc phỏng vấn sâu

2.5 Nội dung và phương pháp thu thập thông tin

2.5.1 Nghiên cứu định lượng:

Số liệu được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn dựa trên bộcâu hỏi tự điền Bộ công cụ này được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi điều tra sựhài lòng đối với công việc JSS của Paul E Spector đã được dịch sang tiếngViệt [35] và phát triển thêm 5 câu hỏi về sự kỳ thị Sau đó bộ câu hỏi được thửnghiệm tính tin cậy với chỉ số Cronbach’s alpha = 0,78

Mỗi bệnh viện, trung tâm y tế hoặc phòng khám lấy toàn bộ nhân viên

y tế có đủ tiêu chuẩn lựa chọn, tập trung tại một phòng yên tĩnh, mỗi cá nhân

tự điền phiếu và nộp lại cho điều tra viên sau khoảng 40 phút

Thang đo mức độ hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc đượctham khảo theo thang đo của Likert, và được xây dựng theo 4 mức độ "Hoàntoàn không đồng ý", "Không đồng ý", "Đồng ý", "Hoàn toàn đồng ý" cho phùhợp với nghiên cứu Tuy nhiên sau đó Thang điểm Likert cũng được mã hóathành biến nhị phân với hai nhóm: chưa hài lòng (1-2 điểm) và nhóm hài lòng(3-4 điểm) để tính tỷ lệ phần trăm và tính OR

Tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI) được sử dụng đểtìm hiểu mối liên quan giữa sự hài lòng chung đối với cộng việc đang được

Trang 37

phân công với các yếu tố xã hội nhân khẩu/nghề nghiệp cũng như các yếu tốtrong công việc

2.5.2 Nghiên cứu định lượng:

- Phỏng vấn sâu: bằng bộ câu hỏi( xem phụ lục 2, 3, 4)

- Thảo luận nhóm: trong nhóm nhân viên được tham gia trả lời phiếu câu hỏi

tự điền trong phần nghiên cứu định lượng thì lấy 7 nhân viên để tổ chức thảoluận nhóm do điều tra viên tổ chức cuộc thảo luận

2.6 Công cụ thu thập thông tin

Phỏng vấn nhân viên y tế làm công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDStheo bộ câu hỏi tự điền (mẫu 1) theo khung lý thuyết của Spector hiệu chỉnh

Phỏng vấn sâu các đối tượng theo hướng dẫn xây dựng có sẵn (3 mẫutrong đó 1 tỉnh, 2 mẫu cho cấp huyện theo các đối tượng trình bày ở 14.4.2)(mẫu 2-3-4)

Thảo luận nhóm các đối tượng theo hướng dẫn có sẵn (Mẫu 5)

Mẫu thu thập số liệu sẵn có tại các bệnh viện huyện

Trang 38

2.7 Các chỉ số, biến số nghiên cứu

2.7.1 Biến số/chỉ số về thông tin cá nhân

Bảng 2.1 Các chỉ số về thông tin cá nhân

Thứ hạng

Phỏng vấn

Trang 39

Biến số Định nghĩa biến Loại biến Phương pháp

thu thậpnăm qua

Định lượng, rời rạc

Nhị phân Phỏng vấn

13

lượng, rờirạc

18 tuổi hoặc cha mẹ già )

Địnhlượng, rờirạc

Phỏng vấn

Trang 40

Bảng 2.2 Các biến số về sự hài lòng của nhân viên y tế

2.7.2 Các biến số về sự hài lòng của nhân viên y tế

TT Biến số nghiên cứu Loạibiến pháp thuPhương

thập

I Tiền lương

1 Tôi cảm thấy tôi được trả công xứng đáng

khi công tác tham gia chăm sóc và điều trị

HIV/AIDS

Thứ bậc Phỏng vấn

10 Việc tăng lương thì chậm và mức tăng quá ít Thứ bậc Phỏng vấn

19 Tôi cảm thấy không được cơ quan đánh giá

cao khi nghĩ đến khoản tiền lương mà tôi

nhận được

Thứ bậc Phỏng vấn

28 Tôi cảm thấy hài lòng với cơ hội tăng lương

của mình khi tham gia chăm sóc và điều trị

HIV/AIDS

Thứ bậc Phỏng vấn

II Sự thăng tiến

2 Thật là có quá ít cơ hội thăng tiến trong

công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS Thứ bậc Phỏng vấn

11 Những người có năng lực tốt trong công

việc chăm sóc và HIV/AIDS đều có cơ hội

thăng tiến như nhau

Thứ bậc Phỏng vấn

20 Chăm sóc và điều trị HIV/AIDS thăng tiến

cũng nhanh như khi làm việc ở những lĩnh

vực khác

Thứ bậc Phỏng vấn

33 Tôi hài lòng với cơ hội thăng tiến dành cho

tôi khi tham gia chăm sóc và điều trị

HIV/AIDS

Thứ bậc Phỏng vấn

III Giám sát, nhận xét cấp trên

3 Cấp trên của tôi rất có năng lực trong công

việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS Thứ bậc Phỏng vấn

12 Cấp trên của tôi đối xử không công bằng

21 Cấp trên của tôi không quan tâm đến những

suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của nhân

viên tham gia chăm sóc và điều trị

HIV/AIDS

Thứ bậc Phỏng vấn

30 Tôi thích cấp trên của tôi Thứ bậc Phỏng vấn

IV Phúc lợi ngoài lương

Ngày đăng: 07/10/2014, 11:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và mối liên quan với hiệu suất vàc chất lượng công việc - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và mối liên quan với hiệu suất vàc chất lượng công việc (Trang 5)
Hình 1.1. Tháp nhu Cầu của Abraham Maslow - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Hình 1.1. Tháp nhu Cầu của Abraham Maslow (Trang 7)
Bảng 1.1 Số lượng cán bộ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS phân theo khu vực năm 2012 - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 1.1 Số lượng cán bộ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS phân theo khu vực năm 2012 (Trang 11)
Sơ đồ 1.2. Những chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp [11] - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Sơ đồ 1.2. Những chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp [11] (Trang 16)
Bảng 1.2. Danh sách Tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả nước - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 1.2. Danh sách Tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả nước (Trang 19)
Bảng 1.3. Hoạt động điều trị ARV tại 13 phòng khám ngoại trú tỉnh Nghệ An [21] - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 1.3. Hoạt động điều trị ARV tại 13 phòng khám ngoại trú tỉnh Nghệ An [21] (Trang 24)
Bảng 1.4.  Hoạt động điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú tỉnh Hòa Bình - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 1.4. Hoạt động điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú tỉnh Hòa Bình (Trang 27)
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (Trang 44)
Bảng 3.3 Điểm đánh giá sự hài lòng “Sự thăng tiến” theo từng tiểu mục - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.3 Điểm đánh giá sự hài lòng “Sự thăng tiến” theo từng tiểu mục (Trang 45)
Bảng 3.4. Điểm đánh giá sự hài lòng “Giám sát, nhận xét của cấp trên” - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.4. Điểm đánh giá sự hài lòng “Giám sát, nhận xét của cấp trên” (Trang 45)
Bảng 3.5. Điểm đánh giá sự hài lòng “Phúc lợi” theo từng tiểu mục - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.5. Điểm đánh giá sự hài lòng “Phúc lợi” theo từng tiểu mục (Trang 46)
Bảng 3.6. Điểm đánh giá sự hài lòng “Khen thưởng” theo từng tiểu mục - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.6. Điểm đánh giá sự hài lòng “Khen thưởng” theo từng tiểu mục (Trang 47)
Bảng 3.7. Điểm đánh giá sự hài lòng “Quy chế cơ quan” theo từng tiểu mục - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.7. Điểm đánh giá sự hài lòng “Quy chế cơ quan” theo từng tiểu mục (Trang 47)
Bảng 3.8. Điểm đánh giá sự hài lòng “Đồng nghiệp” theo từng tiểu mục - sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị hiv aids tại các bệnh viện của tỉnh hòa bình và nghệ an, năm 2013
Bảng 3.8. Điểm đánh giá sự hài lòng “Đồng nghiệp” theo từng tiểu mục (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w