Nhưng vì điều kiện làm việc của kim loại bộ sấy không khí, do hệ số tản nhiệt của không khí nhỏ hơn nhiều so với hơi và nước nên nhiệt độ vách ống thường lớn hơn nhiệt độ không khí nhiều
Trang 1
BAO CAO TONG KET
ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hà Nội - Năm 2007
Trang 2
BAO CAO TONG KET
ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Cơ khí
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Văn Quế
Hà Nội - Năm 2007
Trang 3Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Cơ khí
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Văn Quế
Hà Nội - Năm 2007
Trang 4Tổng quan về thiết bị bộ sấy không khí trong lò hơi
Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt (bộ sấy tĩnh)
Bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt (bộ sấy quay)
Tính toán - thiết kế bộ sấy không khí kiểu hồi
Các thông số kỹ thuật của lò hơi Các thông số chính của bộ sấy không khí
Tính toán bộ sấy không khí kiểu quay
Cấu tạo và quy trình công nghệ chế tạo môđul bộ
sấy không khí
Cấu tạo bộ sấy không khí loại hồi nhiệt (dạng quay)
Sơ đồ công nghệ chế tạo khối trao đôi nhiệt trong bộ sấy không khí loại hồi nhiệt
Sơ đồ công nghệ chế tạo tấm trao đôi nhiệt
Sơ đồ công nghệ chế tạo tắm ngăn
Trang 51H.2.4 Sơ đồ công nghệ lắp ráp tô hợp khối trao đổi nhiệt
ChuongIV Đề xuất giải pháp công nghệ giảm thiếu mức độ
e_ Một số hình ảnh chế tạo 01 môđun bộ sấy không khí
e_ Bản vẽ các khối trao đỗi nhiệt
e_ Tài liệu tham khảo
Trang 6
Quá trình buồng lửa — Giáo trình Đạ?ñọc Bách Khoa Hà Nội 1986
Lý thuyết cháy và thiét bi chay “GS.TSKH Nguyễn Sỹ Mão — Nhà xuất
bản Khoa học và kỹ thuật ~Hà Nội 2002
Số tay tính khí độn
Mockva 1964
6 hoi - Nhà xuất bản Năng lượng quốc gia —
Lò hơi công nghiệp - Trường ĐH Điện lực: Đàm Xuân Hiệp, Bàng Bích,
Đỗ Văn Thắng, Trương Ngọc Tuấn, Trương Huy Hoàng - Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Truyền nhiệt - Đặng Quốc Phú, Trần Thế Sơn, Trần Văn Phú - Nhà xuất
bản Giáo dục
Thiết bị trao đổi nhiệt - PGS.TS Bùi Hải, TS Dương Đức Hồng, TS Hà Mạnh Thư - Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật 2001
Trang 7Kỹ sư Gia công áp lực
Kỹ sư Gia công áp lực
Trang 8MỞ ĐẦU
Bộ sấy không khí là một dang thiết bị truyền nhiệt nằm ở phia sau lò hơi
để tận dụng nhiệt của khói sau khi đi ra khỏi lò hơi, bộ sấy không khí có tác
dụng nâng cao hiệu suất hoạt động của lò hơi Chính vì vậy mà bộ sấy không khí còn được gọi là “bộ tiết kiệm than” trong các nhà máy nhiệt điện đốt than
Theo xu hướng phát triển của các nền kinh tế trên thế giới, nhu cầu sử
dụng điện năng ngày càng cao, từ đó phải xây dựng thêm nhiều nhà máy điện (trong đó có cả các nhà máy nhiệt điện đốt than) để phục vụ đời sống và sản xuất Trong nhà máy nhiệt điện, bộ sấy không khí tuy là thiết bị phụ nhưng là
thiết bị phụ quan trọng, không thể thiếu và chiếm tỷ lệ đáng kể của nhà máy điện đốt than Chính vì vậy, tại các nước phát triển và có nền công nghiệp tiên
tiến luôn nghiên cứu, thiết kế và cho ra đời các thiết bị có tính tối ưu hơn
nhằm làm tăng hiệu quả kinh tế
Hiện nay trên thế giới có nhiều hãng chế tạo các thiết bị của lò hơi cho các nhà máy nhiệt điện Các tập đoàn lớn, các công ty chế tạo thiết bị cho lò
hơi đã có nhiều năm kinh nghiệm sản xuất như: ABB, FUJITSU, Điện khí
Thượng Hải, các nhà máy thuộc Nga, Ukraine,
Trên thế giới, bộ sấy không khí trong hệ thống trao đổi nhiệt hiện được nghiên cứu và chế tạo có 2 dạng: dạng quay (kiểu hồi nhiệt) và dạng tĩnh
(kiểu thu nhiệt) Với trình độ và năng lực chuyên môn hoá cao, việc nghiên
cứu và chế tạo các chủng loại bộ sấy không khí được các nước có nền khoa học phát triển trên thế giới không ngừng cải tiến, tối ưu hoá dé nâng cao hiệu
suất thu hồi nhiệt khí thải lò hơi
Ở nước ta trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây ngành công nghiệp năng lượng đã được Nhà nước chú trọng đầu tư phát
triển và đã có những bước tiến đáng kể, tốc độ tiêu thụ năng lượng tăng
§,6%/năm trong các năm 1996-2000 và năm 2003 là 12% góp phần quan
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 1
Trang 9trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
Hiện nay ở nước ta cũng như hầu hết các nước trên thế giới, lượng điện năng do các nhà máy nhiệt điện sản xuất chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số điện
năng sản xuất toàn quốc Trong quá trình sản xuất của nhà máy điện, lò hơi là khâu quan trọng đầu tiên bao gồm rất nhiều các thiết bị, trong đó có bộ sấy không khí
Ở Việt Nam hiện nay, có nhiều nhà máy nhiệt điện đốt than đã được xây
dựng và đi vào sản xuất từ nhiều năm qua như:
- Nha may nhiệt điện Phả Lại l
- Nha máy nhiệt điện Phả Lai 2
- _ Nhà máy nhiệt điện Uông Bí 1
- Nha máy nhiệt điện Ninh Bình
- _ Nhà máy nhiệt điện Uông Bí 1 mở rộng,
Tuy nhiên các thiết bị bộ sấy không khí tại các nhà máy này chủ yếu được nhập ở nước ngoài như: Nga, Thuy Điền, Trung Quốc, Việc chế tạo trong nước mới chỉ dừng ở mức độ chế tạo một số cụm chỉ tiết phần tử của
thiết bị theo thiết kế của nước ngoài hoặc chế tạo theo mẫu sẵn có đề phục vụ cho việc bảo dưỡng, sửa chữa
Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, việc các nhà máy điện được xây dựng nhằm phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt là hướng phát
triển quan trọng đã được Nhà nước hoạch định Xuất phát từ yêu cầu thực tế
và góp phần phát triển năng lực ngành Cơ khí chế tạo trong nước, nhóm đề tài phòng Gia công áp lực - Viện Nghiên cứu Cơ khí đăng ký thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ năm 2007 với đề tài này nhằm mục đích tạo tiền đề cho một hướng phát triển công nghệ chế tạo một trong các tổ hợp thiết bị quan
trọng của lò hơi trong nhà máy nhiệt điện có công suất đến 300MW, tiến tới
thực hiện mục tiêu nội địa hoá nhà máy nhiệt điện
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 2
Trang 10Sơ đồ tổng thể của một nhà máy nhiệt điện
13 Gia nhiệt nước
14 Băng tải than
19 Hoi qua nhiét
20 Quat hiit gid 21.B6 gia nhiét lai
Trang 11CHƯƠNG I
TONG QUAN VE THIET BI BO SAY KHONG KHi
TRONG TO HOP THIET BI LO HOI
1.1 Téng quan vé thiết bị bộ sấy không khí trong lò hơi:
Trong các lò hơi hiện đại, đặc biệt khi đốt các nhiên liệu ẩm, các bộ sấy
không khí được sử dụng rộng rãi Việc cấp không khí nóng vào buồng đốt của
lò hơi làm tăng nhanh sự bốc cháy nhiên liệu và tăng cường quá trình cháy
nhiên liệu, giảm các tốn thất nhiệt do không khí cháy kiệt về hóa học và cơ học Lắp đặt bộ sấy không khí đồng thời cho phép giảm nhiệt độ khói thoát, điều này đặc biệt đáng kể khi gia nhiệt sơ bộ nước cấp trước khi đưa vào bộ
hâm nước
Trong các lò đốt than bột, không khí nóng được sử đụng để sấy nhiên
liệu trong quá trình nghiền và vận chuyên than bột Đồng thời việc lắp bộ sấy
không khí đòi hỏi bỗ sung vốn đầu tư, tăng kích thước lò hơi và sức cản của
tuyến khói và không khí của hợp thê
Bộ sấy không khí là bề mặt truyền nhiệt được đặt ở phía sau lò để tận
dụng nhiệt của khói sau khi đi ra khỏi bộ quá nhiệt, có tác dụng nâng cao hiệu
suất của lò hơi Ở đầu vào bộ sấy không khí, kim loại tại đây có nhiệt độ nhỏ nhất so với các bề mặt truyền nhiệt của lò Khi bố trí bộ sấy không khí (tức là
bồ trí bề mặt truyền nhiệt phần đuôi lò) cần biết trước nhiệt độ nước cấp và
nhiệt độ không khí nóng ra khỏi bộ sấy không khí
Các sản phẩm cháy đi vào bộ sấy không khí bị nguội đi chậm hơn so với
không khí được sấy nóng Nguyên nhân của hiện tượng đó là do lượng sản
phẩm cháy và nhiệt dung của chúng lớn hơn so với của không khí được sấy nóng và để đạt được độ sấy nóng không khí cao hơn với việc sấy trong một
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 4
Trang 12cấp đòi hỏi bề mặt đun nóng của bộ sấy không khí có kích thước cực lớn Trong các lò hơi hiện đại, để đạt được độ sấy không khí cao người ta sử dụng
hai cấp, bố trí bộ sấy không khí tách đôi, kẹp bộ hâm nước ở giữa
Nhiệt độ nước cấp được xác định trên cơ sở kinh tế và kỹ thuật vì ta biết
rằng khi tăng nhiệt độ nước cấp lượng nhiệt hấp thu của bộ hâm nước giảm đi
làm cho nhiệt độ của khói thải ra khỏi lò và tương ứng tổn thất q; tăng lên, nghĩa là hiệu suất lò giảm đi Nhưng mặt khác hiệu suất của chu trình tăng lên
Nhiệt độ không khí nóng được xác định theo yêu cầu đảm bảo tốt sự bốc cháy của nhiên liệu nghĩa là càng cao càng tốt Nhưng vì điều kiện làm việc
của kim loại bộ sấy không khí, do hệ số tản nhiệt của không khí nhỏ hơn nhiều so với hơi và nước nên nhiệt độ vách ống thường lớn hơn nhiệt độ không khí nhiều, nghĩa là nếu chọn nhiệt độ không khí nóng cao thì đòi hỏi
phải dùng những kim loại quý để chế tạo
Theo nguyên tắc truyền nhiệt, bộ sấy không khí được chia làm 2 loại:
loại thu nhiệt và loại hồi nhiệt Ở loại thu nhiệt, nhiệt truyền trực tiếp từ khói tới không khí qua vách kim loại Ở loại hồi nhiệt khói đầu tiên đốt nóng kim
loại rồi sau đó nhiệt tích tụ tại đây được truyền cho không khí Như vậy mỗi
phần tử của bộ sấy không khí sẽ làm việc ở trang thái tiếp xúc lần lượt khi thì
với khói, khi thì với không khí
1.2 Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt (bộ sấy tĩnh):
Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt là loại được sử dụng rộng rãi hiện nay,
về cấu tạo nó có thể gồm các kiểu sau: kiểu bằng tắm thép, kiểu bằng ống gang, kiêu bằng ống thép
Bộ sấy không khí kiểu ống gồm 2 loại: ống gang và ống thép, trong đó
bộ sấy không khí loại ống thép hiện nay hay được sử dụng Nó gồm một hệ
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 5
Trang 13Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
Hình I-1 Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt (dạng tĩnh)
Thông thường hiện nay người ta chế tạo bộ sấy không khí theo từng cụm (khối) Khi lắp, chúng được nối với nhau tạo thành bộ sấy không khí Kích
thước của khối được chọn theo kích thước của đường khói đối lưu, thường
một cạnh của khối lấy bằng chiều sâu của đường khói còn cạnh kia được chọn trên cơ sở kích thước chiều rộng và số khối (ước số theo chiều rộng của lò)
Trang 14
Việc chia thành khối như vậy cho phép vận chuyên và lắp ráp dễ dàng Hình
vẽ sau trình bày sơ đồ chia bộ sấy không khí thành các khối và cách nối các khối với nhau
tư tt tot + +
khung lò cũng cần đặt vành bù Vành bù là những lá tôn mỏng nối giữa mặt
sàng và khung lò
Vì các ống của bộ sấy làm việc ở trạng thái không có áp suất nên được
chế tạo bằng các lá tôn 1,25+1,5mm uốn và hàn mí lại Đường kính ngoài của ống nằm trong phạm vi 25+5lmm Hiện nay người ta có xu hướng sử dụng hai loại đường kinh 40mm va 51mm, day 1,5mm
Mặt sàng của bộ sấy được tính theo điều kiện bền, thường đối với mặt
trên và mặt dưới lấy bằng 15+25mm Để tăng độ cứng vững của bộ sấy, giữa hai mặt sàng trên và đưới còn đặt mặt sàng trung gian, có bề dày nhỏ hơn, thường từ 5+10mm Mặt sàng trung gian có tác dụng để phân chia đường
không khí thành nhiều đường cắt đường khói nhiều lần Mỗi khối của bộ sấy
không khí có thể có từ 1+2 mặt sàng trung gian
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 1
Trang 15Việc chọn số lần đường không khí cắt đường khói hay nói khác đi là việc
chọn kích thước đường không khí đi là dựa trên cơ sở đảm bảo tốc độ của
dòng không khí (hình vẽ 1-3 trình bày các dạng sơ đồ bố trí bộ sấy không khí
c) sơ đô một dòng một đường
Khi quyết định số lần đường không khí cắt đường khói cũng như số đòng
không khí không phải hoàn toàn chỉ dựa vào tốc độ không khí yêu cầu mà còn phải dựa vào quan hệ giữa tốc độ khói và tốc độ không khí, nghĩa là còn phải xét tới kích thước và số lượng ống (tiết diện để khói qua), đo đó, còn phải tuỳ thuộc bề mặt truyền nhiệt của bộ sấy không khí Cũng cần phải chú ý rằng khi
số lần cắt càng nhiều thì độ chênh nhiệt độ càng lớn Ta có thể thấy rõ các
mối quan hệ trên bằng cách chọn đường kính ống và tương ứng, số lượng ống như sau:
- Khi thiết kế bộ sấy không khí thì bề mặt truyền nhiệt yêu cầu được biết
trước, còn tiết diện khói đi qua cũng đã được xác định bằng cách chọn trước
tốc độ khói trên cơ sở tốc độ khói giới hạn theo điều kiện mài mòn bởi tro
bay Bề mặt đốt và tiết điện để khói qua được xác định theo số lượng ống và đường kính ống như sau:
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 8
Trang 16ấy để đảm bảo bề mặt truyền nhiệt thì lại phải giảm chiều dài của ống để bù
lại sự tăng số lượng ống này Cứ giảm đường kính đi bao nhiêu lần thì chiều
dài của ống phải giảm đi bấy nhiêu lần, vì tỷ số giữa chiều dài và đường kính ống là một trị số cố định khi thay đổi đường kính ống:
Phương trình (1.3) được lập nên bằng cách chia phương trình (1.2) cho
phương trình (I.1)
Như vậy khi giảm đường kính ống đi 2 lần thì phải tăng số lượng ống lên
4 lần và giảm chiều cao của ống đi 2 lần
Khi tăng số lượng ống mà vẫn muốn đảm bảo tốc độ không khí thì phải
tăng số dãy ống dọc theo đường không khí, đo đó làm tăng trở lực của đường
không khí, còn khi giảm chiều dài ống thì số lần cắt cũng phải giảm theo (do
phải giữ nguyên chiều cao của đường không khí đi)
Hiện nay để sử dụng ống đường kính bé và để hoàn thiện quá trình làm
việc, bộ sấy không khí có thể thực hiện theo hai dong riêng biệt (hình vẽ I-3b
và d) Khi đó mỗi phần chỉ có một nửa tổng lượng không khí đi qua, so với sơ
đồ một dòng cho phép tăng gấp đôi số lần cắt và giảm gấp đôi trở lực của
đường không khí khi cùng tốc độ không khí Việc đưa không khí vào bộ sấy
có thê thực hiện theo hai phía
$ Bộ sấy không khí kiểu ống có những ưu điểm sau:
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 9
Trang 17- Đơn giản trong chế tạo, lắp ráp và làm việc chắc chắn,
- Tro bám trong ống không nhiều, ống dé dàng thổi sạch,
- Khắc phục được hiện tượng lọt không khí vào trong đường khói,
- Có xuất tiêu hao kim loại tương đối nhỏ
$ Khuyết điểm của bộ sây không khí kiểu ống:
Khuyết điểm chủ yếu là các ống thép không bền vững dưới tác dụng ăn mòn của khói ở nhiệt độ cao và tác dụng mài mòn của tro bay Vì vậy bộ sấy
không khí kiểu ống được dùng để gia nhiệt không khí tới khoảng 400°C, nhiệt
độ khói trước nó không quá 550°C
Khi nhiệt độ khói và không khí cao hơn người ta thường dụng bộ sấy không khí kiểu ống bằng gang, do gang bền vững hơn đưới tác dụng ăn mòn
và mài mòn so với ống thép Để tăng hệ số truyền nhiệt, Ống gang thường có cánh ở ngoài ống và có răng ở trong ống Lúc này không khí được bố trí đi trong ống còn khói đi ngoài ống Các cánh (ngoài ống) và răng (trong ống)
được bố trí dọc theo đường lưu động của dòng không khí hay khói, nghĩa là
vuông góc với nhau (như hình I-4)
Hình I-4 Cấu tạo của ống gang có cánh
và răng của bộ sấy không khí bằng gang
Số lượng ống theo chiều rộng đường khói của bộ sấy không khí bằng
gang được xác định theo điều kiện đảm bảo tốc độ khói, còn chiều dài ống được xác định theo điều kiện đảm bảo bề mặt đốt
Khuyết điểm chủ yếu của bộ sấy không khí bằng gang là kích thước cồng
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 10
Trang 18kénh va nang né, sản xuất tiêu hao kim loại rất lớn, độ lọt không khí nhiều và
dễ bám tro Nhưng đo khả năng chống mài mòn và mài mòn cao nên nó được
sử dụng để chế tạo bộ sấy không khí cấp một (hoặc một phần ở phía đầu vào
bộ sấy cấp một) khi đốt nhiên liệu nhiều lưu huỳnh, nhiên liệu rất âm và với nhiệt độ khói thải thấp, hay để chế tạo bộ sấy không khí cấp hai (hoặc phần đi
ra của bộ sấy không khí cấp hai) khi cần dùng không khí có nhiệt độ quá cao
Trong các thiết bị đốt nhiệt độ khói thải ra khỏi lò còn rất cao (trên
1000°C) nên người ta thường dùng khói này để gia nhiệt không khí Nhưng vì
nhiệt độ khói rất cao nên đòi hỏi kim loại chế tạo phải là thép hợp kim chống gỉ 1.3 Bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt (bộ sấy quay):
Hiện nay trên thế giới cũng như tại một số nhà máy nhiệt điện chạy than
tại Việt Nam cũng đã sử dụng khá rộng rãi bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt (dạng quay)
Trang 19Thiết bị sấy nóng không khí hồi nhiệt kiểu quay (rotary regenerative air
heater) thu giữ và sử dụng lại khoảng 60% nhiệt lượng thoát ra ngoài lò hơi, nếu không, năng lượng này sẽ bay đi mắt theo đường ống khói Với một nhà
máy nhiệt điện chạy than công suất 500 MW, năng lượng sử dụng lại có thể
lên tới khoảng 3,5.10” kcal mỗi giờ, và nhờ sử dụng lại nhiệt lượng này, có
thể giảm mức tiêu hao nhiên liệu khoảng 1.500 tấn mỗi ngày
Bộ phận chính của bộ sấy là một rôto quay với tốc độ chậm xung quanh
trục đứng Trên rôto có gắn các lá thép Những lá thép này trong quá trình rôto quay sẽ lần lượt khi thì tiếp xúc với khí nóng, khi thì tiếp xúc với không
khí lạnh Đường khói và đường không khí được bố trí ở hai phía có định của
bộ sấy và được ngăn bởi vách ngăn
Phần rôto khi đi qua đường khói sẽ được đốt nóng tới nhiệt độ của khói,
lượng nhiệt tích luỹ này sẽ được truyền cho không khí khi rôto đi qua đường không khí, nhiệt độ của phần rôto này sẽ giảm xuống Khi đi qua đường khói, các chi tiết của rôto sẽ có nhiệt độ bằng nhiệt độ của khói, nên khắc phục được hiện tượng ăn mòn ở nhiệt độ thấp trong đường khói Khi đi qua phần không khí, do không khí không phải là môi trường ăn mòn như khói, nên cho phép nhiệt độ của các chỉ tiết hạ xuống khá thấp Đó cũng là ưu điểm chính
của bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt
Ngoài ra bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt còn có ưu điểm là kích thước
nhỏ gọn, suất tiêu hao kim loại nhỏ, trở lực đường khói và không khí khá bé
Khuyết điểm chủ yếu của bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt là lượng không
khí lọt vào trong đường khói khá lớn Trong các cấu tạo cũ, khi không bảo
đảm chèn kín tốt, lượng không khí lọt vào có thể lên tới 20% Ngay cả khi chèn tốt, lượng không khí lọt cũng tới 10% Điều này làm cho lượng tiêu hao điện năng, cho việc thông gió và tốn thất q; tăng lên Ngoài ra việc thực hiện chuyển động quay trong điều kiện nhiệt độ cao làm cho cấu tạo phức tạp lên
nhiêu
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 12
Trang 20Đề khắc phục những khuyết điểm này, hiện nay trong nhiều trường hợp
người ta đã dùng bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt nhưng không có rôto quay bằng kim loại mà bằng khối gạch chịu lửa cô định, chia làm hai phan, tiếp xúc
định kỳ với khói và không khí nhờ một hệ thống van lá chắn đóng mở đường
hơn 2,5 lần và lượng tiêu hao điện năng cho việc thông gió lớn hơn 4 lần
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 13
Trang 21Trong đường khói phần đuôi, bộ sấy không khí có thể bố trí theo dang
một cấp (hình I-6a) hoặc 2 cấp xen kẽ nhau (hình I-6b) Chọn kiểu kết cấu nào là tuỳ theo yêu cầu về độ gia nhiệt không khí nóng quyết định Thông thường, ở ghi lò, dé bảo vệ ghi lò, nhiệt độ không khí nóng thường không quá
150°C, (chỉ khi đốt những nguyên liệu rất nhiều tro và âm như than bùn, nhiệt
độ không khí nóng mới tới 205°C), khi ấy chi cần bố trí bộ sấy không khí một cấp Ở lò phun nhiệt nóng tới 400°C, có khi cao hơn Để thu được nhiệt độ
không khí nóng cao như vậy cần thiết phải đặt đầu ra của bộ sấy không khí
vào vùng nhiệt độ khói cao, nghĩa là bộ sấy không khí chia thành hai cấp Nhưng thông thường nhiệt độ khói đi ra khỏi bộ quá nhiệt còn lớn hơn 600°C,
nên để bảo vệ bộ sấy không khí, người ta thường đặt bộ sấy không khí cấp hai
vào giữa bộ hâm nước, có nghĩa là bộ hâm nước cũng được chia thành hai câp
Hinh I-7 Su thay đổi nhiệt độ khói và môi chất
của các bê mặt đốt phần đuôi khi bố trí hai cấp
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 14
Trang 22Hình I-7 trình bày đặc tính thay đổi nhiệt độ của dòng khói và môi chất
đi qua các bề mặt truyền nhiệt phần đuôi khi bố trí hai cấp Các dòng môi chất
đều được bố trí ngược dòng khói nên theo chiều giảm nhiệt độ dòng khói và theo chiều tăng nhiệt độ môi chất Độ tăng nhiệt độ của không khí lạnh nhanh
hơn độ giảm nhiệt độ của khói, còn đốt với bộ hâm nước thì xảy ra ngược lại
Ta có thể thấy rõ điều này bằng cách khảo sát phương trình cân bằng nhiệt
của các cấp
Đốt với bộ sấy không khí cấp một, dựa theo các ký hiệu trên hình I-7,
phương trình cân bằng nhiệt có dạng:
(„ —Ađi,— Ang i Cu (tein — ly ) =
trong đó: tựa, ta - nhiệt độ không khí nóng và lạnh, °C;
tụ, tu - nhiệt độ khói và nhiệt độ khói thải, “C o¡ - hệ số không khí thừa trong buồng lửa Aon, - hệ số không khí lọt trong hệ thống nghiền than Người ta thường ký hiệu:
gọi là đương lượng nước của không khí và của khói
Đối với các loại nhiên liệu, thê tích lý thuyết của không khí thường nhỏ
hơn thể tích lý thuyết của khói, nhiên liệu càng âm thì thể tích không khí càng
nhỏ hơn Mặt khác do đường khói của hầu hết các lò làm việc ở trạng thái
chân không, nên có lọt không khí nghĩa là øz„ > z„ Khi đó tỷ nhiệt của nitơ xấp xi với tỷ nhiệt tài nguyên của không khí nên tỷ nhiệt trung bình của khói lớn hơn của không khí Vì vậy đương lượng nước của không khí thường nhỏ hơn nhiều so với đương lượng nước của khói Do đó từ phương trình (1.4) ta
có hiệu nhiệt độ (/„„—z,„)> (t, —z„); nghĩa là độ tăng nhiệt độ không khí lớn
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 15
Trang 23hơn độ giảm nhiệt độ của khói Trung bình cứ giảm nhiệt độ của khói đi 1°C
thì nhiệt độ của không khí tăng lên 1,2+1,5°C
Trong bộ hâm nước của lò hơi, đương lượng của nước là:
thực ra chỉ cần xác định kích thước của bộ sấy không khí cấp một và nhiệt độ
khói trước bộ sấy không khí cấp hai sẽ phân bố được tỷ lệ hấp thụ nhiệt giữa
các cấp của bộ sây không khí và bộ hâm nước
Nếu gọi nhiệt độ ở đầu ra bộ sây không khí cấp một là:
Min = te — bye (1.8) Ate = by — than (1.9)
thì nhiệt độ không khí nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp một sẽ bằng:
Ta thấy từ phương trình (1.10), nhiệt độ không khí nóng khi ra khỏi bộ
sấy không khí cấp một được xác định phụ thuộc vào nhiệt độ khí lạnh, nhiệt
độ khói thải, hiệu nhiệt độ ở đầu ra bộ say không khí cấp một và mức độ sai
khác giữa đương lượng nước của không khí và của khói Nhiệt độ không khí
nóng sẽ giảm đi khi giảm nhiệt độ khói thải, khi tăng nhiệt độ không khí lạnh,
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 16
Trang 24khi giảm tỷ số giữa đương lượng nước của không khí và của khói khi tăng
hiệu số nhiệt độ ở đầu ra của bộ sấy không khí
Vì khi phân bố tỷ lệ hấp thụ nhiệt giữa các cấp, nhiệt độ khói thải là đã
chọn trước, nhiệt độ không khí lạnh là một trị số không thay đổi, còn đương
lượng nước của không khí và khói phụ thuộc vào loại nhiên liệu đốt đã cho
nên cũng là những trị số cố định Vì vậy đại lượng có ý nghĩa quyết định đến
nhiệt độ không khí nóng chính là hiệu nhiệt độ ở đầu ra bộ sấy không khí cấp
một
Việc chọn hiệu nhiệt độ đầu ra bộ sấy cấp một A¿,„ là một vấn đề tương đối phức tạp, được xác định trên cơ sở tính kinh tế kỹ thuật Khi hiệu nhiệt độ
ở đầu ra bộ sấy không khí cấp một càng nhỏ thì nhiệt độ không khí nóng và
tương ứng nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp một càng cao (điểm làm
việc của nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp một dịch chuyên về bên trái
đồ thị I-7), do đó hiệu nhiệt độ ở đầu vào bộ hâm nước cấp một cũng sẽ càng
lớn vì nhiệt độ nước cấp là không đổi Như vậy khi chọn nhiệt độ không khí
nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp một càng cao thì chênh lệch độ trong bộ sấy không khí cấp một càng giảm, còn trong bộ hâm nước lại tăng Do đó ở
một lượng nhiệt hấp thụ không đổi kích thước bề mặt truyền nhiệt độ hâm
nước giảm đi còn của bộ sấy không khí thì tăng lên
Xác định được nhiệt độ không khí nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp
một thì sẽ xác định được tỷ lệ hấp thụ nhiệt giữa hai cấp của bộ say không
khí Tỷ lệ phan bé hap thụ nhiệt giữa hai cấp của bộ hâm nước được xác định trên cơ sở chọn nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp hai Nhiệt độ này
được chọn theo điều kiện bảo đảm chống ăn mòn ở nhiệt độ cao cho bộ sấy không khí
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 17
Trang 25Trên cơ sở xác định các trị số hiệu nhiệt độ A¿,„, A¿„, ta xác định được
nhiệt độ khói thải tốt nhất theo phân tích về mặt kinh tế Dựa trên cơ sở
phương trình (1.4) và (I.8) ta sẽ xác định được nhiệt độ khói thải:
ty = (the cau |1 U ota, °C (1.11)
Từ công thức (I.11) ta thấy: Có thể giảm nhiệt độ của khói thải bằng cách
giảm nhiệt độ nước cấp, nhiệt độ không khí lạnh, hiệu nhiệt độ Ar,„, Ar, hoặc
làm cho đương lượng nước của không khí và của khói gần bằng nhau Nhiệt
độ không khí lạnh đưa vào bộ sấy không khí thường lấy bằng nhiệt độ của không khí trong gian lò, nghĩa là đã là một trị số cố định cho trước
Việc quyết định chọn nhiệt độ nước cấp là một vấn đề phức tạp dựa trên
cơ sở so sánh kinh tế giữa việc tăng hiệu suất lò (đo giảm nhiệt độ khói thải)
với việc giảm hiệu suất của chu trình nhiệt khi giảm nhiệt độ nước cấp Đối
với một thông số của lò và chu trình, nhiệt độ nước cấp đã được chọn theo cách so sánh kinh tế
Để cho tỷ số + tiến tới 1 thì cần phải giảm lượng không khí lọt vào lò
We Trong quá trình vận hành cũng như khi thiết kế lò, lượng không khí lọt đã
được khắc phục đến mức tối thiểu
Như vậy không thể dùng các biện pháp giảm nhiệt độ nước cấp, nhiệt độ không khí lạnh và lượng không khí lọt tới quá mức quy định để làm giảm
nhiệt độ khói thải Khi ấy nhiệt độ khói thải chỉ còn phụ thuộc vào hai trị số
Af„ Và At
Bảng sau trình bày các trị số nhiệt độ khói thải kinh tế nhất khi các trị số
Ar„ và Ar„„ khác nhau (tỷ số — - đối với nhiên liệu khô)
skk
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 18
Trang 26Bảng I.1 - Nhiệt độ khói thải khi thay đổi hiệu nhiệt độ Az,„ và A:,„, °C
Nhiệt độ không khí | Az,„ =80°C | Az,,=40°C | At,,=20°C | At,, =10°C
lanh ty, °C Aty, =60°C | Aty, =30°C | At, =15°C | Aty =7°C
30 131 100 83 75
60 154 123 107 99
80 171 139 123 115
Từ bảng trên ta có thể lập được mối quan hệ về độ chênh nhiệt độ trung
bình logarit theo nhiệt độ khói thải của bộ sấy không khí thay đổi các trị số
Ar„„ Ví dụ khi giảm nhiệt độ khói thải từ 103°C xuống 75°C thì độ chênh
lệch nhiệt độ trung bình logarit A¿,„ giảm đi 15%, còn khi giảm tụ từ 85°C xuống 75°C thì At,, giam di 1,5 lần, nghĩa là tương ứng bề mặt truyền nhiệt
của bộ sấy không khí sẽ tăng lên 1,5% hay 1,5 lần Vì vậy càng giảm nguồn
nhiệt độ thải (giảm chỉ phí vận hành) thì chi phí kim loại chế tạo bề mặt
truyền nhiệt bộ sấy không khí càng tăng lên nhanh
Dựa trên các kết quả tính toán kinh tế, thường lấy Ar, =40°C, Ar„ =30°C Trong bảng sau trình bày nhiệt độ khói thải kinh tế khi
Nhiệt độ nước cấp 150°C Nhiệt độ nước cấp 215°C
Nhiên liệu khô | Nhiên liệu âm |_ Nhiên liệu Nhiên liệu
Trang 27Trị số nhiệt độ khói thải xác định được theo điều kiện kinh tế ở trên phải
đảm bảo không gây nên ăn mòn nhiệt độ thấp ở bề mặt truyền nhiệt nghĩa là phải cao hơn nhiệt độ đọng sương
Đối với bộ sấy không khí, do hệ số tản nhiệt về phía khói và về phía không khí xấp xỉ nhau nên việc chọn kích thước bề mặt truyền nhiệt của b6 say không khí không những phụ thuộc vào vị trí tốc độ khói có lợi nhất mà còn cả vào trị số tốc độ không khí có lợi nhất, nghĩa là vào tỷ số có lợi nhất của tốc độ
khói và không khí Tỷ số có lợi nhất này có thể xác định như sau:
- Đối với bộ sấy không khí kiểu ống: ự„ /ự, = 0.5
- Đối với bộ sấy không khí kiểu ống có cánh răng: ự„ /„ = 0,7
- Đối với bộ sấy không khí kiểu tắm và kiểu ống có cánh: ự„ /, =1
Việc chọn tốc độ khói có lợi nhất cho bộ sấy không khí dựa trên cơ sở so sánh giữa việc tăng chi phí điện năng cho việc thông gió khi tăng tốc độ với
việc giảm chi phí đầu tư do giảm kích thước bề mặt truyền nhiệt Các trị số tốc
độ xác định được này thường nhỏ hơn nhiều so với trị số giới hạn cho phép về
mặt mài mòn do việc mài mòn ở đây xảy ra ít hơn so với khi dòng khí lưu động ngang Bảng 3 trình bày tốc độ khói có lợi nhất trong bộ sấy không khí
Bang I.3 - Tốc độ khói có lợi nhất trong bộ sấy không khí, m/s
Trang 28
khí hiện đang được sử dụng tại các nhà máy điện mới xây dựng, nhóm đề tài chúng tôi đã làm việc với Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại và quyết định lựa
chọn bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt (đạng bộ sấy không khí quay) làm đối
tượng nghiên cứu và thiết kế Môđun sản phẩm bộ sấy không khí kiểu quay trên sau khi chế tạo thử nghiệm sẽ được đưa vào lắp ráp và vận hành khảo nghiệm tại Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 21
Trang 29CHUONG II
TINH TOAN - THIET KE
BQ SAY KHONG KHi LOAI HOI NHIET (DANG QUAY)
H.1 Mô tả chung bộ sấy không khí loại hồi nhiệt (dạng quay)
Bộ phận chính của bộ sấy không khí loại hồi nhiệt là một rôto quay với tốc
độ độ rất chậm xung quanh trục đứng Trên rôto có gắn các lá thép, những lá
thép này trong quá trình rôto quay sẽ lần lượt khi thì tiếp xúc với khói nóng,
khi thì tiếp xúc với không khí lạnh Đường khói và đường không khí được bố
trí ở hai phía cố định của bộ sấy và được ngăn bởi vách ngăn
Phần rôto đi qua đường khói nóng sẽ được đốt nóng đến nhiệt độ của khói,
lượng nhiệt tích luỹ này sẽ truyền cho không khí khi rôto đi qua đường không khí, nhiệt độ của phần rôto này sẽ giảm xuống Khi đi qua đường khói, các chỉ
tiết của rôto sẽ có nhiệt độ bằng nhiệt độ của khói nên khắc phục được hiện
tượng ăn mòn ở nhiệt độ thấp trong đường khói Khi đi qua phần không khí, do không khí không phải là môi trường ăn mòn như khói, nên cho phép nhiệt dộ
các chỉ tiết hạ xuống khá thấp
Bộ sấy không khí đạng này có kích thước gọn gàng, suất tiêu hao kim loại
nhỏ, trở lực đường khói và không khí bé Nhưng chúng có nhược điểm chủ yếu
là độ lọt gió đáng kế từ phí không khí sang khói (độ lọt gió tiêu chuẩn của
không khí 0,2-0,25) Dạng bộ sấy không khí này đảm bảo sấy không khí tới 250-300°C và được dùng chủ yếu cho các lò hơi công suất lớn
Việc lựa chọn tốc độ của các sản phẩm cháy và không khí trong thiết kế
bộ sấy không khí là rất quan trọng Các bộ sấy không khí đặt ỏ vùng nhiệt độ thấp của các sản phẩm cháy bị ăn mòn bên ngoài, đặc biệt bị ăn mòn nhanh khi đốt các nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao Các bộ sấy không khí của lò hơi công nghiệp thường được bảo vệ chống ăn mòn bằng cách duy trì nhiệt độ của thành ống cao hơn nhiệt độ điểm sương 10K
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 22
Trang 30Nhiệt độ điểm sương của các sản phẩm cháy:
Trong đó:
tng - nhiệt độ phát sinh ngưng tụ hơi nước từ các sản phẩm cháy, °C
At,- trị số hiệu chỉnh tính đến sự tăng nhiệt độ điểm sương so với nhiệt độ
ngưng tụ
Đối với các nhiên liệu không chứa lưu huỳnh, nhiệt độ điểm sương được
coi là bằng nhiệt độ ngưng tụ hơi nước với áp suất riêng phần của chúng trong
các sản phẩm cháy Trong trường hợp đó nhiệt độ điểm sương là 45-55°C
Đại lượng At; phụ thuộc vào độ lưu huỳnh ước lược và độ tro:
12515"
Trong đó:
ayy - lượng tro trong khói;
S°, A„ - tương ứng là hàm lượng lưu huỳnh và tro quy đôi
Quá trình ăn mòn khi đốt các nhiên liệu chứa lưu huỳnh xảy ra chậm khi tuân thủ các điều kiện sau:
tự, +25 <£<105°C Việc kiểm tra không đọng sương trong các ống của bộ sấy không khí được
tiến hành bằng cách xác định nhiệt độ tối thiểu của thành ống
Khi đốt các nhiên liệu chứa lưu huỳnh trong các lò hơi công suất lớn, để đảm bảo việc chống ăn mòn thì bề mặt đun nóng của bộ sấy không khí được
tráng men chịu axit hoặc cấp lạnh của bộ sấy không khí được chế tạo bằng các
vật liệu chống ăn mòn Cũng có thể sử đụng các bộ sấy không khí với chat tai
nhiệt trung gian
Để duy trì nhiệt độ thành bộ sấy không khí cao hơn nhiệt độ điểm sương
người ta áp dụng tái tuần hoàn không khí nóng và sấy sơ bộ không khí trước
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 23
Trang 31khi đưa vào bộ sấy không khí Gần đây người ta ít áp dụng tái tuần hoàn không khí nóng vào đầu hút của quạt gió, bởi vì với sơ đồ đó tiêu hao năng lượng cho
quạt sẽ tăng lên Ngoài ra tái tuần hoàn bảo vệ bộ sấy không khí kém hiệu quả
khi khởi động lò Hiện nay việc sấy không khí trước khi đưa vào bộ sấy không
khí trong bộ gia nhiệt bằng hơi hoặc bằng nước được sử dụng rộng rãi, bởi vì
đảm bảo được sự sấy nóng cần thiết với bất kỳ phương thức vận hành nào của
lò hơi
IL.2 Co sé tính toán bộ sấy không khí
Dựa trên cơ sở tính toán đối với bộ sấy không khí kiểu ống ta áp dụng vào
công tác tính toán bộ sấy không khí kiểu quay Cơ sở của việc tính toán bộ sấy không khí kiểu ống được xác định như sau:
- Khi tính toán kết cấu bộ sấy không khí lựa chọn đường kính ống, các
bước ngang và dọc, các tiết diện cho các sản phẩm cháy và không khí đi qua,
số lượng các hành trình Trong tính toán kiểm tra bộ sấy không khí hiện hành,
các đặc tính trên và bề mặt đun nóng của nó được xác định từ bản vẽ
- Xác định nhiệt độ ở phía đầu nóng của bộ sấy không khí:
Trong đó:
ớ' - nhiệt độ của các sản phẩm cháy ở đầu vào bộ say không khí, nhiệt độ
này đã được xác định từ tính toán bề mặt đun nóng trước đó
£ - nhiệt độ không khí nóng được chấp nhận khi lập bảng cân bằng nhiệt
của lò hơi
Nếu trị số At° nhỏ hơn 25-30°C thì khi tính toán kết cấu điều đó chỉ ra sự
cần thiết của việc sử dụng bề mặt đun nóng một cách không xác đáng, còn khi
tính toán kiểm tra bộ sấy không khí hiện có không đủ để tiếp nhận nhiệt độ
không khí nóng đã được chấp nhận Trong cả hai trường hợp cần phải giảm
nhiệt độ không khí nóng và tiến hành tính toán lại đối với lò hơi hoặc sử dụng
bố cục hai cấp của bộ sấy không khí
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 24
Trang 32- Xác định nhiệt hấp thu của không khí trong bộ sấy không khí Khi sấy sơ
bộ không khí trong lò phát nhiệt nhiệt hấp thu trong bộ sấy không khí:
Ị° „› T„ - enfanpi của lượng không khí lý thuyết ở đầu vào bộ sấy không
khí và ở đầu ra từ bộ sấy không khí với các nhiệt độ tương ứng đã được chấp nhận khi lập cân bằng nhiệt lò hơi
- Từ phương trình cân bằng nhiệt xác định entanpi của các sản phẩm cháy
sau bộ sấy không khí
Trị số nhận J „ được so sánh với trị số entanpi của khói thoát được chọn sơ bộ
khi lập cân bằng nhiệt Nếu chênh lệch không vượt quá 5% nhiệt lượng khả
dụng của nhiên liệu thì việc tính toán đã thực hiện đúng
- Tùy thuộc vào sự chuyên động tương quan của không khí và các sản
phẩm cháy xác định độ chênh nhiệt độ trong bộ sấy không khí
Để áp dụng toán đồ ta tính các thông số không thứ nguyên:
Trang 33z„ - độ chênh lệch nhiệt độ của môi trường thứ hai (nhỏ hơn), °C
- Xác định tốc độ của các sản phẩm cháy trong bộ sấy không khí:
F - diện tích mặt cắt ngang cho không khí di qua, m*
- Xác định hệ số hoàn nhiệt bằng đối lưu từ các sản phẩm cháy tới thành
ở đây: œụ - hệ số truyền nhiệt xác định theo toán đồ
c; - hệ số hiệu chỉnh hàng ống theo chuyên động sản phẩm cháy
c„ - hệ số hiệu chỉnh do sắp xếp hình học cho chùm ống
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 26
Trang 34c; - hệ số tính đến ảnh hưởng của sự thay đổi các thông số vật lý dòng
c¡ - hệ số hiệu chỉnh cho độ dài tương đối, đưa vào khi l/⁄d <50 và được
xác định trong trường hợp ống xếp thẳng, không quy tròn
- Xác định tổng hệ số tỏa nhiệt từ các sản phẩm cháy tới bề mặt đun nóng
a= #(„, + ax) > W/(mˆ.K) (HI.11) Trong đó:
a, - Hé sé toa nhiệt bằng bức xạ, đối với các bộ sấy không khí cấp thứ
nhất được chấp nhận a,, =0
£ - hệ số sử dụng: khi đốt than antraxit, than bùn, mazut và củi, £ được
chấp nhận bằng 0,8; các nhiên liệu còn lại bằng 0,85
- Xác định hệ số tỏa nhiệt từ thành bề mặt đun nóng tới không khí Khi
bao quanh ngang của các chùm kiểu hành lang và bàn cờ:
Trong đó:
a, - hệ số tỏa nhiệt theo toán đồ;
e,„ e,„ c„ - các hệ số hiệu chỉnh;
Để xác định các hệ số hiệu chỉnh trên cần tính nhiệt độ trung bình của
Trang 35Khi tính toán kiểm tra (bề mặt đun nóng của bộ sấy không khí đã biết) từ
phương trình truyền nhiệt xác định được lượng nhiệt không khí tiếp nhận:
sp TA By tAQy, , (kI/kg hoaec kJ/m”) (1.16)
Theo trị số Tj, xác định được nhiệt độ không khí đun nóng sau bộ say
không khí t„ Nếu nhiệt độ này khác biệt với nhiệt độ đã chấp nhận khi lập
cân bằng nhiệt không quá +40°C thì tính toán được coi là kết thúc Trong
trường hợp ngược lại cần phải thực hiện lại tính toán, ra một nhiệt độ mới của
không khí gần với trị số nhiệt độ thu được
II.3 Các thông số bộ sấy không khí loại hồi nhiệt và tính toán bộ sấy: 113.1 Các thông số kỹ thuật của lò hơi:
@ Lưu lượng hơi quá nhiệt trung gian 800
@ Nhiét độ nước cấp tae = 260°C
@ Nhiét d6 hoi qua nhiét ton = 565°C
¢ Ap suat hơi quá nhiệt Pon = 255bar
@ Nhiét dé hoi dau vao b6 qua nhiét t„ = 307°C
¢ Ap suat hơi đầu vào bộ quá nhiệt P,, = 39bar
$ Nhiệt độ hơi đầu ra bộ quá nhiệt tạ =570°C
¢ Ap suat hoi dau ra b6 qua nhiệt Tạ =3Tbar
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 28
Trang 36+
1I.3.2 Các thông số chính của bộ sấy không khí:
¢
Áp suất khói trong buồng lửa
Công suất động cơ chính rôto bộ sấy không khí
Tốc độ rôto
Đường kính lớn nhất của rôto
Nhiệt độ khói đầu vào bộ sấy
Nhiệt độ khói đầu ra bộ sấy
Áp suất khói đầu vào bộ sấy
Nhiệt độ không khí đầu vào cấp 1
Nhiệt độ không khí đầu ra cấp 1
Nhiệt độ không khí đầu vào cấp 2
Nhiệt độ không khí đầu ra cấp 2
Áp suất không khí đầu vào cấp 1
Áp suất không khí đầu ra cấp 1
Áp suất không khí đầu vào cấp 2
Áp suất không khí đầu ra cấp 2
Lưu lượng không khí đầu vào cấp 1
Lưu lượng không khí đầu vào cấp 2
P=30mmH;O
Nac = 11kW
Dysto = 0,8v/ph Dysto = 10360mm
Ty = 400°C
Ty © 120°C Pyy = -Sbar
Trav & 35°C Tại ¥ 368°C Thav2 © 25°C
Ta * 336°C
Pravi = 12,0bar Prat = 11,0bar Pray2 = 16,0bar Piaco = 10,0bar Qhaewt = 50,4m°/s
Qua = 117m)/s
CNĐT - KS Phạm Văn Quế - TT GCAL-NARIME/2007 29
Trang 371I.3.3 Tỉnh toán bộ sấy không khí khiểu quay:
Theo các thông số cho trước của bộ sấy không khí ta có:
- Nhiệt độ không khí nóng đầu ra Tụ„¿ = 336°C
- Số lượng bộ sấy: n = 02
- Số vùng phân chia trên bộ sấy: 18 (8 đường khói, 8 đường không khí, 2
đường phân chia)
- Tỷ lệ bề mặt bộ khói và không khí bao phủ: ø, =“
- Nhiệt độ không khí nóng đầu ra đã biết là Tạ„¡ ~ 368°C
- Theo bảng tra entanpi của không khí nóng ta có entanpi của không khí nóng tai 368°C la 7}, =655 (kcal/kg)
- Tỷ số giữa lượng không khí sau bộ sấy và lượng không khí lý thuyết