DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTCARTỷ lệ an toàn vốnCTCKCông ty chứng khoánCSTTChính sách tiền tệĐHCĐĐại hội cổ đôngĐHĐCĐĐại hội đồng cổ đôngIASChuẩn mực kế toán quốc tếIMFQuỹ tiền tệ quốc tếHĐQTHội đồng quản trịNHNNNgân hàng nhà nướcNHTWNgân hàng trung ươngNHTMCPNgân hàng thương mại cổ phầnNHTMNNNgân hàng thương mại nhà nướcNSNNNgân sách nhà nướcTCTDTổ chức tín dụngWBNgân hàng thế giớiPHẦN MỞ ĐẦUQuá trình mở cửa, hội nhập với thế giới đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hôi phat triển đồng thời cũng đem lại không ít rủi ro. Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài làn sóng ấy, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng hệ thống ngân hàng Việt Nam có nhiều biến đổi. Hoạt động ngân hàng đa dạng hơn, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng không ngừng gia tăng, các ngân hàng mới không ngừng gia tăng Để đối mặt và giải quyết các vấn đề phát sinh trong và sau khi khủng hoảng nền kinh tế các quốc gia trên thế giới thường áp dụng phương pháp tái cấu truc nền kinh tế mà trong đó tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một trong những công việc hết sức quan trọng. Việc hướng tới một hệ thống ngân hàng ổn định, khoa học và hoạt động hiệu quả tạo điều kiện cho việc ổn định và hoạt động kinh doanh các ngành khác trên thị trường. Đã không ít quốc gia tiến hành cấu trúc hệ thống ngân hàng và đạt được kết quả nhất định. Qúa trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua đề án “Cơ cấu lại hế thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” vào tháng 32012, với mục tiêu cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng. Có thể thấy rằng Việt Nam đang có cách tiếp cận chủ động trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu hiệu quả nhất trong điều kiện chưa có nguy cơ hay khả năng suy thoái nghiêm trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến đối tượng, biện pháp, lộ trình và những khó khăn, thách thức, các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tái cấu trúc cần phải được nghiên cứu, bổ sung và cụ thể hoá. Trong khi thực trạng hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thị trường còn khá nhiều bất ổn, có nhiều ngân hàng hoạt động yếu kém, hoạt động thị trường chưa hiệu quả thì việc tái cấu trúc là một hướng đi tích cực nhưng đồng thời cũng không hề dễ dàng. Nhằm nghiên cứu những vấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, rút ra các bài học kinh nghiệm từ các trường hợp tái cấu trúc ngân hàng của các quốc gia, đồng thời nghiên cứu thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam, em chọn đề tài “ Tái cấu trúc ngân hàng và các vấn đề liên quan đến tái cấu trúc ngân hàng tại Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp. Đề tài cũng đề xuất một số giải pháp cần thiết cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với mong muốn hệ thống ngân hàng sẽ được hoàn thiện và vững mạnh hơn, đảm bảo cho việc thực hiện mục đích chung của nền kinh tế.Về nội dung, đề tài nghiên cứu tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, các phương thức tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, các trường hợp tái cấu trúc ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam, thực trạng ngân hàng Việt Nam và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cho vấn đề này. Về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước. Về thời gian, đề tài nghiên cứu giới hạn hoạt động của Chính phủ và các ngân hàng trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính đến nay.Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tái cấu trúc ngân hàng trong nền kinh tế hiện nay và được sự hướng dẫn của thầy giáo Lê Đức Thiện nên em đã chọn đề tài này làm bài chuyên đề tốt nghiêp của mình với mục đích chính là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.Dựa trên những mục tiêu và định hướng của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàngChương 2: Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới và các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nayChương 3: Giải pháp nâng cao tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG1.1.Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàngNgân hàng là một thành phần quan trọng của nền kinh tế, vì vậy việc tái cấu trúc ngân hàng phỉ được nhìn nhận trên phương diện tổng thể. Nội dung và trọng tâm trong tái cấu trúc ngân hàng không chỉ cần được xem xét từ góc độ từng ngân hàng, mà còn từ góc độ Nhà nước, Chính phủ, nền kinh tế theo từng quá trình và trên toàn hệ thống.Tái cấu trúc, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình tổ chức lại một tổ chức nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đó để thực hiện những mục tiêu đề ra. Một chương trình tái cấu trúc có thể diễn ra một cách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành, các hoạt động và các quá trình, các nguồn lực khác của tổ chức. Tái cấu trúc cũng có thể được triển khaimootj phần hay nhiều mảng của tổ chức nhằm đạt mục tiêu là nâng cao chất lượng của bộ phận đó. Suy rộng ra cho một hệ thống, tái cấu trúc là sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu thành phần các tổ chức trong hệ thống, hoặc thay đổi cách quản lý, cách hoạt động của các tổ chức bộ phận nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, thực hiện những mục tiêu thống nhất của hệ thống. Theo Margery Waxman, WB, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là các gói giải pháp về thể chế, tài chính và pháp lý nhằm cứu vãn những ngân hàng phá sản và khôi phục hệ thống ngân hàng trở lại hoạt động bình thường. Còn đối với Claudi Dziobek, IMF, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để nhằm cải thiện hiệu quả của ngành ngân hàng, có nghĩa là phuacj hồi khả năng thanh toán và lợi nhuận,nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng để thực hiện chức năng trung gian tài chính giữa người đi vay và người cho vay, đồng thời khôi phục lòng tin của công chúng. Dù diễn đạt như thế nào thì có thể thấy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng liên quan đến việc thay đổi sữa chữa các sai lầm trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, đưa hệ thống vào cơ chế hoạt động hợp lý và có hiệu quả, làm tăng khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhorddoois với các dịch vụ của ngân hàng, tạo tiền đề vững chắc cho hệ thống nói riêng và của cả hệ thống nói chung. Như vaayjtais
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
-ddd -CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI CẤU TRÚC NGÂN
HÀNG TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : LÊ ĐỨC THIỆN
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ HẠNH
Mã số sinh viên : 10021123
Thanh Hóa, tháng 07 năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi Những kết quả và các số liệu trongchuyên đề tốt nghiệp được tìm hiểu qua các trang
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Thanh Hoá, ngày 05 tháng 07 năm 2013
Tác giả
Lê Thị Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CAR Tỷ lệ an toàn vốn
CTCK Công ty chứng khoán
CSTT Chính sách tiền tệ
ĐHCĐ Đại hội cổ đông
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
HĐQT Hội đồng quản trị
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NSNN Ngân sách nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
WB Ngân hàng thế giới
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
Quá trình mở cửa, hội nhập với thế giới đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hôiphat triển đồng thời cũng đem lại không ít rủi ro Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũngkhông nằm ngoài làn sóng ấy, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng hệ thống ngân hàngViệt Nam có nhiều biến đổi Hoạt động ngân hàng đa dạng hơn, các sản phẩm dịch vụcủa ngân hàng không ngừng gia tăng, các ngân hàng mới không ngừng gia tăng Để đốimặt và giải quyết các vấn đề phát sinh trong và sau khi khủng hoảng nền kinh tế các quốcgia trên thế giới thường áp dụng phương pháp tái cấu truc nền kinh tế mà trong đó tái cấutrúc hệ thống ngân hàng là một trong những công việc hết sức quan trọng Việc hướng tớimột hệ thống ngân hàng ổn định, khoa học và hoạt động hiệu quả tạo điều kiện cho việc
ổn định và hoạt động kinh doanh các ngành khác trên thị trường Đã không ít quốc giatiến hành cấu trúc hệ thống ngân hàng và đạt được kết quả nhất định Qúa trình tái cấutrúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua đề án
“Cơ cấu lại hế thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” vào tháng 3/2012, vớimục tiêu cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đếnnăm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng Có thể thấy rằng ViệtNam đang có cách tiếp cận chủ động trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm đảmbảo đạt được mục tiêu hiệu quả nhất trong điều kiện chưa có nguy cơ hay khả năng suythoái nghiêm trọng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến đối tượng, biện pháp,
lộ trình và những khó khăn, thách thức, các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tái cấu trúccần phải được nghiên cứu, bổ sung và cụ thể hoá Trong khi thực trạng hệ thống ngânhàng cũng như nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thị trường còn khá nhiều bất ổn, có nhiềungân hàng hoạt động yếu kém, hoạt động thị trường chưa hiệu quả thì việc tái cấu trúc làmột hướng đi tích cực nhưng đồng thời cũng không hề dễ dàng Nhằm nghiên cứu nhữngvấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, rút ra các bài học kinh nghiệm từcác trường hợp tái cấu trúc ngân hàng của các quốc gia, đồng thời nghiên cứu thực trạng
hệ thống ngân hàng Việt Nam, em chọn đề tài “ Tái cấu trúc ngân hàng và các vấn đề
liên quan đến tái cấu trúc ngân hàng tại Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp Đề tài
Trang 8cũng đề xuất một số giải pháp cần thiết cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng vớimong muốn hệ thống ngân hàng sẽ được hoàn thiện và vững mạnh hơn, đảm bảo cho việcthực hiện mục đích chung của nền kinh tế.
Về nội dung, đề tài nghiên cứu tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, các phương thức tái cấutrúc hệ thông ngân hàng, các trường hợp tái cấu trúc ngân hàng trên thế giới và ở ViệtNam, thực trạng ngân hàng Việt Nam và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cho vấn đề này
Về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước Về thời gian, đề tài nghiên cứugiới hạn hoạt động của Chính phủ và các ngân hàng trong giai đoạn sau khủng hoảng tàichính đến nay
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tái cấu trúc ngân hàng trong nền kinh
tế hiện nay và được sự hướng dẫn của thầy giáo Lê Đức Thiện nên em đã chọn đề tài này
làm bài chuyên đề tốt nghiêp của mình với mục đích chính là đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Dựa trên những mục tiêu và định hướng của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, đềtài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Chương 2: Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới
và các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Trang 9CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Ngân hàng là một thành phần quan trọng của nền kinh tế, vì vậy việc tái cấu trúc ngânhàng phỉ được nhìn nhận trên phương diện tổng thể Nội dung và trọng tâm trong tái cấutrúc ngân hàng không chỉ cần được xem xét từ góc độ từng ngân hàng, mà còn từ góc độNhà nước, Chính phủ, nền kinh tế theo từng quá trình và trên toàn hệ thống
Tái cấu trúc, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình tổ chức lại một tổ chức nhằm tạo
ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đó để thực hiện những mục tiêu đề ra Một chươngtrình tái cấu trúc có thể diễn ra một cách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổchức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành, các hoạt động và các quá trình, cácnguồn lực khác của tổ chức Tái cấu trúc cũng có thể được triển khaimootj phần haynhiều mảng của tổ chức nhằm đạt mục tiêu là nâng cao chất lượng của bộ phận đó
Suy rộng ra cho một hệ thống, tái cấu trúc là sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu thành phầncác tổ chức trong hệ thống, hoặc thay đổi cách quản lý, cách hoạt động của các tổ chức
bộ phận nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, thực hiện những mục tiêu thống nhất của hệthống Theo Margery Waxman, WB, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là các gói giải pháp
về thể chế, tài chính và pháp lý nhằm cứu vãn những ngân hàng phá sản và khôi phục hệthống ngân hàng trở lại hoạt động bình thường Còn đối với Claudi Dziobek, IMF, tái cấutrúc hệ thống ngân hàng để nhằm cải thiện hiệu quả của ngành ngân hàng, có nghĩa làphuacj hồi khả năng thanh toán và lợi nhuận,nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng
để thực hiện chức năng trung gian tài chính giữa người đi vay và người cho vay, đồngthời khôi phục lòng tin của công chúng
Dù diễn đạt như thế nào thì có thể thấy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng liên quan đếnviệc thay đổi sữa chữa các sai lầm trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, đưa hệ thống vào
cơ chế hoạt động hợp lý và có hiệu quả, làm tăng khả năng tiếp cận của người dân vàdoanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhorddoois với các dịch vụ của ngân hàng,tạo tiền đề vững chắc cho hệ thống nói riêng và của cả hệ thống nói chung Như vaayjtais
Trang 10cấu trúc hệ thống ngân hàng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều biện pháp pháp lý,thể chế và tài chính được triển khai theo từng bước, từ những biện pháp khẩn cấp lấy lạilòng tin, đảm bảo thanh khoản đến việc tạo dựng những cơ chế xử lý những ngân hàng đổ
vỡ và giải quyết tài sản tồn đọng Đối tượng tái cơ cấu có thể là cả hệ thống ngân hànghoặc từng ngân hàng ở tất cả các loại hình Tái cấu trúc ngân hàng nếu có biện pháp khảthivaf được thực hiện tốt có thể giúp hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn, tănglòng tin của người dân và nhà đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh với ngân hàng trên thếgiới, mang lại động lực cho quá trình tái cấu trúc của cả nền kinh tế, góp phần vào quátrình tăng trưởng bền vững cho quốc gia Sự thay đổi có tầm ảnh hưởng quyết định đến
sự thành bại của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lại nằm ở phía Chính phủ nói chung vàNHTW nói riêng
1.2 Nguyên nhân thực hiện tái cấu trúc ngân hàng
Hệ thống TCTD của Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ kể từ đầu thập niên 90 củathế kỷ XX đến nay và đã có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước vớitổng tài sản gấp 2 lần so với GDP, trong đó tổng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tăng rấtnhanh và lên dến 125% GDP vào cuối năm 2010 Hệ thống các TCTD nói chung, hệthống các NHTM nói riêng đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn và trở thành nguồncung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế,cả về vốn ngắn hạn cũng như trung và dài hạn, cảvốn bằn VND cũng như vốn bằng ngoại tệ Một số NHTM và TCTD lớn đã vươn lênthành lập tập đoàn tài chính với quy mô vốn điều lệ tương đương lên đến hàng trăm triệuUSD, hàng loạt hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, bảohiểm, vàng, ngoại tệ, cho thuê tài chính,… thông qua hàng trăm chi nhánh, sử dụng hàngvạn lao động, thành lập nhiều công ty con,… đạt lợi nhuận mỗi năm tới hàng ngàn tỉđồng, kể cả trong nền kinh tế khó khăn những năm 2009, 2011
Một nền kinh tế có thể chỉ khoẻ mạnh khi được hỗ trợ bởi một hệ thông ngân hàngkhoẻ mạnh Trước diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu và những khó khăn nộitại của nền kinh tế thì việc tái cấu trúc ngân hàng một các toàn diện là việc làm cần thiết
Trang 11Nếu hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng của kinh
tế xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệthống Nền kinh tế của một quốc gia khó có thể phát triển ổn định và lành mạnh khi hệthống ngân hàng nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả
Nhu cầu cấu trúc trở nên cần thiết hơn khi hiện trạng của các ngân hàng gặp nhiềuvấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hang hoạt động không hiệu quả; thậm chí trìtrệ, vốn yếu, thiếu hụt thanh khoản và chất lượng tài sản suy giảm đứng trước nguy cơ tan
rã, phá sản… những vấn đề trên xuất phát từ những yếu kém nội tại của hệ thống ngânhàng Nhiều nguyên nhân là do cơ cấu sai, không hợp lý cụ thể: không xác định đượcchiến lược và kế hoạch, đội ngũ lãnh đạo làm việc không chất lượng, công cụ kiểm soátrủi ro cần thiết, quản trị nguồn nhân sự kém,… Ví dụ như sự phát triển nhanh chon dễ dãitrong việc thành lập ngân hàng cũng như việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, các ngânhàng không đủ lực lượng quản lý được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng, điều này dễdẫn đến các vụ lừa đảo, thất thoát tài sản; đặc biệt, tình trạng thiếu minh bạch trong sổsách, trong các báo cáo tài chính bao gồm giấu hoặc chuyển lỗ, không hạch toán đúng chiphí dự phòng tín dụng, đúng các khoản chi phí và thu nhập…gây sức ép cho nền kinh tế,buộc Chính phủ phải tìm cách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thông qua tái cơ cấu cácngân hàng và các định chế tài chính Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, các vụ đỗ
vỡ hàng loạt trong hệ thống các TCTD có thể xảy ra
Bên cạnh đó còn có các yếu tố từ chính sách điều tiết mang tính vĩ mô kém hiệu quả,khả năng dự báo yếu dẫn đến việc điều tiết không kịp thời, các quy định về chính sáchkhông chặt chẽ cũng sẽ làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả Ví dụnhư nền kinh tế tăng trưởng cao, Nếu Chính phủ khuyến khích ngân hàng gi tăng tín dụng
mà không có chính sách kiềm chế hợp lý thì điều này dẫn đến các ngân hàng dễ dãi trongviệc cho vay dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu và nợ không hiệu quả, gây ra mất thanhkhoanr, từ
đó ảnh hưởng đến toàn hệ thống
Trang 12Ngoài ra việc tái cấu trúc cũng bắt nguồn từ vấn đề mang tính bắt buộc để phù hợpvới xu hướng phát triển, ví dụ như xu hướng thay đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống ngânhàng trong xu hướng hội nhập đó là chuyển dần cơ cấu ngân hàng quốc doanh sang ngânhàng TMCP
1.3 Mục tiêu tái cấu trúc ngân hàng
1.3.1 Các mục tiêu ngắn và trung hạn
Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản,chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ Đây là mục tiêu cơbản nhất của việc tái cấu trúc nhằm đảm bảo tính ổn định trong hoạt động của ngân hàng
Thứ tư, tối thiểu hoá chi phí tái cấu trúc đối với NHTW Song song với những mụctiêu củng cố sức mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ caauscungx nhằm mục đíchgiảm thiểu tới mức nhỏ nhất các chi phí liên quan đến NHTW, để mang lại hiệu quả caonhất cho quá trình tái cấu trúc
1.3.2 Các mục tiêu dài hạn
Thứ nhất, tạo ra một khuôn khổ quản lý nhà nước mới, phát triển phương cách qunr trịtheo hướng phù hợp hơn chuẩn mực quốc tế, ngày càng đáp ứng đủ các yêu cầu của nềnkinh tế Theo đó, cần phải đảm bảo các nguyên tắc khi cho vay của ngân hàng khuyếnkhích các nguồn vốn mới
Trang 13Thứ hai, xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng để
có thể đạt các chuẩn mực của quốc tế, tăng cường sức mạnh nội tại của ngân hàng, chốnglại các mầm móng bất ổn và khủng hoảng
Thứ ba, tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính, góp phần thúc đẩy
hệ thống tài chính phát triển,tạo cơ sở cho việc ổn định lâu dài của toàn bộ nền kinh tế.Đồng thời góp phần nâng cấp việc tiếp cận các dịch vụ tài chính
1.4 Điều kiện thực hiện tái cấu trúc thành công
Việc cơ cấu lại chỉ thực sự cần thiết khi hoạt động của các TCTD đi chệch khỏi chứcnăng cơ bản của chúng trong nền kinh tế hoặc có những trục trặc nảy sinh gây mất antoàn hoặc nguy cơ đổ vỡ có tính hệ thống
Việc tái cấu trúc cần nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và cần trả lời được câuhỏi tại sao phải cấu trúc, tái cấu trúc khía cạnh nào, các ngân hàng sẽ hoạt động như thếnào sau quá trình tái cấu trúc, các ngan hàng sẽ xử lý khoản nợ xấu như thế nào… Điềuquan trọng của quá trình tái cấu trúc là phải thiết lập được môt tiêu chí rõ ràng, đưa ranhững kỉ cương của nhà nước, kỷ luật của thị trường cần được triển khai thận trọng trênnguyên tắc tư nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp Phải nhìn vào từng trườnghợp rõ ràng để tìm ra giải pháp
Phải có khuôn khổ pháp lý phù hợp cho phép chính phủ có thể can thiệp nhằm đảm bảorằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể sử dụng nhanhchóng và hiệu quả, bên cạnh đó can thiệp vào các ngân hàng mất khả năng thanh toán,quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nẩy sinh một số vấn đềpháp lý liên quan đếnviệc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại vì thế cần có luật tương ứng để điều chỉnh.Đây là quá trình phức tạp, do đó, vai trò của NHNN phải được thể hiện mạnh mẽ, vànhững việc can thiệp đó phải nhanh chóng và kịp thời, phải có một quy trình toàn diệnđánh giá và theo dõi liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngânhàng, tránh tình trạng bị động Cán bộ thanh tra giám sát cần được đào tạo các kỹ năng để
Trang 14thực thi các luật định và các nhà quản lý, các cơ quan giám sát phải được tiếp cận thôngtin một cách đầy đủ kịp thời để đảm bảo tái cấu trúc hiệu quả, minh bạch.
Bên cạnh đó, một số vấn đề cần đảm bảo khi thực hiện tái cấu trúc là: Cần phải cóniềm tin vào hệ thống; đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền,người đi vay, các bên liênquan với một mức độ nhất định; áp dụng thực thi các chuẩn mực quốc tế trong phòngngừa rủi ro, trên hết là hiểu rõ nguyên nhân và cách xử lý vấn đề Phải có phục hồi tối đacác khoản nợ xấu Tốc độ cải cách hợp lý với chi phí tối thiểu Tôn trọng quy luật thịtrường, phù hợp với thông lệ quốc tế Kiểm soát chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt tttrongchính sách tiền tệ Công khai, minh bạch hoá thông tin về nợ xấu, hiệu quả hoạt ddoonhjkinh doanh
1.5 Các phương thức tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Các phương thức tái cấu trúc ngân hàng rất đa dạng tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế,chính sách vĩ mô, năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng…mà mỗi quốc gia sẽ lựachọn phương án tối ưu nhất Các phương thức được các quốc gia sử dụng bao gồm:
1.5.1 Xây dựng, điều chỉnh khung pháp lý và các cơ chế chính sách cho việc điều tiết,giám sát và đánh giá theo chuẩn mực quốc tế
Đối với khung pháp lý, cần phải xây dựng và điều chỉnh các điều khoản trong cácđạoluật theo hướng phù hợp gơn với các quy định quốc tế Bên cạnh đó, việc xây dựng các
cơ chế, chính sách điều tiết, giám sát và đánh giá bao gồm các quy định về bảo hiểm tiềngửi, trích lập dự phòng, quy định vốn tối thiểu, các chuẩn mực kế toán phù hợp với quốc
tế là điều thật sự cần thiết
1.5.2 Thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện tái cấu trúc
NHTW có thể cân nhắc và thành lập “Ban tái cấu trúc ngân hàng” với nhiệm vụ thựchiện tái cấu trúc, sẽ hoạt động theo các mục tiêu sau:
Yêu cầu các ngân hàng có vấn đề về vốn tự có phải tăng vốn hoặc sáp nhập
Trang 15Cung cấp bảo lãnh các khoản vay liên ngân hàng
Lập quỹ tái cấu trúc và tái đầu tư vào ngân hàng khi không tự tăng được vốn Với quỹ táicấu trúc NHTW có thể mua lại cổ phần của các ngân hàng có mức vốn dưới tỷ lệ an toàn
Đề xuất lên Chính phủ việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài cho một số ngân hàng
Đưa ra khung pháp lý để các ngân hàng có thể mua, bán nợ xấu và nợ dưới tiêu chuẩn
1.5.2 Xử lý nợ khó đòi hay nợ không hiệu quả
NHTW cần phải rà soát lại tỷ lệ nợ xấu và mức dự phòng rủi ro tín dụng một cách kỹlưỡng để có thể xác định chính xác, kịp thời các vấn đề nảy sinh, để NHTW có thể kịpthời có nhiều phương pháp xử lý
1.5.4 Tái cấp vốn
Biện pháp tái cấp vốn có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:
Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nnawms quyền quản lý
Sâp nhập ngân hàng với nhau,trong nước với nước ngoài, hay giữa các ngân hàng trongnước với nhau
Thay đổi cơ cấu sở hữu đối với các ngân hàng được tái cấu trúc
hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp
Để mua bán nợ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có môi trường pháp lý hiệu quả, hoạt động củacác ngân hàng phải được minh bạch, công khai, tạo niềm tin cho thị trường Đồng thời,
Trang 16cần phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan cũng như điều kiệnđể mua lại nhằmtránh tình trạng các NHTM dồn hết nợ xấu cho NHTW.
1.5.6 Đổi mới quản trị, công nghệ và nhân lực
Để nâng cao chất lượng quản lý của các ngân hàng, việc thay đổi phương thức quản lýthật sự cần thiết Với yêu cầu ngày càng cao trong vấn đề quản trị ngân hàng, đòi hỏi mỗingân hàng cần phải có mô hình tổ chức thích hợp cũng như khả năng quản trị, hoạch địnhchiến lược linh hoạt với những thay đổi của thị trường Cần phải thực hiện các yêu cầuquản trị sau:
Thực hiện tốt việc công bố thông tin
Mở rộng quyền cổ đông, giảm ảnh hưởng cổ đông là doanh nghiệp đến quyền sở hữungân hàng, giảm ảnh hưởng của cổ đông lớn
Nâng cấp các quy định về kiểm soát, giám sát
Đưa vào thực hiện mô hình quản lý rủi ro Basel II
Quản trị tỷ lệ tổng tài sản/nợ, thực hiện chuẩn mực kế toán quốc tế IAS
1.6 Những khó khăn và rủi ro khi thực hiện tái cấu trúc ngân hàng
Bên cạnh những tác động tích cực từ việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, còn tồn tạinhững khó khăn và rủi ro mà các quốc gia phải quan tâm xem xét khi tiến hành thực hiệnquá trình này trước, trong và sau khi tái cấu trúc Các khó khăn và rủi ro thường gặp dướiđây được đưa ra bởi PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn trong hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệthống ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý Việt Nam”
Thứ nhất, khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong quá trình tái cấutrúc ngân hàng Đó là những mâu thuẫn có liên quan đến lợi ích của người gửi tiền, lợi
Trang 17ích cua người vay, của các nhóm cổ đông khác nhau, của các nhóm ngân hàng khác nhau,
sự phân chia lợi ích giữa nhà nước với thị trường và giữa các nhóm lợi ích
Thứ hai, khó khăn do những chi phí phát sinh trong quá trình tái cấu trúc và khả năngchịu đựng của nền kinh tế Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chi phí do quá trình tái cấu trúc
có thể lên từ 20% đến 50% GDP nếu việc tái cấu trúc diễn ra sau khủng hoảng, nếu việctái cấu trúc chậm trễ hoặc tái cấu trúc không hiệu quả gây kéo dài sẽ càng làm cho chi phítái cấu trúc tăng cao hơn Tái cấu trúc là một quá trình tốn kém đối với không chỉ cácTCTD mà còn gây ra tổn thất lớn trong ngân sách Chính phủ và nguồn lực xã hội Ngoàichi phí trực tiếp thì chi phí cơ hội của việc tái cấu trúc cũng rất lớn
Thứ ba, khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề sau khi tái cấu trúc như vấn đềnhân sự và vấn đề quản trị
Thứ tư, rủi ro kéo dài, không dứt điểm do thiếu cơ sở pháp luật, khoa học và năng lựcthể chế cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Thứ năm, rủi ro lệ thuộc vào ngân hàng nước ngoài, do tỷ lệ các ngân hàng ở trongtình trạng thiếu thanh khoản và có tài sản xấu chiếm tỷ trọng lớn, số lượng ngân hànghoạt động hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm ít hơn nhiều so với số lượng cácngân hàng yếu kém Điều này cũng ảnh hưởng tới an ninh tài chính – tiền tệ quốc gia
Thứ sáu, rủi ro mất niềm tin đối với hệ thống ngân hàng, do những ngân hàng thuộc
sở hữu nhà nước có thể có cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền Trong khi đó,các ngân hàng tư nhân không được đảm bảo có thể khiến luồng tiền ồ ạt rút khỏi nhữngngân hàng này, hoặc việc Chính phủ đóng cửa một số ngân hàng này, hoặc việc Chínhphủ đóng cửa một số ngân hàng có thể tạo ra nghi ngờ về sự lành mạnh của những ngânhàng khác hệ thống
Biểu đồ 1.1: Những khó khăn thách thức đối với tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại
VN
Trang 18Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là quá trình phân bổ lại các nguồn lực tài chính, nhânlực, tổ chức, công nghệ quản lý…;thể chế và cấu trúc sở hữu tài sản nhằm làm cho hệthống hoạt động vững mạnh, tăng khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp, đặcbiệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với các dịch vụ của ngân hàng, tạo tiền đề cho sựphát triển của hệ thống nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Động cơ dẫn đến táicấu trúc do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế, nợ xấu của ngân hànggia tăng, khả năng thanh khoản thấp, trung gian tài chính không hiệu quả voà khuôn khổpháp lý, giám sát không hiệu quả Bên cạnh đó,sự mất lòng tin vào hệ thống ngân hàngcủa công chúng cũng là một trong những nguyên nhân của tái cấu trúc Việc thực hiện táicấu trúc hưởng tới nhiều mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhưng trọng tâm nhất làduy trì sự ổn định và tăng cường các chức năng của hệ thống ngân hàng, tạo lòng tin nơicông chúng cũng như góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Để thực hiện việc tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng, các quốc gia cần phải xem xét các điều kiện để việc tái cấu trúc diễn
ra thành công Từ đó lựa chọn ra các phương pháp tái cấu trúc phù hợp trên nguyên tắccân nhắc giữa lợi ích với những khó khăn và rủi ro trước, trong và sau khi tái cấu trúc
Trang 19Chương 2: Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế
giới và các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2.1 Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới 2.1.1 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc
2.1.1.2 Phương pháp tái cấu trúc
Đầu tiên, Chính phủ TQ tiến hành tổ chức lại ngân hàng nhân dân Trung Hoa nhằmtăng cường khả năng giám sát và tính độc lập, tự chủ trong quản lý, điều hành các chínhsách tiền tệ của NHTW này Đồng thời củng cố và tăng cường hệ thống giám sát tài chínhbằng việc lập Uỷ ban Giám sát Ngân hàng Trung Hoa, tập trung vào công tác quản trị rủi
ro ở các ngân hàng Ban hành hàng loạt văn bản và quy định mới, áp dụng những chuẩnmực kế toán và kiểm toán độc lập khắt khe hơn và những thông lệ quản trị công ty hiệnđại nhằm nâng cao tính minh bạch, khôi phục, duy trì niềm tin của khách hàng, nhận diệnnhững ngân hàng có vấn đề để kịp thời có biện pháp xử lý rủi ro Tiếp đó, TQ tiến hànhhàng loạt các biện pháp lớn bao gồm: tăng vốn, chuyển đổi nợ thành vốn cổ phần, sápnhập, xử lý các khoản nợ khó đòi, đóng cửa cho phá sản một số định chế tài chính mấtkhả năng thanh toán
Trang 20b Thực hiện sáp nhập
Từ 1995 đến 1998, hơn 2000 hợp tác xã tín dụng thành thị được sáp nhập vào 88NHTM cấp thành phố theo các nguyên tắc: đánh giá tài sản và vốn, xoá các khoản nợxấu, ước tính khoản đóng góp và khuyến khích sự tham gia của các cổ đông mới Tuynhiên giải pháp này vẫn chưa có trường hợp nà thành công Do hoạt động yếu kém củacác hợp tác xã tín dụng thành thị trước đó, 88 NHTM mới đã có khoản nợ xấu lớn và bịthua lỗ nặng nề, và một số rơi vào tình trạng khủng hoảng thanh toán Để giảm thiểu rủi
ro, Chính phủ đã được thực hiện kế hoạch cắt giảm số lượng NHTM cấp thành phố tư
239 xuống còn 60 thông qua biện pháp sáp nhập
c Đóng cửa, giải thể và cho phá sản
Trong 2 năm 1997 và 1998, 1 NHTM mất khả năng thanh toán và 3 công ty đầu tư và
uỷ thác đã bị đóng cử tại TQ, các khoản nợ của 4 định chế này lên đến 120 tỷ nhân dân tệ
d Xử lý nợ xấu của các NHTM
Tại TQ khi đó, số lượng nợ xấu của các NHTM là rất lớn, chiếm tỷ trọng từ 6-7%trên tổng dư nợ Theo quy chế của Bộ tài chính đề ra khi đóthì chỉ 1% dư nợ của nămtrước liền kề phải được trích ra làm việc dự phòng cho việc xoá đi các khoản nợ xấu
Trang 21của năm hiện hành Kết quả là các khoản trích lập dự phòng rủi ro rất nhỏ Năm 1998,
TQ thông báo bắt đầu áp dụng các quy tắc, quy định, định mức và tỷ lệ an toàn theochuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn được nâng lên 8%,những quy định mới về khoản vay Nhờ đó, toàn cảnh về số nợ dưới tiêu chuẩn trởnên rõ rang hơn và hình thành kế hoạch làm sạch bảng cân đối của các NHTM.Tháng 4/1999, 4 công ty quản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ số nợ xấu vàdưới tiêu chuẩn ước tính lên 670 tỷ nhân dân tệ cho các NHTMNN và tiếp sau đóthêm 3 công ty nữa đã ra đời Họ chịu trách nhiệm tách bạch các khoản nợ xấu ra khỏicác NHTMNN, những công ty này được giao toàn quyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý,mua lại nợ xấu, thậm chí đầu tư và sinh lời từ công ty đó
Bên cạnh đó số nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 70% tổng dư nợtrong hệ thống ngân hàng được đưa ra ngoài bảng cân đối để xử lý Sau đó, Chính phủdùng 40 tỷ nhân dân tệ dự trù ngân sách năm 1998 cho mục đích xoá nợ xấu củanhững doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời, những doanh nghiệp nhà nước có nợxấu được sắp xếp lại nhằm ngăn ngừa nguy cơ làm giảm chất lượng tài sanrcuarnhững ngân hàng cho vay vốn
e Chuyển đổi các khoản nợ thành vốn góp
Đây chỉ là giải pháp cuối cùng trong việc tái cấu trúc, vì nó không có lợi đến quyềncủa chủ nợ và kết quả cuối cùng không được như trông đợi Một trường hợp điển hình làcông ty Đầu tư và Uỷ thác Everbright có khoản nợ vay lớn tại công ty dầu mỏ nhà nước
và 2 NHTMNN, nhưng không thể trả được nợ khi đáo hạn, để công ty khỏi bị phá sản,NHTW đã quyết định chuyển đổi số nợ của công ty thành vốn góp Tuy nhiên công tyvẫn không có lãi trong 3 năm liên tiếp, và các chủ nợ hua lỗ nhiều trong việc chuyển đổinày
f Tư nhân hoá và giảm quy mô
Chính phủ TQ khuyến khích các NHTMNN xúc tiến kế hoạch niêm yết trên thịtrường chứng khoán Cụ thể là chuyển 4 NHTMNN, chiếm 70% tài sản và thị phần tín
Trang 22dụng sang các doanh nghiệp cổ phần Động thái này buộc các ngân hàng phải xây dựng
cơ chế quản trị theo chuẩn quốc tế, kinh doanh theo định hướng thương mại nhiều hơn,nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động, kếhoạch đầu tư và trên sổ sách kế toán Nhằm tạo ra môi trường lành mạnh để tránh cho cácngân hàng rơi vào vòng luẩn quẩn làn sóng nợ tiêu chuẩn mới phát sinh, NHTW TQ kiênquyết yêu cầu các ngân hàng cải thiện chất lượng công tác quản trị doanh nghiệp, vì đó làbước đi đầu tiên trong việc quản trị rủi ro ngân hàng Từng ngân hàng được yêu cầu lập
kế hoạch với những chỉ tiêu cụ thể về chuyển đổi mô hình kinh doanh, giới thiệu dịch vụkhác biệt, kế hoạch quản trị rủi ro tổng thể, ứng dụng công nghệ thông tin, phát triểnnguồn nhân lực…
g Ban hành, đổi mới các quy định điều tiết hoạt động ngân hàng và tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát
Các cơ quan quản lý tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát, đặc biệt là các ngânhàng lớn,nhằm ngăn chặn nguy cơ lan truyền rủi ro hệ thống giống như cuộc khủnghoảng Châu Á năm 1997 Đồng thời, trong giai đoạn cải cách, cơ quan này ban hành mộtkhuôn khổ điều tiết linh hoạt, đảm bảo cho các ngân hàng phát triển ổn địnhtrong môitrường hoạt động liên tục thay đổi và độ mở ngày càng tăng
h Chấp nhận sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài
Chính phủ TQ đã triển khai việc cơ cấu lại hoạt động ngân hàn một cách linh hoạttheo hướng tìm kiếm sự trợ giúp các ngân hàng yếu kém từ ngân hàng nước ngoài mộtcách thận trọng Mặc dù các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế nhất định, nhưng chấnhận các ngân hàng này gia nhập thị trường TQ đã phải chuẩn bị một nền tảng vững chắccho công tác thanh tra, giám sát Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài được phép gia nhậpthị trường phải tập trung nguồn lực tín dụng cho các ngành chủ chốt của nền kinh tế,đồng thời tuân thủ quy định về giới hạn hoạt động một vài lĩnh vực chính yếu
Từ những biện pháp trên, chúng ta có thể thấy ngành tài chính TQ không bị ảnhhưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng đang diễn ra hiện nay trên thế giới là nhờ tiến trình
Trang 23tái cấu trúc ngân hàng mà Chính phủ nước này đã thực hiện kịp thời TQ đã vạch ra kếhoạch tổng thể và đồng bộ, gắn việc tái cấu trúc ngân hàng với tiến trình tái cấu trúc hệthống doanh nghiệp nhà nước, tiến hành tái cơ cấu các khoản nợ của doanh nghiệp này,chuyển đổi mô hình kinh doanh ngân hàng, tăng cường chất lượng quản trị, giám sáttổng thể thị trường tài chính, tiếp tục áp dụng kinh nghiệm của nước khác một số cáchchọn lọc….
2.1.2 Tái cấu trúc ngân hàng tại Nhật Bản
2.1.2.1 Bối cảnh
Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Nhật Bản được triển khai vào năm 1998,thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của NB Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ sự phát triểnbong bóng đầu cơ trong những năm 1980, khi các nhà đầu tư rót tiền ồ ạt vào thị trườngbất động sản và thị trường chứng khoán Cùng với đó, sự tư do hoá thị trường khiến chonguồn đầu tư vào NB tăng kéo theo nhu cầu về văn phòng ở trung tâm thành phố Từ năm1981-1991, giá đất 6 thành phố lớn của NB tăng 500 lần Sau khi bong bóng nổ, giá đấtnày sụt, tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật giảm mạnh Năm 1995 bắt đầu xuất hiện sự sụp
đổ của các ngân hàng địa phương và các quỹ tín dụng Trong nước bắt đầu xuất hiện tìnhtrạng thận trọng khi cho vay, ở nước ngoài thì gặp khó khăn trong việc huy động vốnngoại tệ Trong khi đó, Chính phủ Nhật khá chậm trễ trong việc đưa ra các vấn đề giảiquyết khủng hoảng cộng thê việc đất nước đang rơi vào tình trạng giảm phát khiến chomọi việc càng trở nên tồ tệ hơn Để giải quyết vấn đề, NB đã thực hiện cải cách toàndiện
2.1.2.2 Phương thức tái cấu trúc
Để ổn định thị trường của mình, Chính phủ Nhật đã thực hiện khá nhiều biện phápnhư bơm thanh khoản vào thị trường thông qua chính sách tài khoá, hạ lãi suất… Vớiviệc xử lý các khoản nợ xấu, Nhật có những biện pháp như sau:
a Bảo hộ toàn bộ khoản tiền gửi
Trang 24Kéo dài khoảng thời gian bảo hộ cho tới khi ngân hàng phải thực hiện trách nhiệm đốivới người gửi tiền Trong khi đó các ngân hàng tăng cường công bố các khoản nợ xấu.Việc bảo hộ đem lại lợi ích cho cả những người được hưởng lợi và người gửi tiền.
b Cung ứng vốn bằng nguồn vốn ngân sách
Chính phủ Nhật tái cấp vốn cho các ngân hàng bằng nguồn vốn ngân sách Chính phủ.Chi hàng nghìn tỷ Yên tăng cường một cách triệt để đối với các ngân hàng chủ chốt, sốtiền này phần lớn đã được thu hồi
c Quốc hữu hoá tạm thời các tổ chức tài chính
Chính phủ Nhật đã quốc hữu hoá một số ngân hàng cùng với việc rót một loạt vốnngân sách cho ngân hàng chủ chốt đã khiến cho việc bất ổn thị trường tài chính phần nàođược giảm bớt
Tuy nhiên sau khi đưa ra nhiều giải pháp bơm thanh khoản, Chính phủ Nhật đã đưarất nhiều giải pháp nhằm xử lý tận gốc những yếu kém của các ngân hàng:
d Ban hành các văn bản pháp luật liên quan
Tháng 9/1998, Quốc hội Nhật đã thông qua Luật khôi phục hệ thống ngân hàng nhằmgiải quyết khoản nợ khổng lồ Tháng 10/1998, dự án luật liên quan tới các ngân hàng bịphá sản đã được Quốc hội Nhật phê chuẩn với nội dung, Chính phủ có thể bơm tiền vàomột số ngân hàng với điều kiện nhất định, nếu ngân hàng có số VCSH / tổng tài sản caohơn 4% thì Chính phủ có thể mua cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi của ngân hàngnhưng giám đốc ngân hàng buộc phải từ chức, ngân hàng phải giảm các chi nhánh vàđóng cửa các chi nhánh ở nước ngoài, nếu ngân hàng có VCSH/ tổng tài sản nhỏ hơn 2%thì ngân hàng tạm thời bị quốc hữu hoá, sau đó phải ngừng hoạt động và sáp nhập với cácngân hàng khác hoặc cắt giảm quy mô hoạt động
e Chia nhỏ nhóm ngân hàng để tái cấu trúc
Trang 25Chính phủ Nhật đã phân loại các ngân hàng trong nước thành 2 nhóm: nhóm thứ nhất
là các ngân hàng cho vay lành mạnh, sắp giải quyết dứt điểm các khoản nợ khó đòi;nhóm thứ hai là các ngân hàng đang phải vật lộn với nợ xấu Mặc dù quy mô ccuar nhómthứ nhất nhỏ hơn rất nhiều so với nhóm tư hai, song đó là nơi tập trung những ngân hàngkhổng lồ khoẻ mạnh nhất, là điểm tựa cho quá trình phục hồi toàn bộ hệ thống
Sự phân chia này, theo các nhà phân tích, sẽ tạo ra các phân cực rõ ràng, nhất là tronghoạt động kinh doanh chứng khoán, mà kết quả của sự phan cực này các ngân hàng nhỏ
sẽ càng khó khăn hơn trên thị trường chứng khoán Ngoài ra cac ngân hàng còn thành lậpcác liên minh
Các chính sách để cứu trợ hệ thống ngân hàng Nhật trong năm 1998 đã được ban hànhliên tục, cho thấy Chính phủ Nhật đã thừa nhận sự yếu kemstrong hệ thống đó và cũngchứng tỏ đây là điểm nóng nhất và quyết tâm của Chính phhur trong việc cải cách hệthống tài chính đất nước
2.1.3 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Thái Lan
2.1.3.1 Bối cảnh
Nguyên nhân khủng hoảng và những bất cập trong hệ thống ngân hàng ở Thái Lan là
do khủng hoảng tài chính Châu Á và những điểm yếu trong chính sách mà Chnhs phủThái Lan đa áp dụng Chất lượng tín dụng rất thấp, nợ xấu chiếm 7,2% trên tổng dư nợvào năm 1995 tăng lên 11,6% năm 1997 Với sự yếu kém trong chuẩn mực kế toán Bêncạnh đó các ngân hàng còn có tình trạng thiếu vốn Nhưng do các ngân hàng chưa tríchlập dự phòng rủi ro đầy đủ cho các danh mục tín dụng của mình do chưa có quy định nào
về trích lập dự phòng rủi ro để phân loại tín dụng, nên chỉ số an toàn vốn do các ngânhàng báo cáo không phản ánh được các thự tế mức độ an toàn vốn tại các ngân hàng Lãisuất đối với các khoản nợ quá hạn tiếp tục được luỹ kế, tổi phồng thu nhập của ngành tàichính, khiến các ngân hàng và các công ty tài chính vẫn tiếp tục trả được cổ tức, hoahồng và thuế dựa trên những khoản lợi nhuận không tồn tại, dẫn đến việc mất vốn ngàycàng trầm trọng hơn Ngoài ra, tín dụng vẫn tập trung vào bất động sản, trong đó, cho vay
Trang 26hầu như dựa vào tài sản đảm bảo hơn là đánh giá năng lực tín dụng, khi thị trường bấtđộng sản đóng băng, các ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng của giátrị tài sản đảm bảo Khuôn khổ pháp lý về đảm bảo an toàn hoạt động về ngành ngânhàng còn tương đối yếu và rời rạc.
Tất cả những bất cập trên đòi hỏi sự tái cấu trúc toàn diện hệ thống ngân hàng đượcthực hiện kịp thời để phục hồi lại nền kinh tế
2.1.3.2 Phương pháp tái cấu trúc
Ngay khi khủng hoảng xảy ra, Thái Lan công bố một chiến thuật khẩn cấp về tái cấutrúc ngành tài chính ngân hàng, bao gồm ba vấn đề chính
a Tăng cường thanh tra giám sát
Thành lập Cơ quan Tái cấu cơ cấu khu vực tài chính có trách nhiệm đánh giá đề xuấtkhôi phục ngân hàng, công ty tài chính bị đóng cửa và tiếp tục giám sát tài sản nhữngcông ty khác trong diện nghi ngờ Thành lập Công ty Quản lý tài sản quản lý các khoản
nợ xấu của các doanh nghiệp tài chính khi tỷ lệ nợ xấu của khối ngân hàng lên đến 15%
b Tái cấu trúc hệ thống tài chính
Cuối năm 1997, 58 công ty tài chính bị đình chỉ hoạt động, trong đó 56 công ty bịđóng cửa, 2 công ty hoạt động trở lại NHTWyêu cầu những định chế tài chính có vốndưới chuẩn phải cơ cấu lại nguồn vốn, nhằm khôi phục sự ổn định của hệ thống ngânhàng Nguồn vốn hiện có trong nước rất hạn chế, Thái Lan đã tìm đến các nguồn vốnquốc tế, với việc tự do hoá hoàn toàn trong 10 năm đối với các khoản đầu tư nước ngoàicho ngành tài chính ngân hàng Chính phủ thái Lan mở rộng cơ hội đầu tư nước ngoàibằng những hình thức liên doanh liên kết và mua bán các định chế trong nước, với việcnới lỏng quy chế, tăng mức sở hữu tối thiểu cổ phần ngân hàng trong nước của doanhnghiệp nước ngoài tư 25% lên 50%
c Kiểm soát nợ xấu
Trang 27NHTW đã ban hành các quy định phân loại nợ và dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩnquốc tế cho hệ thống tài chính ngân hàng, trong đó yêu cầu các ngân hàng trích lập dựphòng rủi roc ho cac khoản vay quá hạn trên 6 tháng và nghiêm cấm phâ bổ lãi suất chokhoản vay này
Ngoài ra để bảo vệ quyền lợi của khách hàng, NHTW không thực hiện chính sách bảohiểm tiền gửi mà uỷ quyền cho Quỹ phát triển các định chế tài chính (FIDF) cung cấpbảo hiểm toàn phần cho các khách hàng gửi và vay tiền ở những ngân hàng hay tổ chứctài chính bị đóng cửa Đối với các nhà đầu tư mua lại các ngân hàng nhà nước, FIDF bảođảm bồi thường lỗ từ những món nợ xấu thông qua chính sách duy trì lợi nhuaanjvaf chia
sẻ lãi lỗ
Các ngân hàng phải tập trung phân tán rủi ro bằng việc quy định hạn mức cho vay đốivới một số khách hàng không quá 25% vốn tự có, các khoản nợ ngoài bảng tổng kết tàisản hạn chế dưới 50% tổng vốn tự có Hơn nữa, các ngân hàng không được đầu tư quá20% tổng số vốn vào cổ phiếu, giấy chứng nhận nợ của một công ty, tỷ lệ dự trữ thanhkhoản thao quy định là 7% (2% tiền gửi tại NHTW, không quá 2,5% tiền mặt, còn lại làdưới dạng chứng khoán) Ngân hàng phải thực hiện lập 100% dự phòng đối với tài sản córủi ro, còn các ngân hàng bị đóng cửa phải tăng vốn điều lệ 15% tổng vốn thì mới có thểhoạt động Sau 1 năm thực hiện nhiều biện pháp nhưng nên kinh tế vẫn bị suy thoái.Tháng 8/1998, NHTW đã đưa ra giải pháp “tái cấu trúc hệ thống ngân hàng dựa theo cơchế thị trường” Trọng tâm của chương trình là giải quyết khủng hoảng, ổn định cơ sởtiền gửi của các ngân hàng và cuối cùng là khôi phục dòng tín dụng cho nền kinh tế Kếhoạch này gồm 4 phần:
Tiêu chuẩn hoá tỷ lệ an toàn vốn
Duy trì ở mức 8,5% đối với các ngân hàng và 8% với các công ty tài chính, trích lâp dựphòng rủi ro là 1%
Thực hiện công cụ hỗ trợ về vốn Mục tiêu của các chính sách hỗ trợ vốn là khuyếnkhích các NHTM và các công ty tài chính cơ cấu lại để khôi phục và duy trì thanh khoản
Trang 28Đối với vốn cấp 1, Chính phủ Thái Lan sẽ mua cổ phần để tăng vốn điều lệ cấp 1 theoquy định, về vốn cấp 2, thực hiện bơm vốn thông qua trao đổi tái phiếu chính phủ khônggiao dịch cho các khoản vay ngân hàng ở mức tối đa 2% so với tài sản rủi ro
Thành lập công ty quản lý tài sản tư hữu Chính phủ đưa ra một cơ chế loại bỏ các tàisản xấu từ bảng cân đối của các ngân hàng tư nhân, thông qua các công ty quản lý tài sản
tư được sở hữu hoàn toàn bởi các định chế tài chính mẹ Các tổ chức này như một kênhgiúp các ngân hàng tách tài sản tốt khỏi tài sản xấu, cải thiện cân đối tài sản, chất lượngtài sản và trọng tâm vào các ngành kinh tế có tiềm năng
Giải quyết các tổ chức tài chính yếu kém, NHTW can thiệp vào các ngân hàng vàcông ty tài chính, một số ngân hàng được bán cho các nhà đầu tư, và sáp nhập một sốngân hàng với nhau và giải thể một số ngân hàng, chuyển các khoản nợ xấu cho FIDFchịu trách nhiệm Ngoài ra, chính phủ cũng tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược và cổ phầnhoá các ngâ hàng
Các giải pháp của NHTW, các cơ quan tài chính và sự thực thi nghiêm túc, quyết liệtcác chính sách của NHTM đã tạo nên hiệu quả rõ rệt trong quá trình cải cách toàn bộ hệthống ngân hàng và giúp Thái Lan vượt qua khủng hoảng Mặc dù số lượng ngân hànggiảm đáng kể sau tái cấu trúc, nhưng quy mô và hoạt động của ngân hàng được cải thiệntheo hướng chuyên nghiệp và quốc tế hoá hơn Các ngân hàng nhỏ lẻ, hoạt động khônghiệu quả và quản lý rủi ro yếu kém không còn tồn tại, thay vào đó là các ngân hàng vữngvàng về tiềm lực tài chính, tổ chức giám sát và cảnh báo sớm của các cơ quan chức năngcũng mang lại nhiều hiệu quả, làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển ngành tài chínhngân hàng trong dài hạn
2.1.4 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Malaysia
2.1.4.1 Bối cảnh
Malaysia thực hiện tự do hoá tài chính khá sớm, nhờ đó đã đẩy nhanh sự phát triểncủa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, đồng thời khuyến khích hệ thống tài chính trong
Trang 29nước cạnh tranh mạnh, hệ thống ngân hàng ở những năm 1997 đã phát triển khá hiện đại,cấu trúc tốt Tuy nhiên, Malaysia cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính Châu Á 1997 Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra chính sách cho vay chỉđịnh của Chính phủ cũng như sự thiếu cạnh tranh và thiếu các quy định giám sát thậntrọng và chặt chẽ, đã khiến tỉ lệ nợ xấu tăng lên nhanh chóng Tín dụng mở rộng quámức, tập trung chủ yếu vào cho vay BĐS và chứng khoán, các công ty tài chính cho vaytiêu dùng với lãi suất cố định, điều này đã đặt hệ thống tài chính Malaysia vào vị thế rủiro.
2.1.4.2 Phương pháp tái cấu trúc
Với mục tiêu cuối cùng là tăng tính cạnh tranh của các ngân hàng, từ đó thiết lập mộttrật tự mang tính thị trường hơn là mệnh lệnh hành chính, Malaysia đã thực hiện cácchính sách đối phó với khủng hoảng gồm: Cải thiện phân bố tín dụng, tăng cường cácquy định thận trọng, tái xử lý nợ xấu và các tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Đồng thời,thực hiện kế hoạch tổng thể phát triển tài chính Malaysia
Bên cạnh đó, Malaysia thực hiện chính sách như: thu hẹp loại hình hoạt động ngânhàng đầu tư nhằm loại bỏ sự chồng chéo trong hoạt động và củng cố lợi thế cạnh tranhbằng cách sáp nhập cac tổ chức có hoạt động đầu tư, chúng khoán và thành loại hìnhngân hàng đầu tư, công bố các chỉ số chuẩn mực để thúc đẩy các định chế tài chính nộiđịa tập trung phát triển lành mạnh và giải quyết các yếu kém, thúc đẩy sự tham gia củacác đối tác chiến lược có năng lực vào đội ngũ cổ đông nhằm chuyển giao các kỹ năng vàkinh nghiệm chuyên môn, tiếp cận công nghệ sang kiến, thúc đẩy đổi mới sản phẩm dịch
vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động của HĐQT và ban điều hành, tăng cường tính kỷ luật thịtrường, mở rộng cơ hội kinh doanh mới
Quá trình sáp nhập giữa các ngân hàng bắt đầu từ năm 2000 Tại thời điểm đó, hệthống ngân hàng bao gồm 31 NHTM Đến năm 2009, hệ thống ngân hàng nội địa chỉ còn
9 tập đoàn NHTM lớn, với năng lực tài chính hung mạnh và phạm vi hoạt động toàn cầu,
11 ngân hàng Hồi giáo và 15 ngân hàng đầu tư, 25 công ty bảo hiểm, cùng với 5 ngân
Trang 30hàng được cấp phép, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường nội địa và có tầm hoạt động rộngtrên thị trường khu vực và thế giới.
Những nỗ lực tái cấu trúc, hợp nhất và hợp lý hoá được thực hiện từ sau khủng hoảngnăm 1997 đã giúp hệ thống ngân hàng nói riêng và tài chính nói chung của Malaysia mộtnền tảng vững mạnh hơn Qúa trình tái cấu trúc đã tập trung vào 4 vấn đề chủ yếu, đólafxuwr lý nợ xấu, tăng cường các quy định thận trọng và ra đời các thông lệ chuẩn mựcquản trị rủi ro, cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua nâng cao chất lượng củaHĐQT và ban điều hành, củng cố lợi thế cạnh tranh thông qua sáp nhập các tổ chức tàichính và thúc đẩy các tổ chức tài chính nội địa phát triển lành mạnh và giải quyết các yếukém, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các đối tác chiến lược
2.1.5 Các bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Rút ra bài học kinh nghiệm từ những nước đi trước trong công cuộc tái cấu trúc hệthống ngân hàng, có thể khái quát thành các bài học như sau:
Một là, tái cấu trúc là một trong những lựa chọn tốt để giúp nền kinh tế thoát ra khỏikhủng hoảng hoặc khi hệ thông ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt động Một số sự thayđổi lớn kịp thời, đúng lúc và phù hợp sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế khi bộ máy
cơ cấu cũ đang lâm vào tình trạng bất cập, không còn phù hợp với điều kiện kinh tế hiệnthời
Hai là, cần sớm phát hiện và cho đóng cửa các TCTD, ngân hàng “ có vấn đề” về tàichính, nhất là khối ngân hàng cổ phần, xúc tiến cơ cấu lại ngân hàng yếu kém, kiểm soátchặt chẽ hơn và ngăn chặn tình trạng cho vay, thanh toán đối ngoại tràn lan, giảm bớt cácbảo lãnh đễ dãi của NHTW dành cho các ngân hàng, các TCTD yếu kém để ngăn chặnnhững tổn thất tài chính lớn có thể xảy ra Bên cạnh đó, xử lý quyết liệt và rõ ràng với cácngân hàng khi xác định ngân hàng có vấn đề, tránh để các ngân hàng lâm vào sai lầm chovay không kiểm soát, cho vay không đânhs giá được năng lực khách hàng, cho vay tronggiai đoạn khủng hoảng bị nhầm đối tượng…có thể gây ra hậu quả dây truyền
Trang 31Ba là, tổng kết ,nghiên cứu áp dụng các loại hình ngân hàng, công ty tài chính mới , baogồm tổ chức dạng quỹ hoặc công ty đảm trách việc xử lý tài sản thế chấp, mua bán nợ đểthu hồi vốn cho ngân hàng Đặc biệt với hệ thống NHTMCP hiện nay, hoạt động cònchưa có kinh nghiệm, hiệu quả thấp, cần chấn chỉnh bằng cách mua lại, sáp nhập, liên kết
để hình thành những ngân hàng mạnh hơn Việc chấn chỉnh này cũng cần có bước đithích hợp, được xem xét cận kẽ qua kiểm toán, sự thống nhất giữa các thành viên trong tổchức mới
Bốn là, tăng cường sức mạnh hoạt động cho các NHTM, trước tiên,
Cần tăng vốn điều lê vốn tự có và năng lực quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng,nhằm tăng khả năng cạnh tranh và sức đề kháng của ngân hàng trước những biến độngcủa thi trường Nâng cao chất lượng tín dụng nhằm hạn chế rũi ro, đảm bảo số lượngngân hàng ít nhưng an toàn hiệu quả hơn Việc phân loại rõ ràng các ngân hàng hiện có
và có những yêu cầu, quy định nhất định với nhóm ngân hàng đảm bảo cho sự hoạt độngcủa ngân hàng cũng như người điều phối, giám sát, thanh tra cùa NHTW
Năm là, bên cạnh việc hổ trợ thanh khoản cho các NHTM, NHTW cũng phải tính đếnđiều kiện thoái vốn và những biện pháp khi trong nước không có đủ nguồn lực như tìmđến nguồn vốn quốc tế Có thể đưa ngân hàng niêm yết cả trong nước và nước ngoài, mộtmặt giúp cho các ngân hàng tăng vốn, mặt khác ràng buôc các ngân hàng tự đẩy mạnh táicấu trúc để tuân thủ các chuần mực quốc tế theo yêu cầu của thị trường
Sáu là, có lộ trình tái cơ cấu rõ ràng, hợp lý; thiết lập các hành lang pháp lý cần thiếtgiúp quá trình tái cơ cấu diễn ra suôn sẽ; nhanh chóng cụ thể hoá chính sách, cơ chế, thể
lệ, quy chế để phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đủ tiêu chuẩn kinh doanh đanăng, thích ứng với cơ chế thị trường mới, phân định rạch ròi giữa nhiệm vụ chính sách
và kinh doanh, có sự thể hiện rõ vai trò trung gian tài chính và không ngừng nâng caochất lượng cung ứng dịch vụ, tín dụng cho nền kinh tế, quy trình hoạt động, quy địnhthích ứng có cơ sở là một trong những phần quan trọng trong việc thực hiện công khaiminh bạch cũng như hợp lý của các ngân hàng nói riêng và các TCTD nói chung Trên cơ
Trang 32sở chung này, việc điều phối, giám sát, hỗ trợ cua NHTW và Chính phủ cũng rõ ràng vàxác định hơn.
Ngoài ra, khi khủng hoảng xảy ra, cần áp dụng khấn cấp ngăn chặn hiện tượng rút tiền
từ hệ thống ngân hàng với sự bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền Đặc thù của hệ thốngngân hàng Việt Nam rất đễ bị tổn thương, dù có nhiều chuyển biến đáng kể trong nhiềunăm đổi mới, song về cơ bản trình độ quản lý và kinh doanh của hệ thống tài chính-ngânhàng Việt Nam còn rất nhiều khó khăn và bất cập
Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Malaysia là những quốc gia đã thực hiện việc táicấu trúc hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế chịu áp lực nhiều trong cuộckhủng hoảng tài chính Việc thực hiện tái cấu trucsduf có những rủi ro và chi phí, nhưngnhìn chung đã mang đến cho các quóc gia này một hệ thống ngân hàng vững mạnh, đápứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trên cơ sở chọn lọc những kinh nghiệm
và giải pháp của các nước trong khu vực, căn cứ vào tình hình thực tế, những đặc thùriêng của hệ thống ngân hàng trong nước để tìm ra những phương pháp xử lý một cáchkhéo léo, linh hoạt, thận trọng nhưng cũng khẩn trương, kiên quyết Chúng ta không saochép hoặc đi theo đường của bất kỳ nước nào Những vấn đề do quá khứ cần phải khắcphục ngay, không dẫn đến tình trạng dồn nén, cộng hưởng một lúc nhiều vấn đề cả cũ lẫnmới như vấn đề nợ khó đòi của Nhật Bản
2.2 Các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2.2.1 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh
tế 2007-2008 nhưng cuộc khủng hoảng này cũng tạo nên những bất ổn về nền kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế Việt Nam từ năm 2008 đến nay nhưng cuộc khủng hoảng này cũng đãtạo nên những bất ổn về nền kinh tế Các đợt bất ổn đều có cùng nguyên nhân, diễn biếncũng như hệ quả kéo theo, mặc dù quy mô và độ dài khác nhau Các hệ quả xấu nàymang lại là: lạm phát tăng cao cùng với sự thâm hụt thương mại lớn, dẫn đến những longại về sự mất giá của Đồng Việt Nam,tạo tâm lý chuyển đổi sang nắm giữ USD của các
Trang 33doanh nghiệp và người dân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống ngân hàng vềkhả năng thanh khoản Bên cạnh đó, sau Nghị quyết 11/NQ-CP, Chính phủ lại áp dụngCSTT thắt chặt để kiềm chế lạm phát, khiến cho tình hình bất ổn lại càng trở nên trầmtrọng hơn.
2.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Năm 2011, GDP của Việt Nam đã đạt xấp xỉ 120 tỷ USD, GDP đầu người đạt hơn
1300 USD, với những con số này, đã đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển cómức thu nhập trung bình Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP)của giai đoạn 2008-2011 thấp hơn 7%/năm, trung bình năm 2008-2011, chỉ đạt6,14%/năm và năm 2011 là 5,89%/năm Sự giảm sút tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạnnày được giải thích bởi việc Chính phủ thắt chặt CSTT thắt chặt, kiềm chế lạm phát bằngcách giảm tăng trưởng tín dụng, cung tiền và tổng vốn đầu tư xã hội Tổng vốn đầu tưtoàn xã hội trong năm 2011 đạt 878.000 tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 và chỉ bằng34,6% GDP, thấp hơn mức bình quân trong nhiều năm qua là 40% GDP Bên cạnh đó,tốc đọ tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 2008-2011 giảm sút một cách đáng kể Năm
2007, tốc độ này là 17,1% thì đến năm 2011 chỉ còn 6,8%, đây là mức thấp nhất tư saucuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997
Ngược lại với những sự sụt giảm ở trên, cán cân thương mai giai đoạn hiện naydditheo hướng tích cực khi mà cả kim ngạch xuất và nhập khẩu đều tăng Năm 2011, kimngạch xuất khẩu tăng 33,3%, lên mức 96,26 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 105,77 tỷUSD tăng 25% so với năm 2010 Năm 2012 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạtgần 228,37 tỷ USD tăng 12,1% so với năm 2011, trong đó xuất khẩu đạt 114,57 tỷ USDt5awng 18,2% và nhập khảu là 113,79 tỷ USD tăng 6,6% Như vậy, năm 2012 Việt Namxuất siêu 780 triệu USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất siêu là -0,7% (trong khi năm 2011 nhậpsiêu 9,84 tỷ USD) Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2012 đạt kết quả như vậy là do sư chỉđạo sát sao của Chính phủ và các Bộ ngành, địa phương cũng như sự nỗ lực của cộngđồng doanh nghiệp cả nước
Trang 34Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ lạm phát từ năm 2009-2012
2.2.1.3 Chính sách tài khoá và nợ công
Trong giai đoạn này chính phủ áp dụng chính sách tài khoá mở rộng để đối phó vớicuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái nền kinh tế toàn cầu Tổng vốn đầu tư từ NSNNgiai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2001-2005 Năm 2011, tổng vốnđầu tư từ NSNN tăng 6,7% so với năm 2010, trong 9 tháng đầu năm 2012 vốn đầu tư từNSNN ước đạt 142,2 nghìn tỷ đồng tăng 7,6% so với năm trước Chính vì vậy, tốc đọ
Trang 35tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn được giữ tương đối ổn định trong các năm qua Tuynhiên việc thực hiện chính sách tài khoá mở rộng cũng đồng thời gây ra tình trạng lạmphát tăng cao Bên cạnh đó, việc mở rộng tài khoá, tác động lớn đến nhiều doanh nghiệp
vì nguồn ngân sách tăng cao trong khi điều kiện kinh tế khó khăn, ảnh hưởng đến hoạtđộn kinh doanh của các doanh nghiệp
2.2.1.4 Thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán trong các năm 2006-2007 phát triển mạnh mẽ, sang giai đoạn2008-2012 lại sụt giảm một cách nghiêm trọng Tính chung cả năm 2011, chỉ số VnIndex và Hnx Index giảm lần lượt là 27,6% và 49,9% so với đầu năm Trong năm 2012,chỉ số Hnx Index tăng kém nhất với 0,53% so với đầu năm, còn Vn Index tăng 18,21%.Bên cạnh đó, tính thanh khoản của thị trường thấp hơn nhiều so với các năm trước, đặcbiệt là sự rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài cho thấy sự thiếu hấp dẫn của thị trườngchứng khoán trong giai đoạn này
Đối với thị trường tiền tệ, với CSTT mở rộng trong giai đoạn 2008-2010 trong điềukiện kinh tế gặp nhiều khó khăn là một trong những nguyên nhân gây lạm phát cao ở giaiđoạn này Năm 2011, Chính phủ lại áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng ở mức chỉ tăngbằng 1/3 các năm trước Với động thái này, tỷ lệ lạm phát tăng tương đối nhanh trong nửacuối năm 2011, và sang cả năm 2012, đồng thời góp phần nâng cao giá trị của Việt NamĐồng, ổn định tỷ giá hối đoái Tuy nhiên điều này lại khiến nhiều doanh nghiệp gặp khókhăn, làm cho tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng trở nên yếu kém
Tóm lại, với sức ép của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 và suy thoái kinh
tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong lĩnh vực tàichính ngân hàng
2.2.2 Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Bất kỳ một khủng hoảng tài chính nào cũng đều liên quan đến bốn vấn đề chínhtrong ngành ngân hàng, đó là: tính thanh khoản yếu kém, không đảm bảo vốn tự có, chất