1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên

134 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- PHẠM THỊ LINH NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THỜI ĐIỂM THU HOẠCH ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DÒNG, GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM.

Trang 1

-

PHẠM THỊ LINH

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THỜI ĐIỂM THU HOẠCH

ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DÒNG,

GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHẠM THỊ LINH

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THỜI ĐIỂM THU HOẠCH

ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DÒNG,

GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất

kỳ đề tài nào khác Mọi trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng

Trang 4

hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh

hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”: Tại Trung

tâm Thực hành Thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài của mình, để có được kết quả như vậy, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo hướng dẫn, nhà trường và khoa, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài của mình Tôi xin chân thành cám ơn:

GS.TS Trần Ngọc Ngoạn - Phó hiệu trưởng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

TS Nguyễn Viết Hưng, giảng viên khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban giám hiệu Nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban Chủ nhiệm khoa Sau Đại Học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trung Tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010

Học viên

Phạm Thị Linh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

I Đặt vấn đề 1

II Mục đích 3

III Ý nghĩa 3

1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trên thế giới 4

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 4

2.2.2 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới 8

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu giống sắn trên thế giới 8

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn trên thế giới 10

2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trong nước 11

2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trong nước 11

2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn trong nước 16

2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống sắn ở trong nước 16

2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn trong nước 18

PHẦN III 19

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 6

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20

PHẦN IV 23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tỉnh Thái Nguyên 23

4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng, giống sắn 23

4.2.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các dòng, giống sắn 26 4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn 28

4.2.3 Tốc độ ra lá của các dòng, giống sắn 31

4.2.4 Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn 33

4.2.5 Một số đặc điểm nông học của các dòng, giống sắn thí nghiệm 35

4.2.5.1 Chiều cao cây 36

4.2.5.2 Chiều cao thân chính 36

4.2.5.3 Sự phân cành của các dòng, giống sắn 37

4.2.5.4 Tổng số lá trên thân 37

4.2.5.5 Đường kính gốc 38

4.3 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn 39

4.3.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chiều dài củ, đường kính củ, khối lượng củ/gốc 39

4.3.1.1 Chiều dài củ 39

4.3.1.2 Đường kính củ 42

Trang 7

4.3.3 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô và năng

suất củ khô của các dòng giống sắn 55

4.3.3.1 Tỷ lệ chất khô 55

4.3.3.2 Năng suất củ khô 60

4.3.4 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ tinh bột và năng suất tinh bột của các dòng giống sắn 65

4.3.4.1 Tỷ lệ tinh bột 65

4.3.4.2 Năng suất tinh bột 69

4.4 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến hiệu quả kinh tế của các dòng, giống sắn thí nghiệm 74

PHẦN V 89

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 89

5.1 Kết luận 89

5.2 Đề nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

I Tiếng Việt 100

II Tiếng Anh 93

PHỤ LỤC 1: Bảng sử lý số liệu IRRISTAT 94

PHỤ LỤC 2 : Chi phí – hạch toán kinh tế 2 vụ trồng sắn 2008-2010 108

PHỤ LỤC 3: Một số hình ảnh của đề tài 112

Trang 8

Từ, cụm từ viết tắt Chú giải

Trang 9

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2008 5 Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số nước trên thế giới năm 2008 6 Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam giai đoạn

1998-1998-2008 12 Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số vùng của Việt Nam năm 2008 13 Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tỉnh Thái

Nguyên 27 Bảng 4.2: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của các dòng, giống sắn thí nghiệm Số liệu trung bình 02 vụ (2008-2010) 27 Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các dòng, giống sắn thí nghiệm Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 29 Bảng 4.4: Tốc độ ra lá của các dòng, giống sắn thí nghiệm Số liệu

trung bình 02 vụ (2008 -2010) 32 Bảng 4.5: Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn thí nghiệm Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 34 Bảng 4.6 Một số đặc điểm nông học của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 35 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch chiều dài củ Số liệu

trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 39 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đường kính củ Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 43 Bảng 4.9: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch khối lượng củ/gốc Số

liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 48

Trang 10

Bảng 4.11: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến năng

suấtcủ tươi của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ

(2008-2010) 57 Bảng 4.12: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 -2010) 58 Bảng 4.13: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 -2010) 60 Bảng 4.14: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất củ khô của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 61 Bảng 4.15: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến năng

suấtcủ khô của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008

-2010) 69 Bảng 4.16: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ tinh bột của các dòng, giống Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 70 Bảng 4.17: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến tỷ lệ tinh bột của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 -2010) 69 Bảng 4.18 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất tinh bột của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 70 Bảng 4.19: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến năng

suấttinh bột của các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 2010) 80 Bảng 4.20: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tổng thu của 9

-dòng, giống sắn ở 6 thời điểm thu hoạch Số liệu trung bình 02 vụ

(2008 - 2010) 75

Trang 11

Bảng 4.22:So sánh ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến lãi thuần

của 9 dòng, giống sắn chênh lệch so với giống đối chứng XVP Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 84

Trang 12

Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch chiều dài củ Số liệu

Biểu đồ 4.4: Ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến năng suất củ tươi của

các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 52

Biểu đồ 4.5: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô của

các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 60

Biểu đồ 4.6: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất củ khô của

các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 62

Biểu đồ 4.7: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ tinh bột của

các dòng, giống Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 67

Biểu đồ 4.8: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất tinh bột của

các dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 71

Biểu đồ 4.9: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tổng thu của 9

dòng, giống sắn thí nghiệm Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 76

Biểu đồ 4.10: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến lãi thuần (triệu

đồng/ha) của 9 dòng, giống sắn Số liệu trung bình 02 vụ (2008 - 2010) 81

Biểu đồ 4.11: So sánh ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến lãi

thuầncủa 9 dòng, giống sắn so với giống đối chứng XVP Số liệu trung

bình 02 vụ (2008 - 2010) 85

Trang 13

PHẦN I

MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề

Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz Cây sắn có

nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mĩ La Tinh (Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 1993) [8] Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng Đông Bắc của Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (Đe Candolle 1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hoá phụ có thể ở Mexico thuộc Trung Mĩ và vùng ven biển phía Bắc của Nam Mĩ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là được thể hiện ở những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật củ sắn ở vùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hoá thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (Rogers, 1963, 1965) Cây sắn được du nhập vào Việt

Nam khoảng giữa thế kỷ 18 (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) [2]

Hiện tại sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, tập trung nhiều ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm chính của hơn 500 triệu người trên thế giới (CIAT, 1993) [20], đồng thời cây sắn cũng là cây thức ăn gia súc, cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền, v.v…[2], [7], [13], [14]

Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm sản xuất màng phủ sinh học, chất giữ ẩm Đặc biệt trong tương lai sắn sẽ là nguyên liệu chính cung cấp cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) [12]

Trang 14

Thân sắn dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm và để nuôi tằm, nuôi cá Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dung trong chăn nuôi như nuôi lợn, gà, trâu bò, dê…[12]

Hiện tại, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991) Sắn dễ trồng, hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh tế với nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất để lấy ngắn nuôi dài Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụng hiệu quả tiền vốn, đất đai, tận dụng tốt các loại đất nghèo dinh dưỡng Sắn đạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết sử dụng giống tốt và trồng đúng quy trình canh tác sắn bền vững [2]

Ở Việt Nam cây sắn là cây lương thực quan trọng được xếp vào hàng thứ

4 sau lúa, ngô, khoai Trong những năm gần đây cây sắn ở nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng từ cây lương thực sang cây công nghiệp có lợi thế cao, có thể cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thế giới [5]

Cây sắn là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tinh bột và thức ăn gia súc với sản phẩm khá đa dạng và phong phú Trước sự phát triển đó để đáp ứng được nhu cầu sắn nguyên liệu hiện nay, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có các chiến lược phát triển toàn diện, trong đó giống là khâu tiên phong và đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sắn công nghiệp [5]

Với xu hướng phát triển kinh tế thì mục đích tăng lợi nhuận về giá trị của sản phẩm thu hoạch là rất cần thiết và quan trọng đối với người sản xuất

mà lợi nhuận lại phụ thuộc vào giá cả của thị trường Vậy để thu được lợi nhuận cao khi bán sản phẩm thì việc xác định thời điểm thu hoạch có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp từng vùng sinh thái là rất quan trọng

Thời điểm thu hoạch sắn rất có ý nghĩa với người nông dân về mặt kinh

tế song vấn đề này ở nước ta các công trình nghiên cứu chưa nhiều nên nghiên cứu xác định thời điểm thu hoạch sắn có năng suất cao, phẩm chất tốt vừa có ý nghĩa thực tiễn và lý luận

Trang 15

Với những lí do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

II Mục đích

1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống sắn nhằm xác định các dòng, giống sắn mới có triển vọng đạt năng suất cao, phẩm chất tốt để phổ biến ngoài sản xuất ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn Từ đó xác định ra thời điểm thu hoạch thích hợp nhất đối với từng dòng, giống sắn đạt được hiệu quả kinh tế cao

III Ý nghĩa

1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Giúp học viên củng cố và hệ thống toàn bộ kiến thức đã học áp dụng vào thực tiễn, tạo điều kiện cho học viên học hỏi thêm những kinh nghiệm trong sản xuất, trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn

đã giúp học viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức

và tiến hành nghiên cứu cũng như ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất

2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Góp phần tìm ra các dòng, giống mới có triển vọng để đưa vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay của người trồng sắn ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc Đồng thời bắt đầu xác định được thời điểm thu hoạch thích hợp với từng dòng, giống sắn để năng suất cao, chất lượng tốt

Trang 16

PHẦN II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Thứ nhất: Căn cứ vào đặc điểm của cây sắn Cây sắn có đặc điểm khác với những cây trồng khác là nó có sự phát triển đồng thời giữa phát triển thân

lá và tích luỹ tinh bột vào củ Có nghĩa rằng sản phẩm của quá trình quang hợp được phân phối cho duy trì phát triển thân lá và phình to của củ Năng suất của sắn phụ thuộc vào khả năng quang hợp và chỉ số diện tích lá Tốc độ tăng trưởng tích luỹ vật chất khô của cây tăng khi chỉ số diện tích lá tăng Tinh bột được tích luỹ về củ tăng dần theo thời gian sinh trưởng Năng suất của sắn tăng nhanh nhất từ tháng thứ 6 cho đến tháng 9 sau trồng, sau đó tăng chậm

Do đặc điểm khí hậu của miền Bắc nước ta có một mua đông lạnh, khô hạn kéo dài nên sắn hầu như bị rụng lá hết vào tháng 2 hàng năm khi nhiệt độ,

ẩm độ, lượng mưa xuống thấp nên cây sắn ngừng sinh trưởng và năng suất sắn lúc này dường như đạt cao nhất Và người dân trồng sắn ở miền Bắc thường thu hoạch sắn từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau vì lúc này thời tiết khô hanh và sắn dường như đạt năng suất cao nhất dẫn đến lợi nhuận thu được cũng cao nhất, do vậy rất thuận lợi cho thu hoạch và chế biến, bảo quản sắn lát khô

Trên đây là cơ sở khoa học để em nghiên cứu làm đề tài này, em tiến hành nghiên cứu 6 thời điểm thu hoạch sắn khác nhau, để đưa ra những thời điểm thu hoạch thích hợp nhất đối với từng dòng, giống sắn về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế để người dân nghiên cứu và áp dụng

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới

Trên thế giới sắn được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam chủ yếu thuộc ba châu lục: Châu

Á, châu Phi và châu Mĩ La Tinh [2], [8], [13], [14] Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.1

Trang 17

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai

đoạn 1998 - 2008

Năm Diện tích

(Triệu ha)

Năng suất (Tấn/ ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Nguồn: FAO STAT, 2009) [22]

Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy năm 2008 diện tích trồng sắn trên toàn thế giới đạt 21.94 triệu ha với năng suất 12.87tấn/ha, tổng sản lượng đạt là

238.45 triệu tấn Diện tích trồng sắn trên toàn thế giới năm 2008 tăng 32.00%

(tương ứng 5.3 triệu ha so với năm 1998), năng suất tăng 30.00% (tương ứng 2.97 tấn/ha so với năm 1998) và sản lượng tăng 45.31% (tương ứng 74.35 triệu tấn so với năm 1998) (FAO STAT, 2009) [22]

Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự tôn vinh giá trị của cây sắn, vì sắn là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và là cây công nghiệp có khả năng cạnh tranh

cao với nhiều cây công nghiệp khác (FAO STAT, 2009) [22]

Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168.6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77.2%, làm thức ăn gia súc là 4.4%[2]

Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1.3%, so với châu Phi là 2.44% và châu Á là 0.84 - 0.96%.[2]

Trang 18

Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ la Tinh là một trong ba vùng trồng sắn quan trọng nhất trên thế giới [22]

Nước có sản lượng sắn cao nhất Châu Á là Thái Lan (27.56 triệu tấn),

kế tiếp là Indonexia (21.59 triệu tấn), Việt Nam (9.39 triệu tấn), Ấn Độ (9.05 triệu tấn), và Trung Quốc (4.36 triệu tấn) [22]

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số nước trên thế giới

năm 2008 Các chỉ tiêu

Nước

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Trang 19

Trên thế giới Nigeria là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất trên thế giới với diện tích 3.778 triệu ha, Côngô 1.851 triệu ha, tiếp đến là Brazin với diện tích là 1.839 triệu ha, Ấn Độ có năng suất đạt 33,54 tấn/ha là nước có năng suất đứng đầu thế giới, đứng thứ 2 trên thế giới là nước Thái lan với năng suất đạt 23,29 tấn/ha, đứng thứ 3 về năng suất là nước Colombia đạt 20,4 tấn/ha, tiếp theo là Braxin đạt 14,0 tấn/ha Do có diện tích lớn nhất thế giới nên Nigeria là quốc gia có sản lượng cao nhất thế giới đạt 45.721 triệu tấn, tiếp theo Thái lan 27.565 triệu tấn, Braxin đạt 25.877 triệu tấn, Inđonêxia 21.593 triệu tấn

Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng

ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT.19993) [20] Tinh bột sắn là thành phần quan trọng của hơn một tỷ người trên thế giới (www TTTA.Food market, 2009) [26] Sắn không những là cây lương thực mà là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới đồng thời cũng là cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị nhằm chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm…[7], [13]

Hiện nay các nước trên thế giới ngoài phần sắn sử dụng ăn tươi ra thì còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột [2], [14]

Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol…[2]

Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008 Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010 [2]

Các nước như Lào, Nigeria, Clombia và Uganda cũng đang nghiên cứu

thử nghiệm để sản xuất ethanol (TTTA.Outlook for 2009) [26]

Về xuất khẩu Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất trên thế giới,

số lượng sắn xuất khẩu chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu, kế đến

Trang 20

là Indonesia và Việt Nam Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên [2]

Giá sắn trên thị trường thế giới biến động nhiều Đầu năm 2008 tăng mạnh, có thời điểm giá sắn lát nhập khẩu vào trung Quốc đạt 200 USD/tấn và giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan đạt khoảng 440 USD/tấn Nhưng từ cuối năm 2008 do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá sắn đã giảm rất mạnh Giá tinh bột sắn vào tháng 2/2009 chỉ còn 240 USD/tấn, giảm 40%

so với cùng kỳ 2008 Tuy vậy trong những tháng gần đây, sự phục hồi của giá dầu thô và nhu cầu tiêu thụ sắn của Trung Quốc tăng mạnh đã giúp giá sắn tăng trở lại Hiện giá tinh bột sắn tại Thái Lan đã tăng lên 285 USD/tấn, tăng 19% so với tháng 2/2009 nhưng giảm 27% so với cùng kỳ năm 2008 [2]

Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020 Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275.10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274.7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0.40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254.60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20.5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176.3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53.4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1.98% và 0.95%

2.2.2 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu giống sắn trên thế giới

Ngoài việc tập trung cho sản xuất và tiêu thụ sắn thì việc nghiên cứu giống sắn trên thế giới cũng được quan tâm phát triển mạnh

Từ lâu, cây sắn được mệnh danh là cây cứu đói vì vậy thường được phát triển trên diện rộng Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuất bởi những người nông dân nghèo nên đã có một thời gian cây sắn bị lãng quên ở cộng đồng các nước phát triển Cho đến năm 1970 với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT (Centrer Internationar Agriculture) ở

Trang 21

Nigiênia Đến năm 1970 các chương trình sắn quốc gia đã được hình thành hoặc được tăng cường ở nhiều nước trồng sắn

Đến năm 1992, trung tâm CIAT đã thu thập và đánh giá được 5.728 mẫu giống sắn theo các mục tiêu khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng cho năng suất cao và thích ứng với sự thay đổi của môi trường Từ đó lựa chọn các cặp bố mẹ phục vụ cho công tác nghiên cứu giống sắn và trao đổi quỹ gen giữa các quốc gia [3], [8] Trong đó bao gồm 5.138 mẫu giống sắn thu thập tại vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ, 24 mẫu giống sắn ở Bắc Mỹ, 384 mẫu giống sắn lai của CIAT, 163 mẫu giống sắn vùng Châu Á, 19 mẫu giống sắn vùng Châu Phi Sau đó, CIAT đã giới thiệu cho châu Á và châu Mĩ 251 dòng sắn, cũng theo hướng đó hàng năm tại CIAT đã cung cấp tới 41021 hạt lai từ 131 cặp lai cho các khu vực để quốc gia tiến hành chọn lọc, cải tiến giống Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế IITA ở Nigiênia đã thu thập, đánh giá, bảo quản 1268 mẫu giống, vật liệu này của viện đã chọn lọc đưa vào sản xuất một số giống sắn chống chịu virus có năng suất cao hơn giống địa phương 2 đến 3 lần [21], [23]

Ở Braxin quê hương của cây sắn sau 12 năm hoạt động cho mục đích của ngân hàng gen sắn của Braxin đã thu thập được 1100 mẫu giống Từ năm

1976 đến 1990 họ đã chọn lọc được một số giống sắn phổ biến trong sản xuất

là giống 77, BGM 141, GMP 135, BGM 118 và PGM 187

Việc nghiên cứu cây có củ của Ấn Độ đã thu thập và bảo quản đánh giá được 1354 mẫu giống sắn và lai tạo được hang chục nghìn hạt sắn lai phục vụ cho trương trình chọn tạo các giống sắn mới Năm 1984 đã lai 158 cặp lai để tạo ra hàng nghìn hạt lai phục vụ cho công tác tuyển chọn giống Đặc biệt là giống sắn Sree Prekash được chọn lọc trực tiếp dòng nhập nội, giống này không những có khả năng cho năng suất cao từ 35 - 40 tấn/ha mà còn có ưu điểm là khả năng thu hoạch sớm (7 tháng sau trồng) lại chống được bệnh sản

do virus gây ra [24]

Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc đã được thực hiện tại các viện nghiên cứu cây trồng của Trung Quốc Từ những năm 1980, học viện cây trồng Nam Trung Quốc đã giới thiệu giống sắn có hàm lượng tinh bột cao

và giống sắn chịu lạnh, chịu đất xấu (SC124) Hiện nay giống sắn SC124 đã

Trang 22

được trồng trên 10.000 ha Những giống sắn mới gần đây của Trung Quốc có SC201, SC205, SC124, Nanzi 188, GR911, GR891 [25]

Ở Malayxia, trong 5526 hạt lại nhập nội từ CIAT (giai đoạn 1990 - 1993) đã chọn được một dòng chín sớm, năng suất củ tươi cao là MM92 song hàm lượng tinh bột thấp chỉ đạt 20% (S.L Tan và S.K Chon 1995) [6]

Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất thế giới nên cũng là nước có chương trình chọn tạo giống sắn mạnh nhất khu vực châu Á Tại trung tâm nghiên cứu cây trồng Rayong mỗi năm có 15000 - 20000 hạt lai F1 được khảo sát và đánh giá Thái Lan đã nghiên cứu được nhiều giống sắn mới cho năng suất tinh bột cao [8]

Chương trình chọn tạo giống sắn của Inđônêxia được tập trung tại trường đại học BrawiJaya và Viện nghiên cứu cây lương thực Malang Trong giai đoạn 1985 - 1990 có 5 dòng lai triển vọng đó là UB1-2, UB15-10, UB477-2, UB881-5 và UB 566-8 Những dòng lai mới này hiện đang được khảo nghiệm diện rộng Thông qua chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT/Colombia và CIAT/Thái Lan, các quần thể sắn lai được giới thiệu cho các chương trình chọn giống sắn quốc gia của toàn Thế giới [8]

Trong 20 năm qua (1975-1995) đã có hơn 350000 hạt lai từ CIAT/Colombia được phóng thích đến 9 nước châu Á Bắt đầu từ 1985 khoảng

75000 hạt lai từ CIAT/Thái Lan cũng được gửi đến đây và CIAT/Colombia Năm 1993, tổng cộng có 20 giống sắn mới đã được công nhận tại các nước châu

Á trong chương trình trên với diện tích trồng khoảng 150000 ha [8]

Công tác chọn lọc, lai tạo tìm ra những giống sắn mới năng suất cao ứng dụng rộng trong sản xuất là hướng đi mũi nhọn trong sản xuất, được các nước trong khu vực và trên thế giới quan tâm

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn trên thế giới

Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn trên thế giới thì thấy căn cứ vào đặc điểm của từng vùng sinh thái của mỗi nước mà xác định thời vụ trồng cho thích hợp, nhưng các giống sắn trồng để lấy tinh bột là chính thì sau trồng

8 – 12 tháng là thu hoạch, còn các giống sắn trồng để ăn tươi thì có thể thu hoạch rải rác sau trồng từ 6 – 9 tháng [8]

Trang 23

Ở Thái Lan theo tác giả Tonglum và cộng sự thì trồng sắn vào hai thời

vụ là tháng 5 và tháng 11, thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ 8 – 18 tháng sau trồng thì năng suất củ tăng tỉ lệ thuận với thời gian thu hoạch [8]

Viện Nông Nghiệp Nhiệt Đới Nam Trung Quốc thấy thời gian trồng sắn thích hợp ở Hoa Nam là từ tháng 2 – 4 và sau trồng 10 – 12 tháng thu hoạch cho năng suất cao [8]

Tại Ấn Độ kết quả nghiên cứu của MohanKumar và cộng sự trồng sắn

vụ 1: Trồng từ tháng 4 đến tháng 9 và vụ 2: Trồng từ tháng 8 đến tháng 9 thấy thu hoạch sắn sau trồng 9 – 11 tháng cho năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao hơn so với thu hoạch sớm 6,5 tháng sau trồng [8]

Ở Philippin cho rằng tại vùng có mưa quanh năm có thể trồng sắn vào bất kỳ thời kỳ nào trong năm cũng được nhưng sau trồng 9 – 12 tháng đều cho năng suất cao, phẩm chất tốt hơn các thời điểm thu hoạch khác [8]

Qua phân tích trên cho thấy về thời vụ trồng sắn Tuỳ từng tình hình khí hậu từng nước mà có khác nhau nhưng thường sau trồng 9 – 12 tháng thì thu hoạch sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt hơn

2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trong nước

2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trong nước

Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở thập

kỉ đầu của thế kỉ XXI Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và kinh

tế nông hộ (Hoàng kim và Phạm Văn Biên, 1997) [5]

Nghiên cứu và phát triển cây sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn là việc làm có hiệu quả cao (Hoàng Kim và Trần Công Khanh, 2005) [9] Đẩy mạnh sản xuất sắn cũng là hướng hỗ trợ chính cho việc thực hiện đề án “ Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định số 177/2007/QĐ-TT ngày 20 tháng 11 năm 2007

Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng, có vai trò quan trọng trong

chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô Việt Nam là nước

nông nghiệp với dân số trên 80 triệu người Trong đó hiện có 5% hộ đói và

Trang 24

20% hộ nghèo, cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam giai

đoạn 1998 - 2008 Năm Diện tích

(Nghìn ha)

Năng suất (Tấn/ ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2009) [22]

Qua số liệu bảng 2.3 ta thấy: Năm 2008, cây sắn có diện tích 557.40 nghìn ha, năng suất 16.85 tấn/ha, sản lượng 9.30 triệu tấn (FAO, 2009) [22] Diện tích trồng sắn năm 2008 đạt 557.400 ha, tăng mạnh so với năm 2005 và vượt 135.000 ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010

Việt Nam với diện tích 555 nghìn ha nhưng có năng suất đứng thứ tư trên thế giới, Việt Nam là nước có sản lượng sắn cao đứng thứ 7 trên thế giới đạt 9.395 triệu tấn Năng suất cũng tăng từ 15.4 tấn/ha năm 2005 lên 16.85 tấn/ha năm 2008, cao hơn so với mức năng suất trung bình của thế giới (12.2 tấn/ha) nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31.4 tấn/ha) và Thái Lan (21.1 tấn/ha)

Trang 25

Tổng sản lượng năm 2008 đạt 9.30 triệu tấn, tăng hơn năm 2005 là 2.5

triệu tấn (FAO STAT, 2009) [22]

Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2.020 Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển

Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng

và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái [2]

Diện tích, năng suất, sản lượng của các vùng trồng sắn ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 2.4

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số vùng của

Việt Nam năm 2008 Các chỉ tiêu

Vùng

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam

Qua bảng số liệu 2.4 ta thấy:

Cả nước ta hiện có 6 vùng trồng sắn với diện tích, năng suất, sản lượng

của mỗi vùng có khác nhau

Về diện tích thì vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ (166.80 nghìn ha) và Tây Nguyên (150.10 nghìn ha) là hai vùng có diện tích

Trang 26

lớn nhất, mỗi vùng chiếm khoảng từ 25- 30 % diện tích trồng sắn của cả nước

Đối với năng suất thì vùng Đông Nam Bộ (23.74 tấn/ha) cao nhất Cao hơn năng suất bình quân của cả nước là 6.87 tấn/ha [22]

Tổng sản lượng sắn nhiều nhất là: Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ đạt 2.808 nghìn tấn, thứ hai là vùng Đông Nam Bộ đạt: 2.694 nghìn tấn, sau đó là vùng Tây Nguyên đạt: 2.356 nghìn tấn [22]

Ba vùng trồng sắn trên tổng sản lượng của mỗi vùng chiếm khoảng từ

26 – 31% tổng sản lượng sắn của toàn quốc [22]

Đã từ lâu cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng so với các cây có củ ở nước ta và hiện nay sắn ngoài sử dụng làm lương thực ra thì sắn cũng đã trở thành cây công nghiệp hàng hoá xuất khẩu

và chế biến làm thức ăn cho gia súc có giá trị kinh tế cao trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới [2]

Về chế biến sắn ngoài sắn tươi và sắn lát khô ra thì hiện nay cả nước có

60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/ năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rải rác ở hầu hết các tỉnh trồng sắn Việt Nam hiện mỗi năm sản xuất khoảng từ 800.000 – 1.200.000 tấn tinh bột sắn, trong đó 70% xuất khẩu, 30% tiêu thụ trong nước [2]

Ngoài ra, sắn trong tương lai sẽ là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Đó là cơ hội tốt mở ra cho việc tiêu thụ sản phẩm sắn lát khô của Việt Nam Và như vậy sẽ góp phần làm cho cây sắn phát triển một cách bền vững và ổn định Vì khi tiến hành sản xuất Ethanol Việt Nam sẽ tiến tới không còn phải xuất khẩu nguyên liệu sắn lát khô Như vậy chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng bị ép giá, vừa giúp người nông dân an tâm sản xuất [2]

Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Việt Nam dự báo là có thuận lợi và có thể cạnh tranh cao do thế giới có nhu cầu sắn để chế biến Ethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính [2]

Xuất khẩu sắn của Việt Nam những năm trước giữ một vị trí khá khiêm tốn trong số những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhưng năm 2009 đã tăng

Trang 27

xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 8 tháng đầu năm 2009 ước đạt 429 triệu USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước và cao hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, hạt tiêu, chè [2]

Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 có thể đạt trên dưới 800 triệu USD Chính vì vậy, Bộ Công Thương đã đưa mặt hàng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn vào nhóm những mặt hàng xuất khẩu chủ lực [3], [10]

Tuy nhiên, sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu sắn cũng mang lại những mối lo không nhỏ, nhất là nguy cơ tái diễn tình trạng phát triển ồ ạt diện tích trồng sắn trong cả nước, vừa gây xói mòn đất vừa ảnh hưởng bất lợi đến giá cả thị trường Hơn nữa, với số nhà máy và cơ sở chế biến sắn ở nước

ta cũng tác động không nhỏ đến môi trường ở nhiều vùng nông thôn, nhất là các tỉnh có diện tích trồng sắn lớn như Tây Ninh, Bình Phước Mặt khác, dù nhu cầu tiêu thụ trên thế giới khá lớn, nhưng đầu ra cho mặt hàng sắn của Việt Nam thực sự chưa ổn định, lại tập trung quá nhiều vào thị trường Trung Quốc Thị trường này chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam Nếu thị trường này giảm nhu cầu, thì giá sắn có thể sẽ giảm mạnh, và

có nguy cơ sẽ xẩy ra tình trạng ế đọng sắn với khối lượng lớn như cuối năm trước [3], [10]

Từ thực trạng sản xuất sắn trên, để cây sắn hiện nay có thể phát triển một cách ổn định, bền vững thì cần một số giải pháp như sau:

1 Cần phát triển thêm những nhà máy chế biến tinh bột ở các tỉnh trong cả nước để thu mua sắn của bà con nông dân mỗi khi đến vụ thu hoạch, nhưng phải có hợp đồng rõ ràng giữa nhà máy và người dân, chứ không phải mua bừa bãi, chèn ép giá, mua với giá cả ổn định.Có đầu ra bà con sẽ yên tâm sản xuất [3], [10]

2 Cần nghiên cứu, chọn tạo ra nhiều giống sắn mới có năng suất cao, chất lượng tốt, để khuyến cáo cho bà con trồng, tăng sản lượng bằng cách tăng năng suất, không nên tăng diện tích và kỹ thuật canh tác sắn bền vững để đạt năng suất lợi nhuận cao và duy trì độ phì nhiêu của đất [3], [10]

3 Cần khuyến cáo bà con nông dân không mở rộng thêm diện tích sắn, không phá rừng làm nương rẫy, nếu tiếp tục phá rừng để trồng sắn thì

sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng với đất, gây mất cân bằng sinh thái, làm ô

Trang 28

nhiễm môi trường sống và có thể xảy ra thiên tai, sẽ để lại hậu quả rất nặng

nề Nếu diện tích vẫn tăng thì sẽ dẫn đến hiện trạng cung vượt quá cầu, như vậy giá sắn sẽ thấp, người nông dân trồng sắn sẽ không có lãi Vì vậy nên

bố trí các cây trồng khác phù hợp với điều kiện địa phương và thế mạnh của từng vùng sản xuất [3], [10]

4 Cần tìm hiểu và mở rộng thị trường nước ngoài để xuất khẩu, tránh hiện tượng phụ thuộc vào Trung Quốc, bị chèn ép giá, và gây ra nhiều điều kiện bất lợi [3], [10]

5 Cần xây dựng các nhà máy công nghiệp trong tương lai để sản xuất

ra các sản phẩm như rượu, cồn, bánh kẹo Do vậy sẽ không phải bán nguyên liệu sắn với giá rẻ cho thị trường nước ngoài nữa, mà có thể tạo ra sản phẩm cuối cùng vì giá trị thặng dư nằm ở sản phẩm cuối cùng Điều đó sẽ mang lại rất nhiều lợi nhuận cho cả người trồng sắn và các nhà máy công nghiệp [3], [10]

6 Áp dụng kỹ thuật chế biến và phối hợp thực phẩm để nâng cao giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm sắn [3], [10]

7 Ứng dụng dây chuyền công nghệ chế biến sắn hiện đại, tận dụng phế phụ phẩm để làm thức ăn gia súc, phân bón, thường xuyên đánh giá tác động môi trường [3], [10]

8 Quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn Hình thành và phát triển chương trình sắn Việt Nam để liên kết mạng lưới hợp tác nghiên cứu, giảng dạy, khuyến nông,quản lý, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chế biến và tiêu thụ sắn [3], [10]

Trên đây là một số những giải pháp có thể thực hiện được trong tương lai đối với cây sắn nói riêng và những cây trồng khác nói chung, để một nước đang phát triển như Việt Nam có một vị thế về nông nghiệp, được khảng định trên trường quốc tế, nhà nước cần đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa về nông nghiệp để cuộc sống của người nông dân cao hơn

2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn trong nước

2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống sắn ở trong nước

Trang 29

Trước năm 1975 chủ yếu là thu thập nguồn gen của địa phương Nguồn gen thu thập, nhập nội được khảo sát tại Viện khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn (Lê Xuân Hoa, 1962, 1964, 1968, 1972)

Trong giai đoạn 1976 - 1990, Viện khoa học nông nghiệp Miền Nam đã thu thập nguồn gen giống sắn địa phương và đánh giá tại trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc Kết quả đã chọn tạo và giới thiệu cho sản xuất các giống sắn HL23, HL24, HL20 có năng suất củ cao hơn giống H34 (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, 1990) [16]

Ba giống sắn này được canh tác ở Miền Nam mỗi năm khoảng 30000 đến 50000 ha Ở Miền Bắc từ 1980 - 1985 Trường đại học Nông Lâm Bắc Thái cũng đã đánh giá được tập đoàn 20 giống sắn địa phương Giống Xanh Vĩnh Phú được kết luận là giống sắn địa phương tốt nhất của Miền Bắc, có năng suất củ tươi cao, ổn định, tỉ lệ chất khô và hệ số thu hoạch cao, dạng cây gọn và phân cành muộn (Trần Ngọc Ngoạn, Trần Văn Diễn, 1992) [6]

Giai đoạn 1990 - 1995, chương trình sắn Việt Nam được hình thành trong khuôn khổ chương trình cây có củ quốc gia với sự liên kết chặt chẽ cùng CIAT

và mạng lưới Nghiên cứu và phát triển sắn Châu Á Việt Nam có điều kiện hội nhập và tiếp nhận được những thành tựu mới nhất của quốc tế Do vậy, chương trình sắn Việt Nam đã có những bước tiến mau lẹ và vững chắc

Ở nước ta, công tác chọn lọc giống sắn được thực hiện chủ yếu tại trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc (thuộc Viện khoa học Nông nghiệp Miền Nam), Trường Đại học Nông Lâm Bắc Thái và trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trong sự phối hợp mạnh mẽ của các Viện, Trường, các Sở Nông Nghiệp, trung tâm Khuyến Nông của các tỉnh… và mạng lưới nông dân trồng sắn giỏi rộng lớn của 29 tỉnh, thành trồng nhiều sắn trong cả nước [8]

Nguồn gen giống sắn tại Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc luôn có 91 mẫu giống địa phương và nhập nội cùng với trên 30000 dòng lai (đến 12/1995) [8]

Việc chọn tạo ra các giống sắn mới (KM60, KM94, KM98-5, KM140, KM98-7) có năng suất và năng suất tinh bột cao gần gấp đôi so với các giống sắn địa phương đã mang lại những lợi ích lớn cho người trồng sắn Những

Trang 30

giống sắn có năng suất cao là giải pháp để người nông dân không mở rộng thêm diện tích nữa [8]

2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn ở trong nước

Trong nước thời vụ trồng thu hoạch sắn tuỳ theo điều kiện sinh thái của mỗi vùng cũng khác nhau

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng Trung du Bắc bộ sắn được trồng tốt nhất trong tháng 2 [8]

Ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam sắn được trồng từ tháng 1 đến tháng 2 và thu hoạch từ tháng 9 đến tháng 10 đạt năng suất, phẩm chất tốt Tránh bão lụt làm thối củ ngoài đồng [6]

Vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ sắn được trồng vụ chính từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 [8]

Vậy tuỳ điều kiện khí hậu, tập quán của từng vùng mà xác định thời vụ trồng cho phù hợp song thời gian thu hoạch thì thường sau trồng 9 – 12 tháng thậm trí có nơi có thể kéo dài hơn song thu hoạch sau trồng bao ngày cho phù hợp từng giống, từng địa phương để cho năng suất cao, phẩm chất tốt là dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương Đây là vấn đề cần được nghiên cứu nhằm làm cơ sở khoa học xác định thời điểm thu hoạch tốt nhất phù hợp với từng giống ở mỗi địa phương

Trang 31

PHẦN III

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành với 9 giống khác nhau, cụ thể gồm:

Số thứ tự Tên Nguồn gốc

1 Giống XVP (đ/c) Ở địa phương

2 Giống KM94 Nhập nội bằng hom

3 Giống KM98-7 Chọn từ hạt lai tại trường ĐHNLTN

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: 02/2008 - 2/2010

- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm thực hành thực nghiệm

trường ĐHNLTN, trên nền đất trồng sắn liên tục nhiều năm

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Theo dõi tỉ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các dòng, giống sắn

- Theo dõi quá trình sinh trưởng: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ

ra lá và tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn

- Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của các dòng, giống sắn

- Theo dõi các thời điểm thu hoạch sắn ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của các dòng giống sắn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp thí nghiệm khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại

- Thí nghiệm gồm 9 công thức:

Trang 32

- Làm đất: Sâu, tơi xốp theo đúng yêu cầu kỹ thuật đề ra

- Thời vụ trồng: Tháng 3 năm 2008 và tháng 3 năm 2009

1

N K2O kết hợp làm cỏ vun cao

- Thời điểm thu hoạch: Năm 2008 tiến hành thu từ ngày 1 tháng 11, 20

ngày thu 1 lần Năm 2009 tiến hành thu từ 1 tháng 11, 20 ngày thu 1 lần, mỗi

ô thu làm 6 lần, ở 6 thời điểm khác nhau để đánh giá các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất, chất lƣợng của các dòng giống sắn

Trang 33

+ Thời điểm 5: Ngày 19/01/2009 + Thời điểm 5: Ngày 19/1/2010

+ Thời điểm 6: Ngày 8/02/2009 + Thời điểm 6: Ngày 8/02/2010

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

 Tỷ lệ mọc mầm: Theo dõi từ khi gieo trồng cho đến khi có 70% số hom mọc thành cây

 Theo dõi về sinh trưởng của các dòng, giống sắn:

- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Trong mỗi ô thí nghiệm chọn cố định

5 cây mẫu ngẫu nhiên theo đường chéo góc và cố định bằng cọc, 10 ngày

đo 1 lần, đo từ mặt đất đến ngọn lá chưa xoè, sau lấy số liệu trung bình

- Tốc độ ra lá: Xác định bằng phương pháp đánh dấu để đếm số lá mới ra trong 10 ngày trên 5 cây mẫu, sau lấy số liệu trung bình

- Tuổi thọ lá xác định bằng phương pháp đánh dấu lá non mới được hình thành và phát triển đầy đủ đến khi lá chuyển sang mầu vàng, 10 ngày đo

1 lần trên 5 cây đã chọn mẫu, sau lấy số liệu trung bình

- Xác định tổng số lá trên cây: Khi thu hoạch đếm tổng số lá trên 5 cây mẫu đã chọn, sau lấy số liệu trung bình

- Chiều cao thân chính: Khi thu hoạch đo từ gốc đến điểm phân cành trên

5 cây mẫu đã chọn Sau lấy số liệu trung bình

 Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất , chất lượng của các dòng , giống sắn ở các thời điểm thu hoạch

- Chiều dài củ, đường kính củ (cm): Mỗi lần thu hoạch 1 ô thí nghiệm phân thành 3 nhóm (dài - trung bình - ngắn) Và chọn mỗi loại 5 củ để đo chiều dài củ, đường kính củ sau đó lấy giá trị trung bình

- Số củ trên gốc: Mỗi một lần thu hoạch 1 ô thí nghiệm 5 cây, đếm tống số

củ, sau đó chia cho tổng số cây thu hoạch, sau đó lấy giá trị trung bình

- Khối lượng trung bình củ/gốc: Mỗi lần thu hoạch 1 ô thí nghiệm, cân khối lượng củ của 5 cây, sau chia cho tổng số cây, lấy giá trị khối lượng trung bình

- Xác định tỷ lệ chất khô

+ Tỷ lệ chất khô (TLCK): Xác định theo phương pháp đo khối lượng riêng của CIAT: Mỗi lần thu hoạch, 1 ô thí nghiệm, lấy 5 kg củ tươi để xác định theo công thức:

Trang 34

142 3 ,

158 

B A

A Y

Trong đó: Y: tỷ lệ chất khô (%)

A: khối lượng củ tươi cân trong không khí (kg)

B: khối lượng củ tươi cân trong nước (kg)

- Xác định tỷ lệ tinh bột (TLTB): Mỗi lần thu hoạch 1 ô thí nghiệm, lấy 5

kg củ tươi cân trong nước bằng cân tinh bột ta xác định được tỷ lệ tinh bột

- Năng suất củ tươi (NSCT):

Trang 35

PHẦN IV

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tại Thái Nguyên

Điều kiện thời tiết khí hậu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng Mỗi loại cây trồng thích nghi với điều kiện khí hậu khác nhau, khí hậu cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng đến cả thời vụ thu hoạch của cây sắn trên đồng ruộng Chính vì vậy cần phải theo dõi diễn biến thời tiết khí hậu để làm cơ sở; bố trí thời điểm thu hoạch cho hợp lý

Cây sắn có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, tuy nhiên nó cũng rất nhạy cảm với một số yếu tố sinh thái như khí hậu, đất đai, các chất dinh dưỡng khoáng Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới rất thích hợp cho cây sắn sinh trưởng, phát triển Vì vậy cây sắn trồng ở Việt Nam cho năng suất, sản lượng cao và là cây chủ lực thứ tư sau cây lúa, ngô, khoai

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều nên rất thuận lợi cho cây sắn sinh trưởng phát triển Hiện nay Thái Nguyên có hai thời điểm trồng sắn chính: Thời điểm một là tháng 2 và tháng 3, thu hoạch vào tháng 11 và tháng 12; thời điểm hai

là vào tháng 4 và tháng 5 và thu hoạch vào tháng 1 và tháng 2 Trong đó thời điểm một có tiềm năng cho năng suất cao hơn cả Lý do ở thời điểm này khí hậu rất thuận lợi cho cây sắn sinh trưởng và phát triển Các điều kiện về nhiệt

độ, ẩm độ, lượng mưa đều ở mức thích hợp hơn so với thời điểm hai Chính

vì vậy cây sắn càng có điều kiện bộc lộ những tính trạng tốt ra kiểu hình Sắn là một trong những cây trồng nhiệt đới kiểu hình; Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 15-30oC và lượng mưa hàng năm dao động từ 500-5000

mm Tuy là cây trồng có khả năng thích ứng rộng song điều kiện khí hậu thích hợp nhất với cây trồng này là khí hậu ẩm và ẩm quanh năm Năng suất sắn có thể đạt cao nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 25-27oC, độ cao trung bình

so với mặt nước biển dưới 150m và chất lượng tốt nhất ở nơi mưa nhiều,

Trang 36

lượng mưa phân bố đồng đều trong năm Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng yêu cầu sinh thái của cây sắn khác nhau: nhiệt độ để cây nảy mầm tốt nhất là: 20-

27oC, ẩm độ là 65-75% Điều kiện ngày ngắn tăng cường tích luỹ tinh bột về

củ Ngày dài thích hợp với sinh trưởng thân lá nhưng hạn chế tích luỹ tinh bột về củ dẫn đến giảm năng suất về củ (Bodlaender, 1960) Khi bị che bóng 60% ánh sáng so với không che bóng, năng suất củ bị giảm tới 36% (Otoo, 1983)

Sắn là cây chịu hạn có thể kéo dài tới 5-6 tháng Song hạn hán kéo dài làm năng suất củ bị giảm đáng kể Do chỉ số diện tích là giảm nhanh trong điều kiện khô hạn (CIAT, 1987-1989), tính trung bình năng suất củ khô giảm 14%, năng suất thân lá giảm 38% năng suất sinh vật học giảm 22%

Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tại Thái Nguyên

Lượng mưa (mm)

Nhiệt độ (oC)

Độ ẩm (oA)

Lượng mưa (mm)

Trang 37

Nhiệt độ Vụ I năm (2008-2009): dao động từ 15,1-28,4oC Nhiệt độ thuận lợi cho cây nảy mầm; sinh trưởng phát triển thân lá và tích luỹ dinh dưỡng về củ

- Tháng 3, tháng 4: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa thuận lợi cho sự nảy mầm của cây sắn

- Tháng 5, tháng 6, tháng 7: Lượng mưa nhiều, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi nhất cho sự sinh trưởng, phát triển thân lá của cây sắn

- Tháng 8, tháng 9, tháng 10: Nhiệt độ cao hơn, độ ẩm thấp hơn, lượng mưa giảm hơn so với vụ I Nên chỉ số diện tích lá giảm, năng suất giảm, chất lượng xuống

- Tháng 12, tháng 1: nhiệt độ thấp, độ ẩm thấp, mưa ít nên không thuận lợi cho sự tích luỹ dinh dưỡng về củ năng suất giảm, chất lượng giảm nhưng thuận lợi cho quá trình thu hoạch

- Vụ II (2009-2010): nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa có chênh lệch so với

Vụ I

- Tháng 3, tháng 4: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa thuận lợi cho sự nảy mầm của cây sắn hơn vụ I

- Tháng 5, tháng 6, tháng 7: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa thuận lợi cho

sự sinh trưởng phát triển thân lá của cây sắn hơn vụ I

- Tháng 8, tháng 9, tháng 10: Nhiệt độ cao hơn, độ ẩm thấp hơn, lượng mưa giảm hơn so với vụ I Nên chỉ số diện tích lá giảm, năng suất giảm, chất lượng xuống

- Tháng 11, tháng 12, tháng 1: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa xuống rất thấp nên năng suất giảm, chất lượng giảm nhưng thuận lợi cho thời vụ thu hoạch, do thời tiết khô hanh

- So hai vụ: Thì thời vụ II (2009-2010) thuận lợi hơn cho sự nảy mầm, sinh trưởng, phát triển thân lá của cây sắn và năng suất của củ

Trang 38

4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng, giống sắn

4.2.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các dòng, giống sắn

Thời kỳ mọc mầm là quá trình hô hấp diễn ra mạnh, có sự chuyển hoá chất dinh dưỡng trong hom từ phức tạp thành đơn giản, để hình thành mầm sắn và rễ mầm sắn Quá trình hình thành phụ thuộc vào 2 yếu tố là khí hậu và chất lượng hom giống

Thông thường sau khi đặt hom từ 5 - 17 ngày sắn bắt đầu mọc mầm Còn số ngày dài hay ngắn khác nhau thì phụ thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ càng cao thì tốc độ nảy mầm càng nhanh và tỷ lệ nảy mầm càng cao Nhưng nếu nhiệt độ quá cao thì sắn sẽ không nảy mầm được và tỷ lệ nảy mầm thấp Nhiệt độ thích hợp nhất cho sắn nảy mầm là 28.5 - 300C

Nếu thời vụ trồng không hợp lý (điều kiện khí hậu không thuận lợi như nhiệt độ thấp, thiếu ẩm), ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian mọc mầm ra rễ, tỷ lệ mọc mầm không đảm bảo chất lượng mầm kém từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây sắn sau này Tùy thuộc vào yếu tố khí hậu và yếu tố nội tại mà thời gian mọc mầm sớm hay muộn

Chất lượng hom giống và biện pháp xử lý hom giống cũng là những yếu tố quyết định đến quá trình nảy mầm của sắn Để có một cây sắn to và khỏe thì ta phải có hom giống tốt, hom giống tốt là hom thường có đường kính hom lớn, hom ở giữa thân, có nhiều mắt và thường có thời gian bảo quản ngắn Khi chặt hom thì phải lưu ý không để dập hai đầu hom và tránh chảy nhựa, vì từ hai đầu hom sẽ hình thành callus, từ callus sẽ hình thành rễ

Vì vậy để có năng suất cao, chất lượng tốt ta phải chọn giống tốt và có hom tốt và bố trí thời vụ trồng thích hợp để cây sắn nảy mầm nhanh, đều, khoẻ về sau có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt

Trang 39

Bảng 4.2: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 9 dòng, giống

sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 2 vụ 2008-2010

Thời gian bắt đầu nảy mầm (ngày)

Thời gian kết thúc nảy mầm (ngày)

Qua số liệu bảng 4.2 ta thấy:

Các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm đều có tỷ lệ nảy mầm cao (trên 90%) và tương đối đồng đều

Dòng OMR35-8-32 có tỷ lệ nảy mầm cao đạt 99% cao hơn giống đ/c XVP là 2%, tiếp đến là giống KM98-7 và KM140 đạt 98% cao hơn giống đ/c XVP là 1%

Giống CM9952-24 có tỷ lệ nảy mầm bằng với giống đ/c XVP là 97% Các dòng, giống còn lại đều có tỷ lệ nảy mầm thấp hơn giống đ/c XVP

và dao động từ 93% đến 97% Trong đó dòng CM9952-6 có tỷ lệ nảy mầm đạt thấp nhất là 93% thấp hơn so với giống đối chứng XVP là 4%

Thời gian từ trồng đến bắt đầu mọc mầm của các dòng, giống sắn dao động từ 11 - 15 ngày Trong đó dòng CM9952-6 và dòng CM9947-2 có thời gian mọc mầm sớm nhất (11 ngày sau trồng), sớm hơn đ/c XVP là 3 ngày

Trang 40

Tiếp đến là các dòng KM98-7, CM9952-24, KM140 và các giống KM94, OMR35-8-32 đều có thời gian bắt đầu mọc mầm sớm hơn giống đ/c XVP Duy nhất có dòng GM155-17 thì thời gian bắt đầu mọc mầm muộn hơn giống đ/c XVP là 1 ngày

Thời gian từ trồng đến kết thúc mọc mầm của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm dao động từ 17-20 ngày sau trồng Trong đó, sớm nhất là dòng CM9947-2 kết thúc mọc mầm sau 17 ngày sớm hơn giống đ/c XVP là 3 ngày Tiếp theo là dòng CM9952-6, giống KM94 đều có thời gian kết thúc mọc mầm sau 18 ngày sớm hơn giống đ/c XVP là 2 ngày Tiếp đến là các dòng CM9952-24, GM155-17, OMR35-8-32 đều có thời gian kết thúc mọc mầm sớm hơn giống đ/c XVP từ 1 ngày Giống KM98-7 và giống KM140 có thời gian kết thúc mọc mầm bằng với giống đ/c XVP là 20 ngày

4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn

Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước và khối lượng của cây trồng

Do vậy theo dõi tốc độ tăng trưởng của các dòng, giống sắn chủ yếu thông qua hai chỉ tiêu là chiều cao cây và tốc độ ra lá

Sự khác nhau giữa sắn và cây trồng khác ở các đặc điểm sau:

- Bộ phận thu hoạch chính nằm ở dưới đất là củ được hình thành từ phần

gỗ, đặc biệt là các rễ mọc tự nhiên được phát triển thành củ

- Cây sắn phát triển thân lá và tích luỹ tinh bột vào củ cùng thời kỳ

Như vậy, sản phẩm quang hợp được phân phối cho sự phát triển thân lá

và củ Sự phát triển thân lá là biểu hiện của quá trình đồng hoá, các yếu tố của điều kiện sống là biểu thị khả năng thích ứng cụ thể của các dòng, giống Dựa vào đặc điểm này cần có tác động thích hợp các biện pháp kỹ thuật vào cây sắn nhằm đạt được năng suất cao theo ý muốn Việc theo dõi đánh giá tốc độ sinh trưởng của thân, lá của các dòng, giống là chỉ tiêu quan trọng giúp chúng

Ngày đăng: 07/10/2014, 02:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Biên (1998), Sắn Việt Nam trong vùng sắn Châu á hiện trạng và tiềm năng, kỷ yếu hội thảo "Kết quả nghiên cứu và khuyến nông sắn Việt Nam"Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu và khuyến nông sắn Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Biên
Năm: 1998
2. Hoàng Kim, Phạm Văn Biên (1997), “ Cây Sắn”, Nhà xuất bản Nông nghiệp T.P. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Sắn
Tác giả: Hoàng Kim, Phạm Văn Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp T.P. Hồ Chí Minh
Năm: 1997
5. Đường Hồng Dật (2004), "Cây sắn từ cây lương thực chuyển thành cây công nghiệp" Nxb lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây sắn từ cây lương thực chuyển thành cây công nghiệp
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb lao động - xã hội
Năm: 2004
6. Trần Ngọc Ngoạn, Trần Văn Diễn, (1992), “ Kết quả bước đầu nghiên cứu giống sắn thích hợp với vùng trung du – miền núi phía Bắc”, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu nghiên cứu giống sắn thích hợp với vùng trung du – miền núi phía Bắc
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn, Trần Văn Diễn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1992
7. Nguyễn Viết Hƣng (2005), “Bài giảng cây sắn” , Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cây sắn”
Tác giả: Nguyễn Viết Hƣng
Năm: 2005
9. Hoàng Kim, Trần Công Khanh (2005) “ Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM98-5. Báo cáo tại Hội nghị nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học 2001-2005”, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM98-5. Báo cáo tại Hội nghị nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học 2001-2005”", Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
10. Hoàng Kim, Nguyễn Đăng Mãi (ed), (1999), Sắn Việt Nam: “Hiện trạng, định hướng và giải pháp phát triển những năm đầu thế kỉ 21”VNCP- IAS- CIAT-VEDAN, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng, định hướng và giải pháp phát triển những năm đầu thế kỉ 21
Tác giả: Hoàng Kim, Nguyễn Đăng Mãi (ed)
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1999
11. Phạm Thị Là (2005), “Sản xuất mì Tây Ninh, hiện trạng và tương lai”, tập san khuyến nông Tây Ninh số 1 tháng 4 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất mì Tây Ninh, hiện trạng và tương lai”
Tác giả: Phạm Thị Là
Năm: 2005
12. Hoàng Kim Anh, Ngô Kế Sương, Nguyễn Xích Liên (2004), “Tinh bột sắn và các sản phẩm từ tinh bột sắn” NXB Khoa Học Kĩ Thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh bột sắn và các sản phẩm từ tinh bột sắn
Tác giả: Hoàng Kim Anh, Ngô Kế Sương, Nguyễn Xích Liên
Nhà XB: NXB Khoa Học Kĩ Thuật. Hà Nội
Năm: 2004
13. Trần Ngọc Ngoạn (2007), “Giáo trình cây sắn”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây sắn
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2007
14. Trần Ngọc Ngoạn (1995), “Luận án PTS KHNN”, Viện khoa học kĩ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án PTS KHNN
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Năm: 1995
15. Trần Ngọc Ngoạn (2003), “Kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc”,NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc”
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
16. Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn (1990), Các giống sắn có năng suất cao, “ Báo cáo Hội nghị khoa học của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị khoa học của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn
Năm: 1990
25. Lian, TS. (1996), Cassava varietal improvement and agronomy research in Malaysia. In: Howeler, R.H (ed). Cassava Breeding, Agronomy and Farmer Paticipatory Research in Asia. Proceeding of the Fifth Regional Workshop held in Danzhou, hainan, China.pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cassava varietal improvement and agronomy research in Malaysia." In: Howeler, R.H (ed). "Cassava Breeding, Agronomy and Farmer Paticipatory Research in Asia
Tác giả: Lian, TS
Năm: 1996
21. CIAT (2004), Sustainable cassava production in Asia. http://www.Ciat.cgiar.org/asia cassava Link
8. Nguyễn Viết Hƣng (2006), "Luận án TS Khoa học Nông nghiệp&#34 Khác
17. Trung tâm khí tƣợng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên năm 2009 II. Tiếng Anh Khác
18. CIAT (1992), International Net word for Cassava Genetic Resouces Khác
19. CIAT (1990), Annual reports. Cassava Program, Report 1987 – 1988. Working Document. N 0 91.617p Khác
20. CIAT (1993), Annual Report S.Cassava program report 1993. Working Document. Nước 92. 550p Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên thế giới giai - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên thế giới giai (Trang 17)
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số nước trên thế giới - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở một số nước trên thế giới (Trang 18)
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn của Việt Nam giai - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn của Việt Nam giai (Trang 24)
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tại Thái Nguyên. - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2008-2010 tại Thái Nguyên (Trang 36)
Bảng 4.2: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 9 dòng, giống - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2 Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 9 dòng, giống (Trang 39)
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của 9 dòng, giống sắn  thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 41)
Bảng 4.4: Tốc độ ra lá của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.4 Tốc độ ra lá của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, (Trang 44)
Bảng 4.5: Tuổi thọ lá của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.5 Tuổi thọ lá của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, (Trang 46)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến  chiều dài củ của 9 dòng, giống sắn, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chiều dài củ của 9 dòng, giống sắn, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 51)
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến đường kính củ  của 9 dòng, giống sắn, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến đường kính củ của 9 dòng, giống sắn, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 56)
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất củ tươi  của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất củ tươi của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 65)
Bảng 4.11: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến NSCT của  9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.11 Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến NSCT của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 (Trang 69)
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô  của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 70)
Bảng 4.13: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến tỷ lệ chất  khô của các dòng, giống sắn,  số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.13 Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn, số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 (Trang 75)
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của thời điểm  thu hoạch đến năng suất củ khô  của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất củ khô của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 - 2010 (Trang 76)
Bảng 4.15: Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến NSCK của  9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 - nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của các thời điểm thu hoạch đến năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.15 Bảng anova ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch đến NSCK của 9 dòng, giống sắn thí nghiệm, số liệu trung bình 02 vụ 2008 – 2010 (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm