1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên

83 605 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÙI VĂN TÂM NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LÁ SONG C

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI VĂN TÂM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM ẤU TRÙNG

SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN CÁ CHÉP VÀ CÁ TRẮM CỎ

TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI VĂN TÂM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM ẤU TRÙNG

SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN CÁ CHÉP VÀ CÁ TRẮM CỎ

TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Thú Y

Mã số: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ NHẬT THẮNG

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đã đều được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi

rõ nguồn gốc

Tác giả

Bùi Văn Tâm

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

TS Ngô Nhật Thắng, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, và các thầy

cô giáo giảng dạy chuyên ngành trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Đồng thời tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ths Nguyễn Thị Hà, Trung tâm nghiên cứu quan trắc cảnh báo Môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực Miền Bắc

Dự án FIBOZOPA

Phòng Đào tạo – Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1

Sở thủy sản Thái Nguyên

Bà con nuôi cá hai huyện Phú Lương, Phú Bình

Các đồng nghiệp trong ngành

Đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của bố, mẹ, các em, bạn bè luôn là điểm tựa vững chắc cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Bùi Văn Tâm

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục i

Danh mục các ký hiệu , các chữ viết tắt iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình .v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Lớp sán lá song chủ (Trematoda) 4

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh sán lá song chủ 15

1.1.3 Chẩn đoán bệnh sán lá song chủ 17

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 18

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 31

2.2.1 Địa điểm 31

2.2.2 Thời gian 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 31

2.5 Phương pháp nghiên cứu 32

2.5.1 Phương pháp thu thập mẫu 32

2.5.2 Phương pháp tiêu cơ 32

2.5.3 Định loại Metacercariae 33

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.6.1 Tỷ lệ nhiễm 35

2.6.2 Cường độ nhiễm 35

2.6.3 Xử lý số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Kết quả nghiên cứu kích thước và khối lượng cá chép và cá trắm cỏ qua các giai đoạn 36

3.1.1 Kết quả nghiên cứu chiều dài của cá chép và cá trắm cỏ 36

3.1.2 Kết quả nghiên cứu khối lượng của cá chép và cá trắm cỏ 37

3.2 Tình hình nhiễm metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ tại Thái Nguyên 38

3.2.1 Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ 38

3.2.2 Thành phần và sự phân bố metacercaria trên địa bàn nghiên cứu 39

3.3 Tình hình nhiễm metacercaria trên cá chép 40

3.3.1 Mức độ nhiễm metacercaria trên cá chép qua các giai đoạn 40

3.3.2 Mức độ nhiễm các loài metacercaria trên các cơ quan của cá chép 42

3.4 Tình hình nhiễm metacercaria trên cá trắm cỏ 47

3.4.1 Mức độ nhiễm metacercaria trên cá trắm cỏ qua các giai đoạn 47

3.4.2 Mức độ nhiễm các loài metacercaria trên các cơ quan của cá trắm cỏ 50

3.6 Sức đề kháng của ấu trùng sán lá song chủ 59

3.7 Các biện pháp ngăn chặn sự lây nhiễm metacercaria trên cá giống 61

3.5.1 Diệt mầm bệnh 62

3.5.2 Tăng cường sức đề kháng cho cá giống 62

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ ở một số nước trên thế giới 29

Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu chiều dài của cá chép và cá trắm cỏ 36

Bảng 3.2 Kết quả nghiên cứu khối lượng của cá chép và cá trắm cỏ 37

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ 39

Bảng 3.4 Thành phần loài và sự phân bố metacercaria ký sinh trên cá tại hai huyện Phú Lương, Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 39

Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm metacercaria trên các giai đoạn phát triển của cá chép 40

Bảng 3.7 Tỷ lệ và mức độ nhiễm metacercaria trên cá Chép tại Phú Lương - Thái Nguyên 45

Bảng 3.8 Tỷ lệ và mức độ nhiễm metacercaria ở các giai đoạn phát triển của cá trắm cỏ 47

Bảng 3.9 Tỷ lệ và mức độ nhiễm metacercaria trên các cơ quan ký sinh cá trắm cỏ tại Phú Bình - Thái Nguyên 50

Bảng 3.10 Thành phần loài và mức độ nhiễm metacercaria trên các cơ quan ký sinh cá Trắm cỏ tại Phú Lương - Thái Nguyên 52

Bảng 3.11 Đề kháng của ấu trùng C sinensis với nhiệt độ 59

Bảng 3.12 Đề kháng của ấu trùng C sinensis với dung dịch NaCl 60

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ 8

Hình 1.2: Hệ bài tiết của Sán lá song chủ 10

Hình 1.3: Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse) 10

Hình 1.4: Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá 15

Hình 1.5: Phân bố tình hình nhiễm sán lá gan Clonorchis/Opisthorchis ở Việt Nam tính đến năm 2002 19

Hình 1.6 Bản đồ dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ trên thế giới 24

Hình 3.1: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo giai đoạn phát triển của cá chép 42

Hình 3.2: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo cơ quan cá chép 46

Hình 3.3: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo giai đoạn phát triển của cá trắm cỏ 49

Hình 3.4: Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo cơ quan của cá trắm cỏ 53

Hình 3.5 Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá Chép và cá Trắm cỏ 55

Hình 3.6 Cường độ nhiễm metacercaria trên cá Chép và cá Trắm cỏ 56

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ký sinh trùng có nguồn gốc từ động vật thủy sản (cá) gây bệnh cho con người khá phổ biến của khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Con người có thể bị nhiễm ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá gây bệnh cho người khi

ăn phải cá sống hoặc nấu chưa chín Khi người thải phân ra kèm theo trứng sán, trứng nở thành ấu trùng có lông sẽ nhiễm vào ốc là vật chủ trung gian thứ nhất

Cá là vật chủ trung gian thứ hai bị nhiễm ấu trùng metacercaria từ ốc

Hầu hết các loài ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá gây bệnh cho con người đều là giun, sán ký sinh ở gan và ruột của vật chủ cuối cùng Trong số các loài sán thì sán lá gan có mức độ gây nguy hiểm cho người chủ yếu là 2

loài Clonorchis sinensis và Opisthorchis vinerrini Các loài sán ruột cũng rất phổ biến ở các nước Đông Nam Á, chúng là đại diện từ các họ Heterophyidae

và Echinostomatidae Việc loại bỏ những ký sinh trùng này từ nguồn cung

cấp thực phẩm, đặc biệt là cá là một vấn đề khó khăn và thách thức

Ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá gây những bệnh nguy hiểm trên người như bệnh sán lá gan và sán lá ruột nhỏ Theo (WHO) Tổ chức Y tế thế giới có 39 triệu người nhiễm sán lá gan và hơn 550 triệu người có nguy cơ nhiễm và Việt Nam có ít nhất 10 loài cá nước ngọt có thể nhiễm ấu trùng sán

lá gan nhỏ, tỷ lệ nhiễm cao thường thấy ở Cá mè trắng và Cá rô đồng

Các nghiên cứu về ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá gây bệnh cho con người ở Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung ở cá nước ngọt do tập tính ăn gỏi cá nước ngọt đã có từ lâu đời ở Việt Nam như ở Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, An Giang…

Kết quả nghiên cứu bước đầu của dự án Ký sinh trùng có nguồn gốc từ

cá cho thấy tại Nam Định cá nuôi nhiễm ấu trùng sán lá song chủ là 45,7%,

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đây là nơi có tập quán ăn gỏi cá cho nên tỷ lệ số người nhiễm sán lá truyền qua cá lên đến 65% Có trường hợp bệnh nhân được phát hiện mang trong người tới 4.834 sán lá ruột nhỏ và sán lá gan nhỏ

Đáng chú ý, đã phát hiện ấu trùng sán lá ruột và sán lá gan nhỏ thuộc

giống Heterophyopsis sp, Echinostoma, Procerovum sp., Clonorchis Looss

trên cá mè trắng và cá rôhu, cá trắm cỏ tại Ninh Bình cũng bị nhiễm với tỷ lệ 80%, cá nuôi và 86 - 95% cá tự nhiên Do đó việc các địa phương có tập tính

ăn cá gỏi một số loài cá như cá mè trắng, cá chép, cá trắm cỏ… có nguy cơ nhiễm một số loại sán lá là không tránh khỏi Việc nghiên cứu sự nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên một số loài cá nuôi là một việc làm cần thiết nhằm ngăn chặn sự rủi ro cho con người mắc phải ấu trùng sán lá song chủ khi ăn cá sống ảnh hưởng đến sức khỏe của con người

Xuất phát từ những nhu cầu thực tế và sự đồng ý của Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, Trung tâm nghiên cứu Quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch Bệnh Thủy sản khu vực miền Bắc - Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I Chúng tôi đã thực hiện đề tài

“Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại Thái Nguyên”

2 Mục tiêu đề tài

Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép, cá trắm

cỏ tại hai huyện Phú Lương và Phú Bình - Thái Nguyên

Xác định một số nguyên nhân chính gây nhiễm ấu trùng (metacercaria) sán lá song chủ - Trematoda các loài cá trên

Đề xuất một số giải pháp chính nhằm giảm thiểu mức độ nhiễm ấu trùng

(metacercaria) sán lá song chủ - Trematoda đối với cá nuôi tại Thái Nguyên

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3 Ý nghĩa của đề tài

- Thứ nhất đề tài đánh giá thực trạng mức độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép, cá trắm cỏ tại hai huyện Phú Lương và Phú Bình - Thái Nguyên

- Thứ hai đề tài nghiên cứu nguyên nhân gây ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm

ấu trùng sán lá song chủ, đồng thời đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm

thiểu mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Lớp sán lá song chủ (Trematoda)

1.1.1.1 Vị trí phân loại của một số loài sán trong lớp sán lá song chủ

Theo Looss, (1907) [35] lớp sán lá song chủ Trematoda có vị trí phân loại trong cây phân loại khoa học như sau:

Giới (Kingdom): Animalia (Động vật)

Ngành (Phylum): Platyhelminthes Schneider, 1873

Lớp (Class): Trematoda (Sán lá song chủ) Rudolphi, 1808

Bộ (Order): Opisthorchiida La Rue, 1957

Họ (Family): Opisthorchiidae Lìhe, 1911

Giống (Genus): Clonorchis Looss, 1907

Loài (Species): C Sinensis Cobbold, 1875

Bộ Fascolata Skrjanbin et Shulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955

Họ Galactosomidae Looss, 1899 Loài Haplorchis pumilio Looss, 1899 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905

Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955

Họ Galactosimidae Morosov, 1950 Giống Haplorchis Looss, 1899 Loài Haplorchis taichui Nishigori, 1924 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955

Họ Galactosimidae Morosov, 1950 Giống Procerovum Onji et Nishio, 1924 Loài Procerovum sp

Bộ Opisthorchida La Rue, 1957 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955

Họ Heterophyidae Odhner, 1914 Giống Centroestus Looss, 1899 Loài Centrocestus formosanus Nishigori, 1924

Sán lá song chủ nhỏ hoặc sán lá gan nhỏ ấu trùng có tên gọi là

metacercaria Loài sán này có vòng đời sống ký sinh trên các loại ốc hoặc

nhuyễn thể, vật chủ trung gian thứ hai có thể là cá, hoặc động vật có vú trong

đó có cả con người Loài ốc nước ngọt có tên Parafossarulus manchouricus (hoặc: Parafossarulus striatulus) là ký chủ đầu tiên của sán Bên cạnh đó còn

có một số loại ốc nước ngọt khác cũng là ký chủ của sán lá gan nhỏ như:

Bithynia longicornis (hoặc: Alocinma longicornis) - ở Trung Quốc Bithynia fuchsiana - ở Trung Quốc

Bithynia misella - ở Trung Quốc

Parafossarulus anomalosiralis - ở Trung Quốc

Melanoides tuberculata - ở Trung Quốc

Semisulcospira libertina - ở Trung Quốc

Assiminea lutea - ở Trung Quốc

Tarebia granifera - ở Đài Loan, Trung Quốc (WHO, 1995) [44]

Lớp sán lá song chủ có tổng số khoảng 3.000 loài, chúng được phân

thành hai lớp phụ Aspidogastraea và Digenea dựa vào cấu tạo ngoài của cơ

thể sán có mặt của giác bám bụng hay không

- Lớp phụ Aspidogastraea: Sán lá song chủ thuộc lớp phụ Aspidogastraea

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

không có giác bám bụng mà chỉ có đĩa bám ở mặt bụng, phát triển qua biến thái nhưng không có xen kẽ thế hệ Kích thước nhỏ hơn 1 mm Sán lá song chủ thuộc lớp phụ này ký sinh ở trên cơ thể cá, trai trai, rùa Đại diện cho

lớp phụ này là: Loài sán Aspidogaster conchicola ký sinh ở trong xoang tim của trai nước ngọt Ananodonta

- Lớp phụ Digenea: Sán lá song chủ thuộc lớp phụ Digenea có cấu tạo

cơ thể bao gồm 2 giác bám, giác ở miệng và giác ở bụng Các loài sán ở lớp

phụ Digenea phát triển có sự xen kẽ thế hệ và thay đổi vật chủ Đại diện phổ biến là các loài: (1) Sán lá gan lớn (Fasciola hepatica) sống ký sinh trong ống

mật của trâu, bò, cừu, dê, gây bệnh nặng cho vùng chiêm trũng Vật chủ trung

gian của sán lá gan lớn là ốc tai Lynaea swihoei; (2) Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu (Fasciolopsis buski) sống ký sinh trong ruột non của lợn và ruột tá của

người Mỗi ngày sán lá ruột lợn có thể đẻ ra 5.000 trứng, phát triển qua 3-7

tuần, vật chủ trung gian của sán lá ruột lợn là ốc đĩa dày Polypilis

hemisphoerula Kén của sán bám trên bề mặt của bèo Nhật bản, rau lấp, rau

muống phổ biến ở vùng đồng bằng Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu ký sinh trên lợn gây bệnh tắc ruột, phù gan thiếu máu và giảm hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi; (3) Sán lá gan nhỏ sống ký sinh trong ống dẫn mật của người, mèo, chó… Người bị nhiễm bệnh do ăn gỏi cá, triệu chúng phù gan, vàng da, viêm

túi mật sán phát triển qua 2 vật chủ trung gian là ốc Melanoides tuberculatus hay ốc Parafossarulus striatulus và vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá trong

họ cá chép (chép, trắm cỏ, mè trắng, rô phi… ) Bệnh khá phổ biến ở Việt Nam, vùng đồng bằng hay Tây nguyên; (4) Sán máu có 3 loài phổ biến là

Schistosoma haematobium (ký sinh ở bọng đái của người gây đái ra máu); S mansoni (ký sinh ở ruột người và vật nuôi gây bệnh lở loét ruột); S japonicum

(sống ký sinh ở gan của người và vật nuôi gây sưng gan, lách) Bệnh gan do

sán máu S japonicum rất phổ biến trên thế giới, theo thống kê hiện nay có

khoảng 200 triệu người bị nhiễm bệnh và hàng năm có khoảng 800.000 người

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bị chết (WHO, 1995) [44] Sán tuyến tuỵ (Eurytrema pancreayticum, E

coelomaticus, E tonkinensis)

Nhìn chung các loại sán lá song chủ trên có vòng đời phát triển qua hai vật chủ trung gian, giai đoạn trưởng thành đều ký sinh trên người và động vật gây bệnh cho vật chủ bằng cách chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ Tuy các loài sán lá song chủ có vòng đời phát triển phức tạp, và trải qua nhiều giai đoạn với nhiều vật chủ trung gian Nhưng chúng ta chỉ cần phá vỡ một khâu trong vòng đời phát triển của sán lá song chủ thì sẽ loại bỏ được sự lây truyền

ấu trùng sán sang người và vật nuôi Chính vì vậy chúng ta cần tìm cách để hạn chế sự lây truyền của sán từ vật chủ trung gian sang người và vật nuôi

1.1.1.2 Đặc điểm sinh học sán lá song chủ Trematoda

Sán lá song chủ Trematoda được phát hiện lần đầu tiên bởi MacConnell ở

Ấn Độ và MacGregor ở Mauritius vào năm 1874, khi giải phẫu một người Trung Quốc bị tử vong do bệnh gan Sau đó các nhà khoa học điều tra thấy sán tập trung rất nhiều ở Trung Quốc và Nhật Bản có đến 56 - 67% người dân bị nhiễm sán Năm 1890, Park lần đầu tiên phát hiện trường hợp nhiễm sán ở Mỹ do một

người Trung Quốc nhập cư Sau nhiều điều tra nghiên cứu, lần đầu tiên sán lá C

sinensis được mô tả chi tiết vào năm 1917 bởi Watson dài từ 10 - 20 mm, trứng

kích thước dài 28 - 30 m, rộng 15 - 17 m (Watson, 1917) [27]

Sán lá gan nhỏ ký sinh trên cơ thể người gây bệnh trên gan Lớp sán lá

song chủ (Trematoda) nói chung gây bệnh phổ biến cho con người tại khu

vực Đông Nam Á trong đó có cả ở Việt Nam, gần đây các nhà khoa học còn

tìm thấy trường hợp bị nhiễm sán lá gan C sinensis tại Iran (Mitra và cs,

2007) [37] Theo thống kê của WHO hiện nay chỉ tính riêng khu vực Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á có khoảng 30.000 người bị nhiễm sán lá gan (WHO, 1995) [44] Con người bị nhiễm bệnh sán lá song chủ do ăn phải cá hoặc các loại thủy sản chưa chín kỹ Sán lá trưởng thành sống trong cơ thể người, trứng sán theo phân người bài tiết ra ngoài môi

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trường và lây nhiễm cho ốc, chúng sinh sản nhanh trong ốc (đây chính là giai đoạn trung gian) Sau đó chúng bơi tự do, ấu trùng giải phóng ra ngoài lây

nhiễm cho cá Cá chép (Cyprinus carpio) và nhất là cá trắm cỏ

(Ctenopharyngodon idellus) là những đối tượng mang ấu trùng sán lá metacercaria rất nhiều và trực tiếp truyền bệnh sang người thông qua thức ăn

(Rohela và cs, 2006 [40]; Trương Thị Hoa và cs, 2009 [8])

1.1.1.3 Cấu tạo cơ thể sán lá song chủ Trematoda

Theo Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang (2005) [1] cấu tạo cơ thể sán lá

song chủ Trematoda trưởng thành có những đặc điểm chính như sau:

Hình 1.1 Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ

A Sơ đồ chung; A - G Biểu hiện ở Sán lá gan lớn

1 Giác miệng; 2 Hầu; 3 Thực quản; 4 Lỗ sinh dục; 5 Giác bụng; 6 Tuyến noãn hoàng; 7 Ống Laurer; 8 Ôôtyp; 9 Ống noãn hoàng; 10 Nhánh ruột;

11 Tuyến tinh; 12 Bọng đái; 13 Tử cung; 14 Ống dẫn tinh; 15 Tuyến vỏ;

16 Túi nhận tinh; 17 Tuyến trứng; 18 Cơ quan giao phối; 19 Đĩa bám

(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Cơ thể sán lá song chủ thường dẹp hình trứng, hình lá đối xứng hai bên hoặc không đối xứng, một số cơ thể còn chia làm 2 phần trước sau, có giống loài mặt lưng hơi cao Kích thước cơ thể sai khác rất lớn khoảng 0,5 - 1

mm nhưng cá biệt có thể trên 10 mm Khi sán ký sinh trên người có kích thước dài 10 - 20 mm, chiều ngang từ 2 - 4 mm (Ký sinh trùng, 1997) [2] Cơ thể trong, không màu, cá biệt có màu đỏ của máu do màu máu Bề mặt cơ thể trơn, một số giống loài trên bề mặt có móc hoặc các mấu lồi Sán lá có 2 giác bám, một giác bám bụng và một giác bám miệng Ngoài giác bám còn có các gai cuticun giúp cho sán bám chắc hơn Thường giác hút miệng tương đối nhỏ (500 mc) ở phía trước cơ thể, giác hút bụng nhìn chung lớn hơn giác hút miệng (600 mc) (Ký sinh trùng, 1997) [2]

- Thành cơ thể cấu tạo theo kiểu mô bì chìm, tầng cuticun dày bao ngoài cơ thể, lông tiêu giảm Lớp ngoài cùng của sán lá song chủ là một lớp nguyên sinh chất hợp bào dày hơn sán lá đơn chủ, rải rác có giống loài có móc là cơ quan bám bổ sung, lớp này còn để chống lại tác dụng của dịch tiêu hoá của ký chủ và hấp thụ dinh dưỡng Lớp tiếp theo là lớp nguyên sinh chất chìm trong đó có 3 lớp cơ: cơ vòng, cơ dọc, cơ xiên

- Hệ tiêu hoá: Hệ tiêu hóa của sán lá song chủ trưởng thành bao gồm có miệng, hầu, thực quản, ruột Bắt đầu bằng lỗ miệng nằm ở đáy giác miệng Đại

bộ phận miệng ở chính giữa giác hút trước Hầu do tế bào cơ và tế bào tuyến của

cơ thể cấu tạo thành Miệng đổ vào hầu có thành cơ khoẻ Tiếp theo là thực quản hẹp, ngắn Ruột giữa của sán chia làm 2 nhánh, chạy dọc 2 bên cơ thể và bịt kín

ở tận cùng Sán lá song chủ trưởng thành ăn thức ăn trong ruột và máu của vật chủ, tiêu hoá nội bào là chính Một số giống loài sán lá song chủ có hậu môn

- Hệ bài tiết: Sán lá song chủ có hệ bài tiết là nguyên đơn thận, gồm có 1 -

2 ống chạy dọc cơ thể Ống dọc có nhiều ống nhánh nhỏ chạy ra 2 bên và kết thúc là tế bào ngọn lửa Hai ống bài tiết đổ vào bọng đái, ra ngoài qua lỗ bài tiết

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.2 Hệ bài tiết của Sán lá song chủ

(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]

- Hệ thần kinh: Sán lá song chủ có hệ thần kinh bao gồm đôi hạch não nằm trên hầu và các đôi dây thần kinh chạy dọc, thường là 3 đôi Dây thần kinh bên hoặc dây thần kinh bụng phát triển hơn cả

Hình 1.3 Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse)

(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Sán lá song chủ tiêu giảm các giác quan, chúng tiêu giảm để thích nghi phù hợp với vòng đời ký sinh trong vật chủ

- Hệ sinh dục: Sán lá song chủ trừ một số họ như Schistomatidae,

Didymozoidae còn lại đều có hệ thống sinh dục lưỡng tính, đực cái trên cùng

một cơ thể So với sán lá đơn chủ, sán lá song chủ có hệ thống sinh dục đa dạng hơn

+ Cơ quan sinh dục đực: Gồm 1 - 2 tuyến tinh lớn chiếm gần hết thân còn gọi là tinh hoàn, có hai ống dẫn tinh nhỏ chạy về phía trước, tập trung với nhau thành ống phóng tinh và tận cùng là cơ quan giao phối nằm trước giác bụng

+ Cơ quan sinh dục cái: Cơ quan sinh dục cái nằm ở khoảng giữa thân, bao gồm tuyến trứng, từ tuyến trứng có ống dẫn trứng ngắn đổ vào khoang bé gọi là ôôtyp Từ khoang ôôtyp đi ra là tử cung uốn khúc chạy đến lỗ sinh dục cái cạnh lỗ sinh dục đực trong huyệt sinh dục Tử cung là một ống ngoằn nghèo gấp khúc Tuyến noãn hoàng ở hai bên cơ thể đổ vào hai nhánh nhỏ sau

đó hợp thành bầu rồi dẫn đến khoang ôôtyp để làm vỏ Khoang ôôtyp có túi nhận tinh Thể melít có dạng hình tròn gồm nhiều tế bào bao quanh ôôtyp

- Quá trình thụ tinh xẩy ra như sau: Noãn từ tuyến trứng được chuyển vào ôôtyp khi giao phối, tinh trùng từ huyệt sinh theo tử cung vào ôôtyp và gặp noãn Lượng tinh trùng thừa được thải ra ngoài theo ống Laurer Tế bào noãn hoàng theo ống dẫn vào ôôtyp, bao quanh trứng, tuyến vỏ hình thành lớp

vỏ cứng Trứng sau đó chuyển ra ngoài theo tử cung

1.1.1.4 Vòng đời phát triển của sán lá song chủ

- Sinh sản: Sán lá song chủ sinh sản hữu tính ở vật chủ chính và sinh sản vô tính nhờ các tế bào mầm trong cơ thể ấu trùng Sán lá song chủ đẻ trứng, giao phối trên cùng một cơ thể Trứng sán có kích thước nhỏ nhưng số

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng nhiều Sán lá song chủ từ trứng phát triển thành, cơ thể trưởng thành phải qua một quá trình phát dục phức tạp qua nhiều giai đoạn Quá trình phát triển của sán lá song chủ có hiện tượng xen kẽ thế hệ và di chuyển vật chủ (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [13]

- Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ, theo Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang (2005) [1] mô tả vòng đời phát triển của sán lá song chủ bao gồm 4 giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn ấu trùng miracidium: Trứng sán lá song chủ sau khi đã

được thụ tinh rơi vào nước nở ra thành ấu trùng có tên gọi miracidium, ấu

trùng có lông tơ và điểm mắt Phần trước cơ thể ấu trùng có tuyến đầu, đoạn sau cơ thể có một đám tế bào mầm có ống tiêu hoá đơn giản Hệ thần kinh và

bài tiết của ấu trùng miracidium không phát triển Miracidium không ăn, sống

tự do trong nước nhờ glycogen dự trữ nên ấu trùng chỉ bơi một thời gian sau

đó nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biểu mô xâm nhập vào tổ chức gan của cơ thể ốc nước ngọt Ở trong cơ thể ký chủ trung gian thứ nhất (ốc nước

ngọt), ấu trùng miracidium mất lông tơ, mất điểm mắt và ruột biến thành bào nang sporocyste

+ Giai đoạn ấu trùng bào nang sporocyste: Ấu trùng bào nang sporocyste có hình tròn hay hình túi, bề mặt có khả năng thẩm thấu dinh

dưỡng Bào nang sporocyste có thể xoang lớn, chúng tiến hành sinh sản đơn tính (vô tính) rất nhanh cho nhiều ấu trùng redia

+ Giai đoạn ấu trùng redia: Ấu trùng redia hình túi có thể di động, cấu

tạo cơ thể có hầu và ruột dạng hình túi ngắn Ấu trùng redia lớn lên, phá

màng của bào nang để ra khỏi tổ chức gan rồi di chuyển đến cơ quan tiêu hoá

của ốc Cơ thể ấu trùng redia phát triển dài ra, hầu và ruột phát triển, có hai ống bài tiết Phía sau cơ thể ấu trùng redia có một đám tế bào mầm tiến hành

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sinh sản đơn tính cho nhiều ấu trùng cercaria Có chủng loại sán lá song chủ không qua giai đoạn ấu trùng redia mà phát triển trực tiếp qua cercaria

Còn một số giống loài ấu trùng cercaria sau khi tách khỏi cơ thể redia

hình thành bào nang (kén) ngay trong cơ thể ốc hoặc chui ra nhưng lại tiếp tục

xâm nhập vào cơ thể ốc đó Cercaria rời khỏi cơ thể ốc ra ngoài, nhờ có đuôi

mà có thể hoạt động tự do trong nước Sau một thời gian, cercaria bám vào lá cây thuỷ sinh rụng đuôi, kết vỏ cứng tạo thành bào xác (abdocercaria) Cũng

có khi cercaria có phần đầu kết vỏ trong suốt nằm trong nội quan của vật chủ trung gian thứ hai trước khi vào vật chủ chính (được gọi là metacercaria)

Các giống loài sán lá song chủ lấy cá là ký chủ trung gian thứ 2, đa số

ấu trùng cercaria chủ động xâm nhập vào cơ thể cá và hình thành

metacercaria, một số ít giống loài ngoài môi trường, ký chủ cuối cùng trực

tiếp nuốt bào nang metacercaria

Dạng cercaria hay metacercaria đều là dạng nhiễm bệnh sán lá gan ở

trâu bò và các loại vật nuôi khác Khi trâu bò ăn cỏ, hoặc vật nuôi ăn phải ấu trùng sán lá song chủ bào xác vào ruột và tại ruột vật chủ thứ hai vỏ bào xác

sẽ bị dịch tiêu hoá của vật chủ phân huỷ, sau đó sán lá song chủ non được giải phóng, chúng di chuyển theo ống mật vào gan và sống ký sinh ở trong đó

+ Giai đoạn ấu trùng metacercaria: Ấu trùng metacercaria do có vỏ

bao lại, cơ thể nằm trong bào nang nên không vận động Kích thước ấu trùng

metacercaria khoảng 0,19 - 0,25 x 0,15 - 0,22 mm (Sohn, 2009) [42] Tuy có

vỏ bao bọc nhưng ấu trùng có ấu tạo cơ thể phát triển gần với trùng cơ thể sán

lá song chủ trưởng thành

Cấu tạo ngoài: Bề mặt cơ thể ấu trùng metacercaria có các bộ phận

móc, có giác miệng, giác bụng, lỗ miệng và lỗ bài tiết

Cấu tạo trong: Ấu trùng metacercaria có cơ quan tiêu hoá, cơ quan bài

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tiết, thần kinh và cơ quan sinh dục Hệ thống sinh dục của một số giống loài phát triển còn đơn giản nhưng cũng có giống loài cơ quan sinh dục đực cái đã hoàn chỉnh, thậm chí đã có lúc trong cơ quan sinh dục cái đã có trứng xuất

hiện Ấu trùng Metacercaria cùng với ký chủ trung gian thứ hai hoặc vật môi

giới bị ký chủ sau cùng ăn vào trong ống tiêu hoá do tác dụng của dịch tiêu hoá, vỏ bọc vỡ, ấu trùng thoát ra ngoài di chuyển đến cơ quan thích hợp của

ký chủ phát triển thành trùng trưởng thành

Quá trình phát triển của sán lá song chủ yêu cầu ký chủ trung gian nhất định, ký chủ trung gian thứ nhất là ốc, ký chủ trung gian thứ hai hoặc ký chủ cuối cùng thường là động vật nhuyễn thể, động vật có đốt, giáp xác, côn trùng, cá, lưỡng thê, bò sát, chim và động vật có vú Có giống loài yêu cầu đến 3 - 4 ký chủ trung gian

- Nhìn chung chu kỳ phát triển của sán lá song chủ ký sinh trên người

và vật nuôi được chia làm hai hình thức chính:

* Có một ký chủ trung gian:

+ Ấu trùng cercacia đi trực tiếp vào ký chủ cuối cùng như sán máu cá + Ấu trùng cercacia ra ngoài môi trường hình thành bào nang ấu trùng metacercaria bám trong các cây thực vật thuỷ sinh thượng đẳng, ký

chủ cuối cùng ăn vào phát triển thành trùng trưởng thành như sán lá ruột lợn (sán bã trầu)

+ Ấu trùng cercaria không ra khỏi ký chủ trung gian thứ nhất mà ở trong đó hình thành bào nang metacercaria ví dụ sán lá gan lớn ở trâu bò

* Có hai ký chủ trung gian:

+ Cả hai ký chủ trung gian là nhuyễn thể

+ Ký chủ trung gian thứ hai là các loài giáp xác hay côn trùng, lưỡng thê hoặc cá nước ngọt

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.4 Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá

(Nguồn: Dự án FIBOZOPA)

Để hoàn thành vòng đời, các giai đoạn phát triển cần các điều kiện nhất định nên xác suất để sán lá song chủ xâm nhập được vào vật chủ thích hợp và kết thúc vòng đời là không cao Bởi vậy, sán lá song chủ nói chung cần phát triển cơ quan sinh dục để hình thành nhiều trứng, sinh sản đơn tính làm tăng nhanh số lượng ấu trùng để tăng xác suất gặp vật chủ

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh sán lá song chủ

Metacercaria của sán lá song chủ sống ký sinh trong cơ thể cá nước

ngọt (Pseudorasbora parva), chúng có thể tồn tại ở nhiệt độ -120C trong thời gian 10 - 20 ngày, ở nhiệt độ -200C trong thời gian 3 - 7 ngày, hoặc trong môi trường muối với nồng độ cao (cá/muối = 10 gm/gm3) ở nhiệt độ 260

C trong thời gian 5 - 15 ngày và vẫn có khả năng cảm nhiễm Những phát hiện này

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cho thấy rằng cá nước ngọt đông lạnh hoặc lưu trữ trong muối có nồng độ cao

có thể không hiệu quả trong công tác phòng chống bênh sán lá ở người Tuy nhiên cá ướp lạnh, hoặc được lưu trữ ở trong muối có nồng độ cao trong một thời gian dài hơn thì có thể diệt được mầm bệnh

Sán lá gan gây tổn thương nghiêm trọng ở gan, có thể dẫn đến xơ gan,

cổ chướng và gan thoái hóa mỡ Vị trí ký sinh và kích thước của sán dễ gây hiện tượng tắc mật, dần dần biến chứng nhiễm trùng, tạo điều kiện để ung thư gan phát triển Sán không những gây những kích thích thường xuyên đối với gan mà còn chiếm thức ăn và gây độc (Ký sinh trùng, 1997) [1]

Độc tố của sán tiết ra có thể gây nên các tình trạng dị ứng, đôi khi có thể gây thiếu máu, tăng bạch cầu toan tính Nếu sán ký sinh ở vị trí nào sẽ tăng kích thước ở đó và dễ gây tắc Ở gan có sán ký sinh to ra rõ rệt có thể lên tới 4 kg (gan người bình thường 2,3 - 2,4 kg) Ở bề mặt gan có những điểm phình giãn, những chỗ phình giãn thường có màu trắng và nhạt, tương ứng với sự giãn nở của các ống mật Nếu cắt những điểm phình giãn sẽ thấy chảy

ra một dịch màu xanh xám (Ký sinh trùng, 1997) [1]

Biểu hiện lâm sàng của bênh sán lá gan nhỏ phụ thuộc nhiều vào cường

độ nhiễm và phản ứng của vật chủ Trong trường hợp nhiễm ít có khi không

có triệu chứng gì đặc biệt Giai đoạn khởi phát người bệnh bị mắc bệnh sán lá gan nhỏ thường bắt đầu với các biểu hiện của rối loạn dạ dày, ruột, có hiện tượng chán ăn, ăn không tiêu, đau âm ỉ vùng gan, tiêu chảy hoặc táo bón thất thường Kèm theo có thể thấy toàn thân phát ban, nổi mẩn Giai đoạn sau người bệnh đau vùng gan nhiều hơn, kèm theo thiếu máu, vàng da và cổ trướng, có thể xuất hiện ở giai đoạn muộn Nếu mắc bệnh bội nhiễm do vi khuẩn, bệnh nhân có thể sốt thành từng cơn hoặc sốt kéo dài

Ở trong ống dẫn mật, sán gây ra một phản ứng viêm, biểu mô tăng sản

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

và đôi khi thậm chí gây xơ gan, tỷ lệ mắc trong đó được nâng lên ở các vùng

bị nhiễm sán

Một bất lợi ảnh hưởng của người mắc bệnh gan là khả năng các sán lá trưởng thành tiêu thụ tất cả các mật tạo ra trong gan, trong đó sẽ hạn chế tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là chất béo Một khả năng khác là tắc nghẽn của ống mật do ký sinh trùng hoặc trứng của nó, dẫn đến tắc nghẽn đường mật và viêm đường mật (đặc biệt là viêm đường mật phương Đông)

Những tổn thương ở từng vị trí của gan có thể dẫn đến xơ hóa toàn bộ gan Ngoài những thương tổn ở gan, tuy cũng có thể có những hiện tượng xơ hóa, tăng sinh và thoái hóa Lách có thể bị to, tăng sinh phát triển để tăng sản xuất máu để bù đắp cho cơ thể Về công thức máu, bạch cầu toan tính chiếm tỉ

lệ từ 20 - 40%, kèm theo hiện tượng tăng bạch cầu (Ký sinh trùng, 1997) [1]

Giai đoạn toàn phát của bệnh sán lá gan, bệnh nhân có biểu hiện rõ rệt hơn Bệnh nhân bị thiếu máu, gầy sút, phù nề và đôi khi có hiện tượng sốt thất thường Xét nghiệm máu thấy hồng cầu giảm xuống còn khoảng 2 triệu, huyết cầu tố có thể giảm xuống tới 20% Biểu hiện phù nề bắt đầu từ những chi dưới, sau trở thành phù nề toàn thân với những triệu chứng của bệnh Bêri-

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bêri (bệnh Bêri-Bêri: tê bì, nhược cơ, mỏi cơ, đau cơ, đây là một bệnh tê phù

do thiếu vitamin B1 làm rối loạn chuyển hóa gluxit) Thể trạng bệnh nhân gầy sút nhanh chóng và giảm cân rõ rệt, bệnh nhân còn có thể chảy máu cam, nôn

ra máu và có những rối loạn tim mạch khác Trong trường hợp bệnh nhân bị

nhiễm sán Clonorchis sinensis lại bị bội nhiễm do vi khuẩn thì sẽ có hiện

tượng sốt kéo dài hoặc sốt kiểu sốt rét

Bệnh nhân bên cạnh những biểu hiện trên, còn có những triệu chứng về gan Vùng gan đau âm ỉ nhưng có khi đau rất dữ dội Bệnh nhân bị vàng da nhẹ, phân có thể trắng, nước tiểu màu vàng sẫm Những biểu hiện này rất giống hội chứng vàng da ứ mật

Xét nghiệm phân tìm trứng sán là biện pháp đơn giản nhưng có tính chất khẳng định việc mắc bệnh, trường hợp nhiễm ít cần phải xét nghiệm dịch

tá tràng Trong trường hợp không tìm thấy trứng sán, các xét nghiệm miễn dịch cuối cùng, xét nghiệm nước tá tràng với hình ảnh siêu âm có giá trị chẩn đoán Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan có giá trị trong việc đánh giá thương tổn và tiên lượng bệnh

Nếu bệnh nhân bị nhiễm sán lá song chủ không được can thiệp điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hiện tượng xơ gan Theo báo cáo của Lương Bá Cường thì 33% bệnh nhân mắc bệnh này bị xơ gan (Ký sinh trùng, 1997) [1]

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Giai đoạn 1959 - 1961 các nhà khoa học đến từ Liên Xô đã tiến hành nghiên cứu tình hình nhiễm ký sinh trùng trên các loài cá nước mặn ở Việt Nam Năm 1988 - 1989, hai nhà khoa học Sey (Tiệp Khắc cũ) và Moravec (Hungari) đã nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá, giun tròn, giun đầu móc ở một số loài cá nước ngọt của nước ta (Hà Ký, 1968) [10]

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.5 Phân bố tình hình nhiễm sán lá gan Clonorchis/Opisthorchis

ở Việt Nam tính đến năm 2002

(Nguồn: Nguyễn Văn Đề, 2004) [38]

Giai đoạn 1960-1968, Hà Ký đã tiến hành điều tra ký sinh trùng trên 16 loài cá nước ngọt nuôi trên miền Bắc Việt Nam, tác giả đã công bố số lượng

120 loài ký sinh trùng, trong đó có 41 loài mới, 01 giống mới, 01 họ phụ mới đối với khoa học bệnh trên thủy sản (Hà Ký, 1966 [1]; 1968 [10])

Năm 1976 tác giả Nguyễn Thị Muội và cs (1976) đã tiến hành điều tra giun đầu móc ở một số loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở Đồng bằng Bắc bộ, kết quả cho biết hầu hết các loài cá nước ngọt ở khu vực điều tra đều mang ký sinh trùng giun đầu móc

Theo tác giả Bùi Quang Tề (1984) [16] đã điều tra khu hệ ký sinh trùng

ký sinh trên sáu loài cá chép được nuôi ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ Tác giả

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phan Thị Vân và cs (2007) [20] cũng nghiên cứu các loại sán lá truyền qua cá trên hệ thống sông Hồng của miền Bắc cho biết ngoài sán lá gan nhỏ

Clonorchis sinensis được tìm thấy còn có nhiều loài sán lá khác trên các loại

cá Từ năm 1981 - 1985, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa (1986) [14] đã tiến hành điều tra thành phần giống loài ký sinh trùng sống ký sinh trên cá nước ngọt của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên nước ta Kết quả nghiên cứu đã phát hiện và phân loại được 117 loài ký sinh trùng, trong đó lớp sán đơn chủ

(Monogenea) chiếm số lượng loài đáng kể so với tổng số loài ký sinh trùng

trên cá nước ngọt

Tác giả Nguyễn Văn Đề (2004) [38] cho biết trong các điều tra giai đoạn 1976 - 2000 trên 15 tỉnh thành ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên

người do giống Clonorchis hoặc Opisthorchis gây ra rất cao dao động từ 0,2 -

37,5%, trung bình 21% Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở các tỉnh Nam Định: 3 - 37,5%; Phú Yên: 36,9%; Bắc Giang: 16,3%; Ninh Bình 20 - 30%; Hà Tây 16%; thấp nhất là Thái Bình 0,2% và Hà Giang 0,6% Trong đó tỷ lệ nhiễm ở nam giới cao gấp 3 lần nữ giới, người lớn cao hơn trẻ em và cao nhất ở giai đoạn tuổi 40 - 50 chiếm 50,2 - 51,6% Điều này cho thấy người dân có thói quen ăn cá chưa chín kỹ hoặc ăn gỏi cá là thói quen không tốt và làm tăng tỷ

lệ nhiễm sán lá gan Điều tra cũng cho biết giống sán lá gan phổ biến ở các

tỉnh miền Bắc nước ta trong đó chủ yếu là loài sán C sinensis, giống

Opisthorchis phổ biến ở các tỉnh miền Nam nước ta

Theo tổng kết của Bùi Quang Tề và các cộng sự từ nghiên cứu ký sinh trùng của một số tác giả trong và ngoài nước, cho đến nay (2001) ở Việt Nam

đã điều tra nghiên cứu ký sinh trùng trên 103 loài cá nước ngọt và nước lợ thuộc 31 họ, phát hiện và phân loại được 366 loài ký sinh trùng thuộc 128 giống, 18 lớp Trong đó có 1 họ phụ, 2 giống và 78 loài mới đối với công tác

nghiên cứu khoa học Nhiều nhất là lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) phát

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hiện 103 loài chiếm 28,14%; đứng thứ hai là lớp bào tử sợi (Cnidosporidea) gặp 46 loài chiếm 12,5%, lớp sán lá song chủ (Trematoda/ Nematoda) đứng

thứ ba gặp 45 loài chiếm 12,30% Các tác giả cũng cho biết rằng nhiều loài ký sinh trùng được tìm thấy trên cá với tỷ lệ nhiễm cao và nguyên nhân của tỷ lệ

tử vong lớn, đặc biệt là giai đoạn cá hương và cá giống (Bùi Quang Tề, 2001 [18]; Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2001 [11])

Giai đoạn 2001 đến 2010 có nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị về lĩnh vực ký sinh trùng trên thủy sản nói chung và sán lá song chủ trên cá nước ngọt nói riêng Công bố của Bùi Quang Tề (2001) [18] khi tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long và các giải pháp phòng trị chúng Tác giả nghiên cứu trên 3.217 cá thể của 41 loài cá kinh tế nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long đã phát hiện 157 loài ký sinh trùng, 70 giống, 46 họ, 27 bộ thuộc 12 lớp, 8 ngành Trong số 157 loài đã ký sinh trùng đã công bố, có 121 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề và cs (2003) [4] đã xác định được 6 loài cá nước ngọt là ký chủ trung gian thứ hai của sán lá gan và tỷ lệ nhiễm của chúng như sau: cá mè trắng là 44,5%; cá rô đồng 32%; cá chép 25%; cá diếc 15,6%; cá trôi 13,3% và cá trắm cỏ 13,9%

Tác giả Lê Ngọc Quân (2005) [15] đã tiến hành kiểm tra 205 cá thể bao gồm 130 cá rôhu và 75 cá mè trắng tại Nam Định cho biết tỷ lệ nhiễm ấu

trùng metacercaria trên cá mè trắng và rôhu lần lượt là 47% và 33% Trong

đó vây cá là cơ quan được phát hiện nhiễm ấu trùng nhiều nhất trên cơ thể cá, lần lượt là 41,3 và 13,1% Tác giả cũng phát hiện ấu trùng của 6 loài sán lá

song chủ ký sinh bao gồm: H Taichui; H Pumilio; H Yokogawai;

Procerovum sp.; Exorchis sp và Centrocestus formosanus; sáu loài sán lá

song chủ này được định loại thuộc 2 bộ, 3 họ, 3 phân họ và 4 giống Trong đó

3 loài thuộc giống Haplchis là nguyên nhân gây bệnh sán lá cho người có tỷ

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao hơn giống khác được phát hiện

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề và cs (2007) [5] khi điều tra tình hình nhiễm sán lá gan qua cá ở hồ Thanh Trì (Hà Nội) và hồ Vị Xuyên (TP Nam Định) cho biết Trong bốn loại cá mè, cá chép, cá trắm và cá rô phi đều nhiễm

ấu trùng sán lá ruột nhỏ cả giai đoạn mới nuôi và giai đoạn thu hoạch Giai đoạn thu hoạch nhiễm ấu trùng sán với tỷ lệ cao nhất, tại hồ Thanh Trì tỷ lệ nhiễm chung là 6,5% với cường độ nhiễm trung bình là 0,423 ấu trùng/cá; tại

hồ Vị Xuyên tỷ lệ nhiễm chung là 5,72% với cường độ nhiễm trung bình là

0,246 ấu trùng/cá Thành phần ấu trùng thu được là Haplorchis pumilio và

Centrocestus formosanus ở hồ Thanh Trì; Haplorchis pumilio và Haplorchis taichui tại hồ Vị Xuyên

Bên cạnh đó Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Việt Nam) và Đại học Copenhagen (Đan Mạch) hợp tác triển trai dự án “Ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản ở Việt Nam” giai đoạn I (2004 - 2007) và đang thực hiện giai đoạn II (2008 - 2012) (FIBOZOPA, 2008) [7] Trong các hợp

phần báo cáo của dự án cho biết sán lá gan nhỏ C sinenesis và một số loại sán lá thuộc họ teterophyid đã nhiễm phối hợp với nhau tại Nam Định; tiến hành điều tra trên người thấy 51,5% người nhiễm C sinenesis và có đến

54,5% số người nhiễm phối hợp hai loại sán lá, số người nhiễm một loại sán

lá chỉ có 9% (Đỗ Trung Dũng, 2008) [3] Cũng tại Nam Định kết quả thấy tỷ

lệ nhiễm sán lá truyền qua cá là 64,9% bao gồm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ Sán lá gan nhỏ nhiễm qua cá ở Nam Định và Nghệ An được phân lập

chủ yếu là Clonorchis sinenesis, ngoài ra còn có Haplorchis pumilio, H

taichui, H yokogawai và Stellantchasmus falcatus (Nguyễn Văn Đề và cs,

2008) [6] Trong một báo cáo khác cho biết trong các loài cá giống thì cá

trắm cỏ là loài nhiễm ấu trùng sán lá gan C sinenesis nhiều nhất 60,9% cá

rohu 24,2%; mrigal 21,5%; mè trắng 25,8% và cá chim trắng ít nhất 8% (Phan Thị Vân và cs, 2008) [20]

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tác giả Trương Thị Hoa và Nguyễn Ngọc Phước (2009) [8] nghiên cứu cường độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại Thừa

Thiên Huế cho biết Ba loài metacercariae được xác định là Centrocestus

formosanus; Clonorchis sinensis và Haplorchis taichui, tỷ lệ nhiễm ấu trùng metacercariae trên cá chép là 65,4% và cá trắm cỏ là 55,8% Ấu trùng C sinensis chủ yếu ký sinh trong cơ của cá, tỷ lệ nhiễm C sinensis trên cá chép

là 27,5% và trên cá trắm là 24,6%

Như vậy ở Việt Nam các nghiên cứu về sán lá song chủ mới bước đầu thống kê được tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên một số loài cá nước ngọt Qua đây cho thấy (1) Hầu hết các loài cá nước ngọt ở các hệ thống sông, hồ của nước ta đều bị nhiễm ký sinh trùng; (2) Ấu trùng sán lá song chủ

Clonorchis sinensis ký sinh trên cơ các loài cá và lây cho người thông qua ăn

cá sống (gỏi) hoặc cá nấu chưa chín kỹ gây bệnh trên gan; (3) Cá chép và cá

trắm cỏ đều bị nhiễm ấu trùng sán lá song chủ C sinensis, tuy nhiên cường độ

nhiễm và tỷ lệ nhiễm ở mỗi khu vực khác nhau lại khác nhau; (4) Cần có những nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về mức độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ nói chung và các loài cá nước ngọt nói riêng ở nhiều địa phương để có những giải pháp hạn chế lây truyền sán lá gan từ cá sang người

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ký sinh trùng cá đã được nghiên cứu từ thời Lonnae (1707 - 1778) Ở Liên Xô cũ Dogiel (1882 - 1956) là người đặt nền móng cho nghiên cứu Ký sinh trùng sống trên các loài cá (Dogiel, 1962) [24] Bychowsky và các cộng

sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách: “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô” trong đó công trình đã mô tả hơn 2.000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá sớm nhất, toàn diện và đồ sộ nhất (Bùi Quang Tề, 1998 [17]; Gussev, 1983 [30])

Hình 1.6 Bản đồ dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ trên thế giới

(Nguồn: Nguyễn Văn Đề, 2004)

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cho thấy các loài sán

đơn chủ thuộc một số họ Dactyloyridae, Tetraonchidae có tính đặc hữu rất

cao, mỗi loài cá chỉ bị một số loài sán lá đơn chủ nhất định ký sinh, nghĩa là những loài sán lá đơn chủ chỉ ký sinh ở một ký chủ nhất định Nghiên cứu về sán lá đơn chủ, Gussev (1976) [29] cho rằng sự phân loại và tiến hóa của họ

Dactylogyridae, Ancylodiscoididadae, Diplozoonidae có liên hệ với ký chủ

của chúng Trên thực tế khoảng 7/10 sán lá đơn chủ (Monogenea) ở cá nước

ngọt ký sinh trên bộ cá chép và hầu hết giống cá chép là ký chủ của họ

Dactylogyridae và Diplozoonidae

Ký sinh trùng của động vật thủy sản đến nay (1998) chúng ta phân loại

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

được số lượng rất lớn và phong phú Chỉ tính ký sinh trùng trên các loài cá nước ngọt thuộc khu vực Liên Xô cũ, các nhà khoa học đã phân loại được hơn

2000 loài giai đoạn 1984 - 1985 (Bùi Quang Tề, 1998) [17]

Ở Trung Quốc việc nghiên cứu ký sinh trùng - bệnh cá và động vật thủy sản nói chung khá phát triển so với các nước Châu Á Về ký sinh trùng

có rất nhiều công trình nghiên cứu, chỉ riêng tỉnh Hồ Bắc tác giả Chen Chin Leu và cs (1973) [22] đã kiểm tra ký sinh trùng 50 loài cá nước ngọt, kết quả phân loại được 379 loài ký sinh trùng trong đó: Nguyên sinh động vật

(Protozoa) 159 loài, sán lá đơn chủ (Monogenea) 17 loài, sán lá song chủ (Trematoda) 33 loài, sán dây (Cestoidea) 10 loài, giun tròn (Nematoda) 21

loài, giun đầu móc (Acanthocepphala) 7 loài, đỉa cá (hirudinea) 2 loài, giáp xác (Crustacea) 29 loài Nếu tính riêng trên một số đối tượng nuôi chính thì:

Cá chép đã phát hiện được 61 loài ký sinh trùng sinh sống ký sinh, trắm đen

59 loài, trắm cỏ 71 loài, mè trắng 75 loài, cá diếc 75 loài

Theo Chang và Wang (1973) [21] công bố trong một báo cáo khảo sát

80 trường hợp tại Hong Kong, người mắc bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch thì có tới 19% tỷ lệ mắc sán lá gan Tác giả Kwang và Bang (2005) [34] cho biết khu vực Ulsan có tới 28,2% người bị nhiễm sán lá gan, nam giới cao hơn nữ giới rất nhiều 35,4% và 19,4% tương ứng

Công trình nghiên cứu của Rui Li và cs (2005) [41] cho biết kết quả điều tra ở các tỉnh khu vực phía Nam Trung Quốc chỉ có 46% người dân biết

về bệnh sán lá gan Trong tổng số người điều tra có đến 51% người ăn gỏi cá

từ 1 - 2 lần/tháng, chỉ có 8% số người ăn cá nấu chín kỹ, phần còn lại có thói quen ăn cá sốt hoặc ăn sống hình thức gỏi Công bố cho biết tỷ lệ trứng sán lá gan tìm thấy trong phân cao nhất ở mèo 70%, chó 50% và trên lợn 27%, ở cá nước ngọt tỷ lệ nhiễm là 40%

Tác giả Shin và Huang (2000) [33] cho biết tỷ lệ người bị nhiễm sán lá

gan C sinensis dưới mọi hình thức ở Đài Loan dao động từ 10 - 52%, cá biệt

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

có khu vùng lên đến 57% Ở khu vực các tỉnh phía Nam của Trung Quốc kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm trên người thấp hơn 31,61% và tập trung vào các độ tuổi 30 - 69 chiếm 45 - 50% và mức độ nhiễm rất cao ở nam giới (41,9%) ở nữ chỉ có 20,5% (Yu và cs, 2003) [45] Ở Hồng Kong tỷ lệ người

nhiễm sán C sinensis tập trung cao nhất ở độ tuổi 31 - 40 (68,75%) và độ tuổi

41 - 50 (20,6%), chủ yếu trên đối tượng nam giới trong đó nông dân là đối tượng nhiễm sán lá cao nhất 28,75% (Chang và Wang, 1973) [32]

Theo tác giả Park và cs (2001) [21] cho biết loài sán lá gan nhỏ

Clonorchis sinensis ở Hàn Quốc và Trung Quốc có bộ nhiễm sắc thể 2n = 56,

bao gồm 8 cặp nhiễm sắc thể lớn và 20 cặp nhiễm sắc thể nhỏ

Ở một số nước trong khu vực như Thái Lan công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của C.B Wilson, 1926 - 1927 thông báo

về hiện tượng rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt Thái Lan

và đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan

có một loài thuộc giống caligus ký sinh Cho đến nay khu hệ ký sinh trùng cá

nước ngọt ngày càng được chú ý Qua tổng kết, một số nguyên sinh động vật,

sán lá đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella,

Trichodina, Costia, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus… theo Tonguthai

(1992), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng lại ở đó mà đi sâu nghiên

cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do Opisthorchis

viverini ký sinh trong gan người Không những thế, khu hệ ký sinh trùng cá

Thái Lan ngày càng phong phú bởi sự bổ sung của ký sinh trùng cá nước mặn Năm 1981 L, Ruangpan đã viết cuốn sách đầu tiên về ký sinh trùng ký sinh ở

cá biển dọc theo bờ biển Thái Lan (Richard, 1996) [39]

Ở Indonesia năm 1952, sự ra đời của cuốn sách “Những dấu hiệu của những loại ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Indonesia” thực sự là bước ngoặt trong ngành ký sinh trùng học nước này Tác giả cuốn sách này là M.Sachlan

- nhà khoa học Indonesia đầu tiên nghiên cứu về ký sinh trùng cá ở Indonesia

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

[39] Theo Akhmad Rukyani, cho đến nay ở Indonesia bệnh ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự thiệt hại về kinh tế

đối với cá nuôi nước ngọt những bệnh ký sinh trùng như: Myxobolosis,

Trichodinosis, Lerbnaeosis, Ichthyophthyriosis, Gyrodactylosis trong đó Ichthyophthyriosis là bệnh ký sinh trùng quan trọng đối với cá Đối với bệnh

này sự điều trị bằng thuốc hóa học không mạng lại hiệu quả vì sự chết chóc luôn luôn xảy ra trước khi phép điều trị có hiệu lực (Richard, 1996) [39]

Ở Malaysia, trong giai đoạn 1861 - 1973, Furtado và Fernanda có báo cáo về phân loại và hình thái của một số giun sán ký sinh ở cá nước ngọt Malaysia Đến giai đoạn 1983 - 1987, Lim và các cộng sự khi nghiên cứu về

ký sinh trùng trên một số cá nước ngọt ở vùng bán đảo Malaysia, đã phát hiện

ra 54 loài Monogenea (Richard, 1996) [39] Cũng như ở Thái Lan và nhiều

nước khác khu hệ ký sinh trùng ở Malaysia ngày càng phong phú, sự nghiên cứu được chuyên sâu theo nhiều hướng khác nhau

Ở Singapore sán lá song chủ đã được phát hiện từ năm 1938 bởi Andrews và Shrimpton Sán lá gây bệnh nghiêm trọng trên người, tuy nhiên vòng đời và kích thức sán được mô tả chi tiết năm 1970 tương tự như các mô

tả đã biết (Cheah và cs, 1970) [21]

Ở Philipin từ năm 1947, Tubangui đã công bố về kết quả nghiên cứu

một số loài mới thuộc sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ

(Trematoda - Digenea), giun tròn (Nematoda) và giun đầu móc (Acanthocephala) Velasquez, (1958) đã đề cập đến sự phân loại và chu kỳ

sống của ký sinh trùng giun sán Năm 1975, Velasquez xuất bản cuốn sách về sán lá song chủ ở cá Philipin, tổng khóa phân loại sán lá song chủ “Digenetic trematodes of Philippin fishes” Đây là một tài liệu chuyên khảo có giá trị (Richard, 1996) [39]

Thái Lan là một trong các quốc gia Đông Nam Á có tập tính ăn sản phẩm thủy sản sống và có tỷ lệ người nhiễm sán lá cao Hầu hết số người

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiễm ấu trùng sán khi ăn các món chế biến từ cá chưa được nấu kỹ

V Wiwanit Kit và cs (2001) trường đại học Chulalong Korn, Bangkok, Thái Lan đã thí nghiệm về khả năng sống của ấu trùng trong các món nấu chưa

chín kỹ Các tác giả đã phân tích metacercaria ở 79 cá nước ngọt họ cá Chép

thu từ hồ chứa Huay Thalaeng, tỉnh Nakornrat Chasrima thì phát hiện có 16

con nhiễm metacercaria chiếm 20,6% 16 con này được chuẩn bị cho 8 đĩa cá

với các cách thức chế biến khác nhau: 2 con được sấy ở nhiệt độ phòng, 2 con được đưa vào đông lạnh ở 40

C, 2 con khác được đưa vào nhiệt độ -200 C, 2 con ngâm trong dung dịch NaCl 5%, 2 con ngâm trong dung dịch NaCl 10%, còn lại 2 con được ngâm trong nước nóng vài giây Sau đó cá được chế biến sơ cho trộn với các gia vị khác tạo thành món salat truyền thống Khả năng sống

sót của metacercaria trong mỗi đĩa salat cá được đánh giá qua kính hiển vi ở thời điểm bắt đầu, lặp lại 30 phút cho đến khi tất cả các metacercaria đều xuất

hiện thoái hóa Kết quả sau 8 giờ đối với cá làm lạnh

Ngoài ra một số nước như ấn Độ, có công trình nghiên cứu của Thapar,

1976 đã tổng kết về sán lá đơn chủ (Monogenea) có 100 loài ký sinh trùng ký

sinh ở các loài cá ấn Độ Năm 1973 - 1974 Gussev nghiên cứu 38 loài cá nước ngọt ấn Độ đã phát hiện 40 loài sán lá đơn chủ là loài mới đối với khoa học Gussev (1976) [29]

Ở Hàn Quốc có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực ký sinh trùng lây qua cá nói chung và sán lá song chủ gây bệnh gan lây qua cá nói riêng Tác giả Choi (1976)

[25] công bố kết quả điều tra tình hình nhiễm sán lá song chủ C sinensis trên các

loài cá nước ngọt ở Hàn Quốc cho biết hầu hết các loài cá nước ngọt đều bị

nhiễm ấu trùng C sinensis mức độ từ thấp đến cao Trong đó có cả cá trắm cỏ và

cá chép nuôi tại các khu vực điều tra, tỷ lệ nhiễm ở các loài cá sống trên sông cao hơn trong ao hồ Một nghiên cứu khác của Joo (1980) [23] cho biết tình hình

nhiễm C Sinensis ở các loài cá rất thấp 0 - 3,6% so với nhiễm các loại ấu trùng

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sán khác (E Oviformis; M Hasegawai; M Yokogawai)

Bảng 1.1 Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ ở một số nước trên thế giới Loài Quốc Gia Địa điểm điều tra Tỷ lệ nhiễm Tác giả

Clonorchis

sinensis

Triều Tiên 5 dòng sông chính 21,5% Seo, 1981 Triều Tiên Sông Nakdong 45,5% Seo, 1981 Triều Tiên Một số vùng 1,4 - 4,6% KAHP, 2004 Trung Quốc 24 tỉnh 1 - 57% Chen, 1994

Trung Quốc Vùng Korean 4,5% Xu, 1995 Trung Quốc Guangxi Zhuang 0,96% Xu, 1995 Trung Quốc Guangxi Zhuang 31,6% Yu, 2003 Trung Quốc Vùng Mongolian 1,8% Xu, 1995 Việt Nam Hải Phòng, Hà Nội 73% Rim, 1982 Việt Nam Ninh Bình 13,7 - 31% Nguyễn Văn Đề, 2003

Opithorchis

viverrini

Thái Lan Vùng Đông Bắc 79% Wykoff, 1965

Việt Nam Tỉnh Phú Yên 15,2 - 36,9% Nguyễn Văn Đề, 2003

Opithorchis

felineus

Nga Thành phố Tomsk >6% Rim, 1982 Nga Lưu vực sông Ob >95% Rim, 1982

Ucraina Lưu vực sông Dniper 5 - 40% Yossepowitch, 2004

Theo Lim và cs (2006) [36] cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan C sinensis

ở một số tỉnh của Hàn Quốc rất cao từ 2,1 - 31,3%, các tác giả tổng kết bốn yếu tố chính dẫn đến nhiễm sán lá gan cao đó là: nam giới, uống rượu, ăn gỏi

cá, và khu vực đó tập trung nhiều sán lá gan Nghiêm trọng nhất vẫn là nguyên nhân ăn gỏi cá sống nên ăn phải trứng sán là yếu tố chính làm tăng tỷ

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lệ nhiễm sán lá gan ở người

Kết quả công bố của Kim và cs (2008) [26] khi tiến hành nghiên cứu C

Sinensis trên các loài cá nước ngọt của Hàn Quốc cho biết, loài sán lá song

chủ C Sinensis có tới 17 phân loài khác nhau Mức độ nhiễm các phân loài

ấu trùng sán lá song chủ khác nhau từ 3,6% (Zacco platypus) đến 60%

(Pungtungia herzi) trên 21 loài cá điều tra trong đó có cá chép và cá trắm cỏ

Kết quả nghiên cứu của Sohn và cs (2009) [43] khi điều tra phân loại tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá nước ngọt các tỉnh phía Nam Trung Quốc cho biết, hầu hết các loài cá đều mang ấu trùng sán lá song chủ

Tìm thấy ấu trùng C sinensis trên cá trắm cỏ sống ở khu vực này Ấu trùng

metacercariae C sinensis tìm thấy trên cơ thể cá có kích thước 158 - 193

(182) x 153 - 183 (168) m, vỏ hình bầu dục ấu trùng bên trong vỏ hình chữ

V Ấu trùng C sinensis tìm thấy trên cá ở Thái Lan, Lào và Việt Nam cũng

cho kích thước tương tự 0,19 - 0,25 x 0,15 - 0,22mm (Sohn, 2009) [42]

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cá chép (Cyprinus cappio) và cá trắm cỏ

(Ctenopharyngodon idellus) nuôi trong ao và tự nhiên

- Ấu trùng sán lá song chủ metacercaria ký sinh trên cá chép và cá trắm

cỏ ở các giai đoạn cá bột đến cá trưởng thành

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm

- Địa bàn một số xã của huyện Phú Bình và Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

- Trung tâm nghiên cứu quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa

dịch bệnh thủy sản khu vực miền Bắc - Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I

2.2.2 Thời gian

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát tinh hình sinh trưởng và phát triển của cá chép và cá trắm cỏ nuôi tại các ao hồ trên địa bàn nghiên cứu

- Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ trên địa bàn nghiên cứu

2.4 Các chỉ tiêu theo dõi

- Chiều dài (cm); khối lượng (gram) của cá chép và cá trắm cỏ qua các giai đoạn cá bột, cá hương, cá giống và cá thịt

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ (ấu trùng/cá) trên cá chép các giai đoạn (cá bột, cá hương, cá giống và cá thịt) và trên các cơ quan

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ (ấu trùng/cá) trên

cá trắm cỏ các giai đoạn (cá bột, cá hương, cá giống và cá thịt) và trên các

cơ quan

Ngày đăng: 07/10/2014, 02:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Trần Bái, Nguyễn Văn Khang (2005), Động vật không xương sống, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật không xương sống
Tác giả: Thái Trần Bái, Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
2. Bộ môn ký sinh trùng - Trường đại học y Hà Nội (1997), Ký sinh trùng y học, Nxb Y học, Hà Nội, 1997, tr. 182 - 187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn ký sinh trùng - Trường đại học y Hà Nội
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1997
3. Đỗ Trung Dũng (2008), “Tình hình nhiễm sán lá ở đối tượng có nguy cơ cao tại hai xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, FIBOZOPA, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, số 7, tháng 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá ở đối tượng có nguy cơ cao tại hai xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, "FIBOZOPA, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Tác giả: Đỗ Trung Dũng
Năm: 2008
4. Nguyễn Văn Đề và cs (2003), “Ký sinh trùng có nguồn gốc thủy sản của Việt Nam, Đông Nam Á”, Tạp chí sức khỏe cộng đồng, số 34, tr. 11-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng có nguồn gốc thủy sản của Việt Nam, Đông Nam Á”, "Tạp chí sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Đề và cs
Năm: 2003
5. Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Thị Hợp và cs (2007), “Nghiên cứu sán lá truyền qua cá tại hồ Thanh Trì, Hà Nội và hồ Vị Xuyên, thành phố Nam Định”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 11, phụ bản số 2, 2007, tr. 98 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sán lá truyền qua cá tại hồ Thanh Trì, Hà Nội và hồ Vị Xuyên, thành phố Nam Định”, "Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Thị Hợp và cs
Năm: 2007
7. FIBOZOPA (2008), “Bản tin dự án Ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản ở Việt Nam” - Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, số 7, tháng 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin dự án Ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản ở Việt Nam” - "Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Tác giả: FIBOZOPA
Năm: 2008
9. Hà Ký (1966), Một số bệnh thường gặp ở cá giống và cách phòng trị, Nxb Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh thường gặp ở cá giống và cách phòng trị
Tác giả: Hà Ký
Nhà XB: Nxb Nông thôn
Năm: 1966
10. Hà Ký (1968), Khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt ở miền Bắc - Việt Nam và một số cách phòng trị, Luận án phó tiến sĩ sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt ở miền Bắc - Việt Nam và một số cách phòng trị
Tác giả: Hà Ký
Năm: 1968
11. Hà Ký và Bùi Quang Tề (2001), Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Hà Ký và Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
12. Hà Ký, Bùi Quang Tề (2007), Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Hà Ký, Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
13. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Quang Tuyên (1999) Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
14. Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa (1986), Điều tra ký sinh trùng cá nước ngọt các tỉnh miền Trung và phương pháp phòng trị, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học đại học Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ký sinh trùng cá nước ngọt các tỉnh miền Trung và phương pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa
Năm: 1986
15. Lê Ngọc Quân (2005), Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria trên cá rôhu, mè trắng nuôi tại xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, luận văn tốt nghiệp, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria trên cá rôhu, mè trắng nuôi tại xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Tác giả: Lê Ngọc Quân
Năm: 2005
16. Bùi Quang Tề và cs (1984), Khu hệ ký sinh trùng của 6 loài cá chép ở đồng bằng Bắc bộ, Báo cáo tại Hội nghị khoa học ngành thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ ký sinh trùng của 6 loài cá chép ở đồng bằng Bắc bộ
Tác giả: Bùi Quang Tề và cs
Năm: 1984
17. Bùi Quang Tề (1998), Giáo trình bệnh của động vật thủy sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh của động vật thủy sản
Tác giả: Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
18. Bùi Quang Tề (2001), Nghiên cứu ký sinh trùng cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long và các giải pháp phòng trị, Luận văn tiến sỹ sinh học, Trường đại học Khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long và các giải pháp phòng trị
Tác giả: Bùi Quang Tề
Năm: 2001
20. Phan Thị Vân, Annette Kjaer Ersboll, Anders Dalsgaad, Darwin Murrell, Nguyễn Thị Hằng (2008), “Nghiên cứu ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá (FZP) trên cá nước ngọt tại miền Bắc Việt Nam”, FIBOZOPA - Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, số 7, tháng 6/2008, tr. 5-6.Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng có nguồn gốc từ cá (FZP) trên cá nước ngọt tại miền Bắc Việt Nam”, "FIBOZOPA - Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Tác giả: Phan Thị Vân, Annette Kjaer Ersboll, Anders Dalsgaad, Darwin Murrell, Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2008
21. Cheah J. S., Kan S. P., Ghosh M. B., Chiang G. S. C. (1970), “A case of Clonorchis infection in Singapore - clinical and pathological features”, Singapore medical journal, Vol 11, No 4, December, 1970, pp. 287 - 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A case of Clonorchis infection in Singapore - clinical and pathological features”, "Singapore medical journal
Tác giả: Cheah J. S., Kan S. P., Ghosh M. B., Chiang G. S. C
Năm: 1970
22. Chen Chin Liu (1973), Khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Hồ Bắc , Sở Thủy sản tỉnh Hồ Bắc, (Tiếng Trung), 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Hồ Bắc
Tác giả: Chen Chin Liu
Năm: 1973
23. Chong - Yoon Joo (1980), “Epidemiological studies of Clonorchis sinensis in Vicinity of river Taewha, Kyungnam province, Korea”, The Korean Journal of Parasitology, Vol.18, No.2, December, 1980, p. 199 - 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiological studies of Clonorchis sinensis in Vicinity of river Taewha, Kyungnam province, Korea”, "The Korean Journal of Parasitology
Tác giả: Chong - Yoon Joo
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.1. Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ (Trang 17)
Hình 1.3. Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse) - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.3. Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse) (Trang 19)
Hình 1.2. Hệ bài tiết của Sán lá song chủ - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.2. Hệ bài tiết của Sán lá song chủ (Trang 19)
Hình 1.4. Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.4. Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá (Trang 24)
Hình 1.5. Phân bố tình hình nhiễm sán lá gan Clonorchis/Opisthorchis  ở Việt Nam tính đến năm 2002 - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.5. Phân bố tình hình nhiễm sán lá gan Clonorchis/Opisthorchis ở Việt Nam tính đến năm 2002 (Trang 28)
Hình 1.6. Bản đồ dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ trên thế giới - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 1.6. Bản đồ dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ trên thế giới (Trang 33)
Bảng 1.1. Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ ở một số nước trên thế giới - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 1.1. Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ ở một số nước trên thế giới (Trang 38)
Bảng 3.1. Kết quả nghiên cứu chiều dài của cá chép và cá trắm cỏ - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.1. Kết quả nghiên cứu chiều dài của cá chép và cá trắm cỏ (Trang 45)
Bảng 3.2. Kết quả nghiên cứu khối lƣợng của cá chép và cá trắm cỏ - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.2. Kết quả nghiên cứu khối lƣợng của cá chép và cá trắm cỏ (Trang 46)
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm metacercaria trên cá chép và cá trắm cỏ (Trang 48)
Bảng 3.4. Thành phần loài và sự phân bố metacercaria ký sinh trên cá tại  hai huyện Phú Lương, Phú Bình tỉnh Thái Nguyên - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.4. Thành phần loài và sự phân bố metacercaria ký sinh trên cá tại hai huyện Phú Lương, Phú Bình tỉnh Thái Nguyên (Trang 48)
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm metacercaria trên các giai đoạn phát  triển của cá chép - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm metacercaria trên các giai đoạn phát triển của cá chép (Trang 49)
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo  giai đoạn phát triển của cá chép - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria theo giai đoạn phát triển của cá chép (Trang 51)
Bảng 3.6. Tỷ lệ và mức độ nhiễm metacercaria trên cá chép   tại Phú Bình - Thái Nguyên - nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá chép và cá trắm cỏ tại thái nguyên
Bảng 3.6. Tỷ lệ và mức độ nhiễm metacercaria trên cá chép tại Phú Bình - Thái Nguyên (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm