1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên

94 714 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại và xác định các loại hình cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên.... Thành phần loài, dạng sống của các loại hình cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 

TƯỜNG TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY XANH BÓNG MÁT NỘI THÀNH – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC

Mã số: 60.42.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học :

TS LÊ ĐỒNG TẤN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 2009

Bảng 2.2 Nhiệt độ, độ ẩm, tổng số giờ nắng và lượng mưa trung bình tháng

tỉnh Thái Nguyên năm 2009

Bảng 3.1 Mẫu điều tra hiện trạng cây xanh

Bảng 4.1 Thành phần loài cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên Bảng 4.2 Số họ, chi, loài cây xanh bóng mát nội thành-thành phố Thái Nguyên Bảng 4.3 Các nhóm dạng sống của cây xanh bóng mát nội thành, thành phố

Thái Nguyên

Bảng 4.4 Sinh trưởng cây trồng trên các đường phố xây dựng trước năm 1980 Bảng 4.5 Sinh trưởng của một số loài cây trồng sau năm 1990

Bảng 4.6 Sinh trưởng cây xanh bóng mát trong công sở, trường học

Bảng 4.7 Sinh trưởng cây xanh chức năng khu vực nội thành, thành phố Thái

Nguyên

Bảng 4.8 Chất lượng cây xanh đường phố TP.TN trước năm 1980

Bảng 4.9 Chất lượng cây xanh đường phố thành phố Thái Nguyên trồng sau

năm 1990

Bảng 4.10 Chất lượng cây xanh bóng mát trường học, công sở

Bảng 4.11 Chất lượng cây xanh chức năng

Bảng 4.12 Kích thước cây theo chiều rộng hè phố

Bảng 4.13 Kích thước cây theo phương thức trồng trong vườn hoa công viên

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 Hình 2.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 Hình 2.3 Biểu đồ độ ẩm trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 Hình 2.4 Biểu đồ số giờ nắng trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 Hình 4.1 Biểu đồ chất lượng cây xanh đường phố trước năm 1980 (%) Hình 4.2 Biểu đồ chất lượng cây xanh đường phố sau năm 1990 (%) Hình 4.3 Biểu đồ chất lượng cây xanh bóng mát trường học, công sở (%) Hình 4.4 Biểu đồ chất lượng cây xanh chức năng (%)

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Đóng góp mới của luận văn 3

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Trên thế giới 4

1.2 Ở Việt Nam 6

1.2.1 Vai trò của cây xanh 8

1.2.2 Phân loại hệ thống cây xanh đô thị 10

1.2.3 Đặc điểm môi trường sinh trưởng của cây xanh đô thị 12

1.2.4 Tiêu chuẩn cây xanh đô thị 13

1.2.5 Các nguyên tắc bố trí cây trồng 17

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 19

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 19

2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới hành chính 19

2.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 20

2.1.3 Khí hậu 22

2.1.3.1 Chế độ nhiệt 24

2.1.3.2 Chế độ mưa, ẩm 24

2.1.3.3 Chế độ gió, và số giờ nắng 26

2.1.4 Thủy văn 27

2.2 Tình hình dân sinh kinh tế 28

2.2.1 Dân số, dân tộc 28

2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 28

Trang 5

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Địa điểm nghiên cứu 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.3.1 Hiện trạng cây xanh bóng mát nội thành, thành phố TN 31

3.3.2 Đặc điểm hệ thực vật cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

31 3.3.4 Xây dựng tiêu chuẩn, lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng 31

3.3.5 Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh 32

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 32

3.4.2 Xử lý số liệu 34

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Phân loại và xác định các loại hình cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên 32

4.2 Thành phần loài, dạng sống của các loại hình cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên 36

4.2.1 Thành phần loài 38

4.2.2 Dạng sống 45

4.3 Sinh trưởng cây xanh bóng mát nội thành, TPTN 46

4.3.1 Cây xanh đường phố 48

4.3.2 Cây xanh bóng mát vườn hoa, công viên 50

4.3.3 Cây xanh bóng mát trường học, công sở 51

4.3.4 Cây xanh chức năng 52

4.4 Chất lượng các loại hình cây xanh bóng mát nội thành TPTN 54

4.4.1 Cây xanh đường phố 54

4.4.2 Cây xanh bóng mát vườn hoa, công viên 63

Trang 6

4.4.3 Cây xanh bóng mát trường học, công sở 63

4.4.4 Cây xanh chức năng 65

4.5 Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh thành phố Thái Nguyên 66

4.5.1 Giải pháp khoa học và công nghệ 66

4.5.1.1 Nguyên tắc 66

4.5.1.2 Tiêu chuẩn cây trồng 67

4.5.1.2.1 Cơ sở xây dựng tiêu chuẩn cây trồng 67

4.5.1.2.2 Tiêu chuẩn cây trồng 68

4.5.1.2.3 Tiêu chuẩn cây con 74

4.5.2 Các biện pháp trồng, chăm sóc và quản lý cây xanh 75

4.5.2.1 Cây xanh đường phố 75

4.5.2.2 Cây xanh vườn hoa công viên 77

4.5.2.3 Cây xanh trường học, công sở 77

4.5.2.4 Cây xanh chức năng 78

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Đề nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 86

Trang 7

Cây xanh có vai trò quan trọng trong đời sống con người, hệ thống cây xanh từ lâu được coi như lá phổi, nó có tác dụng cải thiện và bảo vệ môi trường, môi sinh Cây xanh bóng mát lại càng quan trọng hơn đối với những thành phố lớn, có mật độ dân số đông và hoạt động công nghiệp phát triển mạnh Cây xanh, mặt nước có vai trò quan trọng trong không gian đô thị, có tác dụng tạo bộ mặt cho cảnh quan đô thị, cải thiện môi trường đô thị

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá ở thành phố Thái Nguyên cũng diễn ra nhanh chóng, bộ mặt đô thị được cải thiện, đổi mới từng ngày Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Thái Nguyên, nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nhiều nhà máy lớn nhỏ đang hoạt động sản xuất kinh doanh với đủ các ngành nghề khác nhau, tác động của con người đến môi trường ngày càng tăng về quy mô, cũng như mức độ ô nhiễm môi trường thành phố ngày một tăng Do đó, công tác bảo vệ môi trường để làm xanh sạch đẹp thành phố là một yêu cầu rất cần thiết Ngày 27/4/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ra ban hành Quy định về trách nhiệm quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn tỉnh Thái

Trang 8

Nguyên Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với tất cả các cấp các ngành, đặc biệt đối với ngành tài nguyên môi trường

Hiểu rõ vai trò cây xanh bóng mát với đô thị nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng, cùng với mức cấp thiết của quá trình phát triển cây xanh bóng mát phù hợp với phát triển chung của thành phố Thái Nguyên,

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được các loại hình cây xanh đô thị, đặc điểm về thành phần

loài, thành phần dạng sống của các loại hình cây xanh bóng mát nội thành thành phố Thái Nguyên

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, chất lượng của các loại hình cây xanh bóng mát từ đó xác lập những cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất hệ thống các giải pháp (khoa học, công nghệ, cơ chế, chính sách phát triển ) và bảo vệ cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

3 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về mặt không gian: Nội thành, thành phố Thái Nguyên, gồm:

các trục đường chính như đường Hoàng Văn Thụ, đường Đội Cấn, đường Hùng Vương, đường Nguyễn Du, đường Nha Trang, đường Cách mạng Tháng Tám, đường Minh Cầu, đường Dương Tự Minh, đường Phan Đình Phùng, đường Lương Ngọc Quyến, đường Việt Bắc, đường Bắc Nam, đường Bến Tượng, đường Phủ Liễn, đường Thống Nhất, đường Quang Trung Các

cơ quan hành chính, trường học, công sở, một số cụm dân cư, nhà máy xí nghiệp, vườn hoa, công viên trung tâm thành phố Thái Nguyên

Trang 9

- Giới hạn về mặt thời gian: Từ tháng 4/2009 đến tháng 9/2010

- Giới hạn về mặt nội dung: Đánh giá hiện trạng cây xanh bóng mát thuộc 4/6 loại hình cây xanh đô thị nội thành, thành phố Thái Nguyên

4 Đóng góp mới của luận văn

- Đánh giá hiện trạng cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

- Định hướng trồng, cải tạo, phát triển cây xanh đô thị, bảo vệ môi trường, phù hợp với cảnh quan đô thị của thành phố Thái Nguyên

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh nhân loại, cây xanh luôn luôn giữ vai trò quan trọng về mặt trang trí cảnh quan Người Trung Hoa, La Mã, Ai Cập, Hy Lạp đã sử dụng cây xanh để trang trí nhà ở, lăng miếu, đền thờ, tượng đài

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, đô thị dần dần được hình thành và không ngừng phát triển Cùng với sự phát triển của đô thị là hệ thống cây xanh, vì cây xanh là một bộ phận quan trọng của các công trình kiến trúc, nhất là đối với các công trình kiến trúc đô thị

Trước đây, việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí và kiến trúc cảnh quan Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các nhà quí tộc, sự ham mê của những người làm vườn Về phương diện bảo vệ môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu có thì chỉ mang tính cục bộ đối với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó

Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì

sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi

Trang 11

học quan tâm Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này mới được nghiên cứu một cách hệ thống

Để nghiên cứu cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ để mô tả như: phức hợp rừng, lâm nghiệp vành đai xanh, kỹ nghệ xanh, lâm nghiệp tiện ích, lâm nghiệp đô thị

Trong số các thuật ngữ đó thì lâm nghiệp đô thị là thuật ngữ được nhiều người chú ý và sử dụng Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu tại trường Đại học Torondo (Canađa) vào năm 1965 Tuy nhiên, phải sau đó 5 năm, Jogensen (1970) mới đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này Theo ông thì lâm nghiệp đô thị không chỉ liên hệ đến cây xanh đô thị hay quản lý các cây cá lẻ

mà còn quản lý cây xanh trên toàn bộ diện tích chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi quần thể cư dân đô thị Sau đó, được các nhà nghiên cứu khác bổ sung thêm

và thống nhất: Lâm nghiệp đô thị là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản lý cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay dưới hoàn cảnh rừng trong các thành phố, ngoại ô của thành phố và nông thôn ngoại thành Theo định nghĩa này thì phạm vi và chức năng hoạt động của lâm nghiệp đô thị khá rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, kiến trúc, dịch vụ và thương mại

Như vậy, vai trò của cây xanh đã có sự thay đổi cơ bản về chức năng trong hệ sinh thái đô thị: trước đây, cây xanh chủ yếu là trang trí và kiến trúc cảnh quan thì nay là điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường Cây xanh đô thị

đã trở thành một chuyên ngành khoa học thực sự-chuyên ngành lâm nghiệp

đô thị Với quan điểm này đòi hỏi phải xây dựng một loạt các giải pháp khoa học công nghệ từ việc qui hoạch đến việc chọn loài cây trồng, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cây trồng, các kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và quản lý

Trang 12

Xu hướng phát triển cây xanh các nước trên thế giới rất đa dạng Các quốc gia phát triển rất sớm không gian xanh cho các đô thị, trước hết là cây xanh đường phố, cây xanh công viên, cây xanh khu chung cư, trong cơ quan, trường học, bệnh viện… Các quốc gia đều quan tâm đến chỉ số m2/người Chỉ tiêu này càng lớn thì không gian xanh của đô thị càng hoàn hảo

Boo Chih Min, Kartini Omar-Hor & Ou-Yang Chow Lin (2006) [31]

đã mô tả hệ thống các vườn thực vật ở Singapore, trong đó có nêu lên vai trò của các cảnh quan, đặc điểm của các loài cây trong việc thiết kế cảnh quan và

kỹ thuật làm vườn

Garrett Eckbo (2002) [32] đặc biệt lưu ý đến việc thiết kế cảnh quan phù hợp với cuộc sống của người dân, nhất là người dân trong các đô thị Tác giả đã mô tả các kỹ thuật và đưa ra phương pháp xây dựng các vườn (cảnh quan) không chỉ trên qui mô là vườn hoa hay công viên phục vụ chung cho cộng đồng, mà còn đưa ra các mô hình cho các hộ gia đình để tạo nên không gian xanh cho căn hộ hay khu vườn của gia đình

1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc trồng cây xanh đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm Nhưng việc nghiên cứu về vấn đề này thì mới được thực hiện khoảng vài chục năm gần đây Điều đáng chú ý là các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở hai Thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Quan điểm về vấn

đề cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu trong nước đều khẳng định: hệ thống cây xanh đô thị có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan Hệ thống cây xanh đô thị của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan Tỷ lệ diện tích cây xanh quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý Chúng ta vẫn còn thiếu một giải pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị

Trang 13

Phần lớn cây xanh trên hè phố, trong các công viên, các vườn của các dinh thự Hà Nội mới trồng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Theo Đại Nam nhất thống chí: Hà Nội là kinh đô xưa có 36 phố phường, năm (1875) có 21 phố:

Hà Khẩu, Việt Đông, Hàng Mắm, Hàng Mã, Báo Thiên, Nam Hoa, Hàng Bồ, Hàng bạc, Hàng Thiếc, Hồng Lam, Đồng Xuân, Thanh Hà sang đầu thế kỷ

20 phố xá mở rộng ra phía đông và phía nam như hiện nay Như vậy thảm cây xanh Hà Nội chỉ được trồng sau khi phố xá hình thành khoảng một trăm năm [5]

Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát mép hồ Tháng 11 năm

1885 giải toả các hộ dân sống chung quanh hồ và khởi công đổ đất cạp hồ và cho san lấp những vùng trũng thấp Đến đầu năm 1893, con đường nhựa chạy quanh Hồ Gươm được khánh thành Thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng được trồng từ đấy với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước Vì vậy thảm cây xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây khu vực Bách Thảo Có thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít chịu tác động nhất bởi quá trình đô thị hóa [9]

Các công viên và vườn hoa khác của thành phố như: Chí Linh, Diên Hồng, Tao Đàn, Pát-xtơ, Thủ Lệ được trồng cùng thời gian với các hàng cây trên hè phố theo quy hoạch đô thị thời đó Nhưng cây cối trên các đường phố thuộc khu vực Hồ Tây, Ba Đình được trồng sớm hơn khu vực phía nam Hồ Gươm Nhưng nói chung thảm cây xanh Hà Nội có tuổi trên 100 năm đã tạo nên màu xanh tô thêm vẻ đẹp tự nhiên cho thành phố

Nhiều đường phố trồng thuần một loại cây đặc trưng như Xà cừ trên đường Hoàng Diệu và đường Bà Triệu, Phượng vĩ trên đường Lý Thường Kiệt, cây Bằng lăng trên đường Hàng Bông, Thợ Nhuộm, cây Sao đen trên đường Lò Đúc, cây Sấu trên đường Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng và

Trang 14

Điện Biên Phủ, cây Sữa trên đường Nguyễn Du đã để lại những dấu ấn khó quên không chỉ đối với những người đã từng sống ở đây mà còn được ghi nhận của nhiều người trên những trang thơ, câu hát về Hà Nội

Cây xanh không thể thiếu vắng trong cân bằng sinh thái và môi trường Cây xanh đô thị lại càng có vai trò to lớn hơn Nó đã hấp thụ một lượng lớn khí cacbonnic do con người và các nhà máy thải ra, bổ xung nguồn ôxy đáng

kể cho con người sử dụng, làm dịu đi cái oi nóng mùa hè, chắn đỡ những nguồn gió bấc lạnh lẽo mùa đông, giảm bớt tiếng ồn của hàng vạn xe có động

cơ qua lại hằng ngày Sau ngày làm việc căng thẳng đi dạo hay ngồi dưới vòm cây, tâm hồn sẽ trở nên thư thái Cây Đa, cây Đề, cây Muỗng, cây Xoài, cây Đại trồng trong các đình chùa mang lại ý nghĩa tâm linh

Những nghiên cứu về cây xanh đô thị ở Việt Nam theo các hướng sau:

1.2.1 Vai trò của cây xanh

Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, ngoài hai thành phần cơ bản là hữu sinh và vô sinh, hệ sinh thái đô thị còn có thành phần thứ ba đó là thành phần công nghệ Nó bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất

Thành phần công nghệ có vai trò quyết định và chi phối dòng năng lượng qua hệ sinh thái Về cấu trúc không gian, hệ sinh thái đô thị gồm có phần trung tâm (nội thành) và vùng ngoại thành Phần trung tâm là nơi tập trung dân cư lớn nên rất dễ dẫn đến những thay đổi về môi trường theo chiều hướng xấu có ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người Mức độ tập trung dân

cư càng đông thì nguy cơ thay đổi về môi trường càng lớn Vùng ngoại thành được coi như là vùng đệm chuyển tiếp từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái nhân tạo Do tập trung dân cư đông và công nghiệp phát triển dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng tăng Nguồn gây ô nhiễm chính là: các phương

Trang 15

tiện giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất và rác thải sinh hoạt hàng ngày Các chất gây ô nhiễm là: bụi, khói, khí độc, các chất thải, tiếng ồn Đối tượng dễ bị ô nhiễm nhất là không khí và nguồn nước Để bảo

vệ môi trường, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng vì hệ thống cây xanh có những chức năng sau:

Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu thông gió

Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: cây xanh có thể giảm thiểu các chất độc hại trong không khí (CO2, SO2, CO…) và dưới đất (Chì (Pb), Sắt (Fe), Kẽm (Zn)…) giảm nồng độ bụi, hạn chế tiếng ồn, giảm nhiệt, tạo đối lưu không khí, sinh nguồn gió mát, tăng lượng oxy…Ví dụ cây Hoè hoa vàng rất phù hợp trồng trên đường phố, mỗi năm 1 cây Hoè có thể giữ được 2.156 tấn bụi trên lá và bụi trên bãi cỏ dưới cây có thể lưu lại 1/6 đến 1/3 so với bình thường [12]

Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan Những tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa, thân cây, trạng mùa của lá ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của công trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung

Ngoài chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có tác dụng kiểm soát giao thông và phòng hộ an toàn Việc kiểm soát giao thông bao gồm cả xe cơ giới và người đi bộ Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa công viên vừa có tác dụng trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ Ví dụ, hàng cây bên đường có tác dụng định hướng

Trang 16

nhờ các gốc cây được sơn vôi trắng là những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường

Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi không còn tác dụng là nguồn cung cấp gỗ củi cho dân dụng

Như vậy, ngoài chức năng là sinh vật sản xuất như trong các hệ sinh thái khác (hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp ) cây xanh trong hệ sinh thái đô thị còn có chức năng quan trọng hơn đó là bảo vệ môi trường và trang trí cảnh quan

1.2.2 Phân loại hệ thống cây xanh đô thị

Hiện nay trên thế giới cũng như trong nước đang có những phương pháp phân loại để xác định thành phần hệ thống cây xanh đô thị như sau [22]:

- Theo nguồn gốc: gồm có cây trồng nhân tạo và cây tự nhiên

- Theo dạng sống thực vật:

+ Theo hình thái lá: cây lá rộng, cây lá kim

+ Theo trạng mùa: cây rụng lá, bán rụng lá, cây thường xanh

+ Theo hình dạng tán lá: cây tán rộng, cây tán hẹp; cây tán dày, cây tán thưa; tán hình chóp, hình trứng, hình dù

+ Theo kích thước: cây gỗ, cây bụi, cây thảo và dây leo Trong nhóm cây gỗ lại có thể phân chia thành cây gỗ lớn có H>20m, cây gỗ trung bình có H=15-20m, cây gỗ nhỡ H=10-15m và cây gỗ nhỏ H=6-10m Cây bụi có chiều cao H<6m

- Theo mục đích sử dụng: gồm có cây che bóng, cây phủ xanh, cây trang trí

Trang 17

- Theo tuổi thọ: cây lâu năm, cây một năm; cây có đời sống dài, cây có đời sống ngắn; cây dài ngày, cây ngắn ngày

- Kết hợp dạng sống và chức năng sử dụng có thể phân chia thành các nhóm: cây đại mộc, cây rào che, cây rào chắn, cây dạng bụi, dây leo, cỏ, cây che phủ nền và hoa ngắn ngày

- Phân chia theo qui hoạch môi trường đô thị có:

+ Cây xanh tập trung: là rừng trồng hỗn giao hay thuần loại tạo thành vành đai xanh có tác dụng phòng hộ bảo vệ môi trường và phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của các tầng lớp nhân dân Ngoài ra còn có tác dụng phục phụ cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học

+ Cây xanh đường phố: chức năng chính là che bóng, trang trí và bảo vệ môi trường

+ Cây xanh công viên và vườn hoa: bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu, trang trí cảnh quan phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi của nhân dân

+ Cây xanh chuyên dụng: bảo vệ các công trình kiến trúc văn hoá, các khu di tích lịch sử

+ Cây xanh khu chức năng: là hệ thống cây xanh trong các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, nhà máy có chức năng chính là ngăn cản khí độc, bụi, điều hoà khí hậu

+ Cây xanh trường học và công sở: chủ yếu là che bóng, điều hoà khí hậu, phục vụ công tác giáo dục và học tập

+ Cây xanh vườn hộ và biệt thự: là hệ thống cây ăn quả, cây trang trí Như vậy, có nhiều phương pháp xác định thành phần hệ thống cây xanh

đô thị Trong đó phương pháp xác định theo qui hoạch môi trường đô thị là

Trang 18

thích hợp hơn cả, đang được sử dụng rộng rãi Để điều tra, đánh giá hiện trạng

và đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên tôi cũng sử dụng cách phân chia này

1.2.3 Đặc điểm môi trường sinh trưởng của cây xanh đô thị

Theo Lê Đồng Tấn (2003) [20] thì cây xanh đô thị sinh trưởng trong môi trường bị biến đổi do các hoạt động xây dựng của con ngư ời Cụ thể:

- Cây xanh đường phố : thường phải sinh trưởng trong điều kiện môi trường hoàn toàn thay đổi so với điều kiện tự nhiên của chúng Những biến đổi đó là : nền đất bị xáo trộn , tầng đất mặt bị đào thay thế bằng đấ t mới thường không thích hợp với cây trồng Môi trường sống bị ô nhiễm do vật liệu xây dựng, khói bụi do các phương tiện giao thông thải ra Sau khi trồng, luôn luôn bị tác động do việc xây dựng cải tạo các công trình có liên quan, do các hoạt động của con người hàng ngày Không gian sinh trưởng bị hạn chế

do chiều cao của các công trình xây dựng Nhiều nơi thường bị ngập nước vào mùa mưa do hệ thống thoát nước kém

- Cây xanh vườn hoa công viên: Môi trường sống bị thay đổi, ô nhiễm

do vật liệu xây dựng, điều kiện lập địa bị biến đổi do công tác xây dựng Môi trường không khí ít bị ảnh hưởng, nhưng đây là nơi có nhiều người qua lại nên sẽ bị tác động chủ yếu do con người

- Cây xanh công sở trường học: cũng như các loại hình trên, điều kiện lập địa cũng bị biến đổi, môi trường đất bị ô nhiễm hoặc biến dạng trong quá trình thi công xây dựng công trình Những tác động sau khi trồng chủ yếu do không gian sinh trưởng bị hạn chế, nền đất bị tác động do hoạt động của con người

- Cây xanh khu chức năng: ngoài môi trường đất bị ô nhiễm và biến

Trang 19

Không gian sinh trưởng bị thu hẹp Những bức xạ và nhiệt độ không khí tăng

do sự phản xạ của các công trình nhà máy có tác động đáng kể đến đời sống của cây trồng

- Cây xanh chuyên dụng: đây là nhóm cây ít bị tác động nhất so với các loại hình khác Những ảnh hưởng chủ yếu do tác động của con người trong việc xây dựng cải tạo, hoặc do các công trình xây dựng làm thu hẹp không

gian sống của cây

- Cây xanh vườn hộ, biệt thự: Mặc dù được chăm sóc tốt nhưng cây xanh vườn hộ, biệt thự vẫn bị nhiều tác động làm ảnh hưởng đến sinh trưỏng của cây Trong khu vực nội thành hiện nay những ảnh hưởng này ngày càng gia tăng và các điều kiện sinh trưởng của cây cũng ngày càng bị vi phạm do

quĩ đất bị thu hẹp và tốc độ đô thị hoá

1.2.4 Tiêu chuẩn cây xanh đô thị

Chất lượng cây là nội dung quan trọng, đảm bảo cho hệ thống cây trồng sống sót và phát triển Tuy nhiên, cho đến nay, những nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hạn chế Đỗ Hữu Thư và cộng sự [27], Lê Đồng Tấn (2003) [20]

đã nghiên cứu và đề xuất tiêu chuẩn hình thái sinh thái cho các loại hình cây xanh đô thị như sau:

- Tiêu chuẩn cây xanh đường phố

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình hay gỗ nhỏ

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, có khả năng sống sót và sinh trưởng tốt trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng (khói, bụi, tiếng ồn), đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa thấp, thoát nước kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, có rụng lá thì chỉ từng phần

Trang 20

+ Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp

+ Các tiêu chuẩn khác: Hạn chế cây có mủ độc Không có cành nhánh giòn dễ gẫy, ít hay không có gai Rễ ăn sâu để có khả năng đứng vững khi gió bão, không có rễ ăn ngang phá hỏng mặt đường và các công trình ngầm Lá không quá nhỏ, nhưng dày mập có nhiều lông tơ để giữ các hạt bụi càng tốt Hoa lá có khả năng tiết các chất thơm càng tốt Ít hoặc không sâu bệnh

- Tiêu chuẩn cây xanh vườn hoa, công viên

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình, gỗ nhỏ và cây bụi

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, ưa bóng, có khả sinh trưởng tốt trong môi trường, đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa thấp, thoát nước kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, rụng lá, bán rụng lá

+ Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao, hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp Trong vườn hoa công viên, cây xanh được bố trí theo nhiều cách, vì vậy tiêu chuẩn cho các đối tượng này cũng phải khác nhau:

Cây đứng độc lập: có hình khối dáng dấp, màu sắc hài hoà độc đáo, kích thước vừa phải, không được quá lớn, tán lá thích hợp cho việc phát triển

tự nhiên hay cắt xén để tạo hình

Cây trồng theo đám hay rừng nhỏ: có thể cây gỗ, cây bụi; cây lá kim hay cây lá rộng thường xanh, rụng lá, bán rụng lá

Cây trồng theo hàng: có kích thước lớn, tạo nên tán lá vòm đổ xuống (như Phượng vĩ), cây cao, thẳng

+ Các tiêu chuẩn khác: Hạn chế cây có mủ độc Không có cành nhánh giòn dễ gẫy, ít hay không có gai Rễ ăn sâu có khả năng đứng vững khi gió bão Lá dày mập có nhiều lông tơ để giữ các hạt bụi càng tốt Cây có khả năng tiết các chất thơm, các chất phitoxit diệt khuẩn càng tốt

Trang 21

- Tiêu chuẩn cây xanh trường học, công sở

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình, gỗ nhỏ và cây bụi

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, ưa bóng, có khả sinh trưởng tốt trong môi trường, đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa cao hay thấp, thoát nước tốt hay kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, nếu rụng lá thì chỉ từng phần + Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp; có hình khối dáng dấp, màu sắc hài hoà độc đáo, kích thước vừa phải, không được quá lớn, tán lá thích hợp cho việc phát triển tự nhiên hay cắt xén để tạo hình; có kích thước lớn, tạo nên tán lá vòm đổ xuống (như phượng vĩ), cây cao, thẳng

+ Các tiêu chuẩn khác: cây không có mủ độc, không có cành nhánh giòn dễ gẫy, không có gai Rễ phát triển có khả năng đứng vững khi gió bão,

có khả năng tiết các chất thơm, các chất phitoxit diệt khuẩn càng tốt

- Tiêu chuẩn cây xanh chức năng

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình, gỗ nhỏ và cây bụi

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, ưa bóng; mọc nhanh hay mọc chậm, có khả năng thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt trong môi trường độc hại, bị ô nhiễm nặng bởi khí độc do nhà máy thải ra, đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa cao hay thấp, thoát nước tốt hay kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, nếu rụng lá thì chỉ từng phần + Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp; cây lá rộng, lá kim đều thích hợp

+ Các tiêu chuẩn khác: không có mủ độc, không có cành nhánh giòn dễ gẫy, không có gai, rễ ăn sâu có khả năng đứng vững khi gió bão; có lá dày,

Trang 22

mập, tán lá rậm rạp, nhiều lông tơ để giữ lại tối đa bụi, khí thải; hoa quả không có mùi hôi, không có nhựa mủ độc; có khả năng tiết các chất thơm, các chất phitoxit diệt khuẩn càng tốt

Cây cách ly khu công nghiệp, nhà máy, khu sản xuất ngoài các tiêu chuẩn trên, để nhanh chóng phát huy tác dụng: ngăn chặn khói, bụi và các hạt chất lơ lửng trong không khí, cây phải sinh trưởng nhanh, có lá thường xanh, mập, dày có nhiều lông tơ càng tốt

- Tiêu chuẩn cây xanh chuyên dụng

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình, gỗ nhỏ

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, ưa bóng; mọc nhanh hay mọc chậm, có khả năng thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt trong môi trường đất đai và không khí bị ô nhiễm, lập địa thấp, thoát nước kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, nếu rụng lá thì chỉ từng phần + Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp; cây lá rộng, lá kim đều thích hợp

+ Các tiêu chuẩn khác: không có mủ độc, không có cành nhánh giòn dễ gẫy, không có gai, đứng vững khi gió bão; có lá dày, mập, tán lá rậm rạp, nhiều lông tơ để giữ lại tối đa bụi, khí thải; hoa quả không có mùi hôi, không

có nhựa mủ độc; có khả năng tiết các chất thơm, các chất phitoxit diệt khuẩn càng tốt

Cây ven sông, ven hồ: Các loại cây trồng ở đây rất đa dạng có thể là cây gỗ lớn, gỗ trung bình, gỗ nhỏ hay các loại thân thảo, thân tre Các loại cây này có bộ rễ phát triển mạnh trống xói mòn, phát triển nhanh, tán lá dầy rậm có thể giữ được các chất bụi Ngoài ra, nơi đây còn là nơi sinh sống của các loài sinh vật làm tăng tính đa dạng sinh học

- Tiêu chuẩn cây xanh vườn hộ, biệt thự

Trang 23

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình, gỗ nhỏ và cây bụi

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, ưa bóng, có khả sinh trưởng tốt điều kiện lập địa cao hay thấp, thoát nước tốt hay kém

+ Về trạng mùa: cây lá rộng thường xanh, rụng lá, bán rụng lá

+ Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp

+ Các tiêu chuẩn khác: cây không có mủ độc, không có cành nhánh giòn dễ gẫy, ít hay không có gai, có khả năng tiết các chất thơm, các chất phitoxit diệt khuẩn

1.2.5 Các nguyên tắc bố trí cây trồng

Ngoài chức năng điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường thì cây xanh còn

là một yếu tố quan trọng trong kiến trúc cảnh quan Vì vậy, trong các công trình xây dựng người ta thường sử dụng cây xanh để trang trí cảnh quan Những nguyên tắc chính trong bố trí cây trồng đã được một số tác giả nghiên cứu Cụ thể với cây xanh bóng mát đường phố cần tuân thủ theo các nguyên tác sau [15]:

- Đơn giản: trên một đường phố (đoạn phố) nên trồng một loài cây

- Thay đổi: Nên kết hợp hình dạng màu sắc và kết cấu để tạo nên sự thay đổi, tăng tính đa dạng sinh học, khắc phục sự đơn giản, tẻ nhạt của việc trồng thuần loài Trên một đường phố, nhất là đối với những đường phố dài,

có thể chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn trồng một loài cây

- Cân bằng: Cân bằng là sự cần thiết đối với một công trình kiến trúc

Nó được thể hiện ở cách bố trí hàng cây ở hai bên đường sao cho hình dạng của hàng cây bên này là hình ảnh của hàng cây bên kia và ngược lại hàng cây bên kia là hình ảnh của hàng cây bên này

Trang 24

- Liên tục: Cây trồng đường phố phải tạo thành dải liên tục, đều, không đứt quãng

- Cân đối: Tuỳ theo đường phố rộng hẹp, các công trình kiến trúc hai bên đường phố mà chọn loài cây trồng sao cho thích hợp với không gian

- Nhấn mạnh: Để tạo nét độc đáo, tránh sự đơn giản, tẻ nhạt Tính chất này được thể hiện ở việc bố trí những loài cây tương phản với các loài cây khác trên cùng một đường phố Nó có thể là một khóm cây, một hàng cây, thậm chí chỉ một cây

Trang 25

Chương 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới hành chính

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du miền núi Đông Bắc, diện tích tự nhiên 3.541,67km2, nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 210

19’ đến

22003’ vĩ độ bắc và từ 105029’ đến 106015’ kinh độ đông, từ bắc đến nam dài

43 phút vĩ độ 80(km), từ tây sang đông rộng 46 phút kinh độ (85km) Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội [21]

Hình 2.1 Bản đồ thành phố Thái Nguyên

Trang 26

Thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên, có tọa độ 21029’ đến 21037’ vĩ độ bắc và từ 105043’ đến 105055’ kinh độ đông, cách Thủ đô

Hà Nội 80km về phía bắc Phía bắc, đông bắc giáp huyện Phú Lương, Đồng Hỷ; phía tây giáp huyện Đại Từ; phía nam, tây nam giáp thị xã Sông Công; phía đông, đông nam giáp huyện Phú Bình Thành phố Thái Nguyên nằm trên quốc lộ số 3 Hà Nội đi Cao Bằng [21]

2.1.2 Địa hình, thổ nhƣỡng

Địa hình tỉnh Thái Nguyên mang tính chất đồi núi thấp nghiêng dần từ Bắc xuống Nam Địa hình đồi núi có dạng khối, đỉnh bằng, sườn dốc Các nếp núi có dạng hình cánh cung có bụng quay về phía Đông Nam, đầu chạm vào dãy Tam Đảo Độ cao trung bình của núi từ 500m – 700m, vùng cao nhất là dãy Tam Đảo (1591m) và vùng thấp nhất là Phổ Yên 15m

Thành phố Thái Nguyên có địa hình chủ yếu là đồi bát úp có độ cao tương đối khoảng 50 – 60m nhưng hiện nay do quá trình xây dựng thành phố, một số lượng lớn đồi này bị san ủi giành đất cho xây dựng Địa hình thành phố Thái Nguyên khá bằng phẳng Tuy nhiên, vùng đất này vẫn mang tính chất của diện mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ) với những đồi gò thoải, bát

úp xen kẽ nhau chiếm 50,2% diện tích tự nhiên Bình quân diện tích đất nông nghiệp của thành phố là 425,55m2/người, tập trung chủ yếu ở các xã phía tây, tây nam: Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương, Thịnh Đức, Lương Sơn Phần lớn diện tích có độ dốc dưới 80, phù hợp với cây lúa, cây trồng hàng năm [21]

Tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 177,15km2, trong đó đất nông nghiệp 88,88km2, đất lâm nghiệp có rừng 30,10km2, đất chuyên dùng 35,82km2, đất ở 13,12km2, đất chưa sử dụng và sông suối 9,15km2

Bình quân diện tích tự nhiên trên một đầu người là 847,78m2 Đơn vị có diện tích nhỏ

Trang 27

nhất là phường Trưng Vương (1,02km2) Đơn vị có diện tích lớn nhất là xã Phúc Xuân 18,53km2

Về thổ nhưỡng, đất phù sa chua có 36,23km2, chiếm 20,65% Đất xám feralit trên đá sét và biến chất có 31,79km2, chiếm 27,95%, thích hợp với việc gieo trồng cây hàng năm Đất dốc từ 80 đến 250

có diện tích 34,03km2, chiếm 19,22% diện tích đất tự nhiên, phù hợp với các loại cây nông nghiệp dài ngày, cây ăn quả, phù hợp với việc phát triển hệ sinh thái nông – lâm nghiệp vùng đồi Đất có độ dốc trên 250

là 21,72km2, chiếm 2,27% tổng diện tích tự nhiên, phù hợp với việc phát triển rừng lâm nghiệp và rừng cảnh quan du lịch [21]

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 2009

(Ha)

Cơ cấu (%)

Trang 28

2 Đất phi nông nghiệp 42.324,09 12,00

2.5 Đất sống suối và mặt nước chuyên dùng 10.328,56 2,93

Các số liệu về nhiệt độ, độ ẩm, tổng số giờ nắng và lượng mưa trung

bình tháng tỉnh Thái Nguyên năm 2009 ( Theo Trạm khí tượng Thái Nguyên)

được trình bày trong bảng 2.2

Trang 29

Bảng 2.2 Nhiệt độ, độ ẩm, tổng số giờ nắng

và lượng mưa trung bình tháng tỉnh Thái Nguyên năm 2009

Tháng Chỉ tiêu

Nhiệt độ không khí trung bình – tháng (0C)

Tổng số giờ nắng - tháng

Độ ẩm không khí trung bình – tháng (%)

Tổng lượng mưa – tháng (mm)

(Nguồn: Trạm khí tượng Thái Nguyên)

Thái Nguyên có khí hậu đặc thù của một tỉnh miền núi, trung du Bắc

bộ Một năm chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

Mùa mưa là những tháng có nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, nhiệt độ cao vào tháng 5 đến tháng 9 và lượng mưa cũng tập trung vào các tháng này (Tháng 8 có nhiệt độ trung bình cao nhất 29,40C và lượng mưa cao nhất vào tháng 5 là 567,8mm)

Trang 30

Mùa mưa là những tháng có nhiệt độ thấp, trời rét, có lượng mưa ít và thường có gió mùa Đông Bắc tràn về Trong các tháng 11, 12, 1 độ ẩm không khí khô, nắng hanh có kèm theo sương muối đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân

Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009

Qua bảng 2.2 biểu diễn khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2009 ta thấy: Nhiệt độ trung bình năm là 24,20C và có sự phân hoá rõ rệt theo hai mùa là mùa hè (mùa mưa) và mùa đông (mùa khô) nên sự chênh lệch nhiệt giữa hai mùa là tương đối lớn Mùa đông lạnh thời tiết khô hanh, nhiệt độ ngày xuống thấp tới 6,10C, mùa hè thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ ngày cao nhất là 37,50C

2.1.3.2 Chế độ mƣa, ẩm

Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng có lượng mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm 1808,7mm, phân bố theo mùa, và có sự chênh lệch lớn giữa hai mùa Mùa mưa trùng với mùa nóng, thường tập trung vào tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa chiếm tới 80% lượng mưa cả năm Số ngày mưa trên

Trang 31

100mm trong một năm khá lớn Ngày mưa lớn nhất trong vòng hơn nửa thế

kỷ qua là ngày 25/6/1959, tới 353mm, làm cho tháng này có lượng mưa kỷ lục 1.103mm [21] Lượng mưa cao nhất trong năm vào tháng 5 với lượng mưa là 567,8mm

Hình 2.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009

Mùa khô trùng với mùa lạnh, thời tiết lạnh và hanh khô Tổng lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm (300mm) Trong đó đầu mùa khô thời tiết hanh khô có khi cả tháng không có mưa, gây nên tình trạng hạn hán, và tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 11 với lượng mưa là 0,5mm Cuối mùa khô không khí lạnh và ẩm do có mưa phùn

Do lượng mưa lớn lên độ ẩm không khí tương đối cao và khá ổn định, với độ ẩm trung bình năm là 80%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2 với 86%, thấp nhất là tháng 11 với 71% do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô và lạnh

Trang 32

Hình 2.4 Biểu đồ số giờ nắng trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009

Chế độ gió ở Thái Nguyên thay đổi theo mùa khá rõ rệt: Mùa đông gió mùa Đông Bắc là chủ yếu, còn mùa hè hướng gió chủ yếu lại là gió Đông Nam

Trang 33

Tổng số giờ nắng của Thái Nguyên là 1458 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 8 (217 giờ) , còn tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 3 (42 giờ)

2.1.4 Thủy văn

Trên địa bàn thành phố có hai con sông chảy qua: Sông Cầu và Sông Công Sông Cầu, ở phía đông bắc thành phố, chảy theo hướng tây bắc – đông nam tạo nên ranh giới hành chính tự nhiên với huyện Đồng Hỷ Đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên thuộc vùng trung lưu dài 25km, ở đoạn này dòng sông mở rộng từ 70 đến 100m Lưu lượng nước bình quân mùa mưa 620m3

/s (trong những ngày lũ, lưu lượng nước lên tới 3.500m3/s) Mùa khô lưu lượng nước nhỏ, chỉ đạt bình quân 3,32m3/s Sông Công chảy dọc phía tây thành phố Thái Nguyên tạo thành ranh giới tự nhiên với huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công Sông Công bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá thuộc huyện Định Hóa, chảy qua huyện Đại Từ vào thành phố Đoạn chảy qua thành phố dài 15km Vào mùa mưa, lưu lượng nước của sông Công trong lũ đạt 1.880m3

/s Mùa khô lưu lượng nước rất nhỏ, chỉ 0,32m3

/s

Sông Cầu và sông Công là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho sản xuất công nghiệp và nước tưới cho đồng ruộng Hàng năm, hai con sông này tạo nên một lượng phù sa tăng độ phì cho đất đai thành phố Mặc dù vậy,

nó cũng thường gây ra lũ lụt Số liệu quan sát từ năm 1959 đến năm 2000 ở Trạm thủy văn Gia Bảy: 63 trận lũ lớn đã xảy ra, trong đó có 4 trận lũ lớn điển hình xảy ra vào các năm 1959,1968,1983,1986 Trận lũ ngày 2/8/1959 là trận lũ lịch sử với mực nước đỉnh lũ là 28,14m (trên mức báo động số ba 2,14m)

Trang 34

Thành phố Thái Nguyên có 93 hồ, ao vừa và nhỏ tập trung ở 25 xã, phường, là nơi dự trữ nước cho sản xuất nông, công nghiệp, tạo cảnh quan, cân bằng sinh thái

Nguồn nước ngầm ở khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có trữ lượng lớn Nước ngầm ở đây có hàm lượng cặn nhỏ, hàm lượng sắt từ 5 đến 10mg/lít, độ

2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Thành phố Thái Nguyên có vị trí thuận lợi và hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên Do ở vị trí tiếp giáp giữa vùng rừng núi phía bắc và đồng bằng Bắc Bộ, lại có đường giao thông thủy bộ dọc ngang nên từ xa xưa Thái Nguyên đã là nơi buôn bán sầm uất

Trang 35

Thành phố Thái Nguyên là một đô thị loại 2, đóng vai trò là một đô thị trung tâm của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, là trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa-y tế-giáo dục-khoa học-quân sự của vùng Đông Bắc Thành phố

có hệ thống giáo dục đứng thứ ba so với cả nước chỉ sau Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, đứng thứ hai miền Bắc sau Hà Nội Với 6 trường đại học và rất nhiều trường cao đẳng trung học chuyên nghiệp, Thái Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm đào tạo lớn của đất nước, do đó cũng là nơi quy tụ được một số lượng lớn thành phần trí thức, kỹ thuật viên đủ các ngành nghề khác nhau, đó cũng là một thế mạnh phát triển kinh tế của tỉnh và thành phố Song mặt khác cũng gây ra áp lực lớn về sinh hoạt, về đất ở của thành phố Cũng từ vấn đề đông dân số, nên đã nảy sinh ra những khó khăn mà hiện nay vẫn đang là nỗi bực xúc của thành phố như mật độ dân cư ngày càng cao, dẫn đến tình trạng làm giảm diện tích đất trồng cây, diện tích ao hồ thêm vào đó nguồn chất thải, khí thải trong sinh hoạt, trong sản xuất kinh doanh đã tạo ra một khối lượng các chất gây ô nhiễm lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đất, nước, không khí của thành phố

Sau gần 15 năm đổi mới nền kinh tế, thành phố đã có những biến chuyển đáng kể, tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là những năm gần đây, mức thu nhập bình quân đầu người một tháng là 1.454.000 đồng [7] Cùng với sự phát triển chung của thành phố, các ngành, các cấp thường xuyên quan tâm tu

bổ, sửa chữa, mở rộng xây dựng mới nhiều hệ thống giao thông, trường học, bệnh viện, đê điều và các công trình kỹ thuật cơ sở hạ tầng đặc biệt mạng lưới thông tin, liên lạc ngày càng được nhân rộng tạo điều kiện tốt cho việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật

Như vậy thông qua các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh

tế xã hội chúng ta có thể đưa ra những thuận lợi, khó khăn, những tiềm năng đối với việc tìm ra những loài cây phù hợp, thích ứng tốt, cải tạo được môi

Trang 36

trường, đáp ứng các yêu cầu về thẩm mỹ và tạo bản sắc riêng cho thành phố

Thái Nguyên

Trang 37

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là thành phần loài, thành phần dạng sống, khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hệ thống cây xanh bóng mát

3.2 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi được nghiên cứu tại khu vực nội thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Hiện trạng cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

- Phân loại và xác định các loại hình cây xanh

- Sinh trưởng và chất lượng của các loại hình cây xanh

3.3.2 Đặc điểm hệ thực vật cây xanh bóng mát nội thành, thành phố Thái Nguyên

- Số lượng loài

- Dạng sống

- Đặc điểm tổ thành phần loài cây

3.3.4 Xây dựng tiêu chuẩn, lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng

- Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chuẩn cây trồng

- Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn cây trồng

- Hệ thống tiêu chuẩn cây trồng

- Tiêu chuẩn hình thái sinh thái

Trang 38

- Tiêu chuẩn cây con

- Lựa chọn và đề xuất loài cây trồng

3.3.5 Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh

- Các giải pháp về khoa học kỹ thuật

- Các giải pháp về qui hoạch

- Các giải pháp về vốn đầu tư

- Các giải pháp quản lý bảo vệ

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Điều tra thu thập số liệu đánh giá hiện trạng được hiện theo các tuyến (phố, đường phố), theo cụm dân cư (xóm, làng, khu phố), theo hệ thống vườn hoa, công viên; theo hệ thống công sở (cơ quan, trường học, khu công nghiệp, nhà máy )

Thu thập các số liệu về sinh trưởng (chiều cao, đường kính) được thực hiện các phương pháp trong điều tra lâm học hiện nay

- Đo chiều cao cây (chiều cao vút ngọn): Đối với cây có chiều cao dưới 4,0 m (h <4,0 m) đo trực tiếp bằng sào có chia vạch đến 0,10 m Đối với cây cao trên 4,0m (h> 4,0m) đo bằng thước SUNNTO 627124 có chỉnh lý theo phương pháp đo cao trực tiếp

- Đường kính cây (tại điểm cắt mặt đất 1,30m – D1,30) Những cây có đường kính từ 20cm trở xuống đo trực tiếp bằng thước kẹp với độ chính xác

Trang 39

0,10cm Cây lớn hơn 20cm, đo chu vi bằng thước dây, tra bảng tương quan đường kính – chu vi, tính được đường kính tương ứng

- Đường kính tán được đo theo hình chiếu của tán trên mặt đất bằng cách đo theo hai chiều vuông góc hình chiếu, cộng chia đôi và lấy giá trị trung bình Mỗi đối tượng điều tra được lặp lại 3 lần, số lượng mẫu (cây) đo đếm phải đạt ít nhất n = 30 cá thể cho mỗi loài

- Đánh giá chất lượng cây ngoài thực địa dựa vào hình thái của thân và trạng thái tán lá Phân chia thành 4 cấp chất lượng như sau:

+ Cây tốt: có tán lá đầy đủ, đều, thân cây thẳng, không sâu bệnh, vỏ nhẵn, màu sắc lá tươi tốt (đối với cây thường xanh), cây đâm chồi nảy lộc tốt (đối với cây rụng lá) Cây có bạnh vè và rễ nổi nhưng không ảnh hưởng đến đường giao thông và các công trình khác lân cận

+ Cây trung bình: có thể bị cắt tỉa một số cành nhưng tán còn tròn đều,

lá có màu sắc tươi tốt, thân không bị sâu bệnh, có u mấu nhưng không ảnh hưởng đến hình dạng thân cây Gốc cây có bạnh vè và nổi đã bắt đầu ảnh hưởng đến các công trình khác: đường giao thông, tường nhà, hàng rào…

+ Cây xấu: cành nhánh bị cắt tỉa nhiều, tán không đều nhưng vẫn còn tác dụng che bóng, thân cong, sâu bệnh, thân bị biến dạng do có nhiều u mấu Bạnh vè và rễ nổi đã ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, làm nứt mặt đường, hè phố nhưng chưa nghiêm trọng, có thể khắc phục để đảm bảo an toàn được

+ Cây rất xấu: cành bị gẫy hay cắt tỉa nhiều, tán lá bị vỡ không tác dụng che bóng; thân bị biến dạng do sâu bệnh và u mấu phát triển, cây rỗng ruột, thối rễ có nguy cơ bị đổ khi có gió to, bạnh vè và rễ nổi ảnh hưởng nghiêm trọng đến hè đường và các công trình khác, có nguy cơ đe doạ đến an toàn của

Trang 40

công trình, rất khó hoặc không thể khắc phục Cây thuộc loại này cần phải loại bỏ để đảm bảo an toàn

Số liệu được ghi riêng cho từng loài theo mẫu sau:

Bảng 3.1 Mẫu điều tra hiện trạng cây xanh

Tuyến điều tra:……… Người điều tra: …… Ngày điều tra: ……

STT Tên

cây

Ghi chú

D (cm)

Hdc (m)

Hvn (m)

Tán (m) Tốt Trung

bình Xấu Rất xấu

Trong quá trình điều tra, xác định tên khoa học và tên Việt Nam thường gọi Những cây chưa xác định được tên, thu mẫu tiêu bản để giám định tại phòng thí nghiệm Các số liệu thu thập được ghi riêng cho từng loài

Sử dụng phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân PRA để thu thập số liệu về hiện trạng, nguồn gốc cây xanh; về nguyện vọng, quan điểm phát triển hệ thống cây xanh qua các đối tượng là người dân, cán bộ quản lý, các chuyên gia, nhà khoa học đang công tác tại các cơ quan, ban ngành ở địa phương

Ngoài các số liệu thu thập được, chúng tôi đã tham khảo các số liệu nghiên cứu đã được được công bố, hoặc các số liệu do các nhà nghiên cứu đã điều tra thu thập được để phân tích đánh giá hiện trạng cây xanh, nhất là cho các nội dung liên quan đến sinh trưởng, phát triển, nơi sống và khả năng thích nghi và sống sót của các loài

3.4.2 Xử lý số liệu

- Tên khoa học của loài cây được xác định theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (2003-2005) [3], Phạm Hoàng Hộ (1992) [10]

Ngày đăng: 07/10/2014, 02:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ NN và PTNT (2000), Tên cây rừng Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ NN và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
[2]. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
[3]. Nguyễn Tiến Bân (2003 – 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 1, tập 2, tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[4]. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[5]. Công ty công viên cây xanh Hà Nội (1992), Luận chứng kinh tế kỹ thuật cây xanh Hà Nội thời kỳ 1992-1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận chứng kinh tế kỹ
Tác giả: Công ty công viên cây xanh Hà Nội
Năm: 1992
[8]. Vũ Xuân Đề (1994), Tổng quan phân vùng đất và qui hoạch khô ng gian xanh nhằm sử dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường thành phố HồChí Minh. Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh , Bộ Lâm nghiệp , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan phân vùng đất và qui hoạch khô ng gian xanh nhằm sử dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường thành phố Hồ "Chí Minh
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1994
[9]. Phạm Kim Giao, Hàn Tất Ngạn, Đỗ Đức Viêm (1991), Quy hoạch đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đô thị
Tác giả: Phạm Kim Giao, Hàn Tất Ngạn, Đỗ Đức Viêm
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1991
[10]. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam . Montreal, tập I, II, III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
[11]. Trần Công Khanh , Trần Thanh Trăng (2000), Báo cáo chuyên đề đánh giá tập đoàn cây xanh Hà Nội đến năm 2000. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề "đánh giá tập đoàn cây xanh Hà Nội đến năm 2000
Tác giả: Trần Công Khanh , Trần Thanh Trăng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2000
[12]. Chế Đình Lý (1997), Cây xanh - Phát triển và quản lý trong môi trường đô thị. NXB Nông nghiệp , TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây xanh - Phát triển và quản lý trong môi trường đô thị
Tác giả: Chế Đình Lý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
[13]. Trần Đình Lý (1993), 1900 loài cây có ích ở Việt Nam . NXB Thế giới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý
Nhà XB: NXB Thế giới. Hà Nội
Năm: 1993
[14]. Trần Viết Mỹ (2001), Nghiên cứu cơ sở khoa học cây xanh và chọn loài cây trồng phù hợp phục vụ quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh. Luận án tiến sĩ nông nghiệp , Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cây xanh và chọn loài cây trồng phù hợp phục vụ quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Viết Mỹ
Năm: 2001
[15]. Hà Tất Ngạn (1996), Kiến trúc cảnh quan đô thị. NXB xây dựng , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cảnh quan đô thị
Tác giả: Hà Tất Ngạn
Nhà XB: NXB xây dựng
Năm: 1996
[17]. Trần Ngũ Phương (1970), Qui luậ t cấu trúc rừng hỗn loại . NXB KH&amp;KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui luậ t cấu trúc rừng hỗn loại
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: NXB KH&KT
Năm: 1970
[18]. Quyết định số 01/2006/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01 năm 2006 của Bộ Xây dựng về việc ban hành TCXDVN 362:2005 “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế
[20]. Lê Đồng Tấn (2003), “Môi trường sinh trưởng và tiêu chuẩn cây trồng trong các loại hình cây xanh đô thị ở Hà Nội đến năm 2010”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 4/2003, 459 - 462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường sinh trưởng và tiêu chuẩn cây trồng trong các loại hình cây xanh đô thị ở Hà Nội đến năm 2010”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Tác giả: Lê Đồng Tấn
Năm: 2003
[21]. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2009), Địa chí Thái Nguyên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Nguyên
Tác giả: Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[22]. Lê Phương Thảo , Phạm Kim Chi (1980), Cây trồng đô thị , tập 1. NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng đô thị
Tác giả: Lê Phương Thảo, Phạm Kim Chi
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1980
[23]. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu Thực vật. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu Thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
[25]. Dương Hữu Thời (2000), Cơ sở sinh thái học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Dương Hữu Thời
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ thành phố Thái Nguyên - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2.1. Bản đồ thành phố Thái Nguyên (Trang 25)
Hình 2.2. Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2.2. Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 (Trang 30)
Hình 2.2. Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2.2. Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 (Trang 31)
Hình 2.3. Biểu đồ độ ẩm trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2.3. Biểu đồ độ ẩm trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 (Trang 32)
Hình 2.4. Biểu đồ số giờ nắng trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2.4. Biểu đồ số giờ nắng trung bình tháng ở Thái Nguyên năm 2009 (Trang 32)
Hình 4.1. Cây xanh bóng mát trong vườn hoa Sông Cầu - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.1. Cây xanh bóng mát trong vườn hoa Sông Cầu (Trang 56)
Hình 4.2. Cây xanh bóng mát trong trường PTTH Lương Ngọc Quyến - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.2. Cây xanh bóng mát trong trường PTTH Lương Ngọc Quyến (Trang 58)
Hình 4.3. Cây xanh chức năng tại Công ty cổ phần gang thép TN - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.3. Cây xanh chức năng tại Công ty cổ phần gang thép TN (Trang 58)
Hình 4.4. Cây xanh đường phố ảnh hưởng tới an toàn giao thông - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.4. Cây xanh đường phố ảnh hưởng tới an toàn giao thông (Trang 62)
Hình 4.5. Rễ ăn ngang phá hỏng mặt đường và   cây bị tỉa trơ làm mất dáng vẻ của cây - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.5. Rễ ăn ngang phá hỏng mặt đường và cây bị tỉa trơ làm mất dáng vẻ của cây (Trang 62)
Hình 4.6. Tán cây phát triển sát vào ban công   trên đường Việt Bắc và Bến Tượng - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4.6. Tán cây phát triển sát vào ban công trên đường Việt Bắc và Bến Tượng (Trang 63)
Hình 1. Hàng cây Xà cừ trồng trước năm 1980 trên đường Nha Trang - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 1. Hàng cây Xà cừ trồng trước năm 1980 trên đường Nha Trang (Trang 92)
Hình 2. Hàng cây Phượng vĩ và Bằng lăng trên đường Nguyễn Du - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 2. Hàng cây Phượng vĩ và Bằng lăng trên đường Nguyễn Du (Trang 92)
Hình 4. Cây xanh công sở- Tỉnh ủy Thái Nguyên - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 4. Cây xanh công sở- Tỉnh ủy Thái Nguyên (Trang 93)
Hình 5. Cây xanh chuyên dụng Khoa Trồng trọt – Đại học Nông lâm TN - nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh bóng mát nội thành, thành phố thái nguyên
Hình 5. Cây xanh chuyên dụng Khoa Trồng trọt – Đại học Nông lâm TN (Trang 94)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w