TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP ------ LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT NGÀNH: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐO LỰC CHO QUÁ TRÌNH NẸP XƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
- -
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐO LỰC CHO QUÁ TRÌNH NẸP XƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊNH NGOÀI DÙNG CẢM BIẾN BIẾN DẠNG
NGUYỄN HỒ QUANG
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐHKT CÔNG NGHIỆP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐO LỰC CHO QUÁ TRÌNH NẸP XƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊNH NGOÀI DÙNG CẢM BIẾN BIẾN
DẠNG
Học viên: Nguyễn Hồ Quang
Lớp: Cao học K11 Chuyên ngành: Công nghệ chế tạo máy
Người HD khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Hòe
PGS.TS Nguyễn Đăng Hòe
HỌC VIÊN
Nguyễn Hồ Quang
Trang 3Chương 3: Thiết kế mô hình hệ thống đo lực cho quá trình nẹp xương bằng
3.3 Thiết kế load cell dùng tensomet lắp trên cơ cấu nẹp xương 23
3.4 Xây dựng công thức biểu thị mối liên hệ giữa lực tại vị trí cần đo và biến dạng của phần tử biến dạng tại vị trí gắn cảm biến
3.6 Ứng dụng Phần mềm Labview để lập trình và quan sát kết
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Strain gauge rosettes Cảm biến biến dạng đa nhánh
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Đo biến dạng trong xương sử dụng triaxial rosette gauges
Hình 1.2 Một hệ thống đo lực điển hình của National Instruments
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống đo lực
Hình 2.2 Cách cố định đầu đo trên bề mặt khảo sát
Hình 2.3 Một số loadcell của hãng Siemens
Hình 2.4 Nguyên lý hoạt động cảm biến áp điện
Hình 2.5 Cảm biến từ giảo có từ thẩm biến thiên
Hình 2.6 Cảm biến xúc giác
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống đo lực cho quá trình cố định xương
Hình 3.2.Khung Hoffman II của Stryker
Hình 3.3 Mô hình khung cố định xương
Hình 3.4 Khung cố định xương chụp bằng X-Quang
Hình 3.5 Các loại phần tử biến dạng
Hình 3.6 Phần tử biến dạng- thanh nối khung cố định xương
Hình 3.7.Cảm biến điện trở kiểu lực căng
Hình 3.8 Vị trí strain gauge khi chịu tải trọng kéo nén đúng tâm
Hình 3.9 Một số loại strain gauge thông dụng của hãng Omega
Hình 3.10 Vị trí strain gauge rosettes trong trường hợp tải trọng phức tạp
Hình 3.11
Hình 3.12 Đặc tính Strain gauge FLA-6-11
Hình 3.13 Cầu đo 4 vai tích cực
Hình 3.14 Mạch cầu Wheastone
Hình 3.15 Sơ đồ mạch cầu
Hình 3.16 Khuếch đại đảo dấu
Trang 7Hỡnh 3.17 Khuếch đại đảo dấu thực tế
Hỡnh 3.18 Khuếch đại đảo dấu cú biến trở
Hinh 3.19 Mạch khuếch đại đo lường
Hỡnh 3.20 Mạch khuếch đại tầng 1
Hỡnh 3.21 Mạch khuếch đại tầng 2, 3
Hỡnh 3.22 Mạch cảm biến và khuếch đại tớn hiệu
Hỡnh 3.23 Mụ hỡnh hệ thống khung cố định xương khi liền xương
Hỡnh 3.24 Lưới hoỏ kết cấu khung cố định xương
Hỡnh 3.25 Tối ưu hoỏ quỏ trỡnh lưới hoỏ kết cấu khung cố định xương
Hỡnh 3.26 Tớnh toỏn và mụ phỏng biến dạng
Hỡnh 3.27 Tớnh toỏn và mụ phỏng Ứng suất phỏp
Hỡnh 3.28 Tớnh toỏn và mụ phỏng Ứng suất tiếp
Hỡnh 3.29 Biến dạng của khung cố định xương khi chưa liền xương
Hỡnh 3.30 Phõn vựng biến dạng
Hỡnh 3.31 Phõn bố ứng suất phỏp
Hỡnh 3.32 Phõn bố ứng suất tiếp
Hỡnh 3.33 Sơ đồ khối hệ thống thu nhận, xử lý dữ liệu
Hình 3.34: mô hình Atmega8
Hình 3.35 Sơ đồ khối của bộ ADC
Hình 3.36 Thanh ghi ADMUX
Hình 3.37 Thanh ghi trạng thái và điều khiển
Hình 3.39 Thanh ghi điều khiển và so sánh tín hiệu analog
Hinh 3.40 Thanh ghi I/O
Hình 3.41 Sơ đồ khối của bộ truyền thông nối tiếp UART
Hình 3.42 Thanh ghi điều khiển và trạng thái đ-ờng truyền
Trang 8H×nh 3.44 Thanh ghi ®iÒu khiÓn vµ tr¹ng th¸i ®-êng truyÒn
H×nh 3.45 Thanh ghi UBRRH và UBRRL
H×nh 3.46 Thanh ghi UDR
Hình 3.47 M¹ch ghÐp nèi vi ®iÒu khiÓn Atmega8
Hình 3.48 Mạch in mạch ghép nối vi điều khiển
Hình 3.49 Sơ đồ mạch Max232
Hình 3.50 Cài đặt cấu hình Labview để truyền thông
Hình 3.51 Lập trình trên Labview
Hình 3.52 Giao diện lập trình trên Labview
Hình 3.53 Mô phỏng kết quả trên Labview
Hình 4.1 Mạch đo lường
Hình 4.2 Mô hình hệ thống đo lực nẹp xương
Hình 4.3 Kết quả đo lực hiển thị trên máy tính
Trang 9Một trong những vấn đề cần quan tâm là việc phân tích tải trọng tác dụng lên các chi của bệnh nhân bị gãy xương Khi một người bị gãy vỡ xương chân thì các ứng dụng các sản phẩm đúc bằng nhựa hoặc sợi thuỷ tinh để thay thế sẽ không còn hiệu quả để cho phép tái tạo và hàn gắn xương Xương là dạng mô sống và nó có thể hoàn toàn được tái tạo và thay thế Thực tế, ứng suất là yếu tố rất quan trọng trong việc bắt đầu cũng như duy trì quá trình hàn gắn xương Ví
dụ như nhà du hành vũ trụ trong trạng thái không trọng lượng ở không gian một thời gian dài sẽ dẫn đến giảm xương do thiếu ứng suât của lực hấp dẫn
Đối với xương bị gãy trầm trọng như là vỡ thành nhiều mảnh thì những phát minh về hệ thông cơ sinh sẽ thường được sử dụng và nó được biết đến như
là hệ thống nẹp xương ở phía ngoài Nó bao gồm một thanh thép không gỉ nằm phía ngoài cơ thể, được lắp chặt với các chốt cũng làm bằng thép không gỉ Các chốt này xuyên qua và giữ đoạn xương bị gãy cho đến khi mô xương được hàn gắn Và vì thế kết cấu này có thể mang tải trọng của bản thân khi người di chuyển
Trang 10Một vấn đề quan trọng được đặt ra liên quan đến việc xác định tải trọng tác dụng lên bộ nẹp xương khi bệnh nhân di chuyển Vì thông tin này rất cần thiết để xác định kích thước của bộ nẹp để nó không biến dạng quá mức và ngăn cản sự hàn gắn của xương Một trong những nét đặc trưng của quá trình hàn gắn xương là nếu tất cả ứng suất không có trong xương và không có sự chuyển động tương đối xảy ra giữa các đoạn xương bị gãy thì xương sẽ không được hàn gắn nhưng nếu sự chuyển động tương đối đó quá nhiều thì lại cản trở sự hàn gắn của xương
Để đo lường độ lớn của tải trọng làm dữ liệu cho việc nghiên cứu cứu sự liền xương, giám sát lực tác dụng lên hệ thống nẹp trong quá trình di chuyển mà không cần đến chụp X-Quang thì cần thiết kế một hệ thống đo lực phù hợp Tín hiệu lực đo được có thể dùng để dự báo sự dài ra của xương và can xương(callus), làm tín hiệu phản hồi để tự động điều chỉnh thống nẹp sao cho phù hợp, hoặc có thể quyết định thời gian tháo nẹp Ngoài ra, ta có thể biết được
sự hồi phục của xương bằng cách khảo sát moment uốn tại vị trí gãy có giảm đi hay không thông qua sự biến dạng của nẹp xương nhờ vào việc đo lực
Rõ ràng, hệ thống đo lực nẹp xương sẽ là một công cụ hỗ trợ mạnh mẽ cho lĩnh vực chấn thương chỉnh hình trong y học Tuy nhiên, việc nghiên cứu, chế tạo, ứng dụng hệ thống này vẫn còn khá mới mẻ trong ngành cơ sinh của nước
ta
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống đo lực bằng tensơmét
2 Phạm vi nghiên cứu: Đo lực nẹp xương theo phương pháp cố định ngoài
Phương pháp nghiên cứu: Lý thuyết kết hợp thực nghiệm
Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết đo lực bằng cảm biến biến dạng
- Thiết kế mô hình hệ thống đo lực cho quá trình nẹp xương bằng tensomet
- Đo lực tại điểm nối mô hình xương chân thông qua bộ nẹp xương và kết luận
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Tạo điều kiện cho việc tự động điều chỉnh hệ thống nẹp xương
- Làm công cụ hỗ trợ cho công tác chẩn đoán bệnh trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình
- Góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu lĩnh vực cơ sinh trong nhà Trường
Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan
Giới thiệu một cách tổng quan về quá trinh nghiên cứu chế tạo các hệ thống đo lực và ứng dụng cảm biến để đo lường trong y học trên thế giới
và ở Việt Nam
Chương 2: Phương pháp đo lực thông qua các đại lượng điện
Giới thiệu nguyên lý và một số phương pháp đo lực thông qua các đại lượng điện
Chương 3: Thiết kế mô hình hệ thống đo lực cho quá trình nẹp xương bằng
tensomet( strain gauge rosettes)
3.1 Sơ đồ hệ thống đo lực cho quá trình nẹp xương
Trang 123.3.4 Thiết kế mạch khuếch đại
3.4 Xây dựng công thức biểu thị mối liên hệ giữa lực tại vị trí cần đo
và biến dạng của phần tử biến dạng tại vị trí gắn cảm biến dựa trên phần mềm Ansys để làm cơ sở cho việc lập trình
3.5 Card thu nhận dữ liệu để kết nối máy tính
3.6 Ứng dụng Phần mềm Labview để lập trình và quan sát kết quả Chương 4: Thí nghiệm và kết quả
4.1 Các kết quả thí nghiệm
4.2 Đánh giá kết quả và nhận xét
4.3 Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13Chương 1: Tổng quan
Ngày nay, đo lường điện các chỉ tiêu không điện là công cụ sắc bén thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ, cần thiết trong nghiên cứu, thiết kế, kiểm tra, thử nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm và trong đo lường điều khiển tự động
Đo các đại lượng không điện bằng phương pháp điện là biến đổi các đại lượng không điện thành tín hiệu điện thông qua các hiện tượng vật lý
Một trong những vấn đề quan tâm trong kỹ thuật là đo lực, biến dạng, ứng suất nên từ lâu người ta đã nghiên cứu chế tạo các loadcell và hiện nay các nhà sản xuất đã phát triển chế tạo ra nhiều loại loadcell đa dạng và phong phú
Tuy nhiên hệ thống đo lực ứng dụng trong y học đặc biệt trên lĩnh vực chấn thương chỉnh hình chỉ mới bắt đầu từ thập niên 70 trở lại đây Có rất nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là giáo sư Burny ở
Bỉ, giáo sư Churches ở Anh v.v
Từ năm 1965 đến năm 1981 người ta đã xây dựng các hệ thống đo lực dụng sử dụng một strain gauge để khảo sát sự biến dạng của khung cố định xương làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá các quá trình liền xương của hơn 500 bệnh nhân Năm 1989 các nhà khoa học ở Canada đã phát triển nghiên cứu hệ thống đo biến dạng trên xương dụng rectangular strain gauge rosettes thay vì dùng một strain gauge như trước đây Năm 1997 Cristofolini L., Viceconti M đã sử dụng nghiên cứu hệ thống đo ứng suất chính trong xương đùi sử dụng uniaxial và triaxial rosette gauges
Trang 14Hình 1.1: Đo biến dạng trong xương sử dụng triaxial rosette gauges
Về cơ bản thì một hệ thống đo biến dạng đối với xương bị gãy bao gồm một số modun như là:
+ Strain gauge rosettes được dán vào phần tử biến dạng Phần tử biến dạng có thể là xương bị gãy hoặc là khung cố định xương
+ Mạch cầu Wheatstone để biến đổi tín hiệu điện trở thành điện áp Với loại Measurement Group 2100 có thể cung cấp từ 10 đến 40 cầu
+ Mạch khuếch đại: Khuếch đại tín hiệu điện áp
+ Bộ chuyển đổi ADC: Chuyển tín hiệu tương tự thành số
+ Máy tính và phần mềm
Ví dụ hệ thống đo lực điển hình của National Instruments như hình 1.2 Hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì hệ thống đo lực, biến dạng dùng trong y học đã tiến bộ vượt bậc Tuy nhiên, do sự biến đổi của can xương trong trường hợp xương chịu tác dụng của hệ lực tổng quát rất phức tạp nên viêc ứng dụng hệ thống này trong y học còn hạn chế, đặc biệt là tại nước ta
Trang 15Vấn đề đo lực, biến dạng để nghiên cứu sự liền xương khi xương chịu tác động của một hệ lực biến thiên như trong trường hợp bệnh nhân di chuyển là khá phức tạp nên đề tài được tác giả giới hạn nghiên cứu hệ thống đo lực của khung cố định xương trong trường hợp xương chịu tác dụng của tải trọng không đổi
Hình 1.2 Một hệ thống đo lực điển hình của National Instruments
Trang 16Chương 2: Phương pháp đo lực thông qua các đại lượng điện
2.1 Sơ đồ hệ thống đo lực
2.2 Các loại cảm biến dùng để đo lực
2.2.1.Cảm biến điện trở lực căng
Dưới tác dụng của ứng lực cơ học, trong môi trường chịu ứng lực xuất hiện biến dạng Sự biến dạng của các cấu trúc ảnh hưởng rất lớn tới khả năng làm việc cũng như độ an toàn khi làm việc của kết cấu chịu lực Mặt khác giữa ứng lực và biến dạng có mối quan hệ với nhau và từ đó có thể xác định được ứng lực khi đo biến dạng do nó gây ra Vì thế đo biến dạng là một vấn đề rất đáng quan tâm trong
kỹ thuật
Khi đo, cảm biến được gắn vào bề mặt của cấu trúc cần khảo sát, kết quả là cảm biến cũng chịu một biến dạng như biến dạng của cấu trúc [1]
Hình 2.2 Cách cố định đầu đo trên bề mặt khảo sát
1 Bề mặt khảo sát 2 Cảm biến 3 Lớp bảo vệ 4 Mối hàn
5 Dây dẫn 6 Cáp điện 7 Keo dán
Cảm biến ( đầu đo) Mạch chuyển đổi
Khuyếch Đại ADC
Máy tính+
Labview
Tín hiệu điện
Tín hiệu điện được khuếchđại
Truyền
dữ liệu
Lực tác dụng
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống đo lực
Trang 17Điện trở của cảm biến được xác định bởi biểu thức:
l R S
Trang 18- Điện trở suất: Điện trở của vật liệu làm dây phải đủ lớn để dây không quá dài làm tăng kích thước cảm biến và tiết diện dây không quá bé làm giảm dòng đo dẫn đến làm giảm độ nhạy
- Hệ số đầu đo: thông thường K=2-3, ngoại trừ isoelastic có K=3.5 và vonfram K=4.1
Platin Ảnh hưởng của lực đến độ tuyến tính: Trong giới hạn đàn hồi, hệ số đầu đo không đổi do quan hệ tuyến tính giữa điện trở và biến dạng Ngoài giới hạn đàn hồi, khi
l/l>0.5%-20% tùy theo vật liệu, hệ số đầu đo K=2
- Ảnh hưởng của nhiệt độ: Nói chung K ít chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ngoại trừ isoelastic Trong khoảng nhiệt độ từ -100oC300oC sự thay đổi của hệ số đầu đo K theo nhiệt độ có thể biểu thị qua biểu thức:
K(T)=Ko[1+K(T-To)]
Ko- hệ số đầu đo ở nhiệt độ chuẩn To ( thường To =25oC)
K- hệ số phụ thuộc vật liệu Với Nichrome V thì K =-0.04%/ oC, constantan K
=+0.01%/ oC
- Độ nhạy ngang: ngoài các nhánh dọc có điện trở RL cảm biến còn có các đoạn nhánh ngang có tổng độ dài lt, điện trở Rt, …
Trang 202.2.2 Cảm biến áp điện:
Nguyên lý hoạt động: Dựa trên hiệu ứng áp điện
Vật liệu để tạo ra các chuyển đổi áp điện thường là tinh thể thạch anh (SiO2), titanabari(BaTiO3), muối Xenhet, tuamalin…
Lực Fx gây ra hiệu ứng áp điện dọc với điện tích q = d1.Fx
Nếu tác động một lực theo trục Y thì gây ra hiệu ứng áp điện ngang với điện tích q phụ thuộc vào kích thước hình học của chuyển đổi:
q= -d1(y/x).Fy
Trong đó:
d1: hằng số áp điện ( gọi là modul áp điện)
y, x: Kích thước chuyển đổi theo trục X và Y
Hình 2.4 Nguyên lý hoạt động cảm biến áp điện
2.2.3 Cảm biến áp từ
Cảm biến áp từ hay cảm biến từ giảo hoạt động dựa trên hiệu ứng từ giảo Dưới tác động của từ trường, một số vật liệu sắt từ thay đổi tính chất hình học hoặc
Trang 21tính chất cơ học ( hệ số Young) Hiện tượng này gọi là hiệu ứng từ giảo Khi có tác dụng của lực cơ học gây ra ứng lực trong vật liệu sắt từ làm thay đổi đường cong từ hóa của chúng, khi đó dựa vào sự thay đổi của độ từ thẩm hoặc từ dư thì có thể xác định được độ lớn của lực tác dụng Đây là hiệu ứng từ giảo nghịch
Cấu tạo của cảm biến gồm một cuộn dây có lõi từ hợp với một khung sắt từ tạo thành một mạch từ kín ( Hình 2.5.)
Dưới tác dụng của lực F lõi từ bị biến dạng kéo theo sự thay đổi độ từ thẩm làm cho từ trở của mạch từ thay đổi Sự thay đổi tương đối của L, R hoặc tỉ lệ với ứng lực , nghĩa là với lực cần đo F thì ta có:
Trang 22vuông nhỏ đều có một điện cực được cách điện với dây dẫn của lưới bao quanh nó, các điện cực này nối với đất thông qua mạch đo dòng Mặt trên của hệ thống được phủ cao su có pha các hạt dẫn điện Khi có lực nén tác dụng lên một phần nào đó của tấm cao su, khoảng cách giựa các hạt dẫn điện ở phần đó ngắn lại, điện trở giảm xuống, dòng điện tăng lên( hình 2.6b) Toạ độ của vùng có dòng điện tăng lên
sẽ xác định vị trí của lực tác dụng và giá trị của nó xác định giá trị của lực
Hình 2.6 Cảm biến xúc giác a) Hệ thống cực đo b) Tác dụng của lực lên điện cực
Trang 23Chương 3: Thiết kế mô hình hệ thống đo lực cho quá trình
cố định xương bằng tensomet( strain gauge rosettes)
3.1 Sơ đồ hệ thống đo lực cho quá trình nẹp xương
Hiện nay, khung Hoffman được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình trên thế giới Loại khung này cho phép xoay các chốt để cố định xương theo nhiều phương khác nhau (Hình 3.2)
Điện trở biến thiên
Phần tử biến dạng
định ngoài
Strain gauge Biến
dạng
Cầu Wheaston
Khuyếch Đại ADC
Máy tính+
Labview
Tín hiệu điện áp
Tín hiệu điện áp khuếch đại
Truyền
dữ liệu Lực tác dụng
Trang 24Hình 3.2.Khung Hoffman II của Stryker
Lý thuyết tính toán khung cố định xương được đề cập trong tài liệu [9] bao gồm việc phân tích mối liên hệ giữa độ cứng vững của khung với chiều dài, số lượng, vị trí của thanh nối và chốt Từ đó nhận thấy, số lượng chốt tối thiểu phải là
2, cụm kẹp chốt phải được siết chặt gần với xương đồng thời thanh nối càng ngắn càng tốt
Mô hình khung cố định xương được lựa chọn nghiên cứu như hình 3.3
Hình 3.3 Mô hình khung cố định xương
1 Thanh nối 2.Chốt 3.Xương 4.Vùng gãy xương
Trang 25Hình 3.4 Khung cố định xương chụp bằng X-Quang
3.3 Thiết kế load cell dùng tensomet lắp trên khung cố định xương
3.3.1 Phần tử biến dạng
Phần tử biến dạng có thể là chính là strain gauge hoặc là thanh đàn hồi, ống đàn hồi, vòng đàn hồi hoặc dạng cầu như hình 3.5
Hình 3.5 Các loại phần tử biến dạng
Trang 26Tùy thuộc vào vị trí, kết cấu của đối tượng, hệ lực tác dụng lên đối tượng cần
đo mà ta có thể lựa chọn phần tử biến dạng sao cho phù hợp
Để có được kết quả đo ứng lực trong xương chính xác, tin cậy thì nên sử dụng phần tử biến dạng là loại strain gage đặc biệt được cấy trực tiếp vào xương Tuy nhiên, việc chế tạo cũng như cấy strain gauge vào xương là một vấn đề rất phức tạp nên ta có thể khảo sát ứng lực trong xương một cách gián tiếp thông qua phần tử biến dạng là thanh nối của khung cố định xương Kết cấu thanh nối được tính chọn như hình 3.6
Hình 3.6 Phần tử biến dạng- thanh nối khung cố định xương
3.3.2 Cảm biến biến dạng
Hiện nay, người ta sử dụng phổ biến 2 loại cảm biến biến dạng:
+ Cảm biến điện trở là loại cảm biến thụ động, được chế tạo từ vật liệu có điện trở biến thiên theo mức độ biến dạng, có kích thước nhỏ từ vài mm đến vài cm
và khi đo chúng được dán trực tiếp lên cấu trúc biến dạng
Trang 27+ Cảm biến đầu đo dạng dây rung được dùng chủ yếu trong ngành xây dựng Đầu đo được làm bằng một sợi dây kim loại căng giữa 2 điểm của cấu trúc cần đo biến dạng Tần số dây rung là hàm của sức căng cơ học, tần số này thay đổi khi khoảng cách giữa 2 điểm nối thay đổi
Để đo lực, biến dạng thì loại cảm biến điện trở kiểu lực căng còn gọi là Strain gauge được sử dụng phổ biến nhất ( Hình 3.7)
Hình 3.7.Cảm biến điện trở kiểu lực căng
Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của hệ lực cần đo mà ta lực chọn số lượng, chủng loại strain gauge cũng như chọn vị trí dán strain gauge sao cho phù hợp
Trường hợp thanh chịu lực đơn giản (ví dụ chịu kéo nén đúng tâm như hình 3.8) thì ta chỉ cần cần sử dụng một strain gauge để xác định biến dạng Lúc này, giữa ứng suất, lực, biến dạng có mối liên hệ như sau:
Trang 28Hình 3.8 Vị trí strain gauge khi chịu tải trọng kéo nén đúng tâm
Tuy nhiên, do tải trọng tác dụng lên xương trong quá trình di chuyển là khá phức tạp( ứng suất kéo, uốn, xoắn) nên ta sẽ phải sử dụng cảm biến có 3 strain gauge để đo lường theo 3 phương khác nhau và nó được gọi là strain gauge rosette Strain gauge rosette có các kiểu như là Rectangular, Equiangular(delta) hoặc là T-delta Rosette
Trang 30Kiểu “Rectangular strain gauge rosettes” khá thông dụng nên được sử dụng để
nghiên cứu trong đề tài này và được bố trí như hình 3.10
45°
45°
x m
y
Hình 3.10 Vị trí strain gauge rosette trong trường hợp tải trọng phức tạp
Mối liên hệ giữa ứng suất chính, phương chính và biến dạng x,y, m theo các phương x, y, m được xác định như sau: ( Hình 3.11)
Từ công thức định luật Hook ở trạng thái ứng suất phẳng [10]:
; Với I=xy: Lượng bất biến ứng suất bậc nhất
Ứng suất với phương bất kỳ:
Trang 31E I
E K E
xy xy
Trang 32Hình 3.12 Đặc tính Strain gauge FLA-6-11
3.3.3 Thiết kế mạch cầu Wheatstone
Cầu đo Wheatstone là loại cầu đo được ứng dụng rộng rãi trong mạch đo biến dạng, đo di chuyển, ứng lực, áp suất, lực kéo nén, momen,… đồng thời có thể ghép với các mạch đo thích hợp- chuyển đổi thống nhất hóa
Cầu đo điện trở Wheatstone có các dạng
như là
+ Cầu đo một vai tích cực
+ Cầu đo 2 vai tích cực kề nhau hoặc đối
nhau
+ Cầu đo 4 vai tích cực
Hình 3.13 Cầu đo 4 vai tích cực
Trang 33Khi điện trở R1 của tenzo(strain gauge) biến thiên một lượng là R1 thì điện
áp ra Ur cũng biến thiên một lượng là Ur và lúc này ta có:
2 1
0 2 3
1 1
Trang 340 0 1
Vậy, nếu điện trở strain gauge biến thiên một lượng là R1 thì điện áp ra Ur
1
4.
3.3.3.2.Thiết kế mạch cầu Wheatstone
Với strain gauge đang sử dụng có điện trở Rcb = 120(), hệ số đầu đo K =2.1
thì ta thiết kế mạch cầu như hình 3.15 với các thông số thiết kế như sau:
+ Điện áp đặt vào U0= 12 V
+ Giá trị điện trở:
Để tránh cảm biến bị hỏng do dòng qua cảm biến
quá lớn thì ta giảm dòng bằng cách tăng giá trị các
+ Điện áp ra: Ur =0…Urmax
Với người nặng khoảng 100 kg, thanh nối của hệ
khung cố định xương làm bằng vật liệu Inox 304
có modul đàn hồi E = 2.104
( kN/cm2), đường kính tại vị trí dán cảm biến 10 (mm) thì từ CT1 và
+12V
2K
R3 5k6
+ -
R1 5k6
0
R14 10K
R17 10K
R5 10K
R20 10K
-12V
R26 -12V
+ -
OP2
+ -
R18 10K
R28 10K
0
C2 C
J1: 0-5V
ADC
1 2
2
R24
Hình 3.15 Sơ đồ mạch cầu
Trang 353.3.4.1 Cơ sở lý thuyết
- Mạch khuếch đại thuật toán:
+Khuếch đại đảo dấu:
Hình 3.16 Khuếch đại đảo dấu Trên thực tế, kiểu mạch khuếch đại đảo dấu như sau:
Hình 3.17 Khuếch đại đảo dấu thực tếTrong các ứng dụng, thông thường khi hệ thống chưa làm việc thì điện áp cần đo Vout phải bằng không, nhưng do thực thế điện áp vào Vin đưa vào mạch khuếch đại là khác không Vì thế mà ở đầu vào không đảo được thiết kế một điện
áp cùng với biến trở để hiệu chỉnh sao cho ở điều kiện ban đầu Vout = 0
Khi đó mạch khuếch đại được thiết kế như sau:
Trang 36Hình 3.18 Khuếch đại đảo dấu có biến trở + Mạch khuếch đại đo lường:
3.3.4.2 Thiết kế mạch khuếch đại đo lường
Với biến dạng của strain gauge rất nhỏ nên điện áp ra của cầu Wheatstone chỉ từ 0 đến 0,8 mV Do đó, để đọc được tín hiệu điện áp và đưa vào ADC để chuyển đổi thì cần phải khuếch đại tín hiệu thông qua mạch khuếch đại đo lường với dải đo từ 0 đến 5 V
Lúc này, hệ số khuếch đại Kđ được tính như sau:
R
R R
R V
Trang 376250 0.8
Trang 38Tầng 1 có hệ số khuếch đại K1=1 với mục đích đảm bảo sự đồng pha nên các điện trở đều cùng giá trị là 10 (k)
Mạch khuếch đại sử dụng 2 IC chuyên dụng LM324 với mỗi IC gồm 4 Amp khuếch đại thuật toán
Op-Mạch cảm biến và khuếch đại tín hiệu được thiết kế như hình 3.22
Mạch gồm các khối chính: Khối mạch cầu trở H, khối khuếch đại, khối nguồn nuôi
Nguyên lý hoạt động của mạch như sau: khi không có biến dạng thì cầu cân bằng, tín hiệu ra của mạch khuếch đại là 0V Khi có biến dạng làm cảm biến tenzo biến dạng theo làm thay đổi điện trở trên tenzo, làm cho cầu H mất cân bằng, xuất hiện U giữa 2 nhánh của cầu Tín hiệu U giữa 2 nhánh cầu là rất nhỏ, đưa vào tầng khuếch đại khuếch đại tín hiệu lên dải 0v đến 5V đưa vào ADC của vi điều khiển
Trang 39R1 5k6
0 R14 10K
R17 10K
R5 10K
-12V
+ -
0 -12V
R18 10K
R28 10K
0
C2 C
2
R24
Hình 3.22 Mạch cảm biến và khuếch đại tín hiệu
Trang 403.4 Xây dựng công thức biểu thị mối liên hệ giữa lực tại vị trí cần đo và biến dạng của phần tử biến dạng tại vị trí gắn cảm biến dựa trên phần mềm Ansys
để làm cơ sở cho việc lập trình
Sử dụng modun DesignModeler để thiết kế mô hình hệ thống khung cố định xương như hình 3.23
Hình 3.23 Mô hình hệ thống khung cố định xương khi liền xương
Sử dụng modun CFX-Mesh để thực hiện việc lưới hoá như hình 3.24 và 3.25