Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổchức tín dụng TCTD chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả nợ bịquá hạn, không được chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá
Trang 1NHẬN XÉT (Của cơ quan thực tập)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Người nhận xét
(Ký tên, đóng dấu)
Trang 2NHẬN XÉT (Của giáo viên theo dõi thực tập)
Về các mặt: Mục đích của đề tài; Tính thời sự và ứng dụng của đề tài; Bố cục và hình thức trình bầy đề tài; Kết quả thực hiện đề tài; Ý thức, thái độ của sinh viên trong quá trình thực hiện đề tài
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Kết luận : ………… ………
Điểm: ………
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Giáo viên theo dõi
(Ký tên)
Trang 4Bảng 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức SHB
Bảng 3: Sơ đồ tổ chức BanQL&XL nợ có vấn đề
Bảng 4: Quy trình quản lý và xử lý nợ có vấn đề tại Chi nhánh
Bảng 5: Quy trình quản lý nợ tại hội sở chính
Bảng 6: Quy trình xử lý nợ tại Hội sở chính
Bảng 7: Quy trình Giảm miễn lãi
Bảng 8: Quy trình cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Bảng 9: Quy trình chuyển nợ quá hạn
Trang 5BẢNG 1:DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTCBTD Cán bộ tín dụng
PKHCN Phòng khách hàng cá nhân
QLTD Quản lý tín dụng
QLNCVĐ Quản lý nợ có vấn đề
XLRR Xử lý rủi ro
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bảnthân, tôi đã nhận được nhiều sự chỉ dẫn, giúp đỡ nhiệt tình từ phía khoa Hệ thốngthông tin quản lý trường Học viện Ngân Hàng và từ phía Ngân Hàng TMCP SàiGòn – Hà nội
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa hệ thống thông tin quản
lý, đặc biệt là Thầy Nguyễn Dương Hùng đã theo dõi sát sao và hướng dẫn tôi tậntình, chu đáo Thầy đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để tôi hoànthành chuyên đề đúng tiến độ thời gian và có chất lượng
Trân trọng gửi lời cảm ơn tới quý Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội đã tạođiều kiện tốt nhất trong thời gian thực tập để tôi hoàn thành tốt chuyên đề này Cảm
ơn các anh chị Ban quản lý và xử lý nợ có vấn đề và đặc biệt là anh Vũ Đại Dương
đã tạo điều kiện thực tế để tôi tìm hiểu hoạt động quản lý rủi ro tại quý Ngân hàngcũng như cung cấp những thông tin, số liệu liên quan để tôi hoàn thành và có cáinhìn trực quan về chuyên đề
Xin kính chúc quý Thầy cô, quý cơ quan mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Hà nội ngày 20 tháng05 năm 2013
Sinh viên
TRẦN TƯ PHƯƠNG
Trang 7MỞ ĐẦU
Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 21 chứng kiến sự tăng trưởng ngoạnmục của ngàng Tài chinh – Ngân hàng, trong đó ấn tượng nhất là các ngân hàngthương mại Số lượng và vốn của các ngâ hàng thương mại tăng rất nhanh, cùng với
đó là sự đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội với xuất phát điểm là NHTMCPnông thôn Nhơn Ái, với số vốn ban đầu chỉ là 400 triệu vào năm 1993, tuy nhiênsau 16 năm thành lập thì ngân hàng có vốn điều lệ là hơn 2000 tỷ đồng, tổng tài sảnhơn 21.000 tỷ( số liệu 30/9/2008)
Tuy nhiên, bất cứ sự tăng trưởng nào cũng đi kèm với các mặt trái của nó Cùngvới tốc độ tăng trưởng của vốn điều lwj và đặc biệt là tổng dư nợ thì tình trạng nợxấu đã xuất hiện và thực sự đáng chú ý khi nền kinh tế đang lâm vào hoàn cảnh khókhăn như hiện nay
Khi khối lượng nợ xấu tăng lên đến một mức nhất định thì sẽ gây ảnhhưởng xấu tới sự phát triển cũng nhưn hoạt động của ngân hàng Vì vậy, vấn đềquản lý nợ xấu được đặt ra ở hầu hết các NHTM Tuy nhiên, không tồn tại một môhình hay một cách thức nào chung về quản lý nợ xấu cho mọi ngân hàng thươngmại Tùy từng đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà họ đưa ra cho mình cách thứcquản lý nợ xấu tốt nhất
Được nhà trường giới thiệu thực tập và ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nộichấp nhật, ngày 10/04/2013 tôi bắt đầu kỳ thực tập tại ban quản lý rủi ro của ngânhàng SHB địa chỉ 81 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm – Đống Đa – Hà Nội Cùng với
sự quan tâm về vấn đề nợ xấu và quá trình nghiên cứu quy trình xử lý và quản lý nợxấu tại Ban quản lý rủi ro, tôi thấy quy trình cần được hoàn thiện hơn để phát huytốt nhất khả năng
Vì vậy, trên cơ sỏ đó tôi quyết định thực hiện đề tài “Quy trình quản lý và xử lý nợ
có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội”
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1 Sự hình thành và phát triển
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB ) tiền thân là Ngânhàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái được thành lập theo giấy phép số 0041/NH /GPngày 13/11/1993 do Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cấp và chính thức
đi vào hoạt động ngày 12/12/1993 Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế đất nướcchuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý cuảNhà nước và theo chủ trương cuả Chính Phủ, đây là giai đoạn đổi mới và thực hiệnpháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã và Công ty tài chính, vốn điều lệ đăng ký ban đầu
là 400 triệu đồng, thời gian đầu mới thành lập mạng lưới hoạt động cuả Ngân hàngchỉ có một trụ sở chính đơn sơ đặt tại số 341 - Ấp Nhơn Lộc 2 - Thị tứ Phong Điền -Huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là Huyện Phong Điền Thành Phố CầnThơ với điạ bàn hoạt động bao gồm vài xã thuộc Huyện Châu thành, đối tượng chovay chủ yếu các hộ nông dân với mục đích vay phục vụ sản xuất nông nghiệp vàtổng số cán bộ nhân viên lúc bấy giờ Ngân hàng có 08 người, trong đó chỉ có 01người có trình độ đại học
Trải qua gần 13 năm hoạt đông đến nay vốn điều lệ của SHB đã được301.929.000.000 đồng, mạng lưới hoạt động kinh doanh rộng khắp trong địa bàn
TP Cần Thơ và một phần tỉnh Hậu Giang, dự kiến đầu tháng 9 năm 2006 sẽ khaitrương chi nhánh Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội và Kiên Giang, đối tượng cho vaykhông chỉ là các hộ nông dân mà còn mở rộng cho vay: hộ kinh doanh cá thể, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ trên điạ bàn mức độ tăng trưởng hàng năm bình quân trên45% lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước
Trong hoạt động kinh doanh xét trên phương diện an toàn vốn SHB là mộtngân hàng bền vững với cơ sở vốn hiện tại đủ để đảm bảo SHB tiếp tục phát triểnnhanh trong thời gian tới, với cơ sở vốn vững mạnh và tỷ lệ an toàn vốn cao cùngvới văn hoá tín dụng thận trọng, chính sách và quy trình hợp lý đảm bảo chất lượngtài sản tốt với khả năng phát triển danh mục tín dụng khả quan vì vậy kết quả hoạt
Trang 9động kinh doanh của SHB trong những năm qua năm sau luôn cao hơn năm trước,các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Ngày 20/01/2006, Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã ký Quyếtđịnh số 93/QĐ-NHNN về việc chấp thuận cho SHB chuyển đổi mô hình hoạt động
từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn sang Ngân hàng Thương mại Cổphần, từ đó tạo được thuận lợi cho ngân hàng có điều kiện nâng cao năng lực về tàichính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển,đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của SHB và đây là Ngân hàng TMCP đô thịđầu tiên có trụ sở chính tại Thành Phố Cần Thơ trung tâm tài chính-tiền tệ của khuvực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Việc chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng TMCP nông thôn sangNgân hàng TMCP sẽ là một giai đoạn phát triển mới của SHB với mục tiêu sẽ trởthành một trong ngân hàng thương mại cổ phần bán lẻ đa năng, phấn đấu chuyểnđổi từ một ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn với phạm vi và quy mô hoạtđộng hẹp sang ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, cung cấp sản phẩm dịch vụ đadạng cho các thị trường có chọn lựa, ngân hàng hoạt động vững mạnh và an toàn,phát triển bền vững đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trong năm 2006 SHB dự kiến sẽ tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng, dự kiến đếnnăm 2010 sẽ tăng vốn điều lệ lên 1.500 tỷ đồng và tiếp tục tăng vốn điều lệ lêntrong những năm tới, song song đó sẽ mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanhmột cách vững chắc, an toàn, bền vững về tài chính, áp dụng công nghệ thông tinhiện đại, cung cấp các dịch vụ và tiện ích thuận lợi, đa dạng và thông thoáng đếncác doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tầng lớp dân cư ở đô thị, nâng cao và duy trìkhả năng sinh lời, phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh và thích ứng nhanh chóng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với kếhoạch phát triển hoạt động kinh doanh lấy CNTT làm nền tảng cho việc phát triển
và giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, cải tổ cơ cấu tổ chức vàđiều hành kinh doanh, tiến hành tập trung hoá quản trị rủi ro, quản lý nguồn vốn và
xử lý nghiệp vụ theo các thông lệ quốc tế nhằm tăng hiệu quả hoạt động
Trang 10SHB sẽ từng bước áp dụng nhất quán các thông lệ quốc tế trong công tác điềuhành, phát triển và đưa ra thị trường những sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng đápứng nhu cầu của khách hàng, tạo uy tín thương hiệu qua chất lượng phục vụ kháchhàng, đầu tư vào con người, phát triển năng lực của cán bộ, nhân viên, khuyếnkhích sự cống hiến xuất sắc, thưởng công xứng đáng với thành tích và tạo điều kiệncho họ có cơ hội phát triển toàn diện.
Với kế họach phát triển kinh doanh cụ thể phù hợp với chương trình hànhđộng,lộ trình hội nhập của ngành ngân hàng Việt Nam cùng với tiềm lực tài chínhmạnh của các cổ đông tiềm năng, với bộ máy Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát,Ban Điều hành là những người có trình độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong lĩnh vựcngân hàng và có tâm huyết với Ngân hàng sẽ là những nhân tố tích cực trong giaiđoạn phát triển mới và sẽ đưa SHB phát triển một cách bền vững trong thời gian tới
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội – Hội sở chính 77 Trần Hưng Đạo, Hoàn kiếm, Hà Nội
Từ năm 1993 tới tháng 7 năm 2008 thì Hội sở của SHB được đặt tại số 138,đường 3/2,thành phố Cần thơ
Vào ngày 29/07/2008, Hội sở chính thức chuyển về số 77, Trần Hưng Đạo,Hoàn kiếm, Hà nội Tính đến ngày 30/09/2009 thì Hội sở SHB có 169 nhân viên,trong đó có 3 tiến sĩ, 11 thạc sĩ, 139 đại học, 2 cao đằng, 8 trung cấp và 6 trình độphổ thông Hội sở đã có đầy đủ các hoạt động chính của một ngân hàng
Trang 112 Bộ máy tổ chức
Bảng 2: MÔ HÌNH SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC SHB
Trang 12Bảng 3: Sơ đồ tổ chức BanQL&XL nợ có vấn đề
3 Các hoạt động nghiệp vụ và tình hình ứng dụng tin học của đơn vị thực tập
- Hệ thống máy tính được trang bị đầy đủ, công việc xử lý nợ hầu như được xử
lý tại máy tính
- Các báo cáo về xử lý nợ xấu: lấy số liệu từ hệ thống, rồi tự xử lý bằng Exel
mà chưa có phần mềm chuyên biệt
- Đơn vị đang dự định mở thanh thông tin “bán tài sản XLN ” trên trang chủ SHB
- Đang đề xuất phương án phát triển phần mềm theo dõi đánh giá tiến độ XLN
Để khi kiểm tra xử lý một khoản nợ được đễ dành, chỉ cần đăng nhập hệ thống và
Ban QL&XL NCVĐ
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Tổng quan về nợ có vấn đề ở các Ngân hàng
2.1.1 Khái niệm nợ xấu
2.1.1.1 Qui định của Việt nam
Quan niệm về nợ xấu của ngân hàng trước năm 2000
Trước năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nợxấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh do các nguyên nhânkhách quan hoặc chủ quan trong hoạt động tín dụng của các NHTM
Khi đó, nợ xấu trong thời kỳ này bao gồm các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi
và việc phân loại nợ xấu được xác định theo thời gian quá hạn bao gồm: nợ quá hạndưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày đến
360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày, trong đó các khoản nợ quá hạn trên 360 ngàyđược gọi là nợ khó đòi Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổchức tín dụng (TCTD) chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả nợ bịquá hạn, không được chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn Việc áp dụng cácbiện pháp xử lý nợ cụ thể được căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quandẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi không thu hồi được
Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 149/2001/QĐ-TTg.
Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, tạo
cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinhtrước thời điểm 31/12/2000 của các NHTM
Mặc dù nội dung Quyết định 149/2001/QĐ-TTg không quy định cụ thể về nợxấu, nhưng theo Quyết định này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn đọngphát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không có khả năng trả nợ, mặc dù ngânhàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhưng vẫn không thu hồiđược nợ Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định này, theo đề nghị củaNHNN và các NHTM, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép đưa vào trong đề án xử lý
Trang 15nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chưa quá hạn trước thời điểm 31/12/2000nhưng NHTM có đủ căn cứ để xác định khả năng khó thu hồi nợ.
Như vậy, khác với giai đoạn trước, các NHTM phân loại các khoản nợ xấutồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khảnăng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có tài sản bảođảm hoặc không có tài sản bảo đảm) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còntồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt động) để phân loại thành 03 nhóm nợ tương ứng vớicác cơ chế xử lý kèm theo khác nhau, bao gồm:
- Nợ xấu tồn đọng có tài sản bảo đảm (nợ tồn đọng nhóm 1);
- Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng thu hồi(nợ tồn đọng nhóm 2);
- Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng con nợ đang còn tồn tại,hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3)
Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (giai đoạn hiện nay).
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốcNHNN Việt Nam về việc ban hành “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”,Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam ngày25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, tríchlập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổchức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005,việc xác định, phân loại nợ xấu của các TCTD đã bước đầu theo sát với thông lệquốc tế (phân loại căn cứ vào thực trạng khách hàng chứ không chỉ căn cứ vào thờigian quá hạn của khoản cấp tín dụng) Theo đó, các TCTD có thể thực hiện xácđịnh, phân loại các khoản nợ dựa trên phương pháp phân loại nợ định lượng hoặcđịnh tính thành 05 nhóm nợ: nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), nợ nhóm 2 (nợ cần chúý), nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ cókhả năng mất vốn) Tương ứng với mỗi nhóm nợ, NHNN quy định tỷ lệ tríchlập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1 là 0%; Nhóm 2 là
Trang 165%; Nhóm 3 là 20%; Nhóm 4 là 50% và Nhóm 5 là 100%, riêng đối với cáckhoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, TCTD trích lập dự phòng cụ thể theokhả năng tài chính của TCTD.
Đồng thời, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng
Nhà nước cũng quy định: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”
Các tiêu chí để phân loại nợ xấu cụ thể như sau:
Trích Điều 6, Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
* Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3.
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc
đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5.
* Phân loại nợ theo phương pháp định tính:
Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Trang 17Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao.
Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Tóm lại, nợ xấu theo thông lệ quốc tế và theo chuẩn mực ở Việt Nam đều có đặc điểm chung đó là các khoản nợ đã quá hạn trả nợ gốc/lãi trên 90 ngày và/hoặc các khoản nợ mà TCTD có lý do chắc chắn để đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
2.1.1.2 Qui định và thông lệ của thế giới
Theo ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM gồm
- Những khoản nợ không thể thu hồi được :
+ Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đểđòi bồi thường từ nợ
+ Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.+ Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợhoặc không thể tìm được người mắc nợ
+ Những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lýtài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
- Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấpkhông đủ trả nợ Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả và lãi hoặc gốc
có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồiđược đầy đủ như :
+ Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưngphần còn lại không thể được đền bù cho khoản nợ, hoặc những khoản nợ trong đótài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộkhoản nợ cho ngân hàng
+ Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được giahạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận
Trang 18+ Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thếchấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợkhông có khả năng trả nợ Ngân hàng đầy đủ
+ Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồihoàn ít hơn dư nợ
Theo định nghĩa Nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hợp quốc
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bảnmột khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặccác khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậmtrả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng
có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên
90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của Chuẩnmực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới
Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời và đượckhuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 Về cơ bản IAS 39chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưatới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của kháchhàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay(khách hàng) Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc ápdụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toánquốc tế chỉnh sửa lại
Ví dụ ở Nhật Bản, theo báo cáo của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) tạicùng thời điểm 2003 nếu áp dụng cách đánh giá nợ xấu theo định nghĩa về “Khoảnvay, tại Luật Tái cơ cấu tài chính” là 35,3 ngàn tỷ Yên, nhưng theo định nghĩa
“Đánh giá khoản vay” tương tự IAS 39 thì nợ xấu lên tới 90,1 ngàn tỷ Yên
Tháng 6 năm 2004, ủy ban Basel đã xây dựng Hiệp định mới về “Tiêu chuẩnvốn quốc tế” - mà chúng ta vẫn gọi là Basel II, và được chỉnh sửa liên tục trong các
Trang 19thời gian tiếp theo Theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu củanội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu.
Việc đưa Basel II vào phần lý thuyết chung về phân loại nợ xấu của tôi bởiBasel II trình bày các nguyên tắc và công thức mang tính quốc tế liên quan đến việcxếp hạng tín dụng nội bộ, ước lượng rủi ro của các khoản cho vay, từ đó là cơ sở đểphân loại nợ xấu một cách chính xác
Cụ thể, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựatrên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các ngân hàng
sẽ xác định các biến số như PD - Probability of Default: xác suất khách hàng khôngtrả được nợ; LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure
at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ.Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL: Expected Loss - tổnthất có thể ước tính
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trêncông thức sau:
EL = PD x EAD x LGD
Tuy nhiên, ở đây tôi sẽ chỉ đề cập đến biến số PD - xác suất không trả được
nợ bởi biến số này sẽ là nhân tố
PD - xác suất không quyết định đến việc phân loại khoản nợ của khách
hàng.trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quákhứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợkhông thu hồi được Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòngmột năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàngtrong vòng ít nhất là 5 năm trước đó Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:
- Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàngcũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
- Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến tŕnh độ quản lý, khảnăng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởngcủa ngành,…
Trang 20- Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệukhả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tínhđược xác xuất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình tuyến tính,
mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp
2.1.2 Nguyên nhân hình thành nên nợ có vấn đề
2.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ xấu tạingân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng
- Do các cú sốc về kinh tế không thể lường trước
Mỗi nền kinh tế luôn có những đặc điểm riêng của mình và chịu sự tác độngcủa rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên ngoài như chính trị, xã hội và các yếu
tố nội tại Khi các yếu tố này gặp các cú sốc bất lợi như thiên tai, khủng hoảngchính trị hay sự sụp đổ của 1 vài yếu tố kinh tế thì nên kinh tế sẽ bị tác động trựctiếp dẫn đến khủng hoàng Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, mặc nhiên tình hìnhkinh doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của các hộ tiêu dùng cũng sẽ khủnghoảng Vì vậy, khả năng hoàn trả các món nợ đã vay ngân hàng cũng sẽ giảm sút;dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng
- Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật
Một sự thay đổi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tới hoạt độngcủa doanh nghiệp Ví dụ như một sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm cholợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự án Bên cạnh đó, phải kểđến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý Sự chồng chéo này không nhữnggây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh mà còn gây ra sự khókhăn cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu
- Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng
Với việc cung cấp các báo cáo tài chính và các văn bản pháp lý của doanhnghiệp có sự sai khác so với thực tế, vì vậy làm cho các nhận định của cán bộ tíndụng đối với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chính xác.Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn cho tới quá trình quản
Trang 21lý khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ không phát hiện những bất thường hay là nhữngdấu hiệu chứng tỏ khả năng không hoàn trả được món vay của doanh nghiệp.
Không chỉ vậy, có một số khách hàng tuy có tiền nhưng tỏ ra chây ỳ, nhằm chiếmdụng hoặc chiếm đoạt vốn
2.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
- Sự yếu kém trong công tác xây dựng và thực thi chiến lược quản lý nợ xấuVới tình hình thực tiễn của nền kinh tế và đặc điểm của mỗi ngân hàng thìchiến lược quản lý nợ xấu phải được xây dựng sao cho phù hợp Tuy nhiên, do sựyếu kém trong công tác này, các sai lầm ví dụ như trong việc đề ra mục tiêu tăngtrưởng tín dụng quá cao khi chưa đồng bộ với 1 cơ chế kiểm soát, 1 qui trình tíndụng chặt chẽ sẽ dẫn đến sự gia tăng của nợ xấu Bên cạnh đó là là sự mất hợp lýcủa cơ cấu cho vay, sự thiếu chính xác trong nhận định xu hướng phát triển hay suythoái của các ngành, các khách hàng mục tiêu dẫn đến sự tập trung tín dụng sai lầm
Bên cạnh việc xây dựng chiến lược thì việc thực thi nó cũng quan trọngkhông kém Một chiến lược đúng đắn tuy nhiên không được thực thi một cách cóhiệu quả Điều này có thể xuất phát từ cơ chế kiểm soát nội bộ yếu kém nhưng cũng
có thể là do sự thiếu ý thức, trình độ của nhà quản lý, các nhân viên tín dụng
- Sự yếu kém về trình độ và đạo đức của nhân viên tín dụng
Các nhân viên tín dụng là những người trực tiếp thực thi việc cho vay cũngnhư quản lý các món vay Về mặt lợi ích, khi các nhân viên này với đạo đức kém và
bộ phận kiểm soát không phát hiện kịp thời sẽ lợi dụng quyền hạn để có thể cho vaycác khoản vay với rủi ro Họ có thể thực hiện việc này thông qua việc làm sai lệchcách nhìn về báo cáo tài chính và triển vọng của khách hàng Cũng như là sự sailệch về giá trị thực của tài sản đảm bảo
Tuy nhiên, không phải tất cả các lỗi này đều xuất phát từ vấn đề đạo đức mà
có thể xuất phát từ vấn đề trình độ
2.2 Lý thuyết về quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
2.2.1 Khái niệm quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Khái niệm này được tôi đưa ra trong quá trình nghiên cứu, có tham khảo củamột số luận văn tốt nghiệp các khóa trước Theo tôi thì:
Trang 22Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế nào khi đã có nợ xấu phát sinh mà nó bao gồm quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản Nợ xấu
đã phát sinh nhằm phù hợp đối với mục tiêu trong từng giai đoạn của mỗi ngân hàng.
2.2.2 Mục tiêu của quản lý nợ xấu
Mục tiêu của quản lý nợ xấu tại mỗi ngân hàng và các thời điểm khác nhau làkhác nhau Tuy nhiên, theo một cách chung nhất thì mục tiêu của quản lý nợ xấutrong bất kỳ hoàn cảnh nào và đối với bất kỳ ngân hàng nào thì đó chính là việcphải xây dựng và thực thi được một qui chế, chính sách sàng lọc khách hàng phùhợp với từng thời kỳ sao cho phải hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro không thể thuhồi được của các khoản cho vay mà không ảnh hưởng tới mục tiêu lợi nhuận củangân hàng
2.2.3 Nội dung của quản lý nợ xấu
2.2.3.1 Xây dựng chiến lược và thực thi quản lý nợ xấu
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chiến lược quản lý nợ xấu phùhợp với chiến lược kinh doanh của mình trong từng thời kì, và phải linh hoạt có thểđiều chỉnh tuỳ theo diễn biến thị trường tín dụng Chiến lược quản lý nợ xấu cũngphải chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng, cũng như những cơhội và thách thức đối với ngân hàng để phát huy tối đa tiềm lực của ngân hàng Như
ta thấy nợ xấu là không thể tránh được đối với mỗi ngân hàng, ngân hàng nào cũngphải chấp nhận tồn tại các khoản nợ xấu.Vì thế cân phải xác định giới hạn cần thiếtcủa Nợ xấu hay cụ thể hơn là xác định mức độ và tỷ lệ của Nợ xấu thích hợp Nếungân hàng duy trì tỷ lệ Nợ xấu quá cao hoặc không hợp lý thì nguy cơ phải gặp rủi
ro của ngân hàng cao, ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngoài ra, chiến lược quản lý nợ xấu hay chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cầnđặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hoá danh mục tín dụng nhằm giảm bớt rủi ro.Tránh tình trạng “bỏ trứng vào một giỏ”, tín dụng chỉ tập trung vào một nhóm
Trang 23khách hàng hay một lĩnh vực nào đó Không chỉ thế cơ cấu tín dụng còn phải phùhợp với cơ cấu nguồn vốn huy động được
Ngoài ra, để có thể thực hiện được việc quản lý nợ xấu thì ngân hàng phảixây dựng các qui trình qui chế và thực thi chúng một cách hợp lý.Cụ thể:
- Xây dựng và thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng
Bản thân hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn,
vì vậy các ngân hàng cần phải xây dựng một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu xétduỵệt, thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu kiểm tra giám sát trước và saucho vay… Khi các ngân hàng tiến hành hoạt động tín dụng phải tuân thủ nghiêmchỉnh quy trình tín dụng đó Việc xây dựng, thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quytrình quản lý tín dụng sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro các khoản Nợ xấu phátsinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và thiếu sót trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng
Đối với mỗi khoản tín dụng không chi phải kiểm tra trước khi giải ngân màcông việc kiểm tra giám sát tín dụng sau giải ngân cũng quan trọng không kém.Việc này nhằm hạn chế hạn chế rủi ro đạo đức , nhằm đảm bảo răng khách hàng vaykhông làm những việc rủi ro từ nguồn vốn vay Ngân hàng sẽ giám sát tình hình sửdụng vốn vay sau giải ngân bằng cách kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh củakhách hàng định kỳ Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất
cứ một NHTM nào
Ngày nay, các ngân hàng có rất nhiều biện pháp khác nhau để kiểm tra giám sátcác khoản vay, một số các biện pháp cơ bản hầu hết các ngân hàng đang sử dụng là:
+ Tất cả các loại hình tín dụng đều phải được tiến hành kiểm tra theo định kì,
ví dụ như kiểm tra theo chu kỳ 30,60 hay 90 ngày đối với những khoản vay lớn,đồng thời cũng tiến hành kiểm tra bất thường đối với những khoản cho vay có quy
mô nhỏ
+ Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra giám sátmột cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất củamỗi khoản vay phải được kiểm tra
Trang 24+ Kiểm soát và theo dõi thường xuyên các khoản cho vay lớn bởi vì nhữngkhoản cho vay lớn này nếu xảy ra rủi ro sẽ gây ảnh hưởng nghêm trọng đến tìnhhình kinh doanh của ngân hàng.
+ Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tíndụng có vấn đề, tăngcường kiểm tra giám sát khi phát hiện ra những dấu hiệu không lành mạnh có khảnăng dẫn đến rủi ro liên quan đến khoản vay
+ Trong trường hợp nền kinh tế có chiều hướng suy giảm hay các ngành có
tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của ngân hàng phải đối mặt với những vấn đềkhó khăn lớn thì ngân hàng phải tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng
- Xây dựng và thực thi qui chế kiểm tra kiểm soát nội bộ
Một khía cạnh khác cũng rất quan trọng của hoạt động kiểm tra giám sát hoạtđộng tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Thông qua công tác này có thểphát hiện ,ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện quytrình nghiệp vụ tín dụng Bên cạnh đó, hoạt động kiểm soát nội bộ còn góp phầnphát hiện ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ tín dụng gây ra Hoạt độngkiểm tra kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tíndụng đó là pḥng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách kháchquan đối với hoạt động tín dụng Trên cơ sở đó, bộ phân kiểm tra nội bộ thực hiệnchức năng tư vấn cho các bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạongân hàng
2.2.3.2 Các biện pháp xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng
Như tôi đã nói, nợ xấu luôn tồn tại song song với ngân hàng Vì vậy, yêu cầuđược đặt ra là phải xử lý các khoản nợ xấu sau khi đã phát sinh Sau đây là một sốbiện pháp xử lý nợ xấu
2.2.3.2.1 Yêu cầu tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và cơ cấu lại nợ
Đối với các khoản nợ xấu của khách hàng là doanh nghiệp, sau khi phân tíchthực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu đánh giá khách hàng cókhả năng phát triển để thanh toán nợ xấu cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ áp dụngbiện pháp cấu trúc lại hay tái cơ cấu doanh nghiệp
Trang 25Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình thực hiện tái cơ cấu hoạt động sản xuấtkinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chínhkém nhưng có khả năng phục hồi Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp được thựchiện giữa các bên có liên quan: nhà đầu tư, nhà kinh doanh, ngân hàng cho vay nợvới mục đích cao nhất là hồi sinh, tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Nói chung, đề xuất xử lý nợ xấu theo giải pháp cấu trúc lại chỉ được áp dụngcho các khoản nợ thuộc nhóm 3 và nhóm 4 và đối với các khách hàng được quyếtđịnh tiếp tục duy trì quan hệ Khi đã có quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với đốitượng khách hàng này, khoản nợ có thể được quản lý thông qua việc giám sát chặtchẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để cải thiện tìnhhình của họ, và sửa chữa sai sót Đặc biệt, trong trường hợp không trả được nợ lầnđầu, ngân hàng cần có hành động cương quyết để thuyết phục khách hàng trongviệc thực thi các biện pháp cứng rắn để củng cố vị thế của khách hàng Ngân hàngduy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát tiến trình xử lý nợ Trên cơ
sở đó, ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ:
Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường được thực hiện thông qua việc hoãnhoặc/và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh toán của kỳ hạn trả nợ, nhưng khôngđược giảm tổng số nợ phải trả Nếu được sử dụng một cách cẩn thận, việc điềuchỉnh kỳ hạn nợ là một hình thức được chấp nhận khi thực hiện cơ cấu lại nợ
- Gia hạn nợ
Đây là phương án tránh áp lực trả nợ của khách hàng để hỗ trợ khách hàngtiếp tục kinh doanh Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp kháchhàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản nợ trước Đâykhông phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao
- Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả:
Giải pháp này có thể được xem xét áp dụng tuỳ thuộc vào thiện chí trả nợ vaycủa khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từngngân hàng Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phầndoanh thu của ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay
Trang 262.2.3.2.2 Chứng khoán hoá các khoản nợ xấu
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đuợc áp dụng rộngrãi trên thế giới là chứng khoán hoá các khoản nợ Chứng khoán hoá là chuyển đổimột tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đókhông có thị trường thứ cấp để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thểbán trên thị trường thứ cấp Ngân hàng có thể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản
nợ xấu của mình nhưng cần có sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoáncùng giao dịch mua bán nợ
Đối mặt với áp lực rủi ro tín dụng và yêu cầu tăng vốn chủ sở hữu, công cụquản lý rủi ro chứng khoán hoá các khoản cho vay đã giúp ngân hàng hạn chế mộtcách hiệu quả rủi ro tín dụng NHTM bắt đầu bằng cách khoanh khoản nợ xấu cóthế chấp và chuyển nó ra khỏi nội bảng, hạch toán ngoại bảng để bán cho người đầu
tư chứng khoán thông qua trung gian là người được uỷ thác Người được uỷ thácthường là tổ chức được bảo đảm không bị phá sản và hoạt động chuyên nghiệp
về phát hành chứng khoán Đầu tư thông qua hoạt động chứng khoán hoá giúpngân hàng đa dạng hoá, giảm rủi ro, giảm các chi phí đối với việc giám sát cáckhoản cho vay
Công nghệ chứng khoán hoá hấp dẫn nhiều ngân hàng, bởi vì thông qua đó
mà ngân hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanhkhoản của tài sản, cung cấp một phương tiện tài trợ mới, giảm được các chi phí cótính chất thuế cũng như tăng thu nhập từ thuế
2.2.3.2.3 Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không cókhả năng phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý các tài sảnđảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền vớiđất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: Tự bán công khaitrên thị trường; Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; Bán cho Công tymua bán nợ của Nhà nước Trong trường hợp khoản vay không được thanh toánđầy đủ thì ngân hàng được xử lý tài sản đảm bảo theo nguyên tắc và cơ chế theoluật định
Trang 27Đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ 3: Ngân hàng yêu cầubên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay Trường hợp bên bảo lãnhkhông thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo lãnhtương tự như các tài sản thế chấp cầm cố của bên vay.
Thực hiện quyền truy đòi cho vay gián tiếp: nếu đến hạn mà người thanh toánkhông thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng truy đòi người đi vay, người bảo lãnh
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại tài sản bảo đảmhoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thời gian,khả năng thu hồi đầy đủ nợ thường không cao, song ngân hàng vẫn buộc phải thựchiện để thu hồi vốn Cho đến nay, đây là một trong số các biện pháp thu hồi vốn cóhiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt các khoản nợ do cơ sở pháp lý chưa đầy
đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
2.2.3.2.4 Bán các khoản nợ
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với các khoản nợ không có tàisản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển quyềnđòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác có chức năng theoquy định để sớm thu hồi vốn của mình Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàngthường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh vàtránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại Để thực hiện có hiệu quả biện phápnày, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản,các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hoá cao gọi làCông ty quản lý nợ và khai thác tài sản Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ vàthực hiện mua bán tiếp theo
2.2.3.2.5 Sử dụng biện pháp pháp lý để xử lý
Biện pháp kiện khách hàng ra toà để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi cácbiện pháp trên không khả thi Ngân hàng có thể nhờ toà án can thiệp buộc kháchhàng trả nợ, chuyển giao tài sản đảm bảo tiền vay, phát mại tài sản của khách hànghoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ và ngân hàng với tư cách
là chủ nợ chính có thể làm đơn xin toà mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệptheo luật phá sản Theo quy định của luật này, kể từ ngày Toà quyết định mở thủ tục
Trang 28giải quyết yêu cầu phá sản, các khoản nợ chưa tới hạn được coi là tới hạn, các chủ
nợ không được tính lãi đối với thời gian chưa tới hạn Việc ngừng tính lãi (dù nợchưa trả) là không có lợi cho ngân hàng Cho nên, yêu cầu phá sản doanh nghiệp làbiện pháp cuối cùng để ngân hàng thu hồi nợ
Trên thực tế, việc phải sử dụng đến giải pháp này thường không đem lại hiệuquả cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục rắc rối, khách hàng thường làkhông còn khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo có tranh chấp về pháp lý hoặc không đủgiá trị bù đắp cho khoản vay, việc xử lý tài sản hoặc thu hồi nợ thông qua cơ quanThi hành án thường mất nhiều thời gian, tốn kém về chi phí và thời gian
2.2.3.2.6 Ngân hàng thương mại dùng dự phòng rủi ro để xử lý
Theo thông lệ quốc tế, muốn xoá nợ khê đọng phải có nguồn tiền nhất định
Ở Việt Nam, tiền dùng để xử lý nợ là từ quỹ dự phòng rủi ro của ngân hàng hoặc từNgân sách nhà nước
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dựphòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động củaTCTD
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vayvốn, bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổchức bị giải thể, phá sản hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện đượccác nghĩa vụ nợ do bất khả kháng và những khoản nợ thuộc nhóm 5 - Nợ có khảnăng mất vốn
Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các ngân hàng vậndụng tối đa nhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng Thực chất của biện pháp này là ngânhàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đếnkết quả kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều giải pháp này làm giảmthu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được Vì vậy,ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu hồi nợ có tính triệt để hơn