BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN COL1A1 GÂY BỆNH TẠO XƯƠNG BẤT TOÀN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN COL1A1
GÂY BỆNH TẠO XƯƠNG BẤT TOÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHãA 2008 - 2012
HÀ NỘI – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN COL1A1
GÂY BỆNH TẠO XƯƠNG BẤT TOÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHãA 2008 - 2012
Giáo viên hướng dẫn: GS.TS TẠ THÀNH VĂN
HÀ NỘI – 2012
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là một bước ngoặt đánh dấu sự chuyển tiếp từ một sinh viên trở thành cử nhân kỹ thuật y học; là quá trình học tập, tích lũy kiến thức, kỹ năng để áp dụng vào thực tế Trong suốt quá trình đó, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
GS.TS Tạ Thành Văn - Giám đốc trung tâm nghiên cứu Gen -
Protein, Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận tại trung tâm
TS.BS Trần Vân Khánh - Trưởng bộ môn Bệnh học phân tử - Đại
học Y Hà Nội, Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu Gen – Protein người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, sửa chữa và góp ý cho tôi hoàn thành khóa luận Ban giám hiệu, phòng quản lý và đào tạo đại học, bộ môn Hóa sinh, Thư viện và các phòng ban trong trường đại học Y Hà Nội
Tập thể Trung tâm nghiên cứu Gen - Protein, Trường Đại học Y Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành khóa luận
Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, các thầy cô đã cho tôi nhiều chỉ dẫn và kinh nghiệm quý để đề tài đi tới đích
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả người thân trong gia đình, bạn bè, các anh chị đi trước đã động viên, chia sẻ khó khăn với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-*** -LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tất cả các
số liệu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác
Hà nội, ngày 27 tháng 06 năm 2012
Người viết khóa luận
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
COL1A2 Collagen týp I alpha 2
RT-PCR Reverse Transcription PCR (PCR sao mã ngược)
Asn: Asparagine Ile: Isoleucine Thr: Threonine
Gln: Glutamine Met: Methionine Val: Valine
Glu: acid Glutamic Phe: Phenylalanine Stop codon: mã kết thúc
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh xương bất toàn có tên tiếng Anh là Osteogenesis Imperfecta, viết tắt là OI, còn gọi là bệnh xương thủy tinh hay bệnh giòn xương Đây là bệnh phổ biến nhất trong các rối loạn di truyền về xương Tần suất mắc bệnh khoảng 1/15.000 – 1/25.000 trẻ sinh ra và chủ yếu là di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường [5] Đặc điểm điển hình của bệnh là hệ xương không được hình thành một cách hoàn chỉnh Nguyên nhân chính là do đột biến gen tổng hợp collagen týp I dẫn đến thiếu hụt hoặc bất thường cấu trúc phân tử collagen týp I, làm xương giòn và dễ gãy khi có va chạm như ho, hắt hơi hoặc ngay cả khi không có sang chấn Bệnh không chỉ biểu hiện bất thường ở xương mà còn bất thường ở các tổ chức khác như: da, dây chằng, củng mạc mắt, răng…
Trên lâm sàng, bệnh được chia làm 4 týp khác nhau tùy thuộc vào mức
độ nặng nhẹ Tuy nhiên, giòn xương, gãy nhiều xương, biến dạng xương là triệu chứng phổ biến của tất cả các týp [5]
Các nhà khoa học đã phát hiện có khoảng trên 90% các trường hợp bệnh tạo xương bất toàn gây nên do đột biến gen COL1A1 (Collagen týp I alpha 1) và COL1A2 (Collagen týp I alpha 2) Đây là hai gen mã hóa cho sự tổng hợp collagen týp I, một loại protein chiếm ưu thế trong chất cơ bản ngoại bào của hầu hết các mô [33]
Cũng như nhiều bệnh lý di truyền khác, bệnh xương bất toàn là một gánh nặng lâu dài với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội Việc điều trị đòi hỏi thời gian dài và còn tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh Cho đến nay bệnh vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chỉ dừng lại ở các biện pháp điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng: giảm đau, giảm gãy xương tái phát nhằm giảm tới mức tối đa tỷ lệ tàn tật và suy giảm chức năng khác Bởi vậy, chẩn đoán xác định bệnh bằng phương pháp phân tích gen tìm
Trang 8đột biến trên bệnh nhân mắc bệnh xương bất toàn là cần thiết cho việc phát hiện sớm, để có những can thiệp, hỗ trợ kịp thời, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, động thời giảm bớt gánh nặng cho gia đình Ngoài ra, một mục tiêu quan trọng nữa của việc phát hiện đột biến đó là xác định người lành mang gen bệnh, tạo tiền đề quan trọng giúp chẩn đoán trước sinh đối với những đối tượng có nguy cơ cao sinh con bị bệnh, để đưa ra những lời khuyên cần thiết.
Với những ý nghĩa trên, đề tài “Nghiên cứu phát hiện đột biến gen
COL1A1 gây bệnh tạo xương bất toàn” được thực hiện nhằm mục tiêu:
Phát hiện đột biến gen COL1A1 trên bệnh nhân tạo xương bất toàn bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự gen.
Trang 9mô tả khoa học đầu tiên về bệnh OI mới được Olaus Jakob Ekman đưa ra.
Trong thế kỷ 20, những biến đổi lâm sàng đáng kể với mức độ nghiêm trọng khác nhau của bệnh OI được xác định Looser đã tiến hành phân loại bệnh OI đầu tiên năm 1906, sau đó là Silence đề xuất phân loại OI thành 4 týp năm 1979 Tuy đã được chỉnh sửa nhiều lần nhưng cách phân loại này vẫn được áp dụng tới ngày nay [36]
Về mặt dịch tễ, tỷ lệ mắc bệnh OI vào khoảng 6-7/100,000 Tỷ lệ này khác nhau ở các týp khác nhau: týp I và týp IV chiếm hơn một nửa trong số tất cả các trường hợp Với týp II, tỷ lệ mắc là 1-2/100,000 và đều tử vong sớm Týp III có tỷ lệ mắc tương đương týp II, còn týp IV là loại hiếm gặp [36]
Năm 1974, những bất thường trong collagen của xương lần đầu tiên được nhìn thấy trên kính hiển vi điện tử Ba năm sau, báo cáo của Sykes đã chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa hai loại collagen trong sự tiêu biến của pepsin trên da những bệnh nhân OI bằng phương pháp điện di trên gel polyacrylamide [36]
Đột biến gen mã hóa collagen týp I lần đầu tiên được mô tả bởi Chu và cộng sự năm 1983 là đột biến xóa đoạn dài khoảng 0.5 kb trong 1 alen của chuỗi procollagen - α1 Phát hiện này đánh dấu sự khởi đầu làm sáng tỏ quá trình sinh tổng hợp collagen và cơ chế bệnh học phân tử của OI [5], [36]
Trang 101.1.2 Ở Việt Nam
Do tình hình bệnh tạo xương bất toàn ở Việt Nam vẫn còn rất ít và có duy nhất một trung tâm nghiên cứu về bệnh học phân tử: trung tâm nghiên cứu gen - protein tại Trường Đại học Y Hà Nội - Đống Đa - Hà Nội; còn lại chủ yếu nghiên cứu về mặt lâm sàng (viện nhi Trung ương); nên số lượng nghiên cứu về OI ở Việt Nam chưa nhiều, thông tin còn hạn chế Một vài nghiên cứu được công bố gần đây đều được thực hiện tại trung tâm duy nhất này [1], [4]
1.2 Đặc điểm của bệnh OI
1.2.1 Đặc điểm lâm sàng
Năm 1979, Silence đã đề xuất phân loại OI thành 4 týp dựa trên đặc điểm lâm sàng và đặc điểm di truyền trên những bệnh nhân đã xác định chắc chắn là mắc bệnh OI tại Victoria, Autralia [36]
- Týp I: Là thể nhẹ nhất và hay gặp nhất, đặc trưng bởi mắt có màu xanh ở tất cả các độ tuổi, trẻ bắt đầu gãy xương từ khi tuổi còn nhỏ nhưng tần suất gãy xương thấp, không có biến dạng hoặc biến dạng xương ít, giảm thính lực hoặc điếc Hầu hết tiền sử gia đình bệnh nhân có người điếc, dây chằng lỏng lẻo gây sai khớp Đa số bệnh nhân không có tạo răng bất toàn
- Týp II: Là thể nặng nhất Bệnh nhân thường chết ngay trong tử cung
do gãy nhiều xương hoặc ngay sau khi sinh do rối loạn chức năng hô hấp (thiểu sản phổi, gãy xương sườn) Hiện nay OI týp II được chia làm hai loại là
OI týp II-A và II-B
- Týp III: Là thể tương đối nặng, chỉ đứng sau týp II, trẻ thường sinh ra
đã có gãy xương, biến dạng tiến triển xương dài, xương sọ, cột sống… Gãy xương tái phát nhiều lần gây hậu quả là chi ngắn và biến dạng tăng dần, mặt hình tam giác và có bướu trán Củng mạc mắt thường quá trắng hoặc có màu xám, màu xanh, giảm chức năng hô hấp, giảm thính lực và bất thường về răng
Trang 11- Týp IV: Là thể trung gian giữa týp I và III Gãy xương xuất hiện ở tuổi nhỏ, các biến dạng xương ở mức nhẹ đến trung bình, tần suất gãy xương thay đổi Củng mạc mắt có thể bình thường hoặc xám; có hoặc không có tạo răng bất toàn; thường giảm thính lực ở tuổi trưởng thành và tiền sử gia đình
có người điếc [5]
Xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng sẽ là týp I, týp IV, týp III, týp II Một
số nghiên cứu mới đã phân loại thêm týp V, VI, VII, VIII
Bảng 1.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh OI [36]
Týp
Đặc điểm
Di truyền Trội trên
NST thường
Trội trên NST thường
Trội/Lặn trên NST thường
Trội/Lặn trên NST thường
Trội/Lặn trên NST thường
Mức độ nghiêm trọng Nhẹ Tử vong
trước sinh Nghiêm trọng Nhẹ vừa Vừa
xuyên Hiếm gặp
Biến dạng xương Hiếm gặp Rất nặng Nặng Nặng vừa Nhẹ vừa
Tạo răng bất toàn Có thể Chưa rõ Chưa rõ Có Có thể
Biến chứng thần kinh Không Chưa rõ Chưa rõ Có Không
Trang 121.2.2 Chẩn đoán
Hiện nay, siêu âm trước sinh là lựa chọn đầu tiên để phát hiện bệnh lý của thai nhi trong đó có OI Siêu âm trước sinh có thể chẩn đoán chính xác bệnh OI tới 89% Siêu âm hai chiều là kỹ thuật hình ảnh đáng tin cậy trong
OI týp II và III Việc chẩn đoán có thể được thực hiện sớm nhất ở tuần 17 của thai kỳ với OI týp I và tuần 13 với OI týp II Đối với OI týp III, chiều dài chi thường bắt đầu biến đổi sớm nhất ở khoảng tuần 17 đến 18 của thai kỳ OI týp III hoặc týp IV có thể có hoặc không có gãy xương, biến dạng xương hay giảm khoáng hoá xương; nếu có thì sự biến đổi chỉ nhìn thấy được ở 3 tháng cuối thai kì Vì vậy cần siêu âm định kỳ khi có nghi ngờ OI týp III hoặc týp
IV [14]
Chẩn đoán bệnh OI ở người trưởng thành dựa vào: biểu hiện lâm sàng, phim chụp X quang, tiền sử gãy xương và tiền sử gia đình.Với những trường hợp không có tiền sử gia đình hoặc gãy xương không có kết hợp với những bất thường ngoài xương thì chẩn đoán cần kết hợp thêm xét nghiệm số lượng
và cấu trúc phân tử collagen týp I qua nuôi cấy nguyên bào sợi từ da bệnh nhân và kết hợp phân tích gen [5]
Trang 13Hình 1.1 Sơ đồ chẩn đoán phân loại bệnh OI [36]
1.2.3 Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp thay thế cấu trúc collagen bị tổn thương hay kích thích cho cơ thể tăng tổng hợp số lượng collagen, vì vậy chứng bất toàn trong tạo sinh xương vẫn được xem là một rối loạn di truyền không thể chữa khỏi được Liệu pháp tác động lên gen và tế bào chỉ có tác dụng hỗ trợ [17]
Các phương pháp chính điều trị OI gồm: Hóa dược trị liệu, vật lý trị liệu (phục hồi chức năng), phẫu thuật chỉnh hình, điều trị răng, điều trị điếc [2], [36]
Trang 14a. Hóa dược trị liệu
Một trong những hoá dược điều trị OI được coi là hiệu quả nhất hiện nay đó là thuốc ngăn cản quá trình huỷ xương nhóm bisphosphonate [2]
Bisphosphonate dùng để uống hoặc tiêm tĩnh mạch, được sử dụng rộng rãi cho bệnh nhân OI thể nặng, nhưng tác dụng của nó trên nhóm bệnh nhân
OI thể nhẹ vẫn chưa được làm rõ [10], [36] Ở một nhóm bệnh nhân OI dùng thuốc sau vài tuần có biểu hiện: giảm đau, khỏe khoắn hơn, tăng trương lực
cơ [2] Công bố mới đây của Bradbury về ảnh hưởng của Risedronate trên người trưởng thành khẳng định ở bệnh nhân OI dùng thuốc có sự cải thiện đáng kể mật độ chất khoáng ở cột sống thắt lưng, kèm theo giảm quá trình hủy xương [8] Clodronate và etidronate (bisphosphonates thế hệ đầu tiên) gây ra sự tự chết của các hủy cốt bào do ức chế hoạt động của enzyme phụ thuộc ATP (Adenosin triphosphat) [28] Tuy nhiên, khi quá trình huỷ xương bị
ức chế mạnh thì nó sẽ gây hiệu ứng ngược làm ngăn cản quá trình sửa chữa các thương tổn; nên việc sử dụng thuốc nhóm bisphosphonate điều trị OI có thể dẫn đến các tai biến xa [2]
Ngoài ra, việc sử dụng hormone tăng trưởng hỗ trợ điều trị tầm vóc nhỏ
ở bệnh nhân OI týp III và IV cũng đang được tiến hành nghiên cứu [36]
b. Phẫu thuật chỉnh hình
Với các trường hợp giảm khoáng hóa xương, tần số gãy xương cao hoặc dị dạng xương, phẫu thuật chỉnh hình được tiến hành nhằm duy trì tư thế giải phẫu của chi [5]
c. Điều trị răng
Điều trị răng nhằm duy trì răng sữa và răng vĩnh viễn, duy trì chức năng cắn và khớp cắn cho bệnh nhân [5] Ở bệnh nhân OI, răng thường bị gãy hoặc mòn Điều này có thể được điều trị bằng đóng nắp răng với polyme cứng
để ngăn ngừa nhiễm trùng răng và biến dạng mặt [36]
Trang 15d. Điều trị giảm chức năng nghe
Phẫu thuật điều trị điếc do gãy xương tai giữa hoặc do co cứng và sẹo ở xương đe, một số trường hợp điếc xuất hiện muộn do ảnh hưởng thần kinh cảm nhận thì không đáp ứng với phẫu thuật Có thể dùng phương pháp cấy ốc tai nhưng hiệu quả còn hạn chế [5]
e. Phục hồi chức năng
Vật lý trị liệu để ngăn ngừa sự co cứng và biến dạng cột sống trên bệnh nhân OI týp III và IV Một số biện pháp: tập thể dục, bơi lội, dinh dưỡng, thực hiện một lối sống lành mạnh (không hút thuốc lá, tránh uống cà phê, rượu, tránh dùng các loại thuốc chống viêm có corticosteroid) [2]
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều thử nghiệm điều trị và bước đầu đã
có kết quả khả quan như: liệu pháp điều trị gen, ghép tủy xương [5]
1.3 Cơ sở phân tử của bệnh OI
1.3.1 Cấu trúc, chức năng của protein Collagen typ I
1.3.1.1 Thành phần, cấu trúc
Phân tử collagen týp I là protein gồm 3 chuỗi polypeptide (2 chuỗi α1
và 1 chuỗi α2); trong đó gen COL1A1 mã hóa cho hai chuỗi procollagen - α1, gen COL1A2 mã hóa cho một chuỗi procollagen - α2 Các chuỗi propeptide liên kết với nhau (2 chuỗi procollagen - α1 và 1 chuỗi procollagen - α2) tạo thành chuỗi bậc ba helix Vùng trung tâm của chuỗi xoắn dài 1012 acid amin, trong đó có 338 tripeptide G-X-Y lặp lại liên tục (với G là Glycin, X thường
là Proline, Y thường là Hydroxyproline) [16], [32], [36]
Trang 16Hình 1.2 Cấu trúc phân tử collagen bình thường và bất thường [32]
(A): Cấu trúc gen COL1A1 gồm 3 phần chính:
(1) Vùng promoter hay vùng hoạt hóa (màu vàng) chứa trình tự TATA (hộp TATA màu đen) (4) là nơi bám dính của các protein liên kết với hộp TATA, để tạo phức hợp RNA polymerase khởi động quá trình phiên mã (transcription) Hộp TATA cách mã mở đầu của gen khoảng 50 nucleotide.
(2) Vùng chứa 51 exon và các intron của gen COL1A1 (màu xanh lá cây).
(3) Đuôi poly A (poly Adenin) màu hồng, nằm ở vùng 3’-UTR (untranslated region): là chuỗi lặp lại nhiều ribonuceleotide dạng Adenine ở đầu 3’ của mRNA (sau khi phiên mã) Sự polyadenyl hóa được thực hiện nhờ enzyme đặc biệt là poly(A) polymerase
sử dụng Adenine như một cơ chất để gắn và kéo dài chuỗi Adenine vào đầu 3’ Chuỗi poly
A là nơi bám dính đặc hiệu của protein đặc hiệu PABP (poly A binding protein) Protein này hoạt hóa cùng với phức hợp eIF (Eukaryotic initiation factors), cụ thể là eIF-4, để hoàn thiện quá trình phiên mã, kích hoạt sự bám của ribosom, khởi động quá trình dịch mã.
(B): Collagen týp I bao gồm 2 chuỗi procollagen - α1 và 1 chuỗi procollagen - α2
Sự bền vững của cấu trúc này phục thuộc vào sự lặp lại của bộ ba axít amin Gly-X-Y Khi
có sự bất thường xảy ra trên gen COL1A1 dẫn tới thêm hoặc mất glycin (vùng màu đỏ) sẽ gây rối loạn cấu trúc phân tử collagen, là nguyên nhân gây bênh OI.
(C): Phân tử collagen týp I [32].
Trang 171.3.1.2 Chức năng:
Collagen thuộc họ protein ngoại bào đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và là thành phần cần thiết tham gia cấu trúc mô và các cơ quan, bao gồm cả phổi, da, xương, mạch máu Collagen có vai trò làm kết dính, tạo độ bền cho những cấu trúc có hình dạng của cơ thể như khung xương, nhãn cầu;
là bộ khung của các cấu trúc Collagen tham gia cấu tạo hầu hết các mô và cấu trúc bên ngoài của tế bào, đồng thời collagen cũng được tìm thấy bên trong tế bào Collagen là thành phần chính của gân, sụn, xương, dây chằng và da; cùng với keratin mềm, collagen tạo nên độ dẻo dai của da, độ bền của thành mạch máu và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển mô tế bào Sự thoái hóa của collgen sẽ gây ra nếp nhăn dẫn đến tuổi già Collagen cũng tồn tại trong giác mạc, thủy tinh thể
Collagen týp I là loại collagen cấu trúc chủ yếu của xương, da và dây chằng; là thành phần chính của ngà răng, chiếm 30% trọng lượng cơ thể Ngoài ra nó còn được tìm thấy ở giác mạc, củng mạc mắt, màng não… Vì vậy khi có sự khiếm khuyết về cấu trúc, chức năng phân tử collagen týp I trong OI, bệnh biểu hiện ở nhiều mô và cơ quan [5]
1.3.2 Vị trí, cấu trúc, chức năng của gen COL1A1:
Trang 181.3.2.2 Cấu trúc và chức năng
Gen COL1A1 gồm 51 exon với chiều dài 18kb, mã hóa 5kb cho chuỗi procollagen -α1 (procollagen týp I alpha 1) tham gia cấu trúc phân tử collagen týp I Các exon từ 6 tới 49 mã hóa chuỗi xoắn kép alpha Hầu hết các exon này có chiều dài khoảng 45 bp, 54 bp hoặc bội số của 45 hoặc 54 bp [31]
Hình 1.4 Cấu trúc của gen COL1A1 [31]
Gen COL1A1 mã hóa chuỗi procollagen - α1 gồm 1464 acid amin [31] Cấu trúc gen chia thành 3 vùng chính: Vùng promoter, vùng chứa exon và intron, đuôi poly A
Để tổng hợp chuỗi procollagen, đầu tiên gen COL1A1 sẽ thực hiện phiên mã tổng hợp phân tử mRNA tiền thân Phân tử mRNA này trải qua quá trình cắt các intron và nối chính xác các exon với nhau để tạo ra phân tử mRNA hoàn chỉnh đảm bảo đúng trình tự Phân tử mRNA hoàn chỉnh được
sử dụng làm khuôn dịch mã tổng hợp chuỗi procollagen - α1
1.3.3 Các dạng đột biến trên gen COL1A1
Hiện nay có đến 90% các trường hợp mắc bệnh OI là do đột biến gen trội nằm trên gen COL1A1 hoặc COL1A2; còn lại 10% gây nên bởi các đột biến gen lặn trên một trong các gen hiện nay đã biết (CRTAP, LEPRE1, PPIB, SERPINH1, FKBP10, PLOD2, SP7, SERPINF1) hoặc trên các gen chưa đươc phát hiện [36], [39]
Trang 19Hình 1.5 Tỷ lệ các gen đột biến gây bệnh OI.
(https://oi.gene.le.ac.uk)
Các đột biến trên gen COL1A1 gây bệnh OI gồm: đột biến thay thế, đột biến lặp, đột biến cắt nối, đột biến mất, đột biến thêm nucleotide Trong đó dạng đột biến thay thế là phổ biến nhất, chiếm khoảng 82% các đột biến trên gen COL1A1 (Hình 1.6)
Hình 1.6 Tỉ lệ các đột biến trên gen COL1A1 gây bệnh OI.
( https://oi.gene.le.ac.uk )
Trang 20Hầu hết các đột biến xảy ra trên exon, chiếm 83% tổng số đột biến trên gen COL1A1 Trong đó đột biến thay thế là phổ biến nhất ở cả hai vị trí đột biến trên exon và trên intron của gen COL1A1: chiếm 87% các đột biến trên exon, 81% các đột biến trên intron (Hình 1.7).
Trong các đột biến thay thế thì phổ biến nhất là đột biến thay thế glycin bằng một acid amin khác Hiện nay có hơn 700 đột biến thay thế glycin được phát hiện trên bệnh nhân OI và tổng hơp lại trên dữ liệu các đột biến gen COL1A1 [5], [15], [36]
Hình 1.7 Tỷ lệ các đột biến gây bệnh OI trên gen COL1A1
( https://oi.gene.le.ac.uk )
Trang 21Bảng 1.2 Một số đột biến gen COL1A1 ở bệnh tạo xương bất toàn [11].
Trang 22Cắt nối intron
1.3.4 Đặc điểm bệnh học phân tử của OI:
OI là bệnh di truyền trội trên NST thường
Hình 1.8 Sự di truyền tính trạng bệnh trong bệnh OI
(http://ditruyen.com).
Trang 23Sự di truyền bệnh OI qua các thế hệ có 3 đặc điểm chính: Nam nữ có tỉ
lệ mắc bệnh ngang nhau và bố mẹ cũng có vai trò ngang nhau trong việc truyền tính trạng cho con cái; sự di truyền không ngắt quãng qua các thế hệ, nếu bố mẹ không mang tính trạng bệnh thì sẽ không truyền bệnh cho con cái; mặc dù sự truyền tính trạng từ bố cho con trai không dùng để đánh giá sự di truyền trội trên NST thường nhưng sự có mặt của nó trong phả hệ loại trừ chắc chắn các kiểu di truyền khác (đặc biệt là di truyền liên kết NST X) Thể
dị hợp tử mang gen bệnh truyền tính trạng này cho gần như một nửa con cái của họ
Đột biến gen trội gây bệnh OI týp I, II-A, II-B, III, IV: hiện nay đã có hơn 1000 biến thể khác nhau trên gen COL1A1 và COL1A2 được phát hiện là gây bệnh OI (https://oi.gene.le.ac.uk) Các loại đột biến cũng như vị trí xuất hiện ảnh hưởng tới kiểu hình người bệnh
OI týp I là phổ biến nhất, đặc trưng bởi sự giảm 50% lượng collagen týp I, thường là kết quả của những đột biến trên một alen của gen COL1A1, đôi khi là do xóa hoàn toàn một alen hoặc thay thế glycine bởi một axit amin nhỏ khác (Cystein, Alanin, Serin) gần mã kết thúc [36]
Trang 241.4 Các kỹ thuật sinh học phân tử phát hiện đột biến gen COL1A1
Các đột biến trên gen COL1A1 chủ yếu là đột biến điểm do đó kỹ thuật PCR và giải trình tự trực tiếp được sử dụng để phát hiện đột biến
Trong trường hợp các đột biến nằm trong vùng mã hoá axít amin (exon) như: đột biến sai nghĩa (missense), đột biến vô nghĩa (nonsense), đột biến gây lệch khung dịch mã (frameshift) thì chỉ cần PCR mẫu DNA sau đó giải trình
tự trực tiếp tìm đột biến
Nếu đột biến cùng intron (không mã hoá axit amin) nhưng ảnh hưởng đến vị trí bám của các hnRNP (heterogeneous nuclear ribonucloeprotein) thì cần thêm bước khuếch đại sản phẩm cDNA bằng phương pháp RT-PCR đế biết exon nào bị mất từ mRNA Tuy nhiên mẫu bệnh phẩm phải được lấy ở vùng có sự biểu hiện protein collagen týp I (da, xương)
Như vậy để phát hiện đột biến trên gen COL1A1 cần chú ý tới 3 kỹ thuật chính là: PCR, RT-PCR và giải trình tự gen
1.4.1 Kỹ thuật Polymerase Chain Reaction (PCR):
PCR là kỹ thuật nhân bản DNA trong ống nghiệm Nguyên tắc của phản ứng PCR dựa trên đặc điểm của quá trình tự sao chép DNA trong tế bào: cần có DNA ở dạng sợi đơn, cần các đoạn mồi và các loại enzym xúc tác
Kỹ thuật PCR sử dụng Taq polymerase (enzym chịu nhiệt) tổng hợp
một mạch DNA mới từ mạch DNA đơn làm khuôn với nguyên liệu là 4 loại nucleotide Phản ứng đòi hỏi phải có mặt của cặp mồi đặc hiệu (mồi xuôi, mồi ngược) có trình tự bổ sung với 2 đầu của trình tự DNA khuôn
Trang 25PCR là một chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu kỳ gồm 3 giai đoạn nhiệt độ khác nhau (Hình 1.9):
- Giai đoạn 1 (Biến tính): DNA khuôn sẽ được biến tính ở nhiệt độ cao (cao hơn nhiệt độ Tm) mà tại đó phân tử từ dạng sợi kép thành sợi đơn (940C - 950C trong vòng từ 30-60s)
- Giai đoạn 2 (Bắt cặp): Nhiệt độ hạ thấp dưới nhiệt độ nóng chảy
Tm (temperature melting) của các mồi (khoảng 400C - 700C tùy thuộc mồi được sử dụng) cho phép các mồi bắt cặp với các sợi đơn DNA khuôn theo nguyên tắc bổ sung Thời gian cho giai đoạn này khoảng 30-60s
- Giai đoạn 3 (Kéo dài): Nhiệt độ tăng lên 720C là nhiệt độ thích hợp nhất cho enzyme Taq polymerase hoạt động tổng hợp sợi DNA mới bằng cách kéo dài sợi mồi từ 4 loại nucleotid (dATP, dCTP, dGTP, dCTP)
Trang 26Hình 1.9 Các giai đoạn trong phản ứng PCR (http://www.molecularstation.com)
Sau mỗi chu kỳ, các đoạn DNA được tổng hợp sẽ được dùng làm khuôn cho sự tổng hợp các DNA mới trong chu kỳ tiếp theo Một phản ứng PCR thông thường từ 30-40 chu kỳ và cứ sau một chu kỳ thì số lượng DNA lại tăng gấp đôi Vậy sau n chu kỳ số lượng DNA thu được là 2n bản copy Sản phẩm cuối cùng của phản ứng PCR là các đoạn DNA dạng sợi kép với chiều dài đặc hiệu đúng bằng khoảng cách giữa 2 đoạn mồi
Trang 271.4.2 RT-PCR :
RT-PCR là viết tắt của Reverse transcription Polymerase Chain Reactions (chuỗi phản ứng polymerase phiên mã ngược) được sử dụng để phát hiện đột biến gen ở mức mRNA
Khác với kỹ thuật PCR nhân một đoạn DNA mong muốn dựa trên khuôn là DNA, RT-PCR sử dụng khuôn là RNA Do đó bước đầu phải có có
sự phiên mã ngược nhờ enzym phiên mã ngược (reverse transcriptase enzyme) chuyển RNA thành cDNA Ngoài enzym quá trình phiên mã ngược còn đòi hỏi mồi thích hợp để tổng hợp toàn bộ RNA thành cDNA, do đó ta dùng mồi ngẫu nhiên (random hexamer primers) mà không dùng mồi đặc hiệu Sau đó, quá trình PCR được sử dụng để khuếch đại lượng cDNA tạo thành với cặp mồi đặc hiệu cho đoạn gen cần khuếch đại
Thực chất RT-PCR là sự kết hợp hai quá trình: phiên mã ngược (RT) và PCR
Quá trình phiên mã ngược: sử dụng enzym sao mã ngược xúc tác sinh tổng hợp sợi DNA bổ sung với sợi RNA ban đầu Enzym sao mã ngược phải
có họat tính RNase H nhỏ (chỉ cắt RNA trong sợi lai RNA/DNA), độ bền nhiệt cao, độ nhạy cao Các enzym RT được sử dụng hiện có: enzym nguyên thủy có nguồn gốc các virus (AMV-RT hoặc MMLV-RT) hay vi khuẩn
(enzym Tth từ vi khuẩn Thermus thermophilus là một enzym DNA
polymerase bền nhiệt và có hoạt tính RT khi có mặt Mn2+) Loại thứ hai là enzym tái tổ hợp của AMV-RT và MMLV-RT có hoạt tính RNase H yếu hoặc không còn, có độ bền nhiệt cao hơn (60oC)
Quá trình PCR khuếch đại sản phẩm cDNA thu được từ quá trình phiên
mã ngược
Trang 281.4.3 Điện di trên gel
Điện di trên gel là phương pháp điện di sử dụng gel agarose hoặc polyacrylamide với các nồng độ khác nhau để phân tách các phân tử có kích thước, trọng lượng khác nhau
Mục đích:
- Kiểm tra kích thước phân tử DNA/RNA
- Ước lượng nồng độ DNA/RNA trong sản phẩm PCR
- Đánh giá chất lượng sản phẩm DNA/RNA: độ tinh sạch, độ nguyên vẹn
Nguyên tắc: Trong dung dịch các phân tử DNA tích điện âm (-) vì vậy
khi có mặt của dòng điện DNA sẽ di chuyển về phía cực dương (+) Sự phân tách xảy ra trên bản gel là do sự khác biệt về kích thước và hình dạng phân tử Phân tử lớn hơn do ma sát, va chạm với các thành phần trong gel lớn hơn các phân tử kích thước nhỏ hơn nên sẽ chạy chậm hơn
Gel: Thông thường DNA sẽ được chạy điện di trên gel Agarose (thích hợp cho các phân tử lớn, dễ xử lý và dễ đúc) Nồng độ gel được sử dụng tùy thuộc vào kích thước phân tử DNA
Buffer (đệm): Dung dịch đệm sử dụng phổ biến ở Việt Nam là đệm TBE (Tris-Borate EDTA) có khả năng đệm cao hơn TAE nhưng nó có một nhược điểm rất lớn là: các ion trong dung dịch đệm có thể phản ứng với agrose hoăc glycerol (trong mẫu) gây ảnh hưởng tới kết quả điện di
Trước khi mẫu được nạp lên gel nó được trộn với loading buffer (chứa Bromphenole blue giúp ta dễ kiểm tra xem mẫu đã chạy đến đâu trong điện trường; đồng thời chứa cả chất làm tăng độ tập trung DNA)
Sau khi chạy điện di, DNA/RNA trên gel được nhuộm với Ethidium bromide hoặc GelRed (những chất phát huỳnh quang khi chiếu UV)
Trang 291.4.4 Giải trình tự gen (DNA sequencing):
Phân tử DNA là một chuỗi xoắn kép gồm 2 mạch đơn được cấu tạo từ 4 loại nucletid khác nhau đó là: A (adenine), C (cytosine), G (guanine) và T (thymine) Các nucleotid này liên kết với nhau theo một thứ tự xác định Giải trình tự gen tức là phát hiện được thứ tự sắp xếp của 4 nucleotid này trên phân
Hiện này phương pháp của Sanger được sử dụng phổ biến cả ở Việt Nam lẫn thế giới; phương pháp hoá học ít được ứng dụng do độc tính của hoá chất
Phương pháp của Sanger sử dụng ddNTP (dideoxyribonucleoside triphosphate) là các đồng phân của dNTP (deoxyribonucleoside triphosphate), còn được gọi là “terminator” Cấu trúc ddNTP tương tự dNTP chỉ có một điểm khác biệt duy nhất là ddNTP không có gốc OH ở đầu 3’ (vị trí carbon 3 của deoxyribose), là vị trí để các dNTP tiếp theo gắn vào Do đó, phản ứng tổng hợp DNA sẽ được dừng lại tại ngay vị trí mà ddNTP được gắn ngẫu nhiên vào thay cho dNTP
Trang 30Hình 1.10 Hình ảnh minh họa kỹ thuật giải trình tự theo phương pháp Sanger [13].
Giải trình tự một DNA có thể chia làm 2 bước lớn: PCR giải trình tự và đọc trình tự trên máy tự động
Trang 31Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR giải trình tự:
Sản phẩm PCR giải trình tự sẽ được điện di và đọc kết quả trên máy
Bước 2: Đọc trình tự trên máy tự động.
Để thực hiện đọc trình tự bằng máy tự động thì các mạch DNA đơn sản sinh trong ống phản ứng giải trình phải được đánh dấu huỳnh quang để các vạch điện di của các mạch đơn này phát sáng khi đi qua một chùm tia sáng laser Bốn loại ddNTP thường được đánh dấu bằng bốn màu huỳnh quang khác nhau
Cấu tạo của một máy điện di gồm 2 phần: phần chạy điện di trên gel polyacrylamide và phần phát hiện các vạch điện di
Nguyên tắc hoạt động của máy là trong suốt quá trình điện di, mỗi khi
có một vạch điện di đi qua chùm tia sáng laser thì vạch điện di sẽ phát sáng lên và sự phát sáng này sẽ được con mắt cảm quang ghi nhận và lưu lại thành một đỉnh cường độ sáng trong biểu đồ Từ biểu đồ của các đỉnh cường độ sáng này, máy sẽ so dòng của các đỉnh tương ứng với các màu để cuối cùng phân tích thành trình tự của đoạn DNA [3]
Trang 32Hình 1.11 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR giải trình tự
Trong quá trình điện di: sợi có kích thước ngắn sẽ di chuyển nhanh hơn sợi có kích thước dài
Trang 33Di truyền, Bệnh viện Nhi Trung ương.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Tiêu chuẩn lâm sàng gồm 4 tiêu chuẩn:
+ Loãng xương, gãy xương tự phát và/hoặc tái phát
+ Củng mạc mắt màu xanh
+ Tạo răng bất toàn
+ Giảm thính lực
Chẩn đoán OI khi có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn trên
- Tiêu chuẩn Xquang:
Tất cả bệnh nhân đều có biểu hiện gẫy xương, biến dạng xương trên phim Xquang, các biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào từng týp
Trang 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích bệnh chứng
Thiết kế nghiên cứu:
Bước 1: Thu mẫu
Bước 2: Tách chiết DNA từ máu ngoại vi gồm 2 bước:
- Tách chiết DNA
- Đo mật độ quang (OD) xác định độ tinh sạch và nồng độ
Bước 3: Thực hiện phản ứng PCR gồm 2 bước:
- Thực hiện phản ứng PCR để nhân đoạn gen đặc hiệu với OI
- Chạy điện di kiểm tra sản phẩm
Bước 4: Giải trình tự sản phẩm PCR gồm 3 bước:
- Thực hiện phản ứng PCR giải trình tự
- Tinh sạch sản phẩm PCR giải trình tự
- Giải trình tự trực tiếp trên máy ABI-3100
2.3 Dụng cụ, trang thiết bị và hóa chất nghiên cứu