Vì vậy, việc nghiên cứu khả năngsinh trưởng và một số thành phần hóa sinh của nó ở một số địa phương tại tỉnhThừa thiên Huế là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn, từ đó làm cơ sở
Trang 1MỞ ĐẦU
Nói đến những món ăn nhân gian truyền thống ở Huế, ngoài những món ănnổi tiếng như bánh bèo, bánh nậm, bánh cuốn, thịt chấm mắm tôm hay bún hến,bún bò giò chả thì còn một món ăn không thể không nhắc đến, đó là món chộtnưa kho cá Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn có rất nhiều người (kể cả người Huế)không biết chột nưa là loại cây gì, trồng ở đâu, hình dáng như thế nào
Thật ra, chột nưa, hay nói chính xác hơn là chột của cây nưa là một loạithực vật trồng ở những nơi đất ẩm, gần gũi với cây môn và cây bạc hà nhưng lácủa nó lại rất giống lá đu đủ
Với người dân nông thôn miền Trung, từ Nghệ An vào đến Thừa Thiên Huế, chột nưa là món đặc sản mang đậm phong vị quê hương Không những thế,
-đã từ lâu, phần củ của cây nưa còn được dùng để chữa bệnh
Trong thành phần củ nưa, ngoài protein, lipid, chất khoáng, vitamine thì cómột thành phần rất quan trọng mà hiện nay được nhiều người quan tâm và chú ýđến, đó là Glucomannan (chiếm khoảng 40% trọng lượng khô)
Theo nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài thì thành phầnGlucomanan của củ nưa có những đặc tính rất quý và được sử dụng trong nhiềulĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong y học, các sản phẩm sản xuất từ củ nưa đượcdùng để chữa các bệnh đái tháo đường, giảm cholesteron, giảm béo…
Bên cạnh đó, theo y học cổ truyền nước ta, củ nưa có vị cay ngứa, tính ấm,
có tác dụng hoá đờm, táo thấp, trừ phong co cứng, thông kinh lạc, khỏi đau nhức,
ấm tỳ vị, khỏi nôn mửa, tán hạch, tiêu sưng tấy Do vậy, phần củ nưa thườngđược đưa vào các đơn thuốc trị bệnh
Hiện nay, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, cây nưa đang được trồng ở một số nơinhư xã Quảng Thọ, Quảng Phú (thuộc huyện Quảng Điền), thành phố Huế ;trong đó, nhiều nhất là ở xã Quảng Thọ Cây mang lại nguồn thu nhập cao chongười dân vùng này và đang được xem như là một loại cây kinh tế
Trang 2Tuy nhiên, người dân chỉ tập trung sử dụng chủ yếu phần thân nưa, còn phần
củ thì để lại một ít làm giống, còn lại dùng để chăn nuôi (làm thức ăn cho lợn) Nếu phần củ được nghiên cứu và đưa vào khai thác đúng hướng thì cây nưakhông những là đặc sản của địa phương mà còn là một nguồn nguyên liệu quí,nâng cao thu nhập cho bà con trồng nưa
Cho đến nay ở Việt Nam, có rất ít tài liệu đề cập đến các đặc điểm sinh lýcũng như thành phần hóa sinh của cây nưa Vì vậy, việc nghiên cứu khả năngsinh trưởng và một số thành phần hóa sinh của nó ở một số địa phương tại tỉnhThừa thiên Huế là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn, từ đó làm cơ sở choviệc đề xuất các phương án phát triển và sử dụng hợp lý loại cây này
Đây cũng chính là lí do mà chúng tôi chọn thực hiện đề tài NCKH “ Đánh
giá khả năng sinh trưởng và một số thành phần hóa sinh của cây nưa ở Quảng Điền – Thừa Thiên Huế”.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do những khó khăn về điều kiện thời gian,điều kiện thí nghiệm, lại bước đầu làm quen với NCKH nên chúng tôi khôngtránh khỏi sơ suất và sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô đểchúng tôi hoàn thiện đề tài của mình
Chúng tôi xin chân thành cám ơn!
Trang 3Phần 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY NƯA
1 Một số đặc điểm sinh học
Cây nưa ( có tên khoa học là Amorphophallus konijac K.Koch) là một loại
cây thân thảo, có thân củ to, tròn hoặc dẹt, bề mặt sần sùi, màu nâu nhạt, đườngkính khoảng 15-20 cm, có chồi mầm dạng thân rễ dài tới 10 cm [34].Còn phầnthân giả trên mặt đất (ta hay gọi là chột nưa) thì có dạng thẳng đứng, không phânnhánh, chiều cao trung bình từ 50-100 cm Vỏ trơn lán hoặc sần sùi, màu xanhlục, đôi khi có vài chấm trắng [36],[morphology]
Trên một cây nưa thường có 3 lá ( đôi khi 2 hoặc 4) Lá có cuống dài 80cm, mỗi lá lại chia nhánh liên tiếp, phiến lá có dạng hình lông chim [36].Sau khi thu hoạch, củ nưa trải qua thời gian ngủ nghỉ, khoảng 4-5 tháng.Đây là đặc điểm sinh lý của nó và không có một yếu tố nào có thể phá vỡ trạngthái này để nảy mầm được Liu và cộng sự đã chia thời gian ngủ của củ nưathành 4 kì, trong mỗi kì có sự thay đổi sâu sắc về đặc điểm sinh lý cũng như sinhhóa [liu1998]
40-Kì đầu: là giai đoạn chín của củ sau khi thu hoạch (thường kéo dài từ tháng
10 đến tháng 11) Lúc này, hô hấp của củ tăng, hoạt động của các enzyme nhưpolyphenol oxydase, catalase, amylase tăng mạnh mẽ
Kì 2: là thời kì ngủ nghỉ của củ, kéo dài từ cuối tháng 11 cho đến đầu tháng
1 Vào thời kì này, hô hấp của củ giảm mạnh, hoạt động của các enzyme khác làrất yếu và củ bắt đầu ngủ sâu
Kì 3: là giai đoạn bắt đầu nảy mầm, kéo dài từ tháng 1 cho đến cuối tháng
2 Lúc này, cường độ hô hấp và hoạt động của enzyme amylase của củ vẫn còn
Trang 4yếu, nhưng hoạt động của enzyme catalase, polyphenol oxydase đã tăng mạnh trởlại.
Kì 4: là giai đoạn kéo dài quá trình nảy mầm Ở giai đoạn cuối này, hoạtđộng của enzyme polyphenol oxydase, amylase tăng lên Nếu điều kiện chophép, mầm bắt đầu mọc ra và rễ cũng phát triển
Khi thời gian ngủ nghỉ của củ nưa kết thúc thì cũng là lúc chồi bắt đầu đượchình thành Trong thời gian đầu, chồi được bọc bên trong một bao có dạng mũitên, màu nâu tím Sau vài ngày, bao này rách ra, chồi non bắt đầu bung lá và pháttriển Khoảng 1 tháng từ khi cây mọc thì tán lá có thể rộng đến 20-45cm, dài 20-30cm
Trong quá trình sinh trưởng của cây, có 3 chột lần lượt được hình thành ởcác thời điểm khác nhau Chột thứ nhất có chiều cao trung bình tương đối thấp(30-60cm), trong khi đó, chiều cao của chột 2 và chột thứ 3 lại cao hơn nhiều, cóthể lên đến 150cm
Mỗi cây nưa thường chỉ cho ra một hoa Hoa có dạng cụm hoa, được baobọc bởi 1 phiến rộng gọi là bông mo, phía trong màu nâu thẫm hoặc màu tím[45] Trục cụm hoa dài gấp đôi mo và chứa hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới, không
có bao hoa Nhị hoa cũng có màu tím và cao hơn cánh hoa, chỉ 1 ngày là hoa tàn.Hoa nưa có mùi rất hắc và khó chịu nên được gọi là hoa nưa thối Thời gian rahoa vào khoảng tháng 3 đến tháng 5 và thông thường thì sau khoảng 2-3 năm câymới ra hoa [liu 1998]
Hoa nưa thường phát triển từ chồi tận cùng của củ Do hiện tượng ưu thếđỉnh diễn ra mạnh mẽ, một khi chồi này mọc lên thì các chồi lá (chồi nách) khác
sẽ không mọc được nữa, tức là, hoa và phần thân giả cây nưa sẽ không bao giờgặp cùng một lúc Tuy nhiên, nếu ta cắt bỏ phần hoa đi thì một chồi lá khác sẽphát triển và mọc thành cây [liu1998]
Trang 5Sau khi hình thành hoa, quá trình thụ phấn và thụ tinh (thụ tinh kép) vẫndiễn ra sau 2 ngày, giao tử đực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp tử.Sau 5-6 ngày, hợp tử bắt đầu phân chia và tạo thành phôi đa bào (đơn cực),khoảng 1 tháng sau đó thì procorm được hình thành.
2 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm sinh thái
Cây nưa là cây thuộc họ Araceae, được miêu tả đầu tiên bởi nhà khoa họcKarl Heinrich Emil Koch vào năm 1858 Nó được tìm thấy ở Trung Quốc và ViệtNam, trong những vùng đất ẩm, nhiều bùn và có ánh sáng [31]
Sự tăng trưởng, phát triển của cây nưa phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố làkhí hậu và đất đai
Về khí hậu: Cây nưa được tìm thấy ở các vùng có khí hậu nhiệt đới hay cậnnhiệt, nhất là vùng xích đạo và Đông Á, châu Mỹ và châu Âu dường như không
có Cây cần lượng ánh sáng vừa đủ và lượng mưa không quá cao, nếu không rễcây sẽ bị úng, dẫn tới chết cây Cây nưa được xem là chịu bóng, chịu hạn khá tốt[20][37][38]
Mặt khác, cây nưa có thể sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ từ 5-43oC,nhưng tối ưu nhất là từ 20-25oC Nếu nhiệt độ xuống dưới 0oC hoặc trên 45oC thìcây sẽ chết sau 5 ngày [31]
Về đất đai: Nhìn chung, cây nưa không kén đất cho lắm, nó có thể trồngđược trên các loại đất như cát pha, đất thịt, đất miền núi nhưng để cây sinhtrưởng tốt nhất thì nên trồng ở những vùng có đất thịt, đất phù sa ẩm, tháo nước,
có ánh sáng vừa phải [38]
Theo tài liệu ở Trung Quốc, nưa Konjac phát triển mạnh nhất ở đất có độ
ẩm 75%; còn ở Nhật Bản, nưa Konjac thường được trồng ở những vùng có lượngmưa từ 1000-1200mm [34]
Trang 6Hiện nay, cây nưa được trồng phổ biến ở các nước như: Trung Quốc, HànQuốc, Nhật Bản, Ấn độ, Việt Nam, Myanma, Indonesia, Philippine
Riêng ở Việt Nam, cây nưa phân bố chủ yếu ở: Lạng Sơn, Quảng Ninh, BắcGiang, Quảng trị, Thừa Thiên Huế và một số tỉnh ở phía Nam [34]
Thời vụ trồng: Cây nưa có thể trồng quanh năm nhưng thời vụ tốt nhất làmùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 9-10) Riêng các tỉnh miền Trung cầntránh trồng vào các tháng có gió Lào khô nóng (tháng 6-7) [40]
3 Một số thành phần hóa sinh của cây nưa
Kết quả phân tích thành phần hóa học của thân nưa cho thấy thân tươi cóchứa 78,0% nước Nưa chứa khoảng 76,3% carbohydrate hòa tan, 4% các chất xơkhông tan, 7% khoáng (Na, P, K, Mg, Fe, …), 0,5% lipid, 12,2% dẫn xuất củahợp chất chứa N và một số thành phần khác [66] Trong thân còn chứa các loạivitamine như A, E, D, B1, B2, B6, B12, và vitamine C Một số hợp chất như acidfolic, niacine, patothenate cũng được tìm thấy trong cây [73]
Theo Chua, Baldwin, Hocking, Chan: củ nưa khô có chứa các thành phầnkhác nhau bao gồm: 49% đến 60% (w / w) glucomannan; 10% đến 30% (w / w)tinh bột; 5% đến 14% (w / w) protein thô; 3% đến 5 % (w / w) đường hòa tan;3,4% đến 5,3% (w / w) tro, còn lại là các yếu tố vô cơ [12]
Ngoài ra, trong củ tươi có chứa các hợp chất hữu cơ, bao gồm: choline,beta-carotene, niacin, riboflavin, và thiamine Serotonin và các dẫn xuất của nócũng được tìm thấy [12]
Trong thành phần củ nưa (củ Konjac), ngoài protein, lipid, chất khoáng,vitamine thì có một thành phần rất quan trọng mà hiện nay được nhiều ngườiquan tâm và chú ý đến, đó là Glucomannan (chiếm khoảng 40% trọng lượngkhô), hay còn gọi là KGM (konjac glucomannan)
* Cấu tạo của Glucomannan
Trang 7Glucomannan là một chất xơ hòa tan, có cấu trúc chuỗi polysaccharidemạch thẳng và một lượng nhỏ phân nhánh (khoảng 8% ) bao gồm: các phân tử D
- Manose liên kết với D – Glucose qua liên kết β-(1 → 4) theo tỉ lệ 1,6:1 hoặc 8:5, các chuỗi poly lặp lại có dạng GGMMGMMMMMGGM; còn các mạch nhánhthì ngắn, chứa các phân tử galactose liên kết với nhau qua liên kết β-(1 → 6)glucosyl ; các nhóm acetyl gắn vào các phân tử đường dọc theo bộ khung củaphân tử glucomannan (trung bình khoảng 9-19 phân tử đường) góp phần vào đặctính hòa tan của KGM [23], [24], [55]
Trọng lượng phân tử thường dao động từ 200000 – 2000000 Dalton hoặc cóthể hơn [27]
Hình 1.1 Cấu trúc phân tử của KGM (Okimasu và Kishida, 1982)
Trong củ nưa, KGM có thể được tìm thấy trong các dị bào, với đường kínhkhoảng 0,5-2 mm, to hơn các hạt tinh bột 10 đến 20 lần [20]
Người ta có thể sản xuất bột KGM bằng cách loại bỏ tạp chất bằng nướchoặc ethanol
II GIÁ TRỊ CÂY NƯA
Cây nưa không chỉ được dùng để chế biến các món ăn truyền thống mà cònđược sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là y học
1 Về giá trị thực phẩm
Trang 8Từ lâu, con người đã sử dụng cây nưa như là một loại rau xanh Nó thường
có mặt trong các bữa ăn của người Việt Nam, nhất là các tỉnh miền Trung Đây
là một loại thực phẩm đầy dinh dưỡng và không độc
Thân cây nưa sau khi thu hoạch xong, cạo sạch hoặc cắt vỏ ngoài rồi thái látnhỏ, đem nấu canh với cá trê, cá lóc hoặc tôm ăn rất ngon, nếu có thêm vài ngọn
lá lốt nữa thì càng tuyệt vời
Ngoài ra, sau khi cắt lát mỏng, ta có thể ngâm muối để ăn từ từ hoặc cắt sợidài để làm dưa chua, giống như dưa môn
Về phần củ nưa, theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ tinh bột chiếm đến hơn 50%,cao hơn cả khoai sọ [37] Do đó, cây nưa cũng được xem là cây lương thực.Trước đây, nhân dân ta thường trồng nưa lấy củ để ăn thay cơm
Tinh bột củ nưa có giá trị dinh dưỡng cao, nhờ vậy mà chúng được sử dụnglàm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất như kẹo bánh, miến, mì,thạch rau câu
Ở Nhật Bản, củ nưa được phơi khô, cắt thành sợi như sợi mì và được chếbiến thành nhiều món ăn gọi là Konnyaku hay Shirataki [12],[45], [48] Bìnhthường, sợi Konjac có màu trắng, nhưng để tăng thêm hương vị và màu sắc thìtrong quá trình chế biến có thể bổ sung chất màu và dùng chung với nước chấm.Nhìn chung, các bộ phận của cây nưa đều được sử dụng hết, phần thân và
củ được con người sử dụng như thực phẩm, còn vỏ cây, lá cây, thậm chí là củ thìcung cấp cho gia súc, gia cầm
2 Về giá trị y học
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng KGM đóng vai trònhất định trong việc điều trị các bệnh như: táo bón, giảm Cholesterol, béo phì, lợitiểu [7], [8], [11],
Bệnh tiểu đường: KGM được biết đến là có tác dụng hạ đường huyết bằngcách ức chế hấp thụ glucose của cơ thể Người ta tin rằng nó thực hiện được điềunày bằng cách ngăn chặn sự tiếp xúc giữa glucose và thành ruột, nhờ đó mà sự
Trang 9hấp thu bị hạn chế Do đó, KGM có thể giúp các bệnh nhân tiểu đường thuộc typ
Sử dụng KGM tương đối là an toàn, tuy nhiên, nếu ta sử dụng ở dạng chưaqua tinh chế thì có thể gặp phải một vài phản ứng phụ [16]
Theo y học nước ta, củ nưa có vị cay ngứa, tính ấm, có tác dụng hoá đờm,táo thấp, trừ phong co cứng, thông kinh lạc, khỏi đau nhức, ấm tỳ vị, khỏi nônmửa, tán hạch, tiêu sưng tấy [36] Do vậy, củ được dùng làm thuốc chữa đờm,trúng phong bất tỉnh, cấm khẩu, chứng đau nhức, bụng đầy, ngực tức, ăn uốngkhông tiêu Ngoài ra, củ nưa còn được dùng để trị sốt rét, trục thai chết, mụnnhọt, sưng tấy [36],[nuachuong]
3 Về giá trị kinh tế
Do tất cả bộ phận của cây nưa đều được tận dụng làm thức ăn cho conngười và gia súc, gia cầm nên nó được xem là một loại cây có giá trị kinh tế cao.Trồng nưa rất dễ, cũng không tốn phân bón, công chăm sóc lắm, chỉ cần bónphân chuồng lúc đầu và nhổ cỏ thường xuyên Cây nưa cũng ít bị sâu bệnh pháhoại nên không cần phun thuốc trừ sâu
Theo người dân xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền: trừ chi phí giống vàcông làm đất ban đầu, thì sau mỗi vụ thu hoạch, họ thu được từ 5-7 triệu đồng/ 1sào (1 sào ở Trung Bộ là 500m2), cao hơn cả trồng lúa
Trang 10Tận dụng được nguồn đất đai màu mỡ và nhu cầu của người tiêu dùng, nhờtrồng nưa mà nhiều nông dân ở xã Quảng Thọ đã thoát được cảnh nghèo khó vàvươn lên làm giàu Hi vọng rằng trong một thời gian không xa, cây nưa sớm trởthành một trong những cây trồng kinh tế chủ đạo của địa phương và phân bốrộng khắp trên cả nước.
III TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY NƯA Ở TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nhìn chung, các nghiên cứu về cây nưa đều tập trung chủ yếu ở phần thân
củ, mà quan trọng nhất là thành phần Glucomannan
Ở Nhật Bản, từ lâu, người ta đã tìm hiểu công dụng của Glucomannan chiếtxuất từ củ nưa, và đề nghị phụ nữ châu Á nên dùng glucomannan như là một loạithực phẩm bổ sung để có thân hình thon gọn, và đã có rất nhiều nghiên cứu đượctiến hành để chứng minh hiệu quả của nó [50]
Khi liên quan đến tác dụng chống béo phì, người ta thấy nó hỗ trợ trongviệc giảm cân bằng cách làm đầy dạ dày và ức chế cảm giác ngon miệng, khuyếnkhích kiểm soát chế độ ăn uống
Glucomannan thường được chế biến thuốc ở dạng viên Các nghiên cứu đãchỉ ra rằng những người tham gia bổ sung Glucomannan 60 phút trước khi ăn thìmất khoảng 5,5 kg sau tám tuần
Tuy nhiên, khi dùng Glucomannan thì ta nên uống nhiều nước để tránh tắcnghẽn trong cổ họng Nó cũng có thể gây ra đầy hơi tạm thời do các chức nănglàm đầy của nó [57]
Với nhiều vai trò quan trọng như vậy, rất nhiều cuộc nghiên cứu, thửnghiệm cũng được thực hiện để chứng minh cho tác dụng y dược của KGM.Trong một nghiên cứu của Arvill và Bodin (1995), khi cho các nam giớikhỏe mạnh dùng 3,9 gam KGM trong 4 tuần thì kết quả thu được là: lượngcholesterol toàn phần (total cholesterol), LDL-C (low density lipoprotein
Trang 11cholesterol), huyết áp tâm thu đều giảm, đặc biệt là lượng trygliceryde giảm tới23% [7].
Tương tự như vậy, theo báo cáo của Doi , Matsuura , Kawara , Baba: trong
90 ngày thử nghiệm, 13 bệnh nhân tiểu đường được bổ sung 3,6 (hoặc 7,2) gamKGM hàng ngày thì lượng glucose giảm đến 29% và lượng insulin cũng giảm ởhầu hết bệnh nhân [13]
Cũng theo Huang, Zhang, Peng: năm người đàn ông khỏe mạnh đã tham giavào một cuộc nghiên cứu với việc bổ sung 2,6 gam KGM Kết quả là trong 30phút, lượng Glucose trong máu giảm khoảng 7,3%, cùng với đó là sự suy giảmnồng độ insulin huyết thanh Trong một nghiên cứu khác với 72 bệnh nhân tiềuđường typ 2, việc bổ sung KGM ngay sau bữa ăn trong vòng 30-65 ngày cũngcho kết quả là lượng đường huyết giảm [15]
Trong một nghiên cứu khác, Chen và cộng sự (2003) đã đánh giá tác độngcủa KGM lên lipid máu và nồng độ đường ở 22 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đườngtyp 2, trong vòng 28 ngày, với hàm lượng là 3,6g/ngày Kết quả thu được cũngtương tự: cholesterol trong huyết tương (plasma cholesterol), LDL-C, tỉ lệTC/HDL-C đã được giảm đáng kể; đồng thời, nồng độ sterol trung tính và acidmật lại tăng lên [11]
Bên cạnh những tác dụng của KGM như đã kể ở trên, một vài nghiên cứugân đây cũng tập trung vào việc tìm ra tác dụng của nó đối với các bệnh về dịứng, chẳng hạn như: viêm da dị ứng, viêm mũi dị ứng, hen suyễn tuy nhiên,những tác dụng này vẫn còn đang được đánh giá, điều tra để làm rõ hơn [12]
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về cây nưa (Konjac), tuy nhiên,
đã từ lâu, trong y học cổ truyền đã đưa củ nưa vào trong các đơn thuốc trị bệnh.Theo Tạp chí về Dược liệu và sức khỏe cộng đồng, cây nưa có nguồn gốc từNhật Bản Nó chứa chất glucomannan, một gel thực vật không thể đồng hoá, có
Trang 12tác dụng gây chán ăn Chất này có thể hút nước nhiều gấp một trăm lần lượngnước của chúng Độ nhớt của cây làm giảm khả năng hấp thụ mỡ và đường ởruột Hơn nữa nó làm tăng nhu động ruột, chống táo bón, hiện tượng mà người tahay gặp phải khi ăn kiêng Đây là một cây hoàn toàn vô hại.[32].
Do đó, trong các đơn thuốc, thành phần củ nưa thường xuyên có mặt vớinhiều tên gọi khác nhau, như xà lục cốc, củ chột nưa,
Bên cạnh đó, với những tác dụng hữu ích như đã kể trên, nhiều nhà sản xuấtcũng đã đưa Glucomannan (củ Konjac) vào các sản phẩm của mình, như các loạithuốc, thực phẩm chức năng, ví dụ như: Konjac Glucomanan, cốm bột Berlisol,Cofee weight loss, Hunger Suppressant, Cofee weight loss, Konjac Root,
Gần đây nhất, TS Nguyễn Văn Dư và cộng sự ở Viện Sinh thái và Tàinguyên sinh vật đã có nghiên cứu về các cây thuộc chi Amorphophallus với kếtquả bước đầu là đưa ra qui trình nhân giống, trồng và quản lý sau thu hoạch củcây Nưa, từ đó đặt cơ sở cho những nghiên cứu về sau
Trang 13Phần 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Cây nưa (Amorphophallus konjac )
Hình 2.1 Cây nưa (Amorphophallus konjac)
2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây nưa
- Nghiên cứu một số thành phần hóa sinh của củ nưa
Trang 14II THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Từ tháng 01/2011 – 12/ 2011
- Địa điểm
Trồng và theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây nưa tại 2 địa điểm là
xã Quảng Phú, xã Quảng Thọ (thuộc huyện Quảng Điền) – Thừa Thiên Huế Các nghiên cứu sinh lý và hóa sinh được tiến hành tại phòng thí nghiệm bộmôn Sinh lí-Sinh hóa-Vi sinh, khoa Sinh học, trường Đại học khoa học Huế
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Một số chỉ tiêu sinh lý của cây nưa
1.1 Bố trí và theo dõi thí nghiệm
- Củ nưa giống (khối lượng và kích cỡ đồng đều) được mua tại xã QuảngThọ, huyện Quảng Điền, TTH
- Cây được trồng tại 2 địa điểm:
+ Quảng Phú – Quảng Điền – TTH
+ Quảng Thọ - Quảng Điền – TTH
- Diện tích trồng là 30m2, được chia thành 3 lô, mỗi lô tương ứng với 10 m2;mật độ trồng là 50x50 cm
- Quy trình trồng và chăm sóc theo chế độ canh tác của người dân địaphương
- Tại mỗi địa điểm, chọn ra 30 cây để theo dõi
- Các chỉ tiêu theo dõi: tỉ lệ nảy mầm của củ, tỉ lệ sống của cây; thời gian rachồi, thời gian sinh trưởng; chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài lá (2tuần/lần); xác định khối lượng tươi, khối lượng khô của các chột và củ nưa tạithời điểm thu hoạch, xác định năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất thực tế(NSTT) của chột 1, chột 2, chột 3; xác định năng suất lý thuyết, năng suất thực tếcủa củ nưa
1.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Tỉ lệ nảy mầm
Trang 15- Củ nưa sau khi thu hoạch về, lựa ra những củ chính và củ nhánh cònnguyên vẹn, không bị dập nát hay sâu bênh; đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát.
- Theo dõi và đếm số lượng củ nảy mầm rồi tính tỉ lệ nảy mầm trên toàn bộ
củ quan sát
1.2.2 Tỉ lệ sống của cây
Sau khi giâm củ, đếm số lượng chồi mọc trong tổng số củ đã giâm
1.2.3 Thời gian sinh trưởng của cây
Thời gian sinh trưởng của cây nưa được tính từ lúc các chột (1, 2, 3) bắt đầumọc cho đến thời điểm thu hoạch (đơn vị: ngày)
1.2.4 Một số chỉ tiêu sinh trưởng
- Chiều cao thân: đo từ gốc đến điểm phân nhánh của thân (đơn vị: cm)
- Đường kính thân: đo chu vi của thân, cách gốc 15 cm sau đó tính đườngkính theo công thức C=2πR (đơn vị: cm)
- Chiều dài lá: chọn lá dài nhất, đo từ điểm phân nhánh đến mút của lá (đơnvị: cm)
(Các kích thước được đo bằng thước có chia chính xác đến mức mm)
- Xác định khối lượng tươi và khối lượng khô của cây:
+ Cây nưa sau khi thu về, cắt bỏ phần củ, rửa sạch, cân chính xác phần thântrên và phần củ rồi tính trọng lượng trung bình của cây và củ
+ Sau khi cân xong, ta chọn thân và lá của cây đem sấy khô ở nhiệt độ
100-120oC đến khối lượng không đổi Nếu cây to quá thì có thể cắt nhỏ trước khi sấy
- Xác định năng suất lý thuyết (NSLT) của các chột theo các công thức: NSLT (tạ/ha) = số chột/m2 × khối lượng tươi trung bình của chột x 100.000
- Xác định năng suất thực tế (NSTT) của các chột bằng cách cân khối lượngtươi tất cả các chột thu được trên diện tích 10 m2, sau đó năng suất chột được quy
về diện tích 1 ha
Trang 16- Xác định năng suất lý thuyết (NSLT) của củ theo cách tính dưới đây:NSLT (củ) = số củ/m2 × khối lượng tươi trung bình của củ x 100.000
- Xác định năng suất thực tế của củ bằng cách cân khối lượng tổng số củ thuđược trên diện tích 10 m2, sau đó năng suất củ được quy về diện tích 1 ha
2 Một số chỉ tiêu hóa sinh của cây nưa
2.1 Một số chỉ tiêu hóa sinh của phần thân (thân giả)
2.1.1 Xác định hàm lượng chất khô [3].
2.1.2 Định lượng vitamin C theo phương pháp chuẩn độ bằng Iod [3].
2.1.3 Định lượng cellulose theo phương pháp thủy phân bằng acid [1], [3] 2.1.4 Định lượng N tổng số theo phương pháp Kjeldahl [9]
2.1.5 Định lượng K tổng số bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS [4]
2.1.6 Định lượng phospho tổng số theo phương pháp so màu [9].
2.2 Một số chỉ tiêu hóa sinh của củ nưa (củ chính và củ nhánh)
2.2.1 Xác định hàm lượng chất khô [3].
2.2.2. Định lượng đường tổng số [1].
2.2.3 Định lượng cellulose theo phương pháp thủy phân bằng acid [1], [3] 2.2.4 Định lượng lipid theo phương pháp Soxhlet [1].
2.2.5 Định lượng protein theo phương pháp Bradford [1].
Mẫu tươi (1gam) sau khi nghiền thì cho vào 2 ống effendolf, thêm 500µlđệm chiết Arakawa(có trừ lượng cho vào mẫu trong quá trình nghiền), sau đóđem Vortex trong 10 phút rồi ủ trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4oC , để khoảng 1 giờ.Tiếp đó, ta đem ly tâm mẫu ở 4oC, trong 15 phút (15.000 vòng/ phút)
Hàm lượng protein được xác định bằng cách đo hấp thụ quang của dịchchiết protein ở bước sóng λ= 595nm và tính toán theo đường chuẩn Albuminhuyết thanh bò
Trang 17Phương trình đường chuẩn có dạng:
y = 1,1344x + 0,0218 (R2= 0,992)
Trong đó: y là mật độ quang
x: là hàm lượng protein trong mẫu (mg/ml)
2.2.6 Định lượng tinh bột thật từ củ [4]
Cân 2 gam bột hay nguyên liệu khô đã xay hay nghiền kỹ cho vào phễu sứ
có lót giấy lọc Dùng ether – cồn 700 – nước cất để rửa kết tủa theo tuần tự trên,mỗi thứ rửa 2 lần, rửa xong bằng loại này mới chuyển sang rửa bằng loại tiếptheo Mỗi lần rửa cần dùng 20 ml mỗi loại
Chuyển cặn và giấy lọc sang cốc thủy tinh, cho vào cốc tiếp 11 ml nước cất+14 ml HCl đậm đặc Khuấy kỹ để cho tinh bột tan hết rồi chuyển toàn bộ sangbình định mức 100 ml Rửa sạch cốc rồi dồn nước rửa sang bình định mức, thêmnước cất cho 100 ml
Lấy 50 ml dịch lọc trên cho vào cốc thủy tinh khác, thêm vào đó 110 mlcồn 960 để trong tủ lạnh qua đêm (11-12 giờ)
Lọc kết tủa qua giấy lọc, đem cân kết tủa để xác định khối lượng của kết tủatức là khối lượng của tinh bột Để cân kết tủa, giấy lọc trước khi dùng để lọc cầnsấy khô, cân giấy lọc được P1(g) Sau khi sấy cả giấy lọc và kết tủa là P2 (g).Lượng tinh bột được kết tủa sẽ là P2- P1= PTB (g) Đó là lượng tinh bột có trong
50 ml dịch lọc tức là của một gam nguyên liệu (vì 2 g nguyên liệu rút ra 100 mldịch lọc) Vậy hàm lượng tinh bột/100 g nguyên liệu sẽ là:
100100
)(
%= P2 −P1 ×
P 2.2.7 Xác định hàm lượng Glucomannan thô từ củ theo phương pháp phenol– acid sulfuric [9], [18].
Nguyên tắc
Dựa vào phản ứng tạo màu của các đường với phenol và H2SO4, dung dịchtạo thành có độ hấp thụ cực đại tại bước sóng λ = 490 nm
Trang 18Tiến hành
+ Xây dựng đường chuẩn
- Cân chính xác 0,1000 gam D-Glucose cho vào bình định mức 100 ml rồi địnhmức bằng nước cất Như vậy, nồng độ dung dịch D-Glucose là 1 mg/ml (1000µg/ml)
- Lấy 50 ml dung dịch Glucose ở trên pha thành 500 ml thu được dung dịch Glucose có nồng độ 100 µg/l
D Lần lượt lấy 0; 25; 50; 75; 100 ml dung dịch DD Glucose trên pha thành 100 mlthu được dãy dung dịch D-Glucose có nồng độ là 0; 25; 50; 75; 100 µg/ml
- Mỗi mẫu lấy 1 ml cho vào ống nghiệm có nút, thêm vào mỗi ống nghiệm 1 mldung dịch phenol 5%, 5 ml dung dịch H2SO4 đậm đặc, lắc đều các ống nghiệm
- Đặt các ống nghiệm vào cốc nước sôi trong 2 phút, sau đó làm lạnh các ốngnghiệm ở nhiệt độ phòng trong 30 phút
- Đo độ hấp thụ quang (A) của các dung dịch này ở bước sóng 490 nm, thu đượccác giá trị A1, A2, A3, A4, A5
- Từ kết quả thu được, xây dựng đường chuẩn
IV PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS và MS.Excel
Trang 19Phần 3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ CỦA CÂY NƯA
Đối với củ nưa, sau khoảng 3 đến 4 tháng thì sẽ nảy mầm, tùy vào thời gian
mà chiều dài mầm có thể chênh lệch từ 3-7 cm
Trong số 100 củ (30 củ chính và 70 củ nhánh) mà chúng tôi quan sát, cóđến 68 củ nhánh nảy mầm, chiếm tỉ lệ 97,1%; còn củ chính là 100%
Như vậy, so với các loại hạt, loại củ khác thì tỉ lệ nảy mầm ở đây cũng khácao Điều đó chứng tỏ sức sống của cây nưa rất tốt
Bảng 3.1 Tỉ lệ nảy mầm của củ nưa
Đối tượng Số củ theo dõi Số củ nảy mầm Tỉ lệ nảy mầm (%)
Trang 20Khi theo dõi khả năng sống của cây nưa được trồng tại 2 điểm là QuảngThọ và Quảng Phú, chúng tôi thu được bảng sau:
Bảng 3.2 Tỉ lệ sống của cây nưa
Địa điểm Số cây theo dõi Số cây sống Tỉ lệ sống (%)
Kết quả trên cho thấy tỉ lệ sống của cây nưa ở xã Quảng Thọ là 100%, caohơn so với xã Quảng Phú là 96% Tuy nhiên, nhìn chung thì khả năng sống củacây nưa cũng rất cao, và đây là một đối tượng dễ trồng
3 Thời gian sinh trưởng
Nhìn chung, thời gian sinh trưởng của cây nưa tương đối là dài, khoảng
4,5-5 tháng Điều khác biệt là các chột của cây nưa không ra trong cùng một thờiđiểm mà cách nhau khoảng 1-1,5 tháng Đầu tiên là chột 1 mọc lên, sau gần 1tháng thì một chồi thứ 2 xuất hiện, ngay bên cạnh chột 1
Khi chột 1 bắt đầu ngừng sinh trưởng (sau khoảng 2 tháng kể từ ngàytrồng) thì cũng là lúc chột 3 bắt đầu mọc
Thời gian sinh trưởng của cây nưa ở 2 xã Quảng Thọ và Quảng Phú đượcthể hiện qua bảng 3.3 và 3.4:
Bảng 3.3 Thời gian sinh trưởng của cây nưa ở Quảng Thọ (đơn vị: ngày)
Loại chột Thời gian ra chột Thời gian sinh trưởng
Trang 21- Thời gian ra chột được tính từ ngày giâm củ đến ngày bắt đầu hình thành chột.
- Thời gian sinh trưởng của chột được tính từ ngày chột hình thành đến ngày thu hoạch.
*: Thời gian sinh trưởng của chột 4 không chính xác vì người dân thu hoạch chột 4 cùng lúc với chột 3 và tỉ lệ ra chột 4 là rất thấp (14%)
Bảng 3.4 Thời gian sinh trưởng của cây nưa ở Quảng Phú (đơn vị: ngày)
Loại chột Thời gian ra chột Thời gian sinh trưởng
của chột (ngày)
- Thời gian bắt đầu trồng (06/06/2011)
- Thời gian ra chột được tính từ ngày giâm củ đến ngày bắt đầu hình thành chột.
- Thời gian sinh trưởng của chột được tính từ ngày chột hình thành đến ngày thu hoạch.
Nhìn vào số liệu bảng 3.3 và 3.4, chúng tôi thấy rằng thời gian ra chột củacây nưa ở Quảng Phú chênh lệch không nhiều so với ở Quảng Thọ (chột 1 cáchnhau 5 ngày, chột 2 cách nhau 3 ngày, chột 3 cách nhau chỉ 1 ngày)
Tuy nhiên, thời gian sinh trưởng của các chột ở QP lại khác hơn so với ở
QT Cụ thể: thời gian sinh trưởng của chột 1 ở QT là 66 ngày, còn ở QP kéo dàiđến 77 ngày; thời gian sinh trưởng của chột 2 ở QT là 88 ngày (gần 3 tháng),trong khi đó ở QP chỉ là 59 ngày (gần 2 tháng); thời gian sinh trưởng của chột 3
Trang 224 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây nưa
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịchcủa tế bào, mô, toàn cây và kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thểtích, sinh khối của chúng []
Khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, chúng tôi tiến hành theo dõi cácchỉ tiêu như: chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài lá của cây nưa
4.1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây nưa ở Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh TTH
Các chữ cái trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chiều cao thân: đây là chỉ tiêu thể hiện rõ nét nhất khi chúng tôi quan sát
các giai đoạn sinh trưởng của cây
Trang 23Hình 3.1 Chiều cao thân của chột 1 (xã Quảng Thọ)
Từ số liệu bảng 3.5 và hình 3.1, chúng tôi thấy rằng chiều cao thân chột 1tăng trưởng rất đều đặn trong suốt quá trình sinh trưởng
Trong 7 ngày đầu tiên, chiều cao của chột rất thấp, chỉ đạt 7 cm, bên cạnh
đó vẫn còn một số chột chưa mọc Sang tuần thứ 4, chiều cao chột đạt 18,4 cm,tăng 11,4 cm so với tuần 1, tương đương với tốc độ TB khoảng 0,66 cm/ngàyđêm trong 4 tuần đầu tiên Giai đoạn từ tuần 4 đến tuần 6, chiều cao chột 1 vẫntiếp tục tăng mạnh, từ 18,4 cm lên 30,1 cm ( tăng 11,7 cm) Tuy nhiên, qua tuần
6 đến tuần 8 thì chiều cao chột bắt đầu tăng chậm lại (tốc độ tăng trưởng là 0,51cm/ngày đêm trong 4 tuần tiếp theo) và đến tuần 10 thì chiều cao chột đạt 37,8
cm (chỉ tăng 2,3 cm so với tuần 8) Như vậy, chiều cao chột sinh trưởng mạnhtrong thời gian đầu, nhưng qua tuần 6 đến tuần 10 thì chậm lại
Đường kính thân: cùng với sự tăng trưởng của chiều cao thân thì đường
kính thân cũng tăng trưởng theo Do trong tuần đầu, đường kính thân chưa đạtđến 15 cm nên không thể xác định được Đến tuần thứ 4, đường kính thân chúngtôi đo được là 1,64 cm Từ tuần thứ 4 đến tuần 6, đường kính thân tăng trưởngmột cách rõ nét, từ 1,64 cm lên 2,2 cm (tăng 0,56 cm), tương đương với tốc độ
Trang 24khoảng 0,04cm/ngày đêm Tuy nhiên, đến tuần thứ 8 thì lại hầu như không pháttriển Sang tuần 10, đường kính thân đạt 2,47 cm, chỉ tăng 0,27 cm so với tuần 6.
Hình 3.2 Đường kính thân của chột 1 (xã Quảng Thọ) Chiều dài lá: trong suốt quá trình sinh trưởng, chiều dài lá chột 1 cũng tăng
trưởng rất đều đặn Trong tuần đầu, do lá thật được bọc trong bao nên chúng tôikhông đo được Sang tuần thứ 4, chiều dài lá đã đạt 25 cm, và đến tuần 6 tăng lên31,5 cm Như vậy, trong 14 ngày này, chiều dài lá đã tăng 6,5 cm Trong giaiđoạn từ tuần 8 đến tuần 10, chiều dài lá cũng có tăng nhưng mức độ tăng trưởnglại chậm dần Đến tuần thứ 10, chiều dài lá đạt 40,6 cm, chỉ tăng 3,4 cm so vớituần 8
Chột 2
Tính từ lúc bắt đầu mọc (khoảng 30 ngày sau khi giâm củ), chột 2 cũng trãiqua quá trình sinh trưởng tương tự chột 1, tuy nhiên thời gian sinh trưởng lại dàihơn đến 1 tháng Điều này được thể hiện ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài tán của chột 2 ở xã
Trang 25Các chữ cái trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chiều cao thân:
Hình 3.3 Chiều cao thân của chột 2 (xã Quảng Thọ)
Theo số liệu bảng 3.6 và hình 3.3, chiều cao thân chột 2 tăng trưởng đềuđặn từ khi bắt đầu mọc cho đến tuần 10 Trong đó, khoảng thời gian từ tuần thứnhất đến tuần thứ 4 là tăng mạnh, chỉ trong 3 tuần, chiều cao đã tăng lên 20,4 cm
Trang 26(tương đương với tốc độ 1,06 cm/ngày đêm trong 4 tuần đầu) Sang tuần thứ 6,chiều cao thân đạt 59,6 cm, tăng lên 29,8 cm so với tuần 4 Qua tuần thứ 6 đếntuần 8, chiều cao thân vẫn tăng mạnh, tốc độ tăng còn cao hơn 4 tuần trước,khoảng 1,41 cm/ngày đêm) Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tuần 10 đếntuần 12 sự sinh trưởng gần như không có ý nghĩa, và đến tuần 14 thì dừng hẳn.Lúc này, chiều cao chột 2 đạt 79,8 cm.
Đường kính thân:
Hình 3.4 Đường kính thân của chột 2 (xã Quảng Thọ)
Theo hình 3.1, chúng tôi thấy rằng đường kính của chột 2 tăng mạnh trong
4 tuần đầu, đạt 1,81 cm Trong khoảng tuần 4 đến tuần 6, đường kính thân vẫntiếp tục tăng, từ 2,51 lên 3,17 cm (tăng 0,66 cm) Sang tuần 8, đường kính thânvẫn tăng trưởng nhưng chậm hơn, chỉ tăng 0,23 cm so với tuần 6 Giai đoạn từtuần 10 đến tuần 12, đường kính tăng rất chậm và đến tuần 14 thì gần như dừnghẳn Lúc này, đường kính thân chột 2 đạt 3,62 cm
Chiều dài lá: tương tự như 2 chỉ tiêu trên, trong thời gian từ tuần 1 đến
tuần 4, chiều dài lá tăng trưởng rất mạnh, từ 12,3 cm lên 41,5 cm, tăng đến 29,2
cm Trong giai đoạn từ tuần 4 đến tuần 12, chiều dài lá của chột 2 tăng trưởng
Trang 27đều đặn nhưng tốc độ chậm hơn so với trước, đến tuần 14 thì không tăng trưởngnữa Lúc này, chiều dài lá của chột 2 đạt 72,5 cm.
Các chữ cái trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chiều cao thân
Trang 28Hình 3.5 Chiều cao thân của chột 3 (xã Quảng Thọ)
Tương tự chột 1 và chột 2, trong tuần đầu chiều cao thân chột 3 rất thấp,chỉ đạt 8,5 cm Thế nhưng, qua tuần thứ 4, chiều cao thân phát triển rất nhanh,cao đến 38,6 cm (tăng 30,1 cm so với tuần 1), tốc độ tăng trưởng trong 4 tuầnđầu là 1,4 cm/ngày đêm Từ tuần 4 đến tuần 6, thân có tăng trưởng nhưng chậmhơn, (chỉ tăng 19,2 cm) Tuy nhiên, qua tuần 6 đếu tuần 8, chiều cao thân lại tăngtrưởng mạnh trở lại (tăng 29,9 cm) So với 4 tuần đầu, 4 tuần tiếp theo có tốc độtăng trưởng cao hơn, khoảng 1,75 cm/ngày đêm Qua tuần 8, sự sinh trưởng bắtđầu chậm lại (chỉ tăng 7,6 cm từ tuần 8 đến tuần 10) Đến tuần 12, chiều cao thânđạt 97,7 cm, so với tuần 10 thì nó gần như không sinh trưởng nữa
Đường kính thân:
Trang 29Hình 3.6 Đường kính thân của chột 3 (xã Quảng Thọ)
Trong tuần đầu, đường kính thân vẫn chưa xác định được Khoảng thời giangiữa tuần 2 và tuần 4, đường kính thân tăng trưởng rất nhanh, cụ thể là đến tuần 4
đã tăng lên 2,05 cm Qua tuần 4, đường kính vẫn tăng trưởng và đến tuần 6 thìđạt 2,8 cm (tăng 0,75 cm) Từ tuần 6 đến tuần 8 đường kính thân bắt đầu tăngchậm lại và sau 12 tuần thì dừng hẳn Lúc này, đường kính thân chột 3 đạt 3,21cm
Chiều dài lá: lúc đầu, do bộ lá mới bung ra khỏi bao lá nên chiều dài lá rất
thấp, chỉ đạt 9,5 cm sau 1 tuần Nhưng sang đến tuần 4, chiều dài lá lên đến 32,2
cm (tăng 22,7 cm so với tuần 2) và đến tuần 6 đã đạt 54,3 cm (tăng 22,1 cm sovới tuần 4) Trong khoảng 6 tuần đầu, bộ lá sinh trưởng rất tốt Qua tuần thứ 6,tốc độ sinh trưởng của lá bắt đầu chậm lại, đến tuần 8 chỉ đạt 62,7 cm (tăng 8,4
cm so với tuần 6) Sau 12 tuần, chiều dài lá là 74,3 cm và gần như không tăngtrưởng nữa
Khi so sánh khả năng sinh trưởng của 3 chột ở Quảng Thọ, chúng tôi nhậnthấy rằng: sinh trưởng của chúng là không giống nhau cả về 3 chỉ tiêu Điều nàyđược thể hiện rõ qua các hình 3 ,3 ,3 , 3 :
Chiều cao thân
Trang 30Hình 3.7 Chiều cao thân TB của chột 1, chột 2, chột 3 (xã Quảng Thọ)
Nhìn vào hình 3.7 thì chiều cao thân TB của 3 chột giảm theo thứ tự chột 3
> chột 2 > chột 1 Trong đó:
Chiều cao thân chột 1 tăng trưởng mạnh từ tuần 2 đến tuần 6 Từ tuần 6 trở
đi đến tuần 10 thì tăng rất chậm và sau đó gần như không tăng nữa
Với chột 2, chiều cao thân tăng mạnh trong thời gian từ tuần 2 đến 8 Quatuần 8 thì sự sinh trưởng bắt đầu chậm lại và đến tuần 14 thì không tăng nữa
Ở chột 3, trong 8 tuần đầu tiên, chiều cao thân tăng trưởng rất mạnh mẽ.Qua tuần 8 đến tuần 10, mặc dù chiều cao có tăng nhưng không đáng kể và đếntuần 12 cũng dừng lại
Mặt khác, tuy chột 3 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn chột 2 khoảng 2tuần, nhưng chiều cao của nó lại cao hơn Cụ thể, nếu ta lấy tuần 12 làm mốc sosánh thì chiều cao của chột 2 là 76,7 cm, trong khi đó, chột 3 đã cao đến 95,3 cm,còn chột 1 chỉ đạt 37,8 cm
Đường kính thân
Trong 6 tuần đầu, đường kính thân của 3 chột sinh trưởng rất nhanh vàkhoảng cách chênh lệch đã thể hiện khã rõ Cụ thể: đường kính thân chột 1 chỉđạt 2,20 cm, trong khi đó ở chột 2 là 3,17 cm và chột 3 là 2,80 cm
Qua tuần thứ 6, tốc độ sinh trưởng của đường kính thân bắt đầu chậm lại.Đường kính thân cuối cùng mà chột 1 đạt được là 2,47 cm; chột 2 là 3,62 cm vàchột 3 là 3,21
Trang 31Hình 3.2 Đường kính thân TB của chột 1, chột 2, chột 3 (xã Quảng Thọ) Chiều dài lá
Hình 3.3 Chiều dài lá TB của chột 1, chột 2, chột 3 (xã Quảng Thọ)
Chiều dài lá của các chột vẫn sinh trưởng mạnh trong 8 tuần đầu, về sau thìtốc độ sinh trưởng chậm dần Đến tuần 10 thì lá chột 1 bắt đầu ngừng tăng, láchột 3 là tuần 12 và lá chột 2 là tuần 14 Trong đó, khả năng tăng trưởng lá của 3chột giảm theo thứ tự chột 3 > chột 2 > chột 1
Như vậy, nếu xét về chỉ tiêu đường kính thân thì chột 2 là chột sinh trưởngmạnh nhất; nhưng nếu xét về chiều cao và chiều dài lá thì chột 3 lại cao hơn.Nhìn chung, sinh trưởng của cây nưa phù hợp với quy luật sinh trưởngchung của thực vật Trong thời gian đầu, cây mới mọc nên sự sinh trưởng cònyếu, bộ máy quang hợp chưa hoàn chỉnh nên khả năng tổng hợp chất hữu cơ