Đánh giá tình trạng dinh dưỡng có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét có đáp ứng đủ dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ hay không, còn đánh giá sự phát triển tâm vận động TVĐ của trẻ
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN TÂM VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI TẠI PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO THÀNH PHỐ
PHỦ LÝ – HÀ NAM NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2007 - 2013
HÀ NỘI – 2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
- -
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HÀ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN TÂM VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI TẠI PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO THÀNH PHỐ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Đại học, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng Trường Đại học Y
Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi được học tập và bảo vệ thành công khóa luận
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn
PGS.TS Lê Thị Hương, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y
tế công cộng, Phó trưởng Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm, cô đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức khoa học, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Linh đã có những góp
ý hữu ích giúp tôi thực hiện khoá luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Dinh dưỡng
và An toàn thực phẩm, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các cán bộ y tế phường Trần Hưng Đạo Thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị của tôi, những người luôn sát cánh bên tôi, chia sẻ cho tôi những điều bổ ích Con đặc biệt cám ơn bố, bố đã giảng giải cho con rất nhiều trong khóa luận này
Xin chân thành cám ơn những người bạn thân mến đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu dưới mái trường thân yêu này
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hà – sinh viên năm thứ 6 chuyên ngành
Bác sỹ Y học dự phòng, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoa học, chính xác và trung thực, các kết quả, số liệu trong luận văn này đều là có thật, thu được trong quá trình nghiên cứu và chưa được đăng tải trên bất kỳ tài liệu khoa học nào
Hà Nội ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5Chiều cao theo tuổi Cân nặng theo chiều cao Cân nặng theo tuổi Cộng sự
Chỉ số phát triển tâm vận động Chỉ số thông minh
Kế hoạch hóa gia đình Suy dinh dưỡng
Tâm vận động Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc Viện dinh dưỡng
Tổ chức y tế thế giới
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về dinh dưỡng 3
1.1.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng 3
1.1.2 Thực trạng suy dinh dưỡng hiện nay 5
1.2 Tổng quan về sự phát triển tâm vận động 8
1.2.1 Đặc điểm sự phát triển tâm vận động trong các giai đoạn 8
1.2.2 Test Denver II 10
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
2.2 Đối tượng nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu 14
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 14
2.3.2 Cỡ mẫu và quy trình chọn mẫu 14
2.3.3 Các nhóm chỉ số, biến số 15
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 16
2.4.1 Cách thức và phương pháp thu thập thông tin 16
2.4.2 Sai số và khống chế sai số 21
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 23
3.1.1 Thông tin về trẻ 23
3.1.2 Thông tin về gia đình 24
3.2 Tình trạng dinh dưỡng 26
3.2.1 Cân nặng trẻ lúc sinh 26
Trang 73.2.2 Cân nặng, chiều cao tại thời điểm điều tra 26
3.2.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể tại thời điểm điều tra 27
3.2.4 Tỷ lệ thừa cân tại thời điểm điều tra 29
3.3 Phát triển tâm vận động (TVĐ) 30
3.3.1 Phát triển TVĐ ở khu vực 1 (cá nhân – xã hội) 30
3.3.2 Phát triển tâm vận động khu vực 2(vận động tinh tế và thích ứng) 31
3.3.3 Phát triển TVĐ khu vực 3 (ngôn ngữ) 32
3.3.4 Phát triển tâm vận động ở khu vực 4 (vận động thô sơ) 33
3.3.5 Mức độ phát triển chung của 4 khu vực 34
3.3.6 Đánh giá chỉ số phát triển tâm vận động (DQ) 34
3.4 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và tâm vận động của trẻ 35
3.4.1 Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể và phát triển tâm vận động của trẻ 35
3.4.2 Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân và mức độ phát triển tâm vận động ở 4 khu vực 39
Chương 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Tình trạng dinh dưỡng 40
4.2 Sự phát triển tâm vận động (TVĐ) 43
4.3 Mối liên quan giữa mức độ phát triển tâm vận động và tình trạng dinh dưỡng 48
KẾT LUẬN 50
KHUYẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1 – PHIẾU PHỎNG VẤN
Phụ lục 2 – TEST DENVER II
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 - Phân bố các nhóm tuổi của trẻ 23
Bảng 3.2 - Thông tin chung của nhóm bà mẹ được hỏi 24
Bảng 3.3 - Thông tin chung về gia đình trẻ được điều tra 25
Bảng 3.4 - Cân nặng, chiều cao trung bình của trẻ 26
Bảng 3.5 - Tỷ lệ SDD các thể theo các nhóm tuổi 28
Bảng 3.6 - Tỷ lệ trẻ thừa cân dựa vào chỉ số cân nặng theo chiều cao 29
Bảng 3.7 - Mức độ phát triển chung của 4 khu vực 34
Bảng 3.8 - Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể với mức độ phát triển khu vực cá nhân xã hội 35
Bảng 3.9 - Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể và mức độ phát triển khu vực vận động tinh tế 36
Bảng 3.10 - Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể và mức độ phát triển khu vực ngôn ngữ 37
Bảng 3.11 - Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể và mức độ phát triển khu vực vận động thô 38
Bảng 3.12 - Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân và mức độ phát triển tâm vận động theo các khu vực 39
Bảng 4.1 - So sánh các thể SDD với các nghiên cứu khác 40
Bảng 4.2 - So sánh mức độ phát triển tâm vận động bằng test Denver II với các nghiên cứu trước 44
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 - Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em qua các năm
(1999 - 2011) – Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia 7
Biểu đồ 3.1 - Phân bố nhóm tuổi theo giới 24
Biểu đồ 3.2 - Cân nặng khi sinh của trẻ 26
Biểu đồ 3.3 - Tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể theo các mức độ 27
Biểu đồ 3.4 - Tỷ lệ SDD các thể theo giới 27
Biểu đồ 3.5 - Mức độ phát triển khu vực cá nhân xã hội theo các nhóm tuổi 30
Biểu đồ 3.6 - Mức độ phát triển khu vực vận động tinh tế và thích ứng 31
Biểu đồ 3.7 - Mức độ phát triển khu vực ngôn ngữ theo các nhóm tuổi 32
Biểu đồ 3.8 - Mức độ phát triển khu vực vận động thô theo các nhóm tuổi 33
Biểu đồ 3.9 - Mức độ phát triển tâm vận động đánh giá theo chỉ số DQ 34
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là mầm non, là tương lai và là niềm hy vọng của toàn thể nhân loại Sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần của trẻ em ngày hôm nay sẽ
là sự hứa hẹn tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội sau này
Giai đoạn từ lúc lọt lòng đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ Đây là thời kì tăng trọng lượng nhanh nhất trong cuộc đời trẻ, nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể được hoàn chỉnh đặc biệt là hệ thống thần kinh trung ương và hệ vận động của trẻ [22] [30] Việc đánh giá tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng và phát triển tâm lý, vận động cho trẻ là cần thiết hơn cả Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét có đáp ứng đủ dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ hay không, còn đánh giá sự phát triển tâm vận động (TVĐ) của trẻ nhằm giúp cho sớm nhận định được các mức độ phát triển của trẻ cả
về thể chất và tinh thần, từ đó tìm ra cách giải quyết thích hợp và kịp thời để trẻ phát triển tốt hơn trong những năm sau
Hiện nay, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, các nước đang phát triển có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng và hàng năm có 12,9 triệu trẻ chết vì bệnh tật như viêm phổi, ỉa chảy, ho gà, trong đó suy dinh dưỡng là nguyên nhân trực tiếp chiếm tới 50% [21] Theo số liệu thống kê của Viện Dinh Dưỡng cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta năm
2011 là 16,8% tính theo cân nặng/tuổi, là 27,5% tính theo chiều cao/tuổi [28] Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ SDD ở Việt Nam vẫn còn khá cao so với khu vực (Trung Quốc: 8%, Malayxia: 11%, Mông Cổ: 13%) [21] Đi cùng với đó, vấn đề thừa cân béo phì cũng là thách thức lớn cho tình trạng dinh dưỡng trẻ em hiện nay Theo số liệu của WHO, trong năm 2010 số lượng trẻ em thừa cân dưới 5 tuổi trên thế giới, được ước tính là hơn 42 triệu [38]
Trang 11Trên thế giới, các nghiên cứu về sự phát triển tâm vận động đã được tiến hành từ thế kỷ XIX nhưng còn hạn chế Sang thế kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu nhờ có các kỹ thuật tiên tiến Có nhiều trắc nghiệm để đánh giá sự phát triển tâm vận động ở trẻ em, như trắc nghiệm Gessell, Binet Simon, Merrill Palmer, Terman Merrill, Brunet Lezine, Denver I và Denver II trong đó test Denver được sử dụng nhiều nhất [5] [7] [8] [19] [20] Tại Việt Nam, test Denver đã được áp dụng đầu tiên tại Khoa thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội từ năm 1977 (gọi là test Denver I) Từ năm 2000, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp tục nghiên cứu và chuẩn hoá thành test Denver II và từ đó đến nay đã có nhiều đơn vị khác trong nước tiếp tục triển khai thực hiện [1] Test Denver II có một số thay đổi và điều chỉnh so với Test Denver I cho phù hợp với môi trường và văn hoá Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam các nghiên cứu sử dụng test Denver thường được tiến hành ở những bệnh viện chuyên khoa hoặc các cơ sở mầm non ở các thành phố lớn Tuy nhiên, việc đánh giá sự phát triển tâm lý, vận động riêng rẽ hoặc đi kèm với đánh giá về tình trạng dinh dưỡng của trẻ vẫn chưa được quan tâm nhiều
Vì vậy, để góp phần đánh giá sự phát triển cả về thể chất và tâm lý, vận
động của trẻ nhỏ, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động của trẻ dưới 6 tuổi tại phường Trần Hưng Đạo Thành phố Phủ Lý – Hà Nam năm 2012” với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 6 tuổi tại phường Trần Hưng Đạo Thành phố Phủ Lý Hà Nam năm 2012
2 Đánh giá sự phát triển tâm vận động ở những trẻ này bằng test Denver II.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về dinh dưỡng:
1.1.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng:
Dinh dưỡng:
Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [15]
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào
và tình trạng sức khoẻ Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [15]
Suy dinh dưỡng:
Là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận
động của trẻ
Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà suy dinh dưỡng biểu hiện
các thể, các hình thái khác nhau [2] [15] [25]
Trang 13Hiện nay, suy dinh dưỡng được hiểu rộng hơn là tình trạng thiếu hay thừa về các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao do thiếu hay thừa năng lượng và thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng
Phương pháp đánh giá suy dinh dưỡng:
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), ba chỉ số nhân trắc nên dùng là: Cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều
cao
Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai
độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể WHO 2005 [2] [6] [25] [37]
So sánh bảng CN/T, khi CN dưới CNTB – 2SD, trẻ SDD thể nhẹ cân
So sánh bảng CC/T, khi CC dưới CCTB – 2SD, trẻ SDD thể thấp còi
So sánh bảng CN/CC, khi CN dưới CNTB – 2SD, trẻ SDD thể gầy còm Dựa vào chỉ số Z- Score, tính theo công thức:
Kích thước đo được - Số trung bình của quần thể tham chiếu
Z – Score =
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếu WHO 2005 với 3 chỉ tiêu theo Z- score:
Cân nặng/Tuổi: Chiều cao (Chiều dài)
>2: Thừa cân
>3: Béo phì
<-2: SDD thể còm
<-3: SDD thể còm nặng
Trang 141.1.2 Thực trạng suy dinh dưỡng hiện nay:
Thực trạng suy dinh dưỡng trên thế giới:
Trên thế giới, tỷ lệ SDD thấp còi năm 1985 là 51,5%, năm 1990 là
56,5%, năm 1994 là 44,9%, hiện nay là 31,9% (năm 2009) [16] [31] [32] [36]
Theo báo cáo của UNICEF, hiện nay thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới
5 tuổi được xem là thiếu cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu
Mỹ La tinh
Tại Nam Á, Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan, số trẻ thiếu cân chiếm 1/2 tổng số trẻ thiếu cân của thế giới Riêng tại Ấn Độ, khoảng 47% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu cân [16] [31] [32] [36]
Ở Đông và Nam Phi, nơi nạn đói thường xuyên xảy ra, có 29% trẻ bị thiếu ăn Tại Đông Á, Trung Quốc, số trẻ thiếu cân giảm 6,7% mỗi năm kể từ năm 1990, tuy nhiên ở các nước khác trong khu vực, tình hình vẫn diễn biến rất chậm [16] [31] [32] [36]
Đầu những năm 90, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã dự đoán vào năm 2000, tỷ lệ thấp còi trẻ em nước ta sẽ là 45%, đến năm 2013 sẽ dưới 35% với điều kiện đạt mức tăng trưởng kinh tế liên tục các năm là 9% Riêng trong thập kỷ 90, tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm đi được 19,8% Như vậy, SDD thấp còi đã giảm đáng kể và nhanh hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia, dù rằng hiện vẫn còn ở mức cao [16] [31] [32] [36]
Vấn đề suy dinh dưỡng đang dần được đẩy lùi, trong khi vấn đề khác lại xuất hiện Theo Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, trên toàn thế giới béo phì đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 1980 Trong năm 2008, có khoảng hơn 1,4
tỷ người, 35% người ở độ tuổi 20 trở lên bị thừa cân và 11% bị béo phì Trong năm 2011, trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân đã lên tới con số 40 triệu.Hơn 30 triệu trẻ em thừa cân đang sinh sống tại các nước đang phát triển và
10 triệu người ở các nước phát triển [26] Thừa cân béo phì đang là vấn đề đáng phải quan tâm cùng với vấn đề suy dinh dưỡng như đã biết
Trang 15 Thực trạng suy dinh dưỡng ở Việt Nam:
Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hiện nay ở Việt Nam đã và đang tiếp tục giảm dần.Từ năm bắt đầu thực hiện chương trình KHHGĐ (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệ SDD đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi năm giảm 2%, tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh [6] [16] [21] [28] Như vậy, mỗi năm đã đưa khoảng gần 200 nghìn trẻ dưới
5 tuổi thoát khỏi SDD Năm 2000, theo số liệu thống kê của Viện Dinh Dưỡng, tỷ lệ SDD cân nặng theo tuổi còn 33,1% [6] [16] [21] [28] Năm
2011, tỷ lệ này chỉ còn là 16,8% [6] [16] [21] [28] Suy dinh dưỡng nặng đã giảm hẳn, hiện nay Việt Nam chủ yếu là SDD thể nhẹ và vừa Có thể nói thành tựu giảm nhanh tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi là rất đáng ghi nhận Tuy rằng tỷ lệ SDD ở trẻ đã giảm đáng kể, Việt Nam vẫn còn ở tỷ lệ cao so với các nước khác trên thế giới Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở Việt Nam đã giảm nhiều không còn ở mức cao, còn tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi vẫn còn là một thách thức lớn Theo công bố kết quả điều tra toàn quốc
2010 - 2011 tại 63 tỉnh thành với gần 100 000 trẻ dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân còn ở mức 16,8%, nhưng tỷ lệ SDD thể thấp còi là 27,5% [6] [16] [21] [28] Vì vậy, vấn đề SDD đặc biệt là SDD thấp còi cần phải được chú trọng hơn
Trang 16Biểu đồ 1.1 - Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em qua các
năm (1999 - 2011) – Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia
Tỷ lệ SDD có sự chênh lệch giữa các khu vực, các tỉnh Những vùng có tỷ
lệ SDD cao là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, vùng núi và Trung du phía Bắc (trên 30%) Tỷ lệ SDD thấp là ở Thành phố Hồ Chí Minh (6,8%), Đà Nẵng (7,8%),
Hà Nội (10,8%), trong khi có một số vùng có tỷ lệ SDD cao trên 20% như Nghệ
An, Lai Châu, Lào Cai, Đắc Lắc, Gia Lai, Quảng Bình… [6] [16] [21] [28]
Bên cạnh những cố gắng giảm suy dinh dưỡng, Việt Nam cũng đang phải đối phó với tình trạng trẻ em dưới năm tuổi bị thừa cân, béo phì Đến cuối năm 2009, cả nước đã có 4,8% số trẻ dưới năm tuổi bị thừa cân béo phì, tăng 6,2 lần so với năm 2000 Tình trạng thừa cân, béo phì mới xuất hiện nhưng đang tăng nhanh ngay cả ở những vùng nông thôn (từ 2,2% năm 2005 lên 4,2% năm 2009) [3] Đây cũng là một báo động cho ngành dinh dưỡng Việt Nam hiện nay
Trang 171.2 Tổng quan về sự phát triển tâm vận động
1.2.1 Đặc điểm sự phát triển tâm vận động trong các giai đoạn:
Sự phát triển của tâm lý diễn ra trên cơ sở sự phát triển về giải phẫu và sinh lý [22] [33], đặc biệt là trên cơ sở sự phát triển của não bộ và của hệ thần kinh
Trẻ em phát triển qua 6 giai đoạn [24] [35]:
Giai đoạn bào thai
Giai đoạn sơ sinh (từ 1 đến 29 ngày tuổi)
Giai đoạn nhũ nhi (từ 30 ngày tuổi đến 2 tuổi)
Giai đoạn tiền học đường (từ 1 đến 6 tuổi)
Giai đoạn học đường (từ 7 tuổi đến 18 tuổi)
Giai đoạn dậy thì (từ 11 đến 18 tuổi)
Giai đoạn sơ sinh, ở trẻ chủ yếu là hiện tượng thích nghi, chấm dứt kiểu sống lệ thuộc để sống độc lập; hệ hô hấp và hệ tuần hoàn có biến đổi nhiều nhất: phổi bắt đầu hô hấp trao đổi khí còn hệ tim mạch chuyển tuần hoàn rau thai thành tuần hoàn sơ sinh Các cơ quan khác như da, trung tâm điều nhiệt,
hệ tiêu hóa cũng có biến đổi thích nghi Trẻ sơ sinh hoạt động chủ yếu do các phản xạ về vận động còn mang tính chất hỗn loạn do trung tâm dưới vỏ chi phối Tùy mỗi trẻ, tùy môi trường và tùy sự chăm sóc vỗ về âu yếm của mẹ
mà khả năng nhận thức và phát triển tình cảm của từng trẻ khác nhau [24]
Bước sang giai đoạn nhũ nhi, trẻ ngủ giảm dần còn 14 -16 giờ một ngày, tới 6 tháng ngủ được 8 giờ một đêm Vận động và nhận thức cũng có nhiều thay đổi Từ 2 tháng trương lực cơ các chi giảm dần, cổ giữ vững, nằm sấp thỉnh thoảng tự ngóc đầu; biết dõi mắt nhìn theo người hoặc vật Từ 3 tháng giảm dần phản xạ Moro, biết quay đầu lắng nghe biểu lộ tình cảm Từ 4 tháng biết lật, cười ra tiếng, biết la khóc vì sợ hãi, biết biểu lộ thích thú Từ 6
Trang 18tháng, biết trườn, cổ giữ thẳng được đầu, chuyển vật từ tay này qua tay kia cầm, đưa vật vào miệng, nhặt đồ chơi bằng 5 ngón tay, biết nhận người lạ và trốn các mối đe dọa Từ 9 tháng, trẻ tự ngồi vững, nhặt vật nhỏ bằng 2 ngón tay, phát âm và hiểu được từng tiếng, thích trò chơi âm thanh và hình ảnh Từ
12 tháng, trẻ bước đi, tự đứng dậy một mình, chơi được trò chơi đơn giản, nói câu 2 - 3 từ, biết lời khen và cấm đoán Giai đoạn này, trẻ tự thiết lập cách phản ứng với môi trường xã hội Khi vui, khi hờn giận, không vừa lòng, trẻ biết sử dụng gương mặt, mắt, tiếng cười, tiếng khóc để bày tỏ cho người khác biết và làm theo ý mình Từ 6 tháng, trẻ biết nhớ mẹ [24]
Giai đoạn từ 1 - 3 năm là giai đoạn rất đặc biệt Đây là giai đoạn tiểu não dần dần hoàn thiện chức năng Điều này thấy rõ qua mối quan hệ của trẻ với thế giới xung quanh và xã hội loài người được thay đổi về cơ bản cùng với sự phát triển của vận động đi lại và tiếng nói Việc tự đi lại cho phép trẻ làm quen một cách toàn diện với các sự vật, hiện tượng xung quanh nó, còn
sự phát triển tiếng nói của trẻ giúp trẻ khả năng tiếp xúc nhiều hơn với người lớn Hành vi của trẻ 2 - 3 tuổi thể hiện rất rõ bằng hoạt động tìm tòi, lôi cuốn chúng đến với mọi đồ vật, chạm, sờ, đẩy, cầm lấy chúng [14] [24]
Đặc điểm hoạt động tư duy của trẻ ở năm thứ hai thay đổi rất rõ, tuy các kích thích phức hợp vẫn còn tác dụng, nhưng đã khác về chất Trẻ đã bắt đầu biết tách các thành phần của các kích thích xuất phát từ một đối tượng – xuất hiện hình ảnh của từng đối tượng Các hiện tượng của môi trường bên ngoài đối với trẻ ở năm thứ hai đã có được đặc điểm mới Từ thế giới tổng quát không phân chia xung quanh của trẻ, bắt đầu xuất hiện từng đối tượng riêng rẽ Sự tiến bộ to lớn này trong việc phân tích môi trường bên ngoài chỉ
có thể diễn ra nhờ tác dụng của các dấu vết do các đối tượng gây ra trong não của trẻ [14] Dần dần ở trẻ được hình thành hệ thống hành động thích đáng đối với các đối tượng khác nhau: Trẻ ngồi lên ghế, dùng thìa xúc thức ăn,
Trang 19uống nước từ chén Nhờ tác động qua lại giữa trẻ với các đối tượng mà hình thành được các chức năng khái quát - nét hoạt động đặc biệt của não người
Cũng vào thời điểm này (khoảng 2 - 3 tuổi) tiếng nói của trẻ bắt đầu phát triển nhanh Tiếng nói trở thành tín hiệu có ưu thế khi nó tác động lên các thụ cảm thể thính giác Sang năm thứ 3 trẻ có thể nói lại và nhớ dễ dàng những từ mới do người lớn nói ra ngay cả trong những trường hợp trẻ chưa hiểu ý nghĩa của từ đó Từ 2,5 đến 3 tuổi, vốn ngôn ngữ của trẻ không những chỉ gồm những từ riêng rẽ hay những thành ngữ, mà có cả những câu được đặt ra trong quá trình phát triển ngôn ngữ và là những liên hợp khác nhau của những từ ngữ đã quen biết trước đó, với việc sử dụng các giới từ, động từ và những đặc điểm khác nhau về cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ [22] [23]
Thời kỳ 3 - 5 tuổi, trẻ cần được chăm lo vỗ về vì đây là lứa tuổi học mẫu giáo xa mẹ nhiều Tuổi này trẻ bắt đầu phân biệt được giới tính
Tròn 6 tuổi, não được 1300g như người lớn, sự biệt hóa và tăng trưởng não bộ đã hoàn thành Tuổi này trẻ cần được đi học để hoàn thiện ngôn ngữ, phát triển trí tuệ, đi học trẻ biết ý thức hoàn thành nghĩa vụ, tạo được các quan
hệ xã hội; trẻ tham gia vào trò chơi tập thể, dần dần chia tay tuổi thơ [24]
1.2.2 Test Denver II:
Để đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ, việc quan tâm đến cả yếu tố thể chất và tâm lý, vận động ở trẻ là cực kỳ quan trọng Trên thế giới, các nghiên cứu về sự phát triển tâm vận động đã được tiến hành từ thế kỷ XIX nhưng còn thô sơ Sang thế kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu nhờ có các kỹ thuật tiên tiến Có nhiều trắc nghiệm để đánh giá sự phát triển tâm vận động ở trẻ em, như trắc nghiệm Gessell, Binet Simon, Merrill Palmer, Terman Merrill, Brunet Lezine, Denver I và Denver II trong đó test Denver được sử dụng nhiều nhất [5] [7] [19]
Trang 20Tên đầy đủ của test Denver là Denver Developmental Screening Test (viết tắt là DDST) Test Denver còn được gọi là Trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lý, vận động cho trẻ nhỏ Nhóm tác giả xây dựng test Denver là William K Pranken Burg, Josian B Doss và Alma W Fandal thuộc Trung tâm Y học Denver (Colorado, Hoa Kỳ) Test Denver được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1967, tên là Test Denver I, được tiêu chuẩn hoá trên 20 quốc gia
và đã được áp dụng cho hơn 50 triệu trẻ em trên toàn thế giới (Bệnh viện Nhi Trung ương, 2004) [1]
Ở Việt Nam, năm 1972-1975 Vũ Thị Chín và cộng sự đã tiến hành thăm dò sự phát triển tâm lý, vận động của trẻ từ 0-3 tuổi ở nhà trẻ bằng thang
đo Brunet- Lezine [5] Lê Đức Hinh đã sử dụng trắc nghiệm Denver I trong đánh giá phát triển tâm vận động cho trẻ em tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai Năm 1990 tác giả đã viết một tài liệu khá đầy đủ về cách sử dụng trắc nghiệm này [7] Quách Thuý Minh và CS đã áp dụng trắc nghiệm Denver
I đánh giá sự phát triển tâm vận động của trẻ em tại một số nhà trẻ mẫu giáo nội thành Hà Nội [19] [20] Nguyễn Thị Yến, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi đã áp dụng trắc nghiệm Denver I đánh giá sự phát triển tâm vận động của
99 trẻ em dưới 5 tuổi tại Hà Nội và Hà Tây [4]
Từ năm 2000, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp tục nghiên cứu và chuẩn hoá thành test Denver II và từ đó đến nay đã có nhiều đơn vị khác trong nước tiếp tục triển khai thực hiện Test Denver II có một số thay đổi và điều chỉnh so với Test Denver I cho phù hợp với môi trường và văn hoá Việt Nam và bao gồm nhiều mục hơn (Test Denver I: 105 tiết mục; Test Denver II: 125 tiết mục) Test Denver II được thiết kế để sử dụng tốt trẻ cho em độ tuổi sơ sinh đến 6 tuổi và được tổng kết qua đánh giá hành vi của trẻ trên một loạt những kỹ năng được thiết kế phù hợp với lứa tuổi Test này thường được sử dụng trong việc theo dõi những triệu chứng của trẻ để phát
Trang 21hiện ra vấn đề, trong việc xác thực những nghi ngờ bằng trực giác có thể dùng test để đo và trong việc giám sát những vấn đề xấu trong sự phát triển của trẻ, cũng như những vấn đề ở những người đã trải nghiệm nhưng khó khăn trong thời kỳ chu sinh [1]
Mục đích của trắc nghiệm: Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp
đánh giá sự phát triển tâm vận động để có thể phát hiện sớm các trạng thái chậm phát triển ở trẻ em trước tuổi đi học Trắc nghiệm chủ yếu là vận dụng các tiêu chuẩn bình thường đã biết, sắp xếp các tiêu chuẩn đó vào một hệ thống chung để tiến hành, dễ nhận định, dễ đánh giá và tiện làm nhiều lần trên cùng một đối tượng [1]
Test Denver II không phải là test IQ, cũng không phải là những dự báo chính xác cho sự thích ứng trong tương lai hay những năng lực trí tuệ Nó không được thiết kế cho việc chẩn đoán một cách chung chung như mất khả năng học tập, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cảm xúc và cũng không nên sử dụng cho việc chẩn đoán, lượng giá cũng như kiểm tra về thực thể Hơn thế test được thiết kế để so sánh những hành vi của trẻ qua rất nhiều các hành vi với những hành động của trẻ khác ở cùng một độ tuổi
Test Denver II gồm 125 tiết mục, nó được sắp xếp thành 4 nhóm khu vực, để dễ theo dõi từng loại chức năng như sau [1]:
- Khu vực 1 đánh giá cá nhân – xã hội là sự hoà hợp với xã hội và có liên quan đến nhu cầu cá nhân, gồm 25 tiết mục
- Khu vực 2 đánh giá vận động tinh tế - thích ứng là sự phối hợp tay - mắt, thao tác với những vật nhỏ bé và cách giải quyết vấn đề, gồm 30 tiết mục
- Khu vực 3 đánh giá ngôn ngữ là sự nghe hiểu và sử dụng ngôn ngữ, gồm 39 tiết mục
Trang 22- Khu vực 4 đánh giá vận động thô là quá trình biết ngồi, đi, chạy nhảy, các loại vận động các nhóm cơ lớn, gồm 31 tiết mục
Test này cũng bao gồm 5 quan sát hành vi Cách đánh giá hành vi này giúp cho những người theo dõi có sự đánh giá chủ quan về tất cả hành vi của trẻ và chứa đựng những đo lường thô về việc trẻ sử dụng khả năng của chúng như thế nào
Những giá trị của Denver II đã thiết lập nên một tập hợp các dấu ấn lâm sàng của trẻ trong suốt thời kỳ phát triển và cảnh báo những khó khăn trong quá trình phát triển của trẻ dưới dạng tiềm năng Test Denver II thường được
sử dụng để sớm xác định xem trẻ này so với trẻ khác như thế nào Song nó không phải là sự tiên đoán sau này trong sự phát triển của trẻ
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: phường Trần Hưng Đạo, Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ dưới 6 tuổi và các bà mẹ có con dưới 6 tuổi tại địa bàn phường
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ dưới 6 tuổi tại thời điểm điều tra, trên địa bàn phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Trẻ không mắc các bệnh bẩm sinh, bệnh mạn tính, và các bất thường về phát triển trí tuệ, hiện tại không mắc các bệnh cấp tính
- Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được chọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và hợp tác
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và quy trình chọn mẫu:
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu 1 tỷ lệ:
p(1- p)
n = Z21- /2
e2
Trang 24Trong đó:
n = Cỡ mẫu nghiên cứu
p = 0,31 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi của Việt Nam (ước tính theo số liệu báo cáo năm 2010 của Viện Dinh Dưỡng)
Z1- /2 = 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy ứng với α= 0,05 với độ tin cậy của ước lượng là 95%
e: là sai số cho phép, chọn e = 0,05
Từ công thức trên ta tính được n = 329
Ước tính có khoảng 10% đối tượng sẽ bỏ cuộc hoặc di chuyển trong quá trình nghiên cứu nên số mẫu sẽ là 350 trẻ
Quy trình chọn mẫu:
Tổng số trẻ dưới 6 tuổi của phường tại thời điểm nghiên cứu là 670 Cỡ mẫu nghiên cứu là 350 trẻ Áp dụng phương pháp chọn mẫu l ngẫu nhiên hệ thống Đầu tiên xác định khoảng mẫu k = 670/350 = 2; liệt kê danh sách trẻ dưới 6 tuổi của toàn phường (trước thời điểm điều tra), dựa vào bảng số ngẫu nhiên chọn số ngẫu nhiên i Các cá thể được chọn vào mẫu lần lượt theo thứ
tự i+k, i+2k, i+3k, cho tới khi đủ cỡ mẫu 350 Trường hợp nếu trẻ được chọn không đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia nghiên cứu, hoặc từ chối nghiên cứu thì lấy trẻ kế tiếp ngay sau trẻ được chọn trong bảng danh sách Trong những gia đình có trẻ được điều tra, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin từ
mẹ của trẻ qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
2.3.3 Các nhóm chỉ số, biến số:
Nhóm thông tin chung
Thông tin chung bao gồm: Các thông tin về trẻ: tên, ngày sinh, giới; đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của bố mẹ trẻ
Trang 25Các thông tin này được thu thập dựa trên bộ câu hỏi mẫu sẵn phỏng vấn các bà mẹ của trẻ
Nhóm chỉ số về nhân trắc
Thu thập các chỉ số về cân nặng, chiều cao của trẻ để đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo 3 chỉ số: cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao, theo WHO 2005
Nhóm chỉ số về tâm lý, vận động [1]:
- Sử dụng trắc nghiệm đánh giá sự phát triển Denver II
- Trắc nghiệm Denver II gồm 125 tiết mục được sắp xếp trên phiếu kiểm tra theo 4 khu vực Đánh giá thao tác vận dụng của trẻ qua 4 khu vực này
Khu vực (1): Cá nhân – xã hội: sự tương tác của trẻ với người khác và thực hiện nhu cầu cá nhân gồm 23 tiết mục
Khu vực (2): Vận động tinh tế - thích ứng: sự phối hợp tay mắt, khả năng thao tác với vật nhỏ: 30 tiết mục
Khu vực (3): Ngôn ngữ: Sự hiểu và sử dụng ngôn ngữ : 21 tiết mục
Khu vực (4): Vận động thô: khả năng lẫy, bò, ngồi, đi, chạy vận động của các nhóm cơ lớn: 31 tiết mục
2.4 Phương pháp thu thập thông tin:
2.4.1 Cách thức và phương pháp thu thập thông tin:
Phỏng vấn trực tiếp: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc sẵn để phỏng vấn
trực tiếp các bà mẹ là mẹ của các trẻ đã được lựa chọn
Bộ câu hỏi gồm các phần:
- Thông tin chung của trẻ: Tên, địa chỉ, ngày sinh, tuổi, giới
- Thông tin gia đình: Nghề nghiệp bố, mẹ, kinh tế gia đình, số con
Trang 26 Đo các chỉ số nhân trắc của các trẻ đã được lựa chọn:
Đo chiều dài nằm: Áp dụng cho trẻ dưới 2 tuổi
- Dụng cụ: Thước đo chiều dài nằm cho trẻ với độ chia tối thiểu 0,1 cm
- Vị trí đặt thước: Để trên mặt phẳng nằm ngang, vững chắc
- Thao tác đo (2 điều tra viên hỗ trợ nhau):
Bỏ tất cả dày dép, mũ Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt thước, người thứ nhất giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng lên trần nhà (vuông góc với mặt thước), đỉnh đầu chạm vào êke định chỉ số 0
Người thứ hai giữ thẳng đầu gối của trẻ sao cho 2 gối trẻ thẳng, 2 gót chân của trẻ chạm nhau, đảm bảo 5 điểm chạm: Gót chân, bụng chân, mông, vai và chẩm áp sát vào thước đo
Người thứ hai dùng một tay kia đưa đầu êke di động của thước áp sát vào bàn chân, bàn chân thẳng đứng và phải vuông góc với mặt thước
Đọc kết quả theo cm với 1 số thập phân
Đo chiều cao đứng: Áp dụng cho trẻ từ 2 tuổi trở lên
- Dụng cụ cân: Sử dụng cân đồng hồ của UNICEF
- Vị trí đặt cân: Nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân
- Chỉnh cân: Chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân
- Kỹ thuật cân:
Trang 27 Đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trong người
Trẻ ngồi hoặc nằm giữa cân, không cử động
Người cân ngồi chính giữa mặt cân, khi cân thăng bằng đọc kết quả theo đơn vị kg với 1 số thập phân
Sử dụng test Denver II để đánh giá phát triển tâm vận động của trẻ:
- Công cụ:
Một quả bông làm bằng len đỏ
Mười quả nho khô
- Phiếu test Denver:
Từng tiết mục của trắc nghiệm Denver được biểu thị trên phiếu kiểm tra bằng một ô thước hình chữ nhật Mỗi ô thước đó được xếp đặt ở vị trí tương ứng với thang tuổi và phản ánh thời gian nào thì 25%, 50%, 75%, 90% các trẻ bình thường trong độ tuổi có thể thực hiện được tiết mục đó
Cấu tạo của ô thước: phần trắng của ô thước ghi tên tiết mục và tương ứng với 25-75% số trẻ có khả năng thực hiện tiết mục, còn phần màu xanh của ô thước trên 75% số trẻ bình thường có thể làm được tiết mục
đó ở độ tuổi này
Trên mặt sau của phiếu cũng được in sẵn cách thức tiến hành một số tiết mục như vẽ hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông, chỉ đường kẻ dài hơn, gọi tên hình trong tranh, đi nối gót và đi giật lùi
Trang 28- Cách tiến hành test:
Trước khi đánh giá test, cần nói rõ cho gia đình trẻ biết đây không phải
là nghiệm pháp thử trí thông minh cũng không phải là đo đạc, tính toán chỉ số IQ mà chỉ là một phương pháp đánh giá sự phát triển tâm lý, vận động của trẻ em
Vẽ đường tuổi: 2 đầu mép của tờ test hiển thị đường tuổi trên đó phân chia khoảng tuổi Xác định tuổi của trẻ bằng cách lấy ngày làm test trừ
đi ngày sinh, tuổi tính theo số tháng và ngày, từ đó kẻ đường thẳng từ 2 mép của test ứng với tháng tuổi, đó là đường tuổi
Môi trường làm test:
Tiến hành trắc nghiệm test Denver phải có mẹ hoặc người chăm sóc trẻ có mặt
Việc tiến hành cần có sự hợp tác tích cực và chủ động của trẻ cho nên cần bố trí sao cho trẻ được thoải mái nhất trong điều kiện tự nhiên, tránh những tác động từ bên ngoài khi kiểm tra
Đối với trẻ nhỏ có thể để ngồi trong lòng bố, mẹ, còn trẻ lớn người giám sát cần làm quen với trẻ, luôn gây được lòng tin và sự an tâm cho trẻ Người kiểm tra cần phải có quan sát linh hoạt và kỹ năng giao tiếp với trẻ, cần động viên sự cố gắng ngay cả khi trẻ không làm được
Tiến hành:
Các tiết mục ít vận động làm trước
Có tiết mục có thể quan sát, có tiết mục phải kiểm tra, có tiết mục
có thể hỏi cha mẹ đều được hiển thị bằng ký hiệu trên phiếu test
Các tiết mục sử dụng một dụng cụ nên tiến hành phối hợp, tránh di chuyển nhiều lần
Tránh đặt nhiều dụng cụ lên bàn, không trong tầm mắt
Trang 29 Các tiết mục của trẻ nhỏ trong tư thế nằm nên tiến hành cùng nhau
Không để ý đến tuổi của trẻ khi làm test
Thứ tự thực hiện các tiết mục ở mỗi khu vực trên phiếu trắc nghiệm:
Đánh giá 3 tiết mục liên tiếp nằm hoàn toàn bên trái gần đường tuổi nhất Nếu có từ 1 tiết mục không làm được tiếp tục lùi về trái, đến khi 3 tiết mục liên tiếp làm được thì dừng lại
Đánh giá tất cả các tiết mục mà đường tuổi đi qua
Tiếp tục làm các tiết mục bên phải đường tuổi đến khi trẻ không làm được 3 tiết mục liên tiếp thì dừng lại
Thứ tự thực hiện các khu vực: Tiến hành tuần tự các tiết mục trong 4 khu vực theo thứ tự như sau: (1) Cá nhân-xã hội → (2) Vận động tinh
tế → (3) Ngôn ngữ → (4) Vận động thô sơ
Chấm điểm cho mỗi tiết mục: Ghi ký hiệu vào vị trí cạnh mép phải của khung chữ nhật ghi tên tiết mục được kiểm tra
Chữ Đ (ghi bằng bút đen): Trẻ làm được hoặc bố mẹ đã nhìn thấy trẻ làm được
Chữ S: Trẻ không làm được tiết mục (ghi bằng bút xanh nếu tiết mục đó nằm trên hoặc bên phải đường tuổi, ghi bằng bút đỏ nếu tiết mục đó nằm bên trái đường tuổi)
Chữ K (ghi bằng bút xanh): không kết luận được khi trẻ từ chối làm hoặc bố mẹ không rõ
- Nhận định kết quả:
Tiêu chuẩn: Một biểu hiện chậm phát triển là 1 tiết mục bên trái đường tuổi nhưng trẻ không làm được (S) Những tiết mục nằm trên đường tuổi hoặc bên phải đường tuổi mà trẻ không làm được sẽ không được xem là biểu hiện chậm phát triển Số biểu hiện chậm phát triển bằng số chữ S màu đỏ
Trang 30 Đánh giá sự phát triển theo từng khu vực:
Tiến bộ: Làm được các mục nằm hoàn toàn bên phải đường tuổi (trẻ làm được trong khi 90% trẻ cùng tuổi không làm được)
Bình thường: trẻ không làm được rơi vào bên phải đường tuổi Trẻ làm được hoặc không làm được các tiết mục mà đường tuổi đi qua phần 25 – 75%
Nghi ngờ: Trẻ không làm được các tiết mục mà đường tuổi cắt qua phần xanh (vì có 75% - 90% trẻ cùng tuổi và nhỏ hơn làm được mà trẻ không làm được)
Chậm phát triển: Trẻ không làm được các tiết mục nằm bên trái đường tuổi (khi có hơn 90% trẻ cùng tuổi hoặc nhỏ hơn làm được)
Do các trẻ không hợp tác thực hiện các thao tác của test Denver
Do bố mẹ trẻ không hợp tác điều tra cung cấp thông tin không chính xác
Cách khắc phục:
Dỗ dành trẻ thực hiện hết các thao tác ở 4 khu vực của test
Vận động bố mẹ trẻ hợp tác điều tra
Trang 31 Kết quả sẽ được tập hợp lại, tổng hợp thành các bảng và biểu đồ
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Tất cả những người tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện và đã đọc bản thỏa thuận nghiên cứu được xây dựng theo hướng dẫn về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học: tuân thủ 3 nguyên tắc cả đạo đức nghiên cứu là tôn trọng con người, làm việc thiện và sự công bằng
Nghiên cứu này không có bất cứ ảnh hưởng nào tới phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, sức khỏe của địa phương
Đối tượng được điều tra có quyền từ chối trả lời phỏng vấn, hoặc bỏ cuộc giữa chừng, chỉ điều tra những người đồng ý
Nghiên cứu được thông qua các cấp chính quyền địa phương trước khi được tiến hành
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
có tỷ lệ thấp nhất, nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là 48 - 59 tháng tuổi (28,9%) tiếp đến là nhóm 36 - 47 tháng tuổi (27,7%)
Trang 33Biểu đồ 3.1 - Phân bố nhóm tuổi theo giới Nhận xét:
Qua biểu đồ trên ta thấy phân bố theo giới tương đối đồng đều ở các
nhóm tuổi, đa phần trong các nhóm tuổi tỷ lệ nam nhiều hơn nữ Chỉ riêng ở
nhóm tuổi 12 - 23 tháng có sự phân bố khác, tỷ lệ thiên về giới nữ hơn (nam
là 41,7%, nữ là 58,3%)
3.1.2 Thông tin về gia đình:
Bảng 3.2 - Thông tin chung của nhóm bà mẹ được hỏi
Thông tin về mẹ Số lượng (n=350) Tỷ lệ (%)
12 - 23 tháng
24 - 35 tháng
36 - 47 tháng
48 - 59 tháng
60 - 71 tháng
Nam
Nữ
Trang 34Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy:
Tuổi trung bình của các bà mẹ là 31,4 ± 4,2 tuổi
Nghề nghiệp của mẹ: Nghề chính của các bà mẹ là cán bộ /công nhân (64,0%), tiếp đến là buôn bán là 13,4%, nội trợ là 12,3%, làm ruộng làm rẫy chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,9%)
Trình độ học vấn của mẹ: Phần lớn các bà mẹ có trình độ học vấn đại học, cao đẳng (50,6%), trung cấp chiếm 15,4%, không có bà mẹ không biết chữ
Bảng 3.3 - Thông tin chung về gia đình trẻ được điều tra
Thông tin về gia đình Số lượng (n=350) Tỷ lệ (%) Phân loại kinh tế
Trang 353.2.2 Cân nặng, chiều cao tại thời điểm điều tra:
Bảng 3.4 - Cân nặng, chiều cao trung bình của trẻ Mean ± SD Trẻ trai
(n =195)
Trẻ gái (n =155)
Chung (n = 350)
Test p
Cân nặng (kg) 15,9 ± 4,4 14,9 ± 4,2 15,5 ± 4,3 T - test p <0,05 Chiều cao (cm) 99,0 ± 13,4 97,1 ± 13,2 98,2 ± 13,3 T - test p >0,05
Nhận xét:
Bảng 3.4 cho thấy trẻ nam có cân nặng cao hơn hơn trẻ nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05; T - test) Chiều cao trẻ nam cũng phát triển hơn trẻ nữ nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05; T - test)
3.4%
96.6%
<2500 gr
≥2500gr