Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè theo hướng: Ổn ñịnh diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, trồng thâm canh ngay từ ñầu, gắn v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN DUY PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM NÔNG SINH HỌC, NĂNG SUẤT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN DUY PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM NÔNG SINH HỌC, NĂNG SUẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS NGUYỄN VĂN TOÀN
2 TS NINH THỊ PHÍP
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa ñược bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hòan thành luận văn, tôi ñã nhận ñược sự quan tâm giúp ñỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Toàn,
TS Ninh Thị Phíp, người ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp ñỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ công nhân viên chức trong Bộ môn Cây công nghiệp, Khoa Nông học, Phòng quản lý ñào tạo, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hòan chỉnh luận văn tốt nghiệp Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh ñạo, cán bộ bộ môn Chọn tạo
và nhân giống - Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã giúp ñỡ tôi hòan thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những người thân trong gia ñình, bạn bè ñã giúp ñỡ ñộng viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và hòan thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
1.4 Những nghiên cứu về giống chè trên thế giới và Việt Nam 12 1.4.1 Nghiên cứu về giống chè trên thế giới 12
1.5 Những nhận ñịnh tổng quát về tình hình nghiên cứu chè trong và
Chương 2 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
Trang 62.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái của các dòng, giống chè 39 3.1.1 đặc ựiểm hình thái thân cành của các dòng, giống chè 39 3.1.2 đặc ựiểm hình thái lá của các dòng, giống chè 41 3.1.3 đặc ựiểm hình thái búp của các dòng, giống chè 44 3.1.4 đặc ựiểm hình thái hoa của các dòng, giống chè 47 3.2 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các dòng, giống chè 50 3.2.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống chè 50 3.2.2 Khả năng sinh trưởng búp của các dòng, giống chè 52 3.3 đánh giá mức ựộ nhiễm sâu hại của các dòng, giống chè 59 3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống chè 62 3.5 Nghiên cứu chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm của
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 ðặc ñiểm hình thái thân cành của các dòng, giống chè 39 3.2 ðặc ñiểm kích thước lá của các dòng, giống chè 41 3.3 ðặc ñiểm màu sắc, hình thái lá các dòng, giống chè 43 3.4 ðặc ñiểm hình thái búp của các dòng, giống chè 45 3.5 ðặc ñiểm hình thái hoa các dòng, giống chè 48 3.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống chè 51 3.7 ðộng thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng, giống chè
Trang 10MỞ ðẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây chè tên khoa học là Camellia Sinensis (L) O Kuntze là loại cây
công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới nóng ẩm Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi Sản phẩm từ cây chè ñang ñược sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều dạng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn
là ñồ uống
Việt Nam là một trong những nước có ñiều kiện ưu thế về ñịa lý, khí hậu thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Sản xuất chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn ñịnh góp phần to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa Nông nghiệp, nông thôn, ñặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè theo hướng: Ổn ñịnh diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, trồng thâm canh ngay từ ñầu, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, ñáp ứng nhu cầu thị trường nội tiêu và xuất khẩu
Cây chè có nhiệm kỳ kinh tế kéo dài tới 40-50 năm, chiến lược phát triển chọn tạo tối ưu về giống sẽ quyết ñịnh ñến sự tồn tại và phát triển của vùng sản xuất chè sau này Vì vậy, ở tất cả các nước trồng chè, nghiên cứu, chọn tạo giống luôn ñược quan tâm hàng ñầu, ñược coi là khâu ñột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè
Trên thế giới các nước phát triển chè mạnh ñều tập trung rất lớn cho công tác chọn tạo giống mới Gruria có những giống theo dõi nổi tiếng như
Trang 11Konkhitựa năng suất hơn giống ựối chứng 47%, các giống lai tạo có thể chịu ựược rét ở nhiệt ựộ -200C Trung Quốc qua theo dõi ựã tạo ra ựược các giống chè có chất lượng nổi tiếng như đại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Long tỉnhẦ Srilanca nhiều năm theo dõi cá thể ựã có nhiều dòng tốt phù hợp với vùng cao, vùng trung du và vùng thấp như dòng TRI 777, TRI 2025 và gần ựây có dòng CT9 có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng ra rễ cao khi giâm cành
Ấn độ rất chú trọng ựến công tác theo dõi, lai tạo, chọn ra các dạng hình mới
có năng suất cao Năm 1990 Ấn độ ựã chọn ra dòng tam bội TV29, có tiềm năng cho năng suất cao ựang mở rộng trong sản xuất
Tắnh ựến hết năm 2012, Việt Nam ựã có 131.500 ha chè, tập trung chủ yếu ở vùng Trung du miền núi phắa Bắc và Cao nguyên Lâm đồng, xuất khẩu chè ựạt 146,7 nghìn tấn, trị giá 224 triệu USD Kế hoạch ựến năm 2015, sản lượng chè búp tươi ựạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô ựạt 260 nghìn tấn, trong ựó xuất khẩu 200 nghìn tấn, ựạt kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD [53],[55],[56]
Hiện nay nước ta là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới Việt Nam (sau Kenya, Ấn độ, Trung Quốc và Sri Lanca), ựứng thứ hai về sản xuất chè xanh (sau Trung Quốc) Thị trường xuất khẩu chủ yếu của chè Việt là Pakistan, đài Loan, Indonesia, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ [53] nhưng giá trị xuất khẩu chè của nước ta vẫn còn khá thấp so với mặt bằng chung của thế giới Bởi chất lượng chè Việt Nam còn nhiều hạn chế, một trong những nguyên nhân cơ bản là chúng ta chưa có ựủ giống tốt, ựặc biệt là giống có chất lượng cao ựể cung cấp cho sản xuất Do vậy, chọn tạo giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt là nhiệm vụ trọng tâm của các nhà nghiên cứu về chè
để nâng cao chất lượng chè ở Việt Nam, ựa dạng hoá sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường chè thế giới, trong những năm gần ựây, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phắa Bắc ựã tiến hành ựồng bộ
Trang 12các phương pháp chọn tạo giống như: theo dõi cá thể, nhập nội giống, lai tạo, gây ựột biến nhằm tạo ra giống chè có năng suất, chất lượng cao phục vụ cho sản xuất Với mục tiêu chọn lọc các dòng, giống chè mới góp phần nâng cao giá trị sản xuất cho Chè Việt Nam chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài:
ỘNghiên cứu ựặc ựiểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng, giống chè mới tại Phú Hộ - Phú ThọỢ
2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài
2.1 Mục ựắch
Từ các kết quả nghiên cứu về ựặc ựiểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng chè mới chọn tạo, ựể xác ựịnh những dòng chè triển vọng, bổ sung vào cơ cấu giống chè hiện nay Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho nghành Chè Việt Nam
2.2 Yêu cầu
- đánh giá ựặc ựiểm hình thái thực vật học của các dòng, giống chè;
- đánh giá ựặc ựiểm sinh trưởng và phát triển của các dòng, giống chè;
- đánh giá khả năng chống chịu sâu hại chắnh trên các dòng, giống chè;
- đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống chè;
- Phân tắch và ựánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các dòng, giống chè;
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ thu thập ựược các thông tin cần thiết ựể làm cơ
sở cho việc nghiên cứu, theo dõi các dòng, giống chè mới có giá trị trong sản xuất chè xanh, chè ựen chất lượng cao hiện nay
Kết quả nghiên cứu của ựề tài bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy về cây chè hiện nay
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ñặc ñiểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một
số dòng chè mới, trên cơ sở ñó xác ñịnh ñược dòng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, nguyên liệu thích hợp ñể chế biến chè xanh, chè ñen chất lượng cao Các dòng, giống chè ñược theo dõi và chọn ra làm phong phú bộ giống chè của Việt Nam, góp phần ña dạng hóa sản phẩm chè hiện nay, nâng cao thương hiệu cho chè Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của ñề tài
ðề tài tiến hành nghiên cứu các chỉ tiêu về hình thái, sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng, mức ñộ nhiễm sâu hại của các dòng, giống chè thí nghiệm ở tuổi 10, ñược trồng trên ñất xám feralit tại Trung tâm nghiên cứu
và phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.1.1 Cơ sở sinh học
Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ ñồng ñều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các ñặc ñiểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng ðây là ñặc ñiểm có ý nghĩa lớn về tính ña dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi ñầu trong công tác chọn tạo giống, ñồng thời là ñiều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất ñặc biệt là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn ñến lúc tạo thành giống mới, ñưa
ra sản xuất là thời gian dài Do ñó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển nối tiếp nhau, từ lựa chọn các cá thể tốt ñến ñánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng và qui trình trồng trọt, chế biến không thể tách rời mà phải liên hòan và kế tiếp nhau ðể chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây ñầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây ñột biến Trong ñó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể ñược chú ý và có nhiều thành công nhất [38]
1.1.2 Cơ sở sinh lý học
Chè là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất dài có thể ñạt 100 năm hoặc lâu hơn, chia làm 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả ñời sống cây chè, tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt ñầu phân chia ñến khi cây chè chết Chu kỳ phát triển lớn của cây chè gồm 5 giai ñoạn: giai ñoạn phôi thai, giai ñoạn cây con, giai ñoạn cây non, giai ñoạn chè lớn, giai ñoạn chè già cỗi [17],[29]
+ Giai ñoạn phôi thai: là giai ñoạn phôi hạt hoặc phôi của các mầm dinh dưỡng Giai ñoạn phôi hạt là quá trình hình thành hạt: từ lúc cây ra hoa thụ phấn cho ñến lúc quả chín, quá trình này ñòi hỏi một năm Giai ñoạn phôi
Trang 15của các mầm dinh dưỡng là từ lúc phôi mầm phát dục phân hoá cho ñến khi hình thành một búp (cành mới), nếu tách rời cây mẹ thì nó có khả năng mọc
rễ ñể hình thành một cá thể mới Quá trình này cần 60 - 80 ngày
+ Giai ñoạn cây con: từ lúc hạt nảy mầm cho ñến khi cây ra hoa kết quả lần ñầu tiên, cần trên dưới 2 năm Trong ñiều kiện của Việt Nam thường là cuối năm thứ nhất Thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng phát triển mạnh, tán cây vươn theo chiều cao mạnh hơn phân cành, ñặc ñiểm sinh trưởng là ưu thế sinh trưởng ñỉnh ở hai ñầu
+ Giai ñoạn cây non: từ lúc cây ra hoa kết quả lần ñầu tiên cho ñến lúc cây ñược ñịnh hình (cây có một bộ khung tán rõ), khoảng 2 - 3 năm Trong ñiều kiện của Việt Nam: từ năm thứ hai ñến năm thứ tư Thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng vẫn chiếm ưu thế, thân chè ñã có một số cành nách, bộ rễ cũng ñã phát triển, có nhiều rễ bên
+ Giai ñoạn chè lớn: sự phát dục của các khí quan trong cá thể cây trồng ñạt mức cao nhất Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực mạnh nhất, biểu hiện những ñặc trưng tốt xấu của giống Thời kỳ này khoảng
20 - 30 năm, dài ngắn tùy theo ñiều kiện giống, ñất ñai, trình ñộ quản lý, chăm sóc và khai thác ðây là giai ñoạn cho năng suất và chất lượng chè tốt nhất, khả năng chống chịu với ñiều kiện ngoại cảnh cao nhất trong cả ñời sống cây chè
+ Giai ñoạn chè già: Các khí quan của cá thể cây trồng ñã bắt ñầu già yếu, cơ năng sinh lý giảm, khả năng ra hoa kết quả ở thời kỳ ñầu nhiều, sinh trưởng dinh dưỡng kém Bộ phận tán cây có hiện tượng chết dần Khả năng sinh thực ở thời kỳ cuối cũng giảm thấp Cổ rễ bắt ñầu mọc một số cành vượt, lóng dài, da ñỏ, dấu hiệu của sự thay ñổi bộ khung cũ, nếu ñốn trẻ lại thì cây
có khả năng phục hồi sinh trưởng Các dòng chè ñược nghiên cứu ñang trong giai ñoạn chè lớn, ở tuổi năm, ñộ tuổi ñang cho thu hoạch với năng suất cao
- Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai ñoạn sinh trưởng và tạm
Trang 16ngừng sinh trưởng Trong giai ñoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những ñợt búp chè mới; các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, ñiều kiện ngoại cảnh, trình ñộ quản lý chăm sóc Giai ñoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào ñiều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai ñoạn tạm ngừng sinh trưởng các bộ phận trên mặt ñất không xuất hiện các lá non mới, song bộ
rễ của cây chè lại sinh trưởng ñể tạo nên các rễ non mới Trong ñiều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt ñầu sinh trưởng từ tháng 2 ñến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 ñến tháng 2 hàng năm
1.1.3 Cơ sở thực tiễn của sản xuất chè
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu ñầu tiên của tất
cả các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng, ở Việt Nam với diện tích 131,500 nghìn ha chè thì có 50% diện tích ñược trồng bằng giống mới Với cơ cấu giống như hiện nay thì việc cải tạo năng suất chè của Việt Nam còn rất nhiều khó khăn Bên cạnh yếu tố năng suất, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè cũng là chỉ tiêu ñặc biệt quan trọng Nhiều giống chè có năng suất không cao nhưng chất lượng tốt vẫn ñược chấp nhận và phát triển trong sản xuất Mà ñể tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết ñịnh ñến 50%, còn yếu tố ñộ cao, chăm sóc quyết ñịnh 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% [13] Tuy nhiên, trong thực tế việc ñầu tư cho nhập khẩu các giống chè tốt của nước ngoài và cho nghiên cứu, phát triển về giống còn rất thấp Bên cạnh ñó, một số giống chè tốt của chúng ta như chè Shan còn ñang bị mai một, suy giảm chất lượng do không quan tâm ñúng mức ñến việc bảo toàn giống, phương thức quản lý nương ñồi chè và thu hái không hợp lý Chính vì thế chất lượng chè Việt Nam còn ở mức rất thấp so với thế giới, ảnh hưởng ñến
uy tín và giá trị xuất khẩu ðiều ñó cho thấy nhu cầu ñáp ứng các giống chè
Trang 17có năng suất, chất lượng cao phục vụ sản xuất là rất cần thiết Cần lai tạo, theo dõi, chọn lọc ra nhiều giống chè mới ñể mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam
1.2 Giá trị của cây chè
Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè ñã ñược các nhà khoa học xác ñịnh: Caffeine và một số hợp chất alkaloid khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ ñại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt ñộng của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những giờ làm việc căng thẳng Hỗn hợp tanin trong chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh ñường ruột Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè ñặc biệt là chè xanh ñể chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Hiện nay chưa tìm ra ñược chất nào lại có tác dụng làm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP và nhiều nhất là vitamin C [15]
Một giá trị ñặc biệt của chè ñược phát hiện gần ñây là tác dụng chống phóng xạ, ñiều này ñã ñược các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng hạn chế ñược tác hại của chất Stronti (Sr) 90 là một ñồng vị phóng xạ rất nguy hiểm ñối với cơ thể con người [17]
Theo tiến sĩ John Welsburger – thành viên cao cấp của tổ chức sức khỏe Hoa kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong chè có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như ñột qụy, trụy tim và ung thư”[54]
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra chè còn là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn ñịnh, rộng lớn và ngày càng ñược mở rộng Ở nước ta, chè là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu truyền thống quan trọng [32]
Trang 18Chè còn có một ý nghĩa lớn về việc phân bố sản xuất và lao ñộng Với nước ta việc phát triển trồng chè ở Trung du và miền núi vừa làm thay ñổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp vừa tận dụng ñược ñất ñai - nguồn tài nguyên quý báu - vừa là biện pháp có hiệu quả ñể phân bố lại lực lượng lao ñộng giữa các vùng làm cho nền kinh tế nước ta phát triển toàn diện, nâng cao ñời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân, ñặc biệt là vùng trung du và miền núi phía bắc nơi có tỷ lệ các hộ nghèo cao nhất của cả nước [6]
1.3 Nguồn gốc và phân loại cây chè
- Quan ñiểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam - Ấn ðộ: Năm
1823 Robert Bruce ñã phát hiện ñược những cây chè hoang dại, lá to hòan toàn khác với cây chè Trung Quốc và ở tất cả những nơi theo các tuyến ñường giữa Trung Quốc và Ấn ðộ Từ ñó ông cho rằng Ấn ðộ là nơi nguyên sản của cây chè [17]
- Quan ñiểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Việt Nam: Djemukhatze
ñã ñưa ra quan ñiểm nguồn gốc cây chè ở Việt Nam Từ năm 1961 ñến năm
1976 ông ñã tiến hành ñiều tra cây chè dại tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Tam ðảo và tiến hành phân tích thành phần sinh hoá ñể so sánh với loại chè thường ñược trồng trọt, từ ñó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác ñịnh nguồn gốc Ông thấy rằng: Những cây chè hoang dại chủ yếu tổng hợp
Trang 19nhiều catechin ñơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp nhiều catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin và (-) epigalo cathechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin ), trong khi ñó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu - Trung Quốc chỉ chiếm 18 - 20% Từ ñó ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam [9]
Thực tế hiện nay, phần ñông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam - Ấn ðộ sang Miến ðiện, Vân Nam - Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Từ ñó chia ra làm hai nhánh, một ñi xuống phía Nam và một ñi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam - Trung Quốc ðiều kiện khí hậu ở ñây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm [10],[17],[18],[21],[45]
1.3.2 Phân loại cây chè
Tên khoa học của cây chè lần ñầu tiên ñược nhà khoa học Thụy ðiển
ñặt là Thea sinensis vào năm 1753 sau ñó có nhiều cách ñặt tên khác nhau cho
cây chè ðến nay, tên khoa học của cây chè ñược nhiều người công nhận
nhất là Camellia sinensis (L) Okuntze [17],[19]
Trong hệ thống phân loại thực vật, cây chè ñược xếp như sau:
Ngành: Hạt kín (Angiospermae)
Bộ: Chè (Theales)
Họ: Chè (Theaceae)
Chi: Chè (Camellia) (Thea)
Loài: Camellia (hoặc Thea) sinensis
Tác giả Cohen Stuart chia Camellia Sinensis (L) O Kuntze ra làm 4 thứ,
ñó là:
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var Macrophylla): Cây thân
bụi hoặc gỗ nhỏ cao 5-7m, phân cành trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30cm2, có 8-9 ñôi gân lá, lá mầu xanh nhạt, búp có khối lượng 0,5-0,6g
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var Bohea): Cây bụi,
Trang 20phân nhiều cành, lá nhỏ (10-15cm), phiến lá dày, giòn, mầu xanh thẫm, 6-7 ñôi gân (không rõ), búp nhỏ, hoa nhiều, chịu rét tốt
- Chè Shan (Camellia Sinensis var Assamica): Cây thân gỗ cao 6-10m,
diện tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 ñôi gân lá, búp to nhiều tuyết, khối lượng búp khoảng 1-1,2g
- Chè Ấn ðộ (Camellia Sinensis var Assamica): Thân gỗ cao trên 10m,
phân cành thưa, lá hơi tròn, mặt lá gợn sóng gồ ghề, diện tích lá khoảng 40cm2, có 12-15 ñôi gân lá Búp lớn có khối lượng 0,9-1g, búp giòn, chống chịu rét kém và thích ñất tốt [17]
1.3.3 Sự phân bố của cây chè
ðiều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng, quyết ñịnh sự phân bố của cây chè Các công trình nghiên cứu trước ñây ñã kết luận: Vùng khí hậu nhiệt ñới
và á nhiệt ñới ñều thích hợp cho sự phát triển của cây chè
Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn ðộ, Srilanka, Indonesia và Việt Nam, ñây là những nước có ñiều kiện khí hậu nóng ẩm Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với hàng loạt các biện pháp kỹ thuật mới ñược áp dụng, vì vậy hiện nay cây chè hầu như ñã ñược trồng khắp châu lục trên thế giới từ 42 ñộ vĩ Bắc (Pochi -Liên Xô) ñến 27o vĩ ñộ Nam (Achentina) [15],[28],[32] Nhưng trong ñó sản xuất chè chủ yếu vẫn tập trung ở các nước châu Á: Trung Quốc, Ấn ðộ, Nhật Bản, Sirilanca, Indonesia, Việt Nam…và các nước châu Phi: Kênia, Malawi, Tanzania…
Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những ñộ cao khác nhau có sự khác nhau rất rõ: Những vùng núi cao trên 500m so với mực nước biển, có ñiều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của giống chè Shan (như Shan Chất Tiền, Shan Tham Vè, Shan Ba Vì, Shan Lũng Phìn…), một số giống chè có chất lượng tốt, ñặc biệt là khi chế biến chè xanh [1]
Trang 211.4 Những nghiên cứu về giống chè trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Nghiên cứu về giống chè trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Giống ựược coi là tiền ựề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp đối với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Chè là cây lâu năm có chu kỳ kinh tế kéo dài trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40 - 50 năm, ựầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác Không thể phá ựi trồng lại hàng năm ựược Do vậy ở tất cả các nước trồng chè, nghiên cứu giống chè là lĩnh vực khoa học kỹ thuật ựược quan tâm hàng ựầu
Qua 100 năm, ngành chè thế giới ựã tổng kết công tác chọn tạo giống chè mới, cây chè từ lúc tuyển chọn ựến lúc tạo thành giống mới, ựưa ra sản xuất cần thời gian dài để theo dõi các giống chè mới, các nước cũng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: theo dõi cá thể, theo dõi cây ựầu dòng, lai hữu tắnh, nhập nội giống, gây ựột biến Hiện nay thế giới vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp lai hữu tắnh trong chọn tạo giống chè
Ớ Tại đài Loan
Theo báo cáo của Phân nhánh Trạm thắ nghiệm Bình Chân của đài Loan, ựã thu ựược kết quả thành công trong thụ phấn lai tạo giống chè ỘThanh tâm ựại hữuỢ và ỘHòang cam chủngỢ thông qua nhiều lần chiết cành gốc ựã ựược bồi dục thành 13 dòng chè vô tắnh ưu tú [14]
Trang 22trong việc thụ phấn lai tạo nhân tạo giống chè Assam và giống Nhật Bản tạo nên cơ sở ổn ñịnh cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống chè ñen Năm 1953, nhà nước ban hành chế ñộ khen thưởng và ñăng ký giống chè, ñã thông qua 51 giống chè mới Năm 1968, giống mới chiếm 22,4% và ngày nay, giống mới ñã chiếm trên 65,2% diện tích chè, trong ñó giống Yabukita chiếm 55,4%
Hiện nay ở Nhật Bản các dòng chè vô tính ñược tạo ra gần ñây toàn bộ
là những dòng vô tính dùng phương pháp thụ phấn lai tạo nhân tạo bồi dục thành [14]
• Tại Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng ñầu thế giới Nghiên cứu
sử dụng giống chè tốt trong sản xuất ñược các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Ngay từ ñời nhà Tống, Trung Quốc ñã có 7 giống chè tốt ở
Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), ðại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm ñã có từ hơn 200 năm về trước ñều là những giống chè chiết cành [37]
Năm 1960 Trung Quốc ñã bắt ñầu nghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo,
ñã bồi dục thành hai giống chè Thuộc Vĩnh số 1 và số 2 ñược công nhận là giống chè quốc gia ðến năm 1966 Trung Quốc ñã có 50 giống chè tốt ñược ñưa vào sản xuất [14]
Theo báo cáo của Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại ñây, ñã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu ñược một số giống chè mới có triển vọng [14],[46]
Hiện nay, công tác giống chè ở Trung Quốc ñược ñặc biệt quan tâm, chủ yếu chọn giống chè theo hướng chất lượng cao ñể tạo ra những sản phẩm chè ñặc biệt, nổi tiếng trong nước và thế giới [47]
Trung Quốc ñã sử dụng các phương pháp: nhập nội giống, chọn lọc cá thể, ñặc biệt phương pháp lai hữu tính ñã ñược áp dụng rộng rãi và thu ñược nhiều thành tựu
Trang 23Ớ Tại Ấn độ
Trạm Nghiên cứu chè Tocklai của Ấn độ, trong thời kỳ 1936 - 1977 ựã tiến hành nghiên cứu lai hữu tắnh, thụ phấn nhân tạo trên 40 vạn hoa của 115 dòng chè vô tắnh [14]
Năm 1970 công ty đông Ấn độ nhập một ắt hạt chè Trung Quốc từ Quảng Châu ựể trồng thử nhưng kết quả cho thấp [32] Năm 1839, William Bentick tổ chức ra hiệp hội chè Ấn độ và chuyển sang trồng giống chè Assam, chế biến chè ựen ựược ựánh giá tốt, diện tắch chè Assam hiện nay chiếm 80% Năm 1990 có 110 giống chè tốt, trong ựó có 102 giống chè ựược nhân bằng phương pháp vô tắnh ựưa vào sản xuất, ựặc biệt chọn ra dòng tam bội TV29 có tiềm năng năng suất rất cao ựang mở rộng trong sản xuất [38]
Hiện nay diện tắch trồng bằng các giống chè ựược nhân giống vô tắnh của SriLanca ựạt trên 40% diện tắch trồng chè trong cả nước
Ớ Tại Indonesia
Indonesia bắt ựầu trồng chè từ năm 1684 nhưng không thành công, ựến năm 1872 mới thành công trên giống Assam nhập từ Srilanka đến nay,
Trang 24Indonesia là một trong năm nước có diện tích chè lớn trên thế giới, trong 20 năm trở lại ñây họ ñã tích cực chọn tạo giống mới cao sản bằng hình thức nhân vô tính và năm 1988 ñã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5, có sản lượng cao [38]
* Nghiên cứu ñặc tính sinh vật học của cây chè
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm Quả chè ñược hình thành chủ yếu nhờ quá trình giao phấn khác hoa Do vậy cây chè con mọc từ hạt có sự phân ly rất lớn về hình thái và khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất và chất lượng
Các ñặc ñiểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), ñặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt ñầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số ñợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất
và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu ñặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn ñược các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm
Theo tác giả Bakhơtadze К.Е khi nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất ñã ñề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: mầu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá Sau khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả kết luận: dạng lá chè có màu vàng là ñặc
Trang 25trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá, sự khác nhau về màu sắc
lá là do có sự khác nhau của hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác Lá có mầu cà phê sáng ñặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý Khi nghiên cứu kích thước lá chè ñã ñi ñến kết luận: kích thước lá chè biến ñộng theo giống chè và tuổi của cây chè, trong ñó những giống chè Ấn ñộ thường
có kích thước lá lớn nhất và kích thước lá của những giống chè Nhật Bản thường nhỏ nhất Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả ñưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp và năng suất chè là 0,956 ± 0,064 [51] Từ những kết quả nghiên cứu trên ñã làm cơ
sở ñịnh hướng cho các nhà chọn tạo giống chè có thể ñi theo các hướng khác nhau ñể tạo ra những giống chè cho sản phẩm phù hợp với thị trường Và nhờ những ñịnh hướng ñó có thể rút ngắn ñược thời gian chọn tạo giống theo những mục tiêu ñịnh trước
Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè theo Bakhơtadze К.Е cho rằng: góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè màu vàng là ñặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè Khi nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè Ông cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào ñiều kiện khí hậu, ở những vùng có mùa ñông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa ñông và cây chè sẽ ñược phục hồi vào thời kỳ có nhiệt ñộ không khí ấm lên, ngược lại ở những nước nhiệt ñới (quần ñảo Gjava) Srilanca hay Nam Ấn ñộ do có ñiều kiện thời tiết thuận lợi ñặc biệt là nhiệt ñộ nên búp chè sẽ sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp chè quanh năm vì vậy người ta coi ñây là lợi thế của vùng ñất này [52]
Mỗi loại cây trồng khi hình thành mầm và ñể mầm phát triển dòi hỏi phải có tổng nhiệt ñộ nhất ñịnh Tác giả Carr M.K.V and Squire (1979), khi nghiên cứu trên cây chè ở Mallawi ñã kết luận: Tổng nhiệt ñộ hữu hiệu cần thiết ñể cho một mầm chè (0,2cm) sinh trưởng thành búp chè có thể thu hoạch ñược (dài 8-15 cm) vào khoảng 500- 6000C mà theo các tác giả có ñến 2/3 nhiệt ñộ này là cung cấp cho sinh trưởng búp [43]
Trang 26Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau sự hình thành và phát triển của búp chè cũng khác nhau, yếu tố nhiệt độ cĩ vai trị quan trọng trong quá trình hình thành và sinh trưởng của búp chè Nghiên cứu về vấn đề này tác giả Carr, M K.V và Stephen W cho biết, chu kỳ thay thế búp chè (đợt sinh trưởng) cĩ thể căn cứ vào nhiệt độ khơng khí tối thiểu và nhiệt độ tối đa
để dự đốn một lứa búp mới sinh trưởng, phát triển [44]
Ảnh hưởng của mùa vụ qua yếu tố nhiệt độ khơng khí với chu kỳ thay thế búp ở các vùng địa lý khác nhau đã chứng minh quan điểm trên Các vùng chè châu Phi Munaze (Mallawi) ở 16005 vĩ độ Nam, độ cao 650m so với mặt nước biển, nhiệt độ khơng khí cĩ ý nghĩa từ 18-240C, độ dài chu kỳ hái búp là
42 ngày vào mùa sinh trưởng chính, 70 ngày vào những tháng mùa đơng lạnh Trong khi đĩ ở vùng Chipirga (Zimbabue) vị trí 20015 vĩ độ Nam, độ cao 850
m so với mặt nước biển, nhiệt độ hàng năm lạnh hơn Munaze 20C, chu kỳ hái búp dài hơn từ 15-20 ngày Sự khác nhau về mùa vụ dẫn đến sự thay đổi sản lượng trong năm ở các vùng chè
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm khơng khí với sinh trưởng phát triển của cây chè, tác giả Carr M.K.V and Stephen W (1992), nhận xét hầu hết các vùng chè cĩ lượng mưa trung bình 150mm/tháng sẽ cho sản phẩm liên tục Tổng lượng mưa cả năm là 1800mm cây chè sẽ sinh trưởng phát triển tốt, nếu lượng mưa trong năm dưới 1500mm mà khơng tưới nước cây chè sẽ phát triển kém, năng suất thấp [44]
Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện khơng đốn và cĩ đốn tác giả Djemukhadze K.M chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống hay khơng đốn các mầm chè được phân hố trong vụ thu, vụ đơng và hình thành búp trong vụ xuân Ở những nương chè cĩ đốn thì sự phân hố mầm chè chủ yếu diễn ra trong vụ xuân Như vậy ở nương chè cĩ đốn và hái búp thường xuyên thì sinh trưởng búp chè bắt đầu muộn hơn một số ngày so với nương chè để giống hay khơng đốn [9]
Trang 27Khi ñịnh hướng cho quá trình chọn giống chè theo hướng năng suất cao theo các tác giả cho rằng: ñặc ñiểm của những cây chè có sản lượng cao ít nhất phải có mật ñộ búp cao (số lượng búp nhiều) và kích thước lá lớn Vì vậy trong công tác chọn tạo giống ñể tạo ra ñược những giống chè có năng suất cao, chúng ta phải hướng tới chọn những giống chè có mật ñộ búp lớn
+ Tốc ñộ sinh trưởng búp: thời gian hình thành búp chè tôm 2-3 lá non
ñủ tiêu chuẩn hái dài hay ngắn phụ thuộc vào tốc ñộ sinh trưởng, của búp chè, theo Tanton T.W (1982): ñộng thái sinh trưởng của búp chè chậm ở giai ñoạn ñầu (từ khi nảy mầm ñến khi búp dài 2-3 cm), tăng nhanh giai ñoạn sau (tiếp tục ñến khi búp dài 10-15 cm) Thời gian sinh trưởng cho mỗi lứa hái từ 7-21 ngày và phụ thuộc vào từng giống và ñiều kiện thời tiết Nhiệt ñộ không khí tối thiểu cho sinh trưởng chè là 13-140 C và tối thích là 18-300C, những ngày
có nhiệt ñộ tối ña vượt quá 350 C và tối thiểu thấp hơn 140C làm giảm sản lượng chè [44],[49]
+ Mật ñộ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton T.W cũng chỉ ra nhân tố quan trọng nhất là mật ñộ búp ñóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ ñóng góp 11% [57]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy mỗi giống chè có những ñặc ñiểm hình thái lá, búp, thân, cành khác nhau, các tính trạng ñặc trưng của chúng có liên quan mật thiết tới năng suất và chất lượng chè ñây là cơ sở quan trọng giúp cho các chà chọn giống có ñịnh hướng ñể chọn ra các giống chè có năng suất
và chất lượng ñáp ứng mục tiêu sản phẩm, vì thế có thể rút ngắn ñược thời gian chọn tạo các giống chè
* Nghiên cứu ñặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè
Nguyên liệu chè ñược thu hái ñưa về nhà máy chế biến, chủ yếu gồm búp tôm 2-3 lá non và búp 1-2 lá mù xòe Trong trường hợp chế biến chè ñặc sản chỉ hái búp tôm 1-2 lá non, hoặc búp tôm 1 lá non, ñặc biệt khi chế biến chè Mao Tiêm, chè Kim Ngân chỉ hái búp tôm
Trang 28Thành phần cơ giới búp phụ thuộc vào mùa vụ, giống, kỹ thuật hái: + Nhiệt ñộ cao quá 350C hoặc nhiệt ñộ giảm thấp dưới 100C sẽ ảnh hưởng không tốt ñến sinh trưởng và chất lượng búp Nhiệt ñộ thấp và khô hạn
là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù [28]
+ Các giống chè khác nhau có thành phần cơ giới và hình thái nguyên liệu búp khác nhau Búp chè non, già khác nhau, to nhỏ khác nhau ảnh hưởng rất lớn ñến quá trình chế biến các loại sản phẩm
ðể ñánh giá chất lượng nguyên liệu tươi nhiều nước sử dụng chỉ tiêu tỷ
lệ lá già và lá bánh tẻ Nếu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ càng cao thì chất lượng nguyên liệu chè càng giảm
Thành phần hóa học chủ yếu của nguyên liệu búp chè:
Theo tài liệu của Ukers.W.H, trong tác phẩm “Trà diệp toàn thư”, việc phân tích hoá học chè bắt ñầu từ khi phát hiện ra chất cafeine trong chè
thương phẩm mà khi ñó gọi là trà tố (theine) [50] Sau ñó nhiều công trình
nghiên cứu khoa học lại chứng minh ñược chất theine (trà tố) trong lá chè và chất cafeine trong lá cà phê là cùng một chất giống nhau nên ñã ñổi tên là chất cafeine Như vậy ñã tìm ñược cơ sở khoa học tác dụng gây hưng phấn thần kinh con người khi uống chè là do tác dụng caffeine
Năm 1960, Tửu Hộ Huyền Nhị Lang, người Nhật Bản phát hiện ra trong lá chè Ngọc Lộ của Nhật Bản có chất axít amin ñặc chủng có trong lá chè với tỷ lệ tương ñối cao Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học hơn 100 năm qua ñã cho thấy rõ thành phần hoá học của lá chè tới 500 loại Trong lá non, hợp chất polyphenol chiếm tới 20-30% tổng lượng chất khô, trong ñó catechin chiếm 60% Trong 10 loại axít amin tự do ở lá chè, theanine chiếm tới 50% [48]
Chất hòa tan trong lá chè thường chiếm khoảng 50% số lượng chất khô
Nó bao gồm tất cả các hợp chất tan trong nước, mà chủ yếu là hợp chất phenol, chiếm từ 25-30% khối lượng chất khô Ngoài ra còn có các chất như
Trang 29cafeine, teobromin, teophilin, tinh dầu thơm, các axít amin, protein và gluxít hòa tan trong nước, vitamin, pectin và các chất khoáng…Vì vậy chè là sản phẩm ñồ uống có giá trị dinh dưỡng cao Trong chè chứa chất hòa tan càng cao thì chất lượng chè càng tốt và giá trị dinh dưỡng càng cao Hàm lượng chất hòa tan là chỉ số tổng hợp của chất lượng nguyên liệu và giá trị của chè sản phẩm [47]
Theo Chen Rong Bing, các giống chè Ấn ñộ chất hòa tan chiếm khoảng 50%, chè Trung Quốc 45%, chè Grudia 44%, chè Nhật Bản 43% Trong sản phẩm chè xanh, chất hòa tan chiếm khoảng 38 - 42%, chè ñen 34 - 36% khối lượng chất khô Trong búp (tôm) và lá thứ nhất hàm lượng chất hòa tan cao hơn lá thứ 2, lá thứ 3 Cuộng chè non là nơi truyền dẫn dinh dưỡng ñể nuôi lá,
nó chứa hàm lượng chất hòa tan khá cao [47]
Khi nghiên cứu về chất lượng nguyên liệu chè các tác giả ñặc biệt chú ý ñến hợp chất tanin và chất hòa tan trong búp chè
Tác giả Vũ Thị Thư, ðoàn Hùng Tiến cho rằng: trong nguyên liệu chè Grudia hàm lượng ñường hòa tan trung bình ñạt từ 2,5-3,0 % khối lượng chất khô, trong ñó monosaccarit 1,0 % và saccaroзa 1,5-2,0 %, trong thành phần búp chè hàm lượng ñường cũng khác nhau [35]
Nghiên cứu của Djemukhade K.M, xác ñịnh trong chè nguyên liệu hàm lượng hợp chất tanin - catechin càng lớn thì hàm lượng ñường hòa tan càng ít
và ngược lại Hàm lượng ñường hòa tan biến ñộng theo thời vụ thu hoạch, nguyên liệu chè thu hoạch vào tháng 5 có hàm lượng ñường glucoza, fructoza
và saccaroзa ñạt cực ñại sau ñó hàm lượng của chúng giảm dần, trong tháng 8 ñạt thấp nhất, ñến tháng 9 lại bắt ñầu tăng lên ñiều này thể hiện ñặc tính chất lượng mang tính mùa vụ rất rõ rệt, ở các thời vụ khác nhau thì chất lượng chè khác nhau [9]
Như vậy hàm lượng các chất trong búp chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như giống chè, ñộ cao so với mặt nước biển, ñiều kiện ñịa lý, chế
Trang 30ựộ canh tác, thời vụ thu hoạch, ựộ non của nguyên liệu búp chè, công nghệ chế biến Hiểu ựược những ựặc tắnh trên giúp các nhà nghiên cứu về chè sẽ có những ựịnh hướng cho việc chọn tạo các giống chè mới và các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với mục ựắch sản phẩm ở các vùng sinh thái
1.4.2 Nghiên cứu về giống chè ở Việt Nam
Nhân dân Việt Nam ựã ựưa cây chè vào trồng trọt từ xa xưa và người
dân Việt Nam, từ nông thôn ựến thành thị cũng có tập quán uống chè lâu ựời Sau khi chiếm ựóng đông Dương (1882), người Pháp ựã chú ý ngay ựến khai thác cây chè Bắt ựầu là G.Baux (1885) ựã ựiều tra về cây chè ở Bản Xang (miền núi Bắc Kỳ), sau ựó là các sách và công trình nghiên cứu về triển vọng cây chè ở đông Dương của Jumelle (1913), Eberhardt, Avfray (1907) [26] Sau các cuộc ựiều tra khảo sát cây chè miền núi phắa Bắc, một số chủ ựồn ựiền người Pháp ựã phát triển cây chè ở miền Bắc Nhưng do kỹ thuật chế biến hạn chế nên chất lượng chè kém, mặt khác do không nắm ựược quy trình trồng chè dẫn ựến cây chè ựã không phát triển ựược
Năm 1918, Pháp ựã thành lập Trạm Nghiên cứu Nông lâm nghiệp Phú
Hộ với nhiệm vụ nghiên cứu các cây công nghiệp nhiệt ựới, trong ựó chè là cây quan trọng Sau ựó người Pháp tiếp tục mở các trung tâm nghiên cứu: Trạm nghiên cứu chè Pleiku (1927) ở Gia Lai Kon Tum, Trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc (1931) ở Lâm đồng và 2 ựiểm nghiên cứu giống ở Boloven và Trấn Ninh (Lào), từ ựó các ựồn ựiền chè ựã phát triển mạnh mẽ [26]
Từ năm 1918 ựến 1921, tập ựoàn giống chè ở Phú Hộ có 24 giống, gồm các giống thu thập ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, các cây chè rừng, các giống chè nhập nội từ Trung Quốc, Ấn độ
Năm 1920-1925, Du Pasquier chọn giống với vật liệu khởi ựầu là thứ chè Trung Du Bắc Kỳ Năm 1945, ông ựã chọn ra 2 dòng C9 và E1 ựể trồng thành vườn sản xuất hom giống nhưng chưa kịp phổ biến vào sản xuất thì sau
ựó bị xoá sổ do chiến tranh
Trang 31Năm 1933 - 1936, J.J.B.Deuss - nguyên cố vấn khoa học kỹ thuật các công ty chè đông Dương ựề ra mục tiêu chọn giống là Ộlàm chè ựen cho thị trường Châu Âu, nên giống chè này ựòi hỏi chất lượng giống kiểu Assam Ợ Năm 1950 - 1954, Guinard ựã triển khai chương trình theo dõi, chọn lọc dòng tại Trung tâm nghiên cứu Bảo Lộc, lấy vật liệu khởi ựầu là thứ chè Shan, ựặt nền móng chọn lọc giống chè Shan ở Bảo Lộc [2]
- Hiện trạng tập ựoàn giống chè ở Việt Nam
Cho ựến nay tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phắa Bắc, ựã lưu giữ tập ựoàn gồm 193 giống chè có nguồn gốc từ trong nước
và nhập nội từ nước ngoài Trong ựó, phân theo nguồn gốc có: 76 giống ựịa phương và chọn tạo tại Việt Nam (chiếm 39,38%); 117 giống nhập nội (chiếm 60,62%) Phân theo hình thái có: thứ Trung Quốc lá nhỏ: 71 giống , thứ Trung Quốc lá to: 42 giống, thứ chè Ấn độ: 38 giống, chè Shan: 42 giống
So với trước năm 2000, tập ựoàn giống chè ựược thu thập bảo quản ựể khai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so tổng số giống bảo quản) Các giống chè này ựang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam [19]
- Các kết quả nghiên cứu về giống chè ở nước ta ựược tóm tắt như sau:
+ điều tra thu thập và nhập nội giống
Thời kỳ năm 1918-1935, người Pháp tiến hành thu thập các giống chè của
Ấn độ, Trung Quốc, Miến điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai, Ba Vì, Phú Thọ đến năm 1939 ựưa vào hệ thống vườn tập ựoàn gồm
23 giống, trong ựó giống ựịa phương là 13 giống và giống nhập nội là 10 giống Giai ựoạn năm 1959-1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lắ và lai tạo giống, trao ựổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong ựó nguồn gốc ựịa phương có 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọn tạo ựược 17 giống, các giống chè mới theo dõi như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1, LDP2 Giai ựoạn năm 1994-1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả ựã bổ sung
Trang 32ñược 34 giống Trong ñó, giống ñịa phương có 4 giống, theo dõi có 5 giống, nhập nội có 25 giống Sử dụng các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Olong Thanh Tâm phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống Giai ñoạn năm 2000-2005 công tác ñiều tra thu thập các giống ñịa phương và nhập nội giống ñược ñẩy mạnh, nhằm tìm ra những nguồn gen quý trong nước, nhập nội giống nhằm cải thiện chất lượng chè Việt Nam [4],[19],[24]
+ Theo dõi cá thể
Bằng phương pháp theo dõi cá thể, năm 1972 Viện nghiên cứu Chè (nay là Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) ñã chọn ñược giống PH1 có năng suất cao phổ biến ra sản xuất Giống 1A ra ñời với
xu hướng chọn giống quan tâm ñến chất lượng, ưu ñiểm của giống là chất lượng nguyên liệu chế biến chè xanh tốt Hai giống PH1 và 1A ñều là giống chè Ấn ðộ ðể có giống chè theo dõi nguồn gốc ñịa phương, năm 1970 -
1976 ñã chọn ra cây chè TH3 thuộc thứ chè Trung Quốc lá to nguồn gốc Lạng Sơn, năm 1978 ñược giâm cành và trồng giám ñịnh giống TH3 là giống có năng suất cao chịu thâm canh [21],[25]
Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, năm 2010
ñã tuyển chọn ñược giống chè PH11 nguồn gốc Ấn ðộ có năng suất cao, chế biến chè xanh, chè ñen cho chất lượng tốt, hiện nay giống PH11 ñang ñược phát triển mạnh ở các vùng trung du miền núi phía Bắc ñể chế biến chè ñen theo công nghệ CTC [24]
+ Phương pháp lai hữu tính
Năm 1980, Viện Nghiên cứu Chè ñã tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ ñã ñược xác ñịnh, sau khi gieo hạt và tuyển chọn ñược 35 cá thể có nhiều triển vọng Năm 1988 ñã theo dõi ñược các cá thể nổi bật ñó là LDP1, LDP2, CDP Sau 10 năm giám ñịnh, so sánh giống ñã thu ñược kết quả tốt Hai dòng LDP1
và LDP2 là 2 dòng lai sinh trưởng khỏe, năng suất cao, chất lượng tốt ñược
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tạm thời, năm 1994
Trang 33cho phép mở rộng ra sản xuất, giống LDP1 ñã ñược công nhận là giống quốc gia năm 2003 và giống LDP2 ñược công nhận năm 2006 [20],[24], [33] Năm 1998 tiến hành 17 cặp lai giữa các giống chè nhập nội với các giống chè ñịa phương trong ñó có cặp lai giữa TRI777/ Kim Tuyên (TRI777 ñại diện cho thứ chè Shan thích ứng vùng cao và giống Kim Tuyên thuộc thứ chè TQLN thích ứng vùng thấp) Qua quá trình theo dõi về sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các cá thể, năm 2001 ñã chọn ñược 36 cá thể có triển vọng và từ ñó chọn ra ñược 5 dòng chè ưu tú trong ñó có dòng số 8, dòng số
9 (nay gọi là giống PH8, PH9) Sau 10 năm nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm trên diện rộng, theo dõi liên tục các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng nhân giống vô tính cho thấy hai giống chè PH8 và PH9 sinh trưởng khỏe, sớm cho năng suất cao
Cả hai giống chế biến chè xanh ñều có chất lượng tốt Ngoài ra giống PH8 có thể sử dụng ñể chế biến chè xanh cao cấp Hai giống chè PH8 và PH9 ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tạm thời và cho phép sản xuất thử tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang và Sơn La Hiện nay, phương pháp lai hữu tính các giống chè ñang ñược Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc rất quan tâm và ñã chọn ra ñược một số dòng có triển vọng ñang khảo nghiệm so sánh giống trên diện rộng
+ Theo dõi bằng phương pháp gây ñột biến
Năm 1989 - 1990, Viện Nghiên cứu Chè ñã tiến hành chọn giống chè bằng xử lý consixin hạt và mầm chè và xử lý tia gamma với liều lượng khác nhau lên hạt chè ñã thu ñược một số kết quả bước ñầu Năm 1994, tác giả Lê Mệnh và cộng sự ñã thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI777, kết quả thu ñược nhiều ñột biến mới lạ, ñặc biệt dòng 5.0 từ xử lý bức xạ trên hạt giống TRI777 có năng suất cao, chất lượng thơm ngon có nhiều triển vọng [23],[40],[42]
Trang 34Ngoài ra tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên mầm chè giống PH1, trong thời gian 24 - 48 giờ với nồng ñộ 0,2%, cũng ñã thu ñược kết quả bước ñầu
* Nghiên cứu ñặc tính sinh vật học của cây chè
Cây chè sau trồng tùy ñiều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa ñậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn
Khi nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học ra hoa của các giống chè ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính, hoa chè là loại hoa lưỡng tính, ñài hoa
có 5-7 cánh Trong một hoa có rất nhiều nhị ñực (từ 200-400), noãn bào thượng có 3-4 ô Phương thức thụ phấn của cây chè chủ yếu là thụ phấn khác hoa, tự thụ phấn chỉ ñạt 2-3% Khả năng ra nụ, ra hoa của cây chè thường rất lớn nhưng tỷ lệ ñậu quả lại rất thấp khoảng 12% [17]
Tác giả Nguyễn Văn Niệm và cs khi nghiên cứu về khả năng ñậu quả của giống chè 1A ñã kết luận: ñặc ñiểm cây chè là cây giao phấn, ở giống chè 1A các bộ phận của hoa ñều lớn và phát triển, riêng nhụy bị thoái hoá và ñộ dài nhụy ngắn chỉ bằng 1/3 so với chỉ nhị, ñầu nhụy chỉ có 2 nhánh vì vậy hạt phấn của các cây khác không vào ñược hoa của 1A, kể cả ñem hạt phấn thụ lên nó cũng không ñậu quả Trong khi ñó hoa của giống PH1 rất phát triển: nhụy dài, nhị dài, hoa to, cánh hoa nhiều, ñầu nhụy xẻ 3 thuỳ, có hoa xẻ 4 thuỳ nên khả năng sinh sản hữu tính mạnh, tỷ lệ ñậu quả cao [26]
Kết quả của tác giả Lê Tất Khương khi nghiên cứu khả năng ra hoa và ñậu quả của một số giống chè tại Thái Nguyên cũng có kết luận tương tự về khả năng ñậu quả của giống chè 1A [16]
Nghiên cứu cấu trúc lá chè, các tác giả Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan cho rằng: các giống chè có sản lượng búp cao thường có góc ñính lá từ
Trang 3540-60o, khoảng cách giữa 2 lá lớn [41]
Nghiên cứu về ựặc ựiểm của lá chè các giống, tác giả Nguyễn Ngọc Kắnh cho rằng: thế lá ngang và thế lá rủ là ựặc trưng của các giống chè năng suất cao [17]
Theo đỗ Ngọc Quỹ, căn cứ vào hệ số dài/rộng (D/R) ựể xác ựịnh dạng phiến lá: nếu D/R < 2,5 lá có dạng hình trứng, d/r từ 2,6ọ3,0 lá hình trứng thuôn, D/R > 3,0 lá hình thuôn mũi mác [30]
Theo Nguyễn đình Nghĩa, cây chè có dạng lá bầu dục (tỷ lệ D/R < 2,2) sản lượng cao hơn cây có dạng lá mũi mác (d/r >2,2) Năng suất cây có diện tắch lá nhỏ hơn 25cm2 thấp hơn năng suất cây có diện tắch lá ≥25cm2[22] Theo Lê Văn đức và Nguyễn Văn Toàn: ựặc ựiểm giống chè có năng suất cao ắt nhất phải có hệ số diện tắch lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và kắch thước lá lớn (có khối lượng búp lớn) [11],[37],[41]
Theo Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan, khi nghiên cứu màu sắc lá cho thấy: lá có màu vàng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý sinh hóa, lá có màu xanh sáng ựặc trưng cho chỉ tiêu kinh tế có lợi Chè ựược chế biến từ lá có màu xanh vàng, có lông tuyết thì chất lượng cao hơn từ lá có màu xanh ựậm không có lông tuyết đặc biệt tốt cho chế biến sản phẩm chè xanh chất lượng cao [41]
Như vậy lá của cây chè có ý nghĩa rất quan trọng, nó không những là
cơ quan quang hợp và cũng là một phần của sản phẩm thu hoạch Hơn thế nữa, lá chè còn có liên quan với năng suất và chất lượng Căn cứ vào mầu sắc
lá có thể phần nào ựánh giá ựược chất lượng của giống chè ựó Diện tắch lá
và thế lá cũng biểu hiện khả năng sinh trưởng phát triển của giống chè Chắnh vì vậy sẽ giúp cho các nhà chọn giống có những ựịnh hướng ựáp ứng ựược mục tiêu chọn tạo
Nghiên cứu mật ựộ búp trên tán của một số giống chè trồng tại Thái Nguyên tác giả Lê Tất Khương cho rằng: Các giống chè khác nhau có mật ựộ
Trang 36búp trên tán khác nhau và những giống có mật ñộ búp cao thường là những giống có khả năng cho năng suất cao [16]
Mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè: Sản lượng búp chè do 2 yếu tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết ñịnh, trong ñó số lượng búp/cây có tương quan chặt hơn ñối với sản lượng, ñây là yếu tố rất nhạy cảm có thể thay ñổi theo những ñiều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật Còn khối lượng búp có tương quan thuận không chặt với sản lượng, ñây là yếu tố ổn ñịnh và nó do ñặc ñiểm của giống quyết ñịnh,
vì thế số búp trên cây có ý nghĩa rất lớn ñối với sản lượng của cây chè [40] ðịnh hướng cho quá trình chọn giống chè theo hướng năng suất cao theo nhiều tác giả: ñặc ñiểm của những cây chè có sản lượng cao ít nhất phải
có mật ñộ búp cao (số lượng búp nhiều) và kích thước lá lớn Vì vậy trong công tác chọn tạo giống ñể tạo ra ñược những giống chè có năng suất cao, phải hướng tới chọn những cây chè có mật ñộ búp lớn
Nghiên cứu về mối tương quan giữa năng suất chè với một số chỉ tiêu sinh học Năng suất của các giống chè tương quan thuận chặt với số lượng búp (r = 0,8901) và hệ số diện tích lá (r = 0,7128), tương quan thuận nhưng không chặt với khối lượng búp (r = 0,1022) và diện tích lá (r = 0,1009) [5] ðặc ñiểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có ñộ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khỏe, có khả năng cho năng suất cao [26],[27],[34]
* Nghiên cứu ñặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè
Các công trình nghiên cứu thành phần hoá học của búp chè do ảnh hưởng của giống chè từ những năm 1974- 1992 cho thấy hàm lượng polyphenol trong các giống chè có nguồn gốc Ấn ðộ cao hơn các giống chè
có nguồn gốc ở Trung Quốc (PH1, ðại Bạch Trà) [7],[8],[30]
Trang 37Kết quả nghiên cứu chỉ ra: các giống chè có hàm lượng tanin cao (như PH1) thắch hợp cho việc chế biến chè ựen Các giống chè có hàm lượng tanin thấp (như đại Bạch trà) thắch hợp chế biến chè xanh
Trong búp chè hàm lượng tanin chiếm khoảng 30% khối lượng chất khô Sản phẩm chè ựen hàm lượng tanin chiếm khoảng 15 - 18%, chè xanh hàm lượng tanin chiếm khoảng 20 - 30% Hàm lượng tanin phụ thuộc rất nhiều vào giống, ựiều kiện khắ hậu, ựất ựai, kỹ thuật canh tác Tanin có vị chát, chúng
có thể bị enzyme oxy hoá thành các chất có màu ựỏ hoặc nâu đó là hai ựặc ựiểm quan trọng nhất ựược tận dụng trong việc chế biến chè Tất cả các thuộc tắnh cơ bản của nước chè như màu, mùi, vị ựều liên quan ắt nhiều ựến tanin và các dẫn suất của tanin [35]
Hàm lượng chất hòa tan luôn phụ thuộc vào mức ựộ thành thục của lá, giống chè và biện pháp canh tác Chất hòa tan trong lá chè thường chiếm khoảng 50% khối lượng chất khô, bao gồm tất cả các chất tan trong nước sôi,
mà chủ yếu là hợp chất phenol Ờ chiếm từ 25-30% khối lượng chất khô Ngoài ra còn có các chất như caffeine, tinh dầu thơm, các axit amin, pectin và các khoáng chất cho nên chè là sản phẩm ựồ uống có giá trị dinh dưỡng cao
để ựánh giá chất lượng chè nguyên liệu, thành phần cơ giới búp là một chỉ tiêu quan trọng của búp chè, thành phần cơ giới quyết ựịnh ngoại hình các mặt hàng sản phẩm và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của sản phẩm [3], [4] đánh giá chất lượng nguyên liệu ở nước ta còn dựa vào phương pháp thử nếm cảm quan sản phẩm chè xanh và chè ựen:
+ Tiêu chuẩn chè xanh: Ngoại hình sản phẩm phải ựồng ựều về kắch cỡ mầu sắc, xoăn, nội chất phải có hương thơm (tùy theo giống chè khác nhau), vị chát dịu dư vị lâu dài, nước pha trong, có màu xanh vàng hoặc vàng xanh Bã chè có màu ô liu, hoặc xanh vàng tùy từng giống chè độ thủy phần trong sản phẩm chè không vượt quá 7,5% Hàm lượng chất hòa tan không thấp
Trang 38hơn 34% Hàm lượng tanin không nhỏ hơn 20%, hàm lượng cafein không nhỏ hơn 2% Hàm lượng chất xơ không vượt quá 16,5% [36]
+ Tiêu chuẩn chè ñen: ngoại hình sản phẩm có khối lượng và kích cỡ ñồng ñều xoăn tốt hương thơm tươi mát dễ chịu, vị chát dịu sảng khoái dư vị lâu Nước chè có mầu ñỏ nâu trong sáng, bã chè mềm có mầu ñỏ nâu ñều trong chè sản phẩm Hàm lượng tanin không thấp hơn 9%, chất hòa tan không nhỏ hơn 32%, ñộ ẩm không quá 7,5% Cafein không nhỏ hơn 1,8%, chất xơ không lớn hơn 16,5% [36]
1.5 Những nhận ñịnh tổng quát về tình hình nghiên cứu chè trong và ngoài nước có liên quan ñến ñề tài
Những nghiên cứu ở trong nước và trên thế giới về giống chè ñã ñược tiến hành có hệ thống và ñạt ñược những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực giống, ñặc tính sinh vật học của cây chè, ñặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè, ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của cây chè
- Công tác nghiên cứu giống: Việc nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo giống mới ñược các nước trồng chè trên thế giới và Việt Nam ñặc biệt quan tâm, ñã chọn ñược nhiều giống chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng cao góp phần quan trọng thúc ñẩy phát triển ngành chè thế giới và Việt Nam, những kết quả nghiên cứu ñó ñã và ñang ñược ứng dụng rộng rãi ở tất cả các nước trồng chè trên thế giới và Việt Nam
- Về nghiên cứu ñặc tính sinh vật học của cây chè, ñặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè: Các nhà khoa học ñã tiến hành nghiên cứu có kết quả về ñặc ñiểm sinh trưởng của cây chè, mối quan hệ sinh trưởng của cây chè với ñiều kiện sinh thái, mối quan hệ giữa ñặc ñiểm hình thái, ñặc ñiểm sinh trưởng với khả năng cho năng suất, chất lượng của cây chè Những kết quả nghiên cứu ñặc tính sinh vật học của cây chè ñã và ñang là cơ sở cho việc nghiên cứu tuyển chọn, nhân giống chè
Trang 39Như vậy, sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy công tác chọn tạo giống mới luôn gắn liền với năng suất và chất lượng cao Chọn tạo giống cung cấp nguyên liệu chế biến tạo ra những sản phẩm chè ñặc biệt, nổi tiếng có giá trị cao Với mục tiêu chọn lọc các dòng, giống chè mới
có năng suất và chất lượng cao, góp phần nâng cao giá trị sản xuất cho chè
Việt Nam chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng, giống chè mới tại Phú
Hộ - Phú Thọ”
Trang 40
Chương 2 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ðối tượng nghiên cứu
* Các dịng nghiên cứu:
- Dịng LCT1 được chọn từ tổ hợp lai mẹ là giống Shan Cù Dề Phùng,
bố là giống Trung du xanh (TDX), năm 1988
- Dịng chè 215 và 276 được chọn từ quần thể gieo hạt cây mẹ là giống chè PH1, giao phấn tự do hạn chế theo nhĩm (hỗn hợp hạt phấn của 6 giống khác nhau thuộc chè Shan, Trung du và chè Ấn độ), năm 1988
* Các giống đối chứng:
- Giống chè LDP1 được tạo từ tổ hợp lai giữa cây mẹ ðại Bạch Trà (Trung Quốc) và cây bố PH1 (Ấn ðộ) cĩ năng suất cao, theo dõi theo phương pháp chọn dịng Cơng nhận giống quốc gia năm 2003
- Giống chè TDX: là giống chè Trung du bản địa, được thu thập vào vườn tập đồn năm 1918, cĩ năng suất trung bình, khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi tốt
- Các dịng, giống chè thí nghiệm được trồng mới bằng cành giâm năm
2002, (10 tuổi)
(Lý lịch các dịng, giống chè thí nghiệm xem phụ lục 1)
2.2 ðịa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 ðịa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí tại gị Dọc của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật nơng lâm nghiệp miền núi phía Bắc, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
ðịa hình: ðộ dốc đồi thí nghiệm gần 60, đất cĩ thành phần cơ giới nặng, tầng đất canh tác dày