Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng
Trang 1I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) Là một trong những loại rau phổ
biến, được trồng rộng rãi và ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới
Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chín có nhiều đường, vitamin như: A, Bị, B2, E, c axit amin và chất khoáng quan trọng: Ca, p, Fe (theo E.D Warr c Tigchelaar), (1989)
Ớ nước ta, cây cà chua đã được trồng từ hàng trăm năm, cho đến nay cây cà chua vẫn là loại rau ăn quả chủ lực được nhà nước ưu tiên phát triển Trong “ Đề
án rau - quả - hoa cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010”, được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 03 tháng 09 năm 1999, cà chua là một trong các đối tượng cây rau chủ lực, vừa để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cà chua xuất khẩu Tuy nhiên ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế:
- Vụ sản xuất chính là vụ đông xuân với thời gian thu hoạch sản phẩm tập chung trong vòng 3 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2), nên giá cà chua rẻ, sản xuất không có lãi
- Sản phẩm cà chua chủ yếu để ăn tươi và nấu chín nên nhu cầu khônglớn
- Các nhà nghiên cứu đã tập chung đi sâu vào nghiên cứu chọn, tạo giống cà chua thích hợp trồng trong vụ xuân hè, cùng với giống chất lượng có khả năng chống chịu cao Mặc dù đã thu được một số kết quả đáng chú ý, nhưng vẫn còn rất
ít so với nhu cầu thực tế
- Để đáp ứng cho việc sản xuất cà chua, hàng năm chúng ta vẫn phải nhập một lượng lớn hạt giống cà chua ăn tươi cũng như toàn bộ lượng hạt giống phù hợp cho chế biến
Do vậy, để góp phần làm phong phú thêm cho bộ giống cà chua hiện có và
Trang 2đáp ứng được những nhu cầu trên Được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng
Minh, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tố hợp lai cà chua triển vọng”.
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng cà chua nghiên cứu và tuyển chọn các tổ hợp lai ưu tú giới thiệu cho sản xuất
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, cấu tróc cây của các tổ hợp lai cà chua
ở hai thời vụ thu đông và xuân hè
- Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh, một số sâu bệnh hại chủ yếu ở hai thời vụ
- Nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai
ở hai thời vụ
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái quả, chất lượng quả
- Khảo sát khả năng kết hợp của các dòng cà chua vụ thu đông
Trang 3II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân loại của cây cà chua
Học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của N.ĩ Valilov đề xướng và P.M Zukovxki bổ xung, cho rằng quê hương của cây cà chua ở vùng Nam Mỹ Nhiều tài liệu nghiên cứu của các tác giả De Calldolle (1884), Muler (1940), Lukwill (1943) và Sinskaia (1969) cho rằng số lượng lớn của cà chua hoang dại cũng như cà chua trồng được tìm thấy ở Pêru, Equado, Bolivia
Quá trình thuần hoá và du nhập của cà chua đến các Châu lục có thể tóm tắt như sau
Theo tài liệu từ Châu Âu thì chắc chắn cà chua được người Aztec và người Toltec mang đến Đầu tiên năm 1554 nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea Mattioli giới thiệu những giống cà chua của Mehico có màu vàng nhạt và đỏ nhạt Năm 1960 ở Bắc
Âu thời gian đầu cà chua chỉ được dùng để trang trí và thoả trí tò mò
Mặc dù cà chua đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng thời bấy giờ người ta vẫn quan niệm là cà chua là một cây trồng độc hại vì nó có họ hàng với loại cà độc dược
Đầu thế kỷ thứ 18, các giống cà chua đã trở lên đa dạng và phong phú, nhiều vùng
đã trồng cà chua để làm thực phẩm Cuối thế kỷ 18, cà chua mới được dùng làm thực phẩm ở Nga và Italia
Đến thế kỷ thứ 19 cà chua đã trở thành thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
Những tiến bộ về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào châu Âu Năm 1863,
có 23 giống được giới thiệu và trong vòng hai thập kỷ, dòng, giống cà chua được phát triển tới hàng mấy trăm giống
Năm 1886, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng trọt Từ năm 1870 đến 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể
Trang 4Quá trình chọn lọc và cải tiến giống được các nhà chọn giống thực hiện liên tục không ngừng, đến nay giống cà chua đã trở lên phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trên thế giới.
2.2 Phân loại
Cà chua thuộc họ cà Solanacea, chi Lycopersicon Tour (2n=24)
Phân loại cà chua đã được nhiều các tác giả phân loại, nhưng sự phân loại của Muller được sử dụng rộng rãi nhất cho đến nay Theo Muller chi lycopersicon Tour được phân làm hai chi phụ
* Chi phụ eriopersicon: Chi này gồm các loài dại, cây dại một năm hoặc nhiễu
năm Quả thường có lông, vỏ xanh hoặc vàng nhạt, có các vệt màu với các sắc tố Anthocyanin, hạt nhỏ, chùm hoa có lá bao Chi này gồm các chi phụ:
L.peruvianumm Mill; L.cheesmanii; L.hirsutum; L.gỉandulosum.
* Chi phụ Eulycopersicon: thuộc dạng cây hàng năm, quả không có lông, khi chín
có màu đỏ hoặc đỏ vàng, hạt to, chùm hoa không có lá bao, trong nhóm này gồm hai loài:
L.pimpinellifolium: Đặc trưng bởi thân yếu và mảnh, quả nhỏ màu đổ, hoa mọc
thành chùm từ 15-20 quả/chùm, quả có hai ngăn
L.escưlentưm: Là dạng cà chua trồng, loại hình sinh trưởng từ hữu hạn, đến vô hạn.
Chi này bao gồm 5 biến chủng:
+ L.esculentum var Commune: Cà chua thường, hầu hết cà chua trồng hiện nay
thuộc dạng biến chủng này
+ L.escưlentum var cerasiforme: Cà chua anh đào, lá nhỏ, mỏng, hoa mọc thành
chùm dài, khoảng 10 quả/chùm, có màu đỏ hoặc vàng
+ L.esculentum var yriforme: Cà chua lê, có khoảng 10 quả/chùm, quả
màu vàng hoặc da cam
+ L.esculentum var Grandifolium: Cà chua lá rộng hoặc cà chua lá khoai tây + L.esculentum var vadium: Cà chua đứng, cây mập, mọc thẳng, lá màu xanh
đậm, quăn và nhiều lá
Trang 52.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo và sản xuất cà chua trên thê giới 2.3.1 Tình
hình sản xuất cà chua trên thế giới
Cà chua với khả năng thích ứng rộng, có tác dụng lớn về mặt dinh duỡng, y học cũng như kinh tế Ngày nay nó được rất ưa chuộng, đã trở thành một trong những cây trồng chính và chiếm vị trí số 1 trong ngành sản xuất rau của nhiều nước trên thế giới
Thống kê của FAO cho thấy, diện tích cà chua trên thế giới năm 2005 đạt 4.570.869 ha tăng gấp 1,4 lần so với năm 1995
Châu Á là nước đứng đầu về diện tích trồng cà chua với diện tích là: 2.563.991 (ha) và châu Âu đứng đầu về năng suất là 410.165 (tạ/ha) Trong năm qua các nước có diện tích trồng cà chua lớn nhất là:
Trung Quốc: 1.305.053 (ha)
Ấn Độ : 540.000 (ha)Thổ Nhĩ Kỳ: 260.000 (ha)Các nước có sản lượng lớn nhất thế giới trong 4 năm
Bảng 2.2 Sản lượng cà chua của thê giới và 10 nước dẫn đầu
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Năm Diện tích (nghìn
ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 6Qua bảng tổng kết cho thấy: Đến năm 2005 thì Trung Quốc vẫn luôn là nước đứng đầu trên thế giới về diện tích và sản lượng cà chua, tiếp theo là Mỹ và Thổ Nhỹ Kỳ.
Có thể thấy rằng cà chua đang là mặt hàng nông sản được sản xuất chủ lực ở các nước ôn đới và á nhiệt đới
2.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo cà chua trên thê giới.
Việc chọn tạo giống cà chua đã có nhiều tiến bộ trong khoảng 200 năm trở lại đây Lịch sử công tác chọn tạo giống cà chua trên thế giới bắt đầu ỏ châu Âu, có lẽ người Italia là những người đầu tiên phát triển các giống cà chua mới Họ chọn các giống có sự khác nhau về tính trạng quả, chủ yếu là màu sắc quả
Năm 1836, 23 giống cà chua được giới thiệu Chương trình thử nghiệm của Liberti Hyde Bailey ở trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) bắt đầu từ năm 1886 đã tiến hành chọn lọc phân loại giống cà chua trồng trọt A.w.Livingston là người Mỹ đầu tiên nhận thức được việc phải chọn tạo giống cà chua Từ năm 1870 đến năm 1893 ông đã giới thiệu 13 giống được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể Năm 1900, Moore và Simon đã chọn tạo được giồng cà chua “Xẻ Khoan ” Tiếp đó vào năm 1908, G.W.Midleton chọn được mẫu giống cà chua “Chân thiện mỹ ” từ giống “Xẻ khoan” Năm 1914, B.Geoft chọn được mẫu giống Cooper Specisl có loại hình sinh trưởng vô hạn, thích hợp cho việc trồng dầy và sử dụng máy khi thu hoạch (trích theo Tạ Thu Cúc,
Thế giới 87.592,093 108.339,598 116.943,619 124.426,995Trung Quốc 13.172,494 22.324,767 28.842,743 31.644,040
Trang 7Cà chua được nghiên cứu và tập chung chủ yếu theo hướng:
- Chọn tạo giống cà chua chịu nóng
- Chọn tạo giống cà chua chống chịu với sâu bệnh hại
- Chọn tạo giống cà chua có chất lượng cao, phục vụ ăn tươi, chế biến
- Chọn tạo giống cà chua sử dụng ưu thế lai
- Chọn tạo giống cà chua ứng dụng công nghệ sinh học
Trước năm 1925 việc cải tiến giống cà chua được thực hiện bằng cách chọn các kiểu gen ngay từ bản thân các giống - từ các đột biến tự nhiên, lai tự do hoặc tái tổ hợp bản thân các biến thể di truyền đang tồn tại trong tự nhiên Hàng loạt các tính trạng di truyền đơn giản được chú ý trong quá trình cải tiến giống và thay đổi kỹ thuật trồng nhờ
phát hiện đột biến tự nhiên - gen sp - là gen xác định tập tính sinh trưởng hữu hạn ở
giống Florida vào năm 1914 và được dùng trong lai tạo với mục đích giảm bớt công lao động cho việc tỉa cành Vào những năm 1970, hàng loạt giống cà chua mới có đặc điểm sinh trưởng hữu hạn, thấp cây, cây gọn, chín sớm, chín tập trung và thích hợp cho thu hoạch bằng máy ra đời làm tăng mật độ, diện tích và năng suất cà chua (Tigchelaar E.C)
Ngoài các phương pháp chọn tạo thông thường, nhiều dòng, giống cà chua được tạo ra từ các xử lý đột biến: xử lý bằng dung dịch hoá học (Q1SO4 (0.2%), axit Boric (0.02%), Coĩchisin (0.01%)), các tác nhân vật lý (tia cực tím, tia lazer (10' với E=0.02VT/cm3)) đã tạo sự thay đổi cấu trúc quần thể phân ly bằng cách kích thích sức sống của hạt Fj Việc xử lý băng tia cực tím với liều lượng không cao cũng làm tăng men
hạt phấn, tăng nhanh sự nảy mầm ở điều kiện invitro Tia Rơnghen ở liều lượng 8-80r
cũng có tác dụng kích thích lên hạt phấn làm tăng sức sống của con lai F, khác loài lên 10-12%
Ớ các nước vùng nhiệt đới, năm 2001 AVRDC đã tiến hành một số thí nghiệm đối với giống lai và giống thuần cà chua song một vấn đề lớn gây trở ngại với cà chua vùng
nhiệt đới là chính là bệnh héo xanh vi khuẩn {Pseudomonas solanacearum) (AVRDC
report 2001) Họ đã tiến hành 2 thí nghiệm: Thí nghiệm 1 gồm các giống thuần có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn và thí nghiệm 2 là các giống lai kháng héo xanh vi
khuẩn và virus xoăn lá để từ đó tìm ra được một số giống có khả năng phát triển tốt cho
vùng nhiệt đới như: CLN2396B, CLN2396C, CLN2396D, CLN2400A, CLN2400B và các giống: PT4755, PT4767, PT4733 được khuyến cáo là các giống có bố mẹ kháng
Trang 8Virus xoăn lá, giống CLN 2443 DC-B-7 là giống chịu được vius xoăn lá và héo xanh vi
khuẩn, năng suất của nó đạt 101-118 tấn/ha
Theo Dr Sundar (2001), những dòng giống cà chua chế biến và con lai được chọn tạo cho vùng nhiệt đới, gieo trồng trong điều kiện thích hợp đạt năng suất từ 70-131 tấn/ha, đó là giống CLN400, những dòng cà chua chịu được virus xoăn lá và phục vụ chế biến tốt là TLB11, TLB130 và TLB182 có năng suất rất cao, đặc biệt là giống PT4755 đạt năng suất 147,6 tấn/ha, có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi cho tăng vụ
Từ những năm 80 trở lại đây, chương trình chọn giống cà chua chịu nhiệt cho vùng nhiệt đới đã được chú ý Hàng loạt các giống chịu nóng đã ra đời, góp phần tăng nhanh diện tích, sản lượng cà chưa trên thế giới, dặc biệt kéo dài thời vụ trồng cà chua sang những tháng mùa hè
Từ năm 1977 đến năm 1984, Ai Cập đã nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua chịu nhiệt có năng suất cao, chất lượng tốt, thuộc đề án Quốc gia về phát triển cây trồng có năng suất và chất lượng cao Kết quả, tạo ra một số giống cà chua mới như Cal.Ace, Housney, Marmande VF, Pritchard, VFN-Bush đều có tính trạng quả to, năng suất cao, chất lượng tốt, còn một số giống Castlex- 1017, Castlrock, GS-30, Peto86, UC-97 có thịt quả chắc Các giống này có thể trồng tốt trong thời vụ có nhiệt độ cao
Bằng kỹ thuật biến đổi gen, Trung tâm nghiên cứu Công nghệ sinh học thuộc Viện KHKT nông nghiệp Trung Quốc sau hơn 10 năm nghiên cứu cũng đã cho ra đời giống
cà chua có khả năng chống lại sự xâm nhập của virus gây bệnh viêm gan B vào cơ thể
người (Báo nông nghiệp Việt Nam, 9/12/2002)
Chuyển gen gián tiếp nhờ vi khuẩn Agrobacterium từ lâu đã trở thành một công cụ
thường dùng của các nhà khoa học quan tâm đến chức năng của gen Tuy nhiên, kỹ thuật này cần rất nhiều thời gian để thực hịên Diego Orases ở Đại học politécnica ở Valencia
và các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu “Agroinjection ở quả cà chua, một công cụ
để phân tích nhanh chóng về chức năng của gen chuyển trực tiếp vào trong quả”
Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng việc cấy trực tiếp Agrobacterium lên đỉnh vòi
nhuỵ của quả cà chua đi đến kết quả, và cho phép tế bào cà chua biểu lộ gen được đưa
Trang 9vào Phương pháp này được lấy tên là “fruit agroinjection”,và sẽ hoạt động hiệu quả hơn
khi sử dụng trong điều kiện có kích thích nhiệt của chất hoạt hoá Arabidopsis.
Với sự kiểm soát thích hợp, các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng kỹ thuật này sẽ là một công cụ hữu ích trong ngành sinh học quả, vì nó sẽ có ích khi phân tích cấu trúc gen của quả, những gen có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của quả
Ngày nay, nhiều nghiên cứu ưu thế lai F,, ưu tiên dạng vô hạn, tiếp đến bán hữu hạn và hữu hạn Chọn giống cà chua năng suất cao, phục vụ ăn tươi chế biến, chống chịu được vius xoăn lá và bệnh héo xanh vi khuẩn Hàng năm trên thế giới, nhiều công ty hạt giống của Mỹ, Nhật, Pháp, Hà Lan đã giới thiệu nhiều giống lai Fị có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi của môi trường
Hiện nay Trung Quốc là nước đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, các giống cà chua lai (Fl) đã chiếm tới 80-85% giống trồng trong sản xuất Tạo giống lai mới
có năng suất cao, chất lượng tốt, sản phẩm đa dạng phục vụ ăn tươi và chế biến là mục tiêu hàng đầu của các nhà khoa học Trung Quốc Tại Trung tâm rau Bắc Kinh (BVRC), trong thập kỷ 80-90 thế kỷ trước đã tạo được 5 giống cà chua lai (Fl): giống Jiafen Nol (1980), Jiafen No2 (1982), Jiafen NolO, Jiafen Nol5 (1990), Shuang Kang No2 (1989) Các giống này đang giữ vai trò chủ lực trồng cho trên 20 tỉnh với quy mô 24.000 ha/năm, năng suất 60-90 tấn/ha, quả to tròn , chín đỏ, đẹp có khả năng chống bệnh virus (TMV, CMV) khá
Trung tâm rau Châu á (AVRDC) tại Đài Loan, trong 2 năm 2002, 2003 đã nghiên cứu đánh giá 8 giống cà chua quả nhỏ (cherry tomato), như: CLN2545, CLN254DC năng suất 15 tạ/ha, 20 giống cà chua chất lượng cao phục vụ chế biến (Processing tomato) như: CLN2498-68, CLN2498-78 , năng suất đạt >55 tấn/ha và 9 giống cà chua phục vụ ăn tươi, nấu chín như: Taoyuan, Changhua, Hsinchu2 năng suất đạt trên 70 tấn/ha Tất cả các giống cà chua triển vọng trên đều là giống lai (hybrid)
2.4 Tình hình nghiên cứu chọn tạo và sản xuất cà chua ở Việt Nam.
2.4.1 Tình hình sản xuất cà chua của Việt Nam
Việt Nam, một đất nước có khí hậu, thời tiết thuận lợi, đất đai phù hợp cho sự phát triển của các loại rau, trong đó có cà chua
Trang 10Qua kết quả số liệu thống kê năm 2006 ta thấy: Năng suất cà chua trong 6 năm qua
là thấp và không ổn định nhưng do diện tích trồng tăng liên tục nên sản lượng vẫn tăng
So với năng suất trung bình của thế giới thì còn thấp chỉ đạt khoảng 60- 65% Diện tích trồng cà chua trong nước tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng và trang du Bắc Bộ như: Hà Nội, Hải Dưong, Vĩnh Phúc, Nam Định, Bắc Giang , còn ở miền Nam tập trang ở các tỉnh: An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng
Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất cà chua thấp và không ổn định
đó là: Chưa có bộ giống tốt, chưa đầu tư thích đáng vào mỏ rộng diện tích sản xuất tập trang, quy vùng sản xuất và chưa làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh hại cũng như chưa
áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất để đạt năng suất cao
Nhìn chung sản xuất cà chua nước ta chỉ mới đáp ứng được cho nhu cầu ăn tươi còn nhu cầu chê biến cho các nhà máy thì đang còn hạn chế rất nhiều Do đó để tăng được năng suất, diện tích và chất lượng cà chua thì một vấn đề đặt ra cho các nhà chọn giống là phải chọn tạo ra bộ giống có năng suất cao, phổ thích ứng rộng, thời gian sinh trưởng khác nhau để có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau cũng như rải vụ
để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến
2.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo cà chua ở Việt Nam
Cà chua đã có mặt từ hàng trăm năm trước và là đối tượng chính trong nghiên cứu giống rau ở Việt Nam
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua giai đoạn 2000-2005
(lOOOha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (1000 Tấn)
Trang 11Cà chua là một trong những loại rau quan trọng và đa dụng: Sản phẩm được sử dụng để ăn tươi, chế biện công nghiệp và xuất khẩu tươi Để đáp ứng yêu cầu trên, giống
cà chua chọn tạo ra phải đạt năng suất cao, độ Brix > 4,5% và độ cứng tốt, có thể trồng trái vụ
Nghiên cứu chọn tạo cà chua có những phương pháp:
* Thu thập nguồn vật liệu khởi đầu: Là các giống địa phương, các loài hoang dại, các giống nhập nội từ khắp nơi trên thế giới
Đến nay chúng ta đã thu thập được 717 mẫu giống cà chua được lưu trữ tại Viện NCRQ, viện CLT & CTP, Viện DTNN và tại trường ĐHNNI
* Chọn lọc cá thể nhiều lần để thuần hoá giống và chọn dòng thuần từ tập đoàn nhập nội
* Chọn giống mới bằng phương pháp lai hữu tính để tạo ra con lai kết hợp được những
ưu điểm của cả bố và mẹ
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt nam (Viện Rau quả, Viện cây Lương thực và cây thực phẩm, Viện Di truyền, Trường ĐHNN I ) đã lai tạo và tạo ra rất nhiều giống cà chua lai mới có triển vọng, năng suất cao, chất lượng quả tốt, chống chịu được sâu bệnh, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ
Phương pháp này đang được áp dụng rất phổ biến ở hầu hết các loại cây trồng, và cũng không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học về sinh học đã cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của sinh vật học, trong đó các giống cây trồng và vật nuôi ưu thế lai chiếm vị trí tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp
* Có thể tạo giống bằng phương pháp hoá học và vật lý để gây đột biến, tuy nhiên phương pháp này khá tốn kém và thao tác khó thành công
Công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua có thể chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn từ cuối những năm 70 đến 1990:
Bằng phương pháp chọn lọc hỗn hợp từ các giống nhập nội vào năm 1973, các tác giả Chu Thị Ngọc Viên, Vũ Tuyên Hoàng (1987) đã chọn lọc được giống cà chua số 7
có nguồn gốc từ giống Hungari, giống đã được công nhận là giống quốc gia
Giống cà chua 214 được tạo ra từ cặp lai giữa giống VCĨ (giống của viện cây lương
Trang 12thực và cây thực phẩm) với giống American (nhập từ Mỹ), hạt lai Fj được xử được xử lý đột biến nhân tạo và chọn lọc cá thể liên tục, (Vũ Tuyên Hoàng, Chu Thị Viên, Lê Thanh Thuận),(1990).
Bằng phương pháp lai hữu tính, Nguyễn ánh Tuyết, Trần Thị Lư (1981), đã đưa ra giống cà chua 03, giống có đặc điểm sinh trưởng hữu hạn, năng suất cao, dạng quả đẹp.Giống cà chua Hồng Lan do tác giả Vũ Tuyên Hoàng và các cộng tác viên Viện cây lương thực và cây thực phẩm tạo ra bằng phương pháp chọn lọc từ một dạng đột biến tự nhiên của giống cà chua Ba Lan quả trắng từ vụ đông xuân năm 1981, 1982 Giống thuộc dạng hình sinh trưởng hữu hạn, cây con sinh trưởng nhanh phát triển đều, năng suất khá cao và tương đối ổn định, tỷ lệ nhiễm bệnh mốc sương và nấm trung bình (Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung Ương, 1998)
Giống cà chua nhập nội P375 được chọn lọc cá thể nhiều lần từ tập đoàn giống của Đài Loan từ vụ đông xuân 1987 - 1988, thích hợp cho vùng thâm canh và chuyên canh rau Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương
Giống cà chua lai số 1 được chọn từ tổ hợp lai p X HL1 do Viện cây CLT & CTP lai tạo Là giống lai được công nhận quốc gia vào năm 1999
- Giai đoạn từ năm 2000 đến nay:
Các nghiên cứu chọn tạo giống phục vụ cho chế biến và nghiên cứu để chọn tạo ra những giống chống chịu đế trồng trái vụ
Bằng phương pháp sử dụng ưu thế lai, Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã nghiên cứu và chọn ra được giống HT7 Tại hội nghị khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát
Trang 13triển nông thôn họp tháng 9/2000 Giống HT7 có đặc điểm: Khả năng chịu nóng cao, trồng được nhiều vụ trong năm, thấp cây, Thời gian sinh trưởng 110-120 ngày, thu quả sớm sau trồng 60-65 ngày, có 30-35 quả/cây, khối lượng trung bình quả 65-70 gam, tròn cao, chín đổ tươi, độ Brix 4,8-5,0% Năng suất đạt 45-55 tấn/ha vụ đông, 32- 40 tấn/ha
vụ xuân hè (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, 2006)
Từ một tập đoàn cà chua quả nhỏ thu thập từ năm 1990 - 1994 gồm 17 mẫu giống
có nguồn gốc từ Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan Qua khảo nghiệm, chọn lọc ở các vụ Đông Xuân, vụ Xuân hè đã chọn được giống VR2, giống đã được công nhận là giống tiến bộ vào tháng 11/2000
Sau nhiều năm nghiên cứu, lai tạo, tuyển chọn và trồng thử nghiệm ở nhiều địa phương, các nhà khoa học của Việt Nam đã đưa ra một số giống cà chua mới có triển vọng được Hội đồng KHCN của Bộ NN & PTNT đã công nhận và cho phép đưa vào sản xuất Giống lai F1 PT18 là giống cà chua được Viện nghiên cứu Rau quả tạo ra bằng phương pháp chọn lọc cá thể qua nhiều thế hệ trong nhiều năm từ dòng cà chua CLN2026D có nguồn gốc từ AVRDC, đến nay đã thu được giống ổn định về di truyền, đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp và thích ứng với điều kiện canh tác ở từng vùng sinh thái ở nước ta, đến năm 2004 đã được Hội đồng KH Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia
Giống C95 được Viện Cây lương thực và cây thực phẩm chọn ra bằng phương pháp chọn lọc dòng từ tổ hợp lai NN325 X số 7 trong thời gian 13 năm (1991 - 2003) Đã thu được giống ổn định về đặc tính sinh học và kinh tế, đến năm 2004 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia
Ở giai đoạn 2001- 2005/2006 PGS.TS Nguyễn Hồng Minh thuộc Trường ĐHNN ĩ tiếp tục nghiên cứu tạo ra giống cà chua theo hướng chất lượng cao
Kết quả tạo ra giống HT21 là giống chất lượng cao, giống được thử nghiệm rộng
và sản xuất thử từ năm 2002, đầu năm 2004 HT21 công nhận khu vực hoá và phát triển đại trà Giống phục vụ trồng vụ đông sớm, có thời gian từ trồng đến thu hoạch lứa đầu 62- 65 ngày Năng suất 50- 56 tấn/ha, có độ Brix cao (5,18%), chất lượng quả tốt, có
Trang 14hương thơm, ngọt dịu Năm 2004 đã được Hội đồng KH của Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời.
Bên cạnh đó mới đây trung tâm nghiên cứu và phát triển giống rau trường ĐHNN ĩ
Hà Nội còn tạo ra 2 giống cà chua lai là HT42 và HT160 là những giống cho năng suất cao trên đơn vị diện tích HT42 sinh trưởng khoẻ, có khả năng đậu quả tốt, chịu nóng, đặc biệt nó có khả năng chống chịu bệnh héo xanh và cho năng suất cao: 45- 50 tấn/ha sau chu kỳ sinh trưởng ngắn (95-100 ngày sau trồng) HT160 có dạng sinh trưởng trung bình, dạng quả hơi thuôn dài, chịu bệnh héo xanh khá Giống này trồng ở vụ thu đông (đông sớm), đông chính, và xuân hè sớm, cho năng suất cao 55- 65 tấn/ha HT160 có thịt quả dày, chắc mịn, có hương thơm, ngọt dịu Cả 2 giống trên hiện đang được phát triển diện tích sản xuất lớn ở các vùng trồng rau
Giống cà chua XH5 là giống thuần được chọn lọc từ dòng cà chua nhập nội CLN162 U từ Trung tâm rau thế giới từ năm 1999 Qua quá trình chọn lọc, so sánh giống , khảo nghiệm vùng sinh thái và sản xuất lai thử, giống cà chua XH5 đã được Hội đồng KH của Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia vào tháng 12 năm 2005
Từ kết quả nghiên cứu vật liệu khởi đầu, qua quá trình tạo dòng thuần bước đầu thu được 20 dòng, các dòng này thực hiện lai đỉnh với hai vật liệu thử là CS1 và TD95, kết quả đã chọn được hai con lai FM20 và FM29 cho lợi thế hơn hẳn Hai giống này đã được Hội đồng KH của Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời năm 2005
Từ kết quả nghiên cứu 180 giống tập đoàn và tạo dòng thuần, bước đầu đã chọn được 20 dòng triển vọng có độ thuần cao, ổn định Các dòng này tiến hành lai đỉnh với vật liệu thử là PT18 đã thu được một số dòng có khả năng kết hợp chung cao Cùng với vật thử các dòng đem lai với nhau để xác định tổ hợp lai tốt nhất, từ đó đã xác định được giống cà chua lai số 9 và lai số 4 có tính trội hơn hẳn so với bố mẹ và đối chứng Giống
cà chua lai số 9 đã được Hội đồng KH của Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là giống tạm thời năm 2005
Trang 15Vụ đông xuân 1999, từ các dòng đánh giá các con lai, phát hiện ra con lai VT3 của
tổ hợp lai (15 X VX3) cho kết quả tốt nhất, đến năm 2004 giống VT3 đã được Hội đồng
KH Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời
12 dòng cà chua với đặc tính chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn từ Trung tâm Rau thế giới được đánh giá so sánh vào năm 2000 Giống CLN1462A được đặt tên là CHX1
đã được Hội đồng KH Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời năm 2002.Bảng 2.4 Những giống cà chua chọn tạo bằng phương pháp khác nhau
Trang 16nghệ nhăn giống và kỹ thuật thâm canh một số giống rau chủ yếu ” — Viện nghiên
cứu Rau Quả
Do điều kiện khí hậu nước ta còn khắc nghiệt cho nên việc chú trọng nghiên
TT Tên giống Cơ quan chọn tạo đường Con
chọn tạo
Năng suất (tấn/ha)
Cá thể trồng trong vụ
Chống chịu Mức độ trong sản xuấtNhóm cà chua ăn tươi chịu nhiệt
Chọn lọc giống thuần từ tập đoàn nhập nội
ĐX: 40-50 XH: 30-40 Xuân hè
Chịu nhiệt, héo xanh vi khuân, đôm
Chọn lọc giống từ tập đoàn nhập nội
ĐX: 60-70 XH: 42-45 Xuân hè
Héo xanh vi khuẩn,chịu nhiệt
Giống tạm thời 2002.Nhóm cà chua chế biến
Chọn lọc giống thuần từ tập đoàn nhập nội
ĐX: 44-50 XH: 30 Chính vụ Héo xanh vi khuân Giống quốc gia năm 2004
VCLT-CTP
Chọn lọc
từ tố hợp lai
TĐ: 50-55 XH: 30-32 Chính vụ
Chống sương mai, đốm lá Giống quốc gia năm 2004
7 Lai số 9VNCRQ Ưu thế lai F1 ĐX: 57-60 XH: 40-45 Thu đông Chống sương mai Giống tạm thời năm 2005
8 Lai số 4 VNCRQ u’u thế lai F1 ĐX: 55-60 XH: 35-40 Thu đông Chống virus xuất diện rộngMô hình sản
VCLT-CTP
Ưu thế lai F1 TĐ 43 ĐX: 60 XH: 30 Thu đông
Sương mai, đốm lá, héo rũ
Giống tạm thời năm 20041
0 HT21 ĐHNNỈ Ưu thế lai F1 XH: 45-50TĐ: 50-55 Thu đông
Héo xanh vi khuẩn,chịu nhiệt
Giống tạm thời năm 20041
1 DT18 VDTNN Đột biến ĐX: 52-55 XH: 30-35 Thu đông Sương mai, virus xuất diện rộngMô hình sản
Nguồn: Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài “ Nghiên cứu chọn tạo, công
Trang 17cứu những giống có khả năng chịu nhiệt, kháng sâu, kháng bệnh là rất cần thiết nhằm chọn tạo ra được những giống có khả năng trồng trái vụ đem lại hiệu quả kinh tế cao và phục vụ cho chế biến, xuất khẩu đồng thời góp phần làm phong phú
bộ giống cà chua của Việt Nam
Có thể nói điểm trọng yếu trong chiến lược nghiên cứu, phát triển sản xuất
cà chua ở nước ta là mo rộng quy mô ngày càng lớn các giống cà chua lai chất lượng cao, nhằm mở rộng các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng ở trong nước và xuất khẩu Chỉ có như vầy chúng ta mới tạo ra được bước đột phá mới trong phát triển sản xuất cà chua ở nước ta
Trang 18III. NỘI DUNG, VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
a) Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng cà chua vụ thu đông b) Thí nghiệm 2: Đánh giá các tổ hợp lai cà chua vụ xuân hè.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu thí nghiệm 1: Bao gồm 51 tổ hợp lai cà chua từ hệ thống lai đỉnh giữa 17 dòng nghiên cứu với 3 dòng thử
- Vật liệu thí nghiệm 2: Bao gồm 12 tổ hợp lai chọn lọc từ thí nghiệm 1 và đối chứng
3.3 Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí tại khu thí nghiệm khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp I
3.4. Phưưng pháp
nghiên cứu Bô trí thí
nghiệm:
Được chia làm 2 thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: Đánh giá 51 tổ họp lai và đối chứng, bố trí theo phưong pháp khảo sát không nhắc lại
- Thí nghiệm 2: Đánh giá các tổ hợp lai vụ xuân hè 2008, bao gồm 12 tổ hợp
và bố trí ngẫu nhiên 3 lần nhắc lại
Tổng số 39 ô thí nghiệm,
Trang 19- Vụ thu đông: Gieo hạt 18/8, trồng ra ruộng 18/09/2007.
- Vụ xuân hè: Gieo hạt 28/01, trồng ra ruộng 02/03/2008
3.5.2 Vườn ươm
- Chọn đất: Chọn vùng thịt nhẹ, thoát nước và tưới tiêu tốt, đủ ánh sáng, PH trung tính, giao thông thuận tiện
- Làm đất: Đất được làm tơi xốp, dọn sạch cỏ dại
- Chuẩn bị hạt giống: Chọn hạt mẫu giống có tỷ lệ nảy mầm cao >80%
- Chăm sóc vườn ươm
3.5.3 Giai đoạn trồng ra ruộng sản xuất
Sau khi trồng cần tưới nước mỗi ngày 2 lần (sáng/chiều), đảm bảo cho cây hồi xanh trong tuần đầu, sau đó tuỳ từng điều kiện thời tiết mà có lượng nước tưới và cách tưới khác nhau
- Làm đất: Thí nghiệm được trồng trên đất thịt nhẹ, cày bừa kỹ và sạch cỏ
- Lên luống:
+ Luống rộng 1,45m; sâu 30cm
+ Mật độ trồng: 2 hàng, hàng cách hàng 55 - 60cm, cây cách cây 40cm
Trang 20- Bón phân: Quy trình bón phân cho 1 ha.
Lần 1: Vun xới và làm cỏ sau khi cây hồi xanh
Lần 2: Làm cỏ và vun gốc kết hợp với bón phân lần 2
+ Làm cỏ: Làm sạch cỏ sau khi vun xới
+ Cắm giàn, buộc dây và tỉa cành
Khi cây đạt chiều cao 30 - 40cm thì làm giàn
Buộc cây: Dùng dây mềm buộc cây tựa vào giàn
Tỉa cành: Tỉa bỏ những nhánh mọc từ nách lá để tập chung dinh dưỡng cho thân chính ra hoa quả, đồng thời tạo sự thông thoáng cho luống
3.6. Các chỉ tiêu theo dõi
3.6.1 Đặc điểm sinh trưởng
- Thời gian từ trồng đến ra hoa
- Thời gian từ trồng đến ra quả
- Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín
- Thời gian từ trồng đến rộ
3.6.2 Cấu trúc cây
Trang 21- Số đốt từ gốc đến chùm hoa thứ nhất.
- Chiều cao từ gốc tới chùm hoa thứ nhất
- Chiều cao cây
3.6.3 Một sô tính trạng hình thái và đặc điểm nở hoa
- Năng suất quả/ô thí nghiệm
3.6.5 Tình hình nhiễm sâu bệnh ngoài đồng ruộng
- Tình hình nhiễm virus
- Một số loại sâu bệnh hại khác
3.6.6 Đặc điểm về cấu trúc hình thái quả
- Màu sắc vai quả khi xanh
- Màu sắc quả chín
- Hình dạng quả
I=h/d
Trang 22Trong đó: h là chiều cao cây d là
3.7. Phương pháp xử lý sô liệu
- Xử lý các phần mềm như: EXCEL, IRRISTAT, phân tích phương sai
- Khảo sát khả năng kết họp (giáo trình thực tập Di truyền ứng dụng)
- Chương trình SELINDEX để tuyển chọn các tổ hợp lai
Trang 23PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu THẢO LUẬN
A Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng kết hợp của các tổ hợp lai cà chua
4.1 Các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu của các tổ hợp lai cà chua
Giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua phụ thuộc vào đặc trưng của từng giống, nó chịu sự tác động lớn của điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp chăm sóc
Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng của cây nhằm tác động các biện pháp
kỹ thuật chăm sóc kịp thời để xúc tiến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây theo hướng có lợi
Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua khác nhau, kết quả thu được ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua
Bắt đầu ra hoa Đậu quả Bắt đầu chín Chút rộ
Trang 244.1.1 Thời gian từ trồng đến bắt đầu ra hoa
Thời gian từ trồng đến ra hoa là thời kỳ sinh trưởng rất quan trọng đối với
Trang 25cây Nó đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực Trong giai đoạn này cây tích luỹ rất nhiều dinh dưỡng để chuẩn bị cho việc ra hoa đậu quả Vì vậy cần phải chăm sóc tốt, kết hợp với bón phân cân đối, đặc biệt là tưới đủ nước tránh rụng hoa làm ảnh hưởng đến năng suất sau này.
Căn cứ vào thời gian từ trồng đến ra hoa người ta có thể xác định được tính chín sớm hay muộn của các tổ họp lai
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hầu hết các tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến bắt đầu ra hoa khoảng 4 1 - 4 4 ngày, một số giống có thời gian từ trồng tới bắt đầu
ra hoa tương đối dài như El, E4 14, 15 (49 ngày), tổ hợp lai có giai đoạn từ trồng tới ra hoa ngắn nhất là A l l , A14, A17 (40 ngày), ngắn hơn giống đối chứng là 1 ngày
4.1.2 Thời gian từ trồng đến đậu quả
Theo Kuo và cs (1998), sự thụ phấn có thể kéo dài 2-3 ngày trước khi hoa nở cho đến 3-4 ngày sau khi hoa nở Thời gian từ trồng đến ra hoa và từ trồng và từ trồng đến đậu quả có tương quan chặt chẽ với nhau, tổ hợp nào ra hoa sớm thì đậu quả sớm và ngược lại
Kết quả nghiên cứu thí nghiệm cho thấy: Các tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến đậu quả dao động từ 48-58 ngày Trong đó tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến đậu quả ngắn nhất là E3,16,19,117 (48 ngày sau trồng) ngắn hơn so với giống đối chứng HT7 là 1 ngày, tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến đậu quả dài nhất là E5 (58 ngày sau trồng) dài hơn so với HT7 là 9 ngày
4.1.3 Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín
Sau khi đậu quả, cây cà chua sẽ tập chung tích luỹ dinh dưỡng để phát triển quả Ớ giai đoạn chín trong quả cà chua diễn ra quá trình biến đổi các hợp chất hữu
cơ và tạo ra các hợp chất đặc trưng cho từng giống
Trong thời gian này nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn Nhiệt độ thích họp cho quả chín từ 22 - 24°c, nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 10 - 12°c, ẩm độ thích hợp là 80%
Trang 26Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến bắt đầu chín dao động trong khoảng 88-102 ngày Tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến bắt đầu chín ngắn nhất là 18 (88 ngày sau trồng), dài hon so với đối chứng là 2 ngày, tiếp theo là tổ hợp lai A8, A9 (89 ngày sau trồng), dài hơn so với đối chứng là 3 ngày Tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến bắt đầu chín dài nhất là 15 (103 ngày sau trồng) dài hơn so với đối chứng là 17 ngày, tiếp theo là tổ hợp lai E4 (102 ngày sau trồng), dài hơn so với đối chứng là 16 ngày.
4.1.4 Thời gian từ trồng đến chín rộ
Thời gian từ trồng đến chín rộ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng chín sớm và chín tập chung của các mẫu giống Các tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến chín rộ càng ngắn thì mẫu giống đó càng chín tập chung
Thời gian từ trồng đến chín rộ phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng giống, từng điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc
Sự chênh lệch ngày và đêm càng lớn thì thời gian chín của quả càng được rút ngắn
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến chín rộ dao động từ 93 - 112 ngày Trong đó tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến chín rộ ngắn nhất là A8 (93 ngày sau trồng), dài hơn đối chứng là 2 ngày Tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến chín rộ dài nhất là 15 (112 ngày sau trồng) và E5 (111 ngày sau trồng), dài hơn đối chứng là 18 và 17 ngày
4.1.5 Phân tích tương quan một sô chỉ tiêu vê sinh trưởng của các tổ hợp lai
Bảng 4.2 Hệ số tương quan một số chỉ tiêu về sinh trưởng
Trồng - ra hoa với trồng - đến đậu quả 0.117
Trồng - ra hoa với trồng - đến chín 0.711**
Trang 27Trồng - ra hoa với chiều cao cây 0.283
Phân tích bảng tương quan cho thấy: Ớ vụ thu đông các chỉ tiêu từ trồng đến
ra hoa, với từ trồng đến đậu quả, từ trồng đến chín có tương quan thuận với nhau Trong đó thời gian từ trồng đến ra hoa với chín có tương quan chặt với nhau
4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
Động thái tăng trưởng chiều cao cây phản ánh tốc độ tăng trưởng qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây Sự vươn cao của thân nhờ phân hoá đỉnh sinh trưởng và tăng trưởng của mô phân sinh đỉnh với sự tham gia của các chất kích thích sinh trưởng (auxin) được tạo thành trong chồi ngọn, chiều cao cây là sự kéo dài về số đốt và sự kéo dài của lóng thân Chỉ tiêu này chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống Ngoài ra nó còn chịu tác động của của điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh và các biện pháp chăm sóc
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của vụ thu đông
STT THL Động thái tăng trưởng chiều cao cây (ngày)
Trang 29Qua bảng nghiên cứu cho thấy: Sự tăng trưởng chiều cao 12 ngày sau trồng dao động từ 6,07 - 12,33 cm, đến 19 ngày thì dao động trong khoảng 9,75 - 17,33
cm, thời gian này tốc độ tăng trưởng vẫn chưa cao Nhìn tổng thể cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai cao nhất vào 26-33 ngày sau trồng, tăng từ 17 - 20cm Tổ hợp lai có sự tăng trưởng chiều cao nhanh nhất là E15 Tốc
độ tăng trưởng chiều cao chậm lại trong giai đoạn từ 40 - 47 ngày
4.3 Động thái tăng trưởng về sô lá
Lá là cơ quan có chức năng quang hợp, cố định năng lượng bức xạ mặt trời thành năng lượng hoá học trong các hợp chất cao năng Bộ lá giữ vai trò quan trọng trong việc tổng hợp chất hữu cơ, giúp cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và có vai trò quan trọng quyết định đến năng suất thực thu sau này Khi số
lá trên cây phát triển mạnh là giai đoạn cây chuẩn bị tích luỹ dinh dưỡng để nuôi quả Giống nào có cấu trúc thân lá hợp lý, lá xanh bền thì giống đó có năng suất cao và thu hoạch dài hơn
Số lá là đặc tính di truyền của giống nhưng quá trình hình thành cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ, sâu bệnh và điều kiện chăm sóc
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng sô lá Ư thời vụ thu đông
STT THL Động thái tăng trưởng sô lá
Trang 31Qua bảng kết quả cho thấy: Tốc độ ra lá của các tổ hợp lai cao nhất vào 26 ngày sau trồng, sau 1 tuần tăng khoảng 11 lá Tổ hợp lai có sự tăng trưởng về số lá lớn nhất là: 114 và tổ hợp có sự tăng trưởng thấp nhất là E4 Đến 40, 47 ngày sau trồng thì tất cả các tổ hợp lai có sự tăng trưởng về số lá chậm lại.
4.4 Đặc điểm cấu trúc của cây cà chua
4.4.1 Chiều cao từ gốc tới chùm hoa thú nhất ở hai thời vụ
Chiều cao gốc đến chùm hoa đầu tiên tưong quan chặt chẽ với số đốt và chiều dài đốt (dài lóng) từ gốc đến chùm hoa đầu tiên Chiều cao có ý nghĩa quan trọng,
nó ảnh hưởng đến khả năng nhiễm bệnh hại của cây Nếu chiều cao này quá ngắn thì cây rậm rạp và chùm quả đầu sẽ nằm sát mặt đất nên rất dễ bị sâu bênh hại tấn công Nếu chiều cao này quá dài thì sẽ ảnh hưởng đến các chùm hoa sau, cây dễ bị
đổ nếu gặp gió to và có thể sẽ cho ít chùm hoa làm ảnh hưởng đến số quả dẫn đến năng suất bị giảm
Qua bảng 4.7 cho thấy: Ớ vụ thu đông, chiều cao từ gốc đến chùm hoa đầu của các tổ hợp lai dao động vào khoảng 29 đến trên 46 đốt Trong đó tổ hợp lai có chiều cao từ gốc tới chùm hoa đầu thấp nhất là E13 (29,20 cm), giống có chiều cao
từ gốc tới chùm hoa đầu cao nhất là A5 (46,83cm)
4.4.2 Sô đốt từ gốc tới chùm hoa đầu tiên
Số đốt từ gốc đến chùm hoa đầu tiên thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng giống Đây cũng là một chỉ tiêu để phân biệt các giống với nhau Theo Calvert (1957) Kuo và cs (1998), nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến vị trí của chùm hoa đầu tiên Khi nhiệt độ không khí là 15°c thì số đốt từ gốc đến chùm hoa đầu tiên là 8 đốt, khi nhiệt độ tăng lên 27°c thì số đốt là 14 Nhiệt độ không khí trên 32°c/25°c ngày đêm làm tăng số đốt tới chùm hoa đầuu tiên lên 12 đốt Độ dài ngày và cường độ ánh sáng cũng ảnh hưởng đến vị trí xuất hiện của chùm hoa đầu Độ dài ngày ngắn làm giảm số đốt dưới chùm hoa đầu, cường độ ánh sáng cao cũng làm giảm số đốt dưới chùm hoa đầu và rút ngắn thời gian nở hoa Ngoài ra, các biện pháp chăm sóc, bón phân
cũng ảnh hưởng đến số đốt từ gốc tới chùm hoa đầu
Trang 32Trong điều kiện vụ thu đông các tổ hợp lai xuất hiện chùm hoa đầu vào khoảng đầu tháng 10 dương lịch, trong thời kỳ này nhiệt độ trung bình là khoảng 28-30°C, thời gian chiếu sáng ngắn, cường độ chiếu sáng cao do vậy các tổ hợp lai xuất hiện hoa sớm vào khoảng 20 ngày sau trồng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Số đốt từ gốc tới chùm hoa đầu của các tổ hợp lai nằm trung bình trong khoảng 1 1 - 1 4 đốt Tổ họp lai có chỉ tiêu này thấp nhất
là E10 (11,20 đốt), tổ hợp lai có chỉ tiêu đạt cao nhất là AI2 và A16 (14 đốt)
4.4.3 Chiều cao cây
Chiều cao cây được tính từ gốc đến đỉnh sinh trưởng Đây là chỉ tiêu đánh giá xem giống cà chua thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, bán hữu hạn hay vô hạn, thuộc loại lùn, cao hay trung bình Chiều cao cây đặc trưng cho từng giống,
nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống nhưng điều kiện ngoại cảnh, chế độ chăm sóc và sâu bệnh cũng ảnh hưởng rất lớn, đặc biệt là bệnh virus
Qua bảng số liệu cho thấy: Chiều cao cây của các tổ hợp lai dao động từ 64,67cm - 191,67cm Trong đó tổ họp lai có chiều cao thân chính thấp nhất là AI3 (cao 64,67cm), đến A10 (cao 71,83cm), tổ hợp lai có chiều cao thân chính cao nhất
Trang 344.5 Một sô tính trạng hình thái và đặc điểm nở hoa
4.5.1 Tính trạng màu sắc lá của cà chua
Màu sắc lá là một trong những chỉ tiêu đánh giá hình thái cây và là đặc trưng
để phân biệt giống Lá là nơi chủ yếu diễn ra quá trình quang hợp Nếu cây cà chua sống trong điều kiện ánh sáng đầy đủ thì lá có màu xanh thẫm hay xanh sáng, trong trường hợp thiếu ánh sáng sự tổng hợp nên các phân tử diệp lục để hình thành nên màu xanh của lá là khó thực hiện, lá sẽ không có được màu xanh đặc trưng Ngoài ra, các điều kiện chăm sóc như: Chế độ nước, phân bón và biện pháp chăm sóc cũng ảnh hưởng lớn đến màu sắc lá
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hầu hết các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm đều
có màu xanh hoặc màu xanh sáng, đại diện là Al, A5, El, E3, 12,
112 (bảng phụ lục 1)
4.5.2 Dạng chùm quả và đặc điểm nở hoa
Cà chua là cây trồng có số lượng hoa lớn, hoa mọc thành chùm Căn cứ vào
số lượng hoa trên chùm, số hoa trên nhánh, số nhánh trên mỗi chùm hoa có thể phân ra thành các dạng: Chùm hoa đơn giản, chùm hoa trung gian và chùm hoa phức tạp
Cấu trúc chùm hoa và đặc điểm nở hoa của cà chua ở từng giống khác nhau thể hiện đặc điểm di truyền của từng giống Dạng hình chùm hoa có tác động rất lớn đên năng suất, sản lượng cà chua còn đặc điểm nở hoa có tác động mạnh mẽ đến việc cơ giới hoá trong thu hoạch
Đặc điểm nở hoa của các tổ hợp lai chủ yếu là nở hoa ở cả theo hướng rải rác
và tập chung Tổ hợp lai có đặc điểm nở hoa tập chung thường cho quả chín tập chung như: AI, A4, E10, El 1 đó cũng là đặc tính của giống có khả năng thích nghi cao hơn với điều kiện bất thuận, giống có đặc điểm nở hoa rải rác thì thích hợp cho trồng rải vụ như: El, E2,14,15, A6,
4.5.3 Màu sắc vai quả khỉ xanh và vai quả khi chín
Nghiên cứu của TS Kiều Thị Thư (1998) cho thấy màu sắc vai quả khi xanh
Trang 35ngà thường có chất lượng quả ngon Vì vậy nó được coi là một tính trạng quan trọng trong chọn giống cà chua chất lượng cao.
Qua bảng thí nghiệm cho thấy: Các tổ hợp lai hầu hết có màu sắc vai quả khi xanh là màu trắng ngà như: Al, A2, II, 12, E4, E5 , một số giống có màu xanh như: A8, A10, E16, và xanh đậm như: A9,116, (bảng phụ lục 1)
Màu sắc quả chín là chỉ tiêu quan trọng vì nó ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm của quả cà chua, cà chua chế biến yêu cầu màu sắc quả phải đỏ, đồng đều
Nó đặc trưng cho từng giống nhưng cũng chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh đặc biệt là ánh sáng và nhiệt độ không khí Màu đỏ do sắc tố Lycopen qui định, màu vàng da cam do sắc tố Caroten qui định và màu vàng do sắc tố Xanthophyll qui định Sự hình thành sắc tố Lycopen thuận lợi trong điều kiện nhiệt
độ 12-18°c, khi nhiệt độ cao trên 30°c thì quá trình hình thành Lycopen bị ức chế nhưng quá trình tổng hợp Caroten vẫn diễn ra, chính vì thế mà về mùa nóng cà chua thường có màu vàng hoặc đỏ vàng
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Hầu hết các tổ hợp lai đều có màu sắc quả đỏ và
đỏ cờ như: Al, A5, E12, E13
4.6 Tỷ lệ đậu quả
Các giống khác nhau, các thời vụ khác nhau thì có tỷ lệ đậu quả khác nhau Điều đó chứng tỏ tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống và từng điều kiện ngoại cảnh
Theo Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng (1999), nhiệt độ cao hơn 27°c kéo dài cũng làm hạn chế sự sinh trưởng, ra hoa và đậu quả của cà chua Nếu ẩm độ quá cao vào thời kỳ ra hoa thì hạt phấn hút nhiều nước trương lên, bao phấn nứt ra, quá trình thụ phấn thụ tinh sẽ gặp khó khăn Nếu nhiệt độ ban ngày cao hơn 38°c thì các tế bào phôi và hạt phấn sẽ bị huỷ hoại dẫn đến tỷ lệ đậu quả bị giảm
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy: Ớ vụ thu đông quá trình thụ phấn và đậu quả gặp điều kiện thuận lợi cho nên hầu hết các tổ hợp lai có tỷ lệ đậu quả rất cao, giống có tỷ lệ đậu quả cao nhất là 16 đạt 98,37%, tiếp theo là A2 (97,68%), tổ họp lai có tỷ lệ đậu quả thấp nhất là A5 (79,66%)
Trang 374.7 Tình hình nhiễm virus
Bệnh xoăn vàng lá do virus Tomato yellow leaf curl virus (TYLCV) gây lên, bệnh thường xuất hiện vào thời tiết nắng nóng, nhiệt độ không khí khoảng 25 - 30°c, độ ẩm không khí cao và trung gian truyền bệnh là bọ phấn trắng
Trong vụ thu đông, vào đầu vụ do thời tiết lạnh, ẩm độ không khí thấp cho nên các tổ hợp bị nhiễm rất nhẹ Đến 30 ngày sau trồng thì có tổ hợp lai A15, bị nhiễm nặng (0,09%), đến 37 ngày sau trồng xuất hiện tổ hợp lai bị nhiễm nặng A5, AI3 (0,05%), đến 44 ngày sau trồng thì có tổ hợp lai A15 (0,09), E4 (0,05) bị nặng Tuy nhiên các tổ hợp lai bị nặng với tỷ lệ thấp nên cũng không ảnh hưởng đến năng suất thực thu của các tổ hợp lai
Trang 38Bảng 4.6 Tinh hình nhiễm vỉrus của các tổ hợp lai
Trang 404.7 Một sô đặc điểm hình thái quả
4.7.1 Chỉ sô hình dạng quả
Hình dạng quả là chỉ tiêu chất lượng quan trọng có ý nghĩa lớn đối với người tiêu dùng Dựa vào hình dạng quả có thể đánh giá được độ chắc quả Thường những giống có dạng quả thuôn dài có độ chắc quả cao hơn giống có dạng quả tròn hoặc dẹt.Hình dạng quả được xác định thông qua chỉ số hình dạng quả Dựa
vào chỉ số hình dạng quả có thể chia thành 3 dạng quả
Qua bảng số liệu cho thấy: ở vụ thu đông chủ yếu các tổ hợp lai có dạng quả dài, còn một số tổ hợp lai có dạng quả tròn như A4, A9, Al l, A12, A15, A16, E4, E5, E9, E12, E15,14,15, no, 114 và không có dạng quả dẹt
4.7.2 Sô ngăn hạt
Số ngăn hạt là đặc trưng cho từng giống, chỉ tiêu này được dùng để đánh giá độ chắc của quả Nếu tổ hợp lai nào có số ngăn hạt ít thì quả chắc và nhẵn hơn nhưng dịch quả lại ít hơn nên ảnh hưởng đến chất lượng hương vị quả Nếu tổ hợp lai nào có
số ngăn hạt nhiều thì độ rỗng lớn, quả sẽ mềm dẫn đến khó vận chuyển và bảo quản
Vì vậy đòi hỏi các nhà chọn giống phải nghiên cứu để có thể chọn tạo ra những giống
có số ngăn hợp lý mà vẫn đảm bảo được chất lượng quả
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy: Hầu hết các tổ hợp lai đều có số ngăn dao động từ 2 - 3 ngăn, một số tổ hợp lai có số ngăn lớn như A4, AĨ6, E4, E5, 14,15,115,116
4.7.3 Sô hạt trên quả
Số hạt trên quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng giống, hạt là kếtquả của quá trình thụ tinh, thụ phấn, ở điều kiện nhiệt độ thuận lợi quá trình thụ tinh, thụ phấn diễn ra tốt thì quả sẽ nhiều hạt, còn nếu nhiệt độ không thuận lợi thì
I = H/D I: Chỉ tiêu hình dạng quả I > 1,06: Dạng quả dài
H: Chiều cao quả I = 0,8 - 1,06 Dạng quả trònD: Đường kính quả I < 0,8: Dạng quả dẹt