NGUYỄN HUY LẬP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ VÀ CHẾ PHẨM VI SINH VẬT HỮU HIỆU EMINA ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18 VÀ GIỐNG LÚA NHỊ ƯU 838 T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN HUY LẬP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
VÀ CHẾ PHẨM VI SINH VẬT HỮU HIỆU EMINA ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18 VÀ GIỐNG LÚA NHỊ ƯU 838 TẠI HUYỆN LẬP
THẠCH - VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN HUY LẬP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
VÀ CHẾ PHẨM VI SINH VẬT HỮU HIỆU EMINA ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18 VÀ GIỐNG LÚA NHỊ ƯU 838 TẠI HUYỆN
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào khác
Mọi sự giúp ñỡ cho công việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Lập
Trang 4Tập thể các thầy cô giáo bộ môn Cây lương thực, Khoa Nông học, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, luôn giúp ñỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi học tập và thực hiện ñề tài
Lãnh ñạo UBND xã Xuân Hoà, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Phòng Nông nghiệp huyện Lập Thạch ñã tạo ñiều kiện ñể tôi thực hiện ñề tài
Bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học ñã luôn nhiệt tình giúp ñỡ tôi
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia ñình ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Lập
Trang 52.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam 7 2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới 7
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón với lúa 11
2.4.2 Cơ sở thực tiễn của việc bón phân cho cây lúa 13
2.5 Phân bón lá và ñặc ñiểm sử dụng cho cây lúa 15
Trang 62.5.3 Tình hình sử dụng phân bón lá trên thế giới và trong nước 18
3.1.2 Một số loại phân bón lá và chế phâm EMINA 31
4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng
Trang 74.1.7 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất
4.2 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến sinh trưởng, phát triển và
4.2.1 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến thời gian sinh trưởng của
4.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến ñộng thái tăng trưởng
4.2.3 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến khả năng ñẻ nhánh của lúa 57 4.2.4 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến chỉ số diện tích lá 58 4.2.5 Ảnh hưởng của phân chế phẩm EMINA ñến khả năng tích lũy
4.2.6 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến các yếu tố cấu thành năng
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CC cuối cùng Chiều cao cuối cùng
BððN Bắt ñầu ñẻ nhánh Chín HT Chín hoàn toàn LAI Chỉ số diện tích lá
Trang 9năng suất trên hai giống lúa Khang Dân 18 và Nhị ưu 838 51
4.9 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến thời gian sinh trưởng qua các
4.10 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
4.11 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến khả năng ñẻ nhánh của lúa 57 4.12 Ảnh hưởng chế phẩm EMINA ñến chỉ số diện tích lá LAI 59 4.13 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến khả năng tích lũy chất khô 61 4.14 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến khả năng chống chịu sâu,
4.15 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA ñến các yếu tố cấu thành năng
suất trên hai giống lúa Khang Dân 18 và Nhị Ưu 838 64
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 ảnh hưởng của phân bón lá ñến chiều cao cuối cùng của 2
Hình 4.2 ảnh hưởng của phân bón lá ñến số nhánh hữu hiệu của 2 giống
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Ở cây lúa, lượng phân bón có mối tương quan thuận chặt với năng suất hạt Nhưng bón quá nhiều phân ñể tăng năng suất dẫn ñến lãng phí và gây ô nhiễm môi trường do lượng dư thừa mà cây không sử dụng hết vì vậy bón phân cho lúa ñể vừa ñạt ñược năng suất cao vừa giữ ñược cân bằng dinh dưỡng trong ñất, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường là rất cần thiết( Bertrand, 2001)
Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), sản lượng lúa nước ta tăng từ 32,1 nghìn tấn ( 2001) lên 36,8 nghìn tấn (2008) Trong ñó 17- 25% sản lượng lương thực tăng là do sử dụng phân bón hoá học, chủ yếu N,P,K Song nền nông nghiệp của nước ta ñang ñứng trước thực trạng là ñang sử dụng phân bón ở mức cao và mỗi năm chúng ta phải nhập khẩu hơn 60% lượng phân bón
từ nước ngoài Việt Nam là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón ở mức cao nhất thế giới( Vũ Hữu Yêm 2004) Trong khi nhiều nước phát triển ñang trong xu thế giảm sử dụng phân bón thì các nước ñang phát triển, trong ñó có Việt Nam lại có chiều hướng sử dụng tăng mạnh Lượng phân bón sử dụng tăng trung bình 10% mỗi năm trong 15 năm qua và thời gian tới có xu hướng tăng 10% mỗi năm Bên cạnh ñó hệ số sử dụng phân bón ở nước ta ở mức thấp chỉ ñạt (30 - 40% ñối với phân ñạm, 22% phân lân, 45% kali) Vì vậy mà các hình thức bón phân cho lúa ngày càng ña dạng thông qua các dạng hấp thu dinh dưỡng của cây như qua rễ, qua lá, qua các bộ phận khác trên cây Sự kết hợp, hợp lý giữa các cách bón sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất ñối với cây trồng và môi trường sống Phân bón lá là hỗn hợp của một số phân ña lượng,
vi lượng và một số chất ñiều hoà sinh trưởng( Lê Văn Tri, 2001) Dùng phân bón lá có nhiều ưu ñiểm: Chất dinh dưỡng ñược cung cấp cho cây nhanh hơn bón gốc, hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, chi phí thấp hơn, ít ảnh
Trang 12hưởng ựến môi trường và ựất trồng( Nguyễn Huy Phiêu và cs,) Vì vậy ựể nâng cao hiệu quả kinh tế cần cung cấp phân bón hợp lý, sử dụng phân bón lá kết hợp bón phân hoá học ở mức thấp, ựảm bảo cung cấp ựầy ựủ các chất dinh dưỡng cho cây Do ựó việc kết hợp bón phân qua rễ và qua lá cho cây lúa ựể tăng năng suất là rất cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tế ựó chúng tôi tiến hành ựề tài:
Ộ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang Dân 18 và giống Nhị Ưu 838 tại huyện Lập Thạch Ờ Vĩnh Phúc
1.2.Mục ựắch và yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá và chế phẩm
vi sinh vật hữu hiệu EMINA ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa
ựể ựề xuất biện pháp sử dụng có hiệu quả của các chế phẩm, phân bón này cho lúa tại huyện Lập Thạch
1.2.2 Yêu cầu
- Xác ựịnh ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ựến các chỉ tiêu nông sinh học của giống lúa thuần KD18 và lúa lai nhị ưu 838
- đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA bón qua
lá chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và năng suất giống lúa thuần KD18 và lúa lai Nhị
và giống lúa lai nhị ưu 838 tại Lập Thạch
Trang 13Có thể sử dụng kết quả ñề tài như là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm này cho lúa ở huyện
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bổ sung vào quy trình thâm canh của 2 giống lúa thuần KD18 và giống lúa lai nhị ưu 838 tại Lập Thạch
1.4 Giới hạn của ñề tài
- Thí nghiệm ñược thực hiện từ tháng 1 năm 2013 ñến hết tháng 5 năm năm 2013 tại xã Xuân Hoà huyện Lập Thạch
ðề tài chỉ giới hạn ở một số loại phân bón lá thông dụng và phân hữu
cơ vi sinh vật hữu hiệu EMINA trên hai giống lúa cấy phổ biến ở ñịa phương
Do ñề tài ñược thực hiện tại ñịa phương nên một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh hoá không có ñiều kiện ñể xác ñịnh mà chỉ giới hạn ở một số chỉ tiêu nông học ñối với cây lúa
Trang 142.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây lúa
2.1.1 Về nguồn gốc
Cây lúa là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu ựời căn cứ vào các tài liệu khảo cổ của Trung Quốc, Ấn độ, Việt NamẦcây lúa ựã có mặt từ 3000 Ờ 4000 năm trước công nguyên, ở Trung Quốc vùng Triết Giang ựã xuất hiện cây lúa khoảng 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử 4000 năm trước Ở Việt Nam, cây lúa ựược coi là cây trồng bản ựịa nó không phải là cây trồng từ nơi khác ựưa vào( Bùi Huy đáp 1985) Việt Nam nằm trong cái nôi lớn sinh ra nghề trồng lúa của loài người, nhiều tác giả khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây lúa trồng ở trong và ngoài nước ựã xác ựịnh ựó là vùng bán ựảo đông Dương, Miến điện và Thái Lan
Theo nghiên cứu của Ting(1933),Sanipaath và Rao (1951)về xuất sứ của lúa trồng O.sativa.L có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn độ Theo kết luận của Chang( 1976) thì O.sativa.L xuất hiện tại Hymalaya, Miến điện, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc
Từ các trung tâm này, lúa Indica phát tán lên khu vực sông Hoàng Hà
và sông Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên từ ựó biến thành chủng loại Japonica,Sinica Lúa Javanica ựược hình thành ở Inựônêxia nó là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica
Về nguồn gốc cây lúa cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng cây lúa ựược hình thành ựầu tiên ở vùng Tây Bắc - Ấn độ, Myanma, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc và Việt Nam Một số tác giả cho rằng cây lúa bắt nguồn từ Ấn độ( Watt G, 1908; Vavilop N.T 1926) Một số tác giả khác coi nam Trung Quốc là vùng xuất hiện cây lúa ựầu tiên ( Decadolle A, 1885; Roshevit Ru.1930).Lại có người cho rằng: cây lúa có nguồn gốc ở Việt Nam,Campuchia(Chevalier.A.1937,Komarov.V.L.1938,ErughinP.S.1950)
Trang 15Cũng có ý kiến cho rằng: Quê hương của cây lúa nước là vùng ựồng bằng đông Nam Á
2.1.2 Phân loại lúa trồng
đối với lúa trồng cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
Theo ựièu kiện sinh thái, Kato( 1930) chia lúa thành 2 nhóm Japonica ( lúa cánh) và Indica (lúa tiên) đinh Dĩnh (1958) cho rằng lúa cánh bắt nguồn
từ Trung Quốc nên gọi lá Sino Ờ Japonica
Lúa tiên: Phân bố ở vĩ ựộ thấp như Ấn độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Inựônêxia Lúa tiên cao cây, lá nhỏ, xanh nhạt, bông xoè, hạt dài, vỏ trấu mỏng, lúa tiên thường khô cơm, nở nhiều
Lúa cánh: phân bố ở vĩ ựộ cao như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, Châu âuẦ lúa cánh thấp cây lá to, xanh ựậm, bông chụm hạt ngắn, vỏ trấu dày về phẩm chất lúa cánh thường dẻo, ắt nở
Ngoài hai loài phụ Indica và Japonica còn có loài phụ Javanica ựược phân bố nhiều ở Inựônêxia, Malayxia, PhilippinẦ Loài phụ này có ựặc ựiểm cao cây lá to, ựẻ nhánh kém, hạt thưa và rộng
- Theo mùa vụ gieo cấy trong năm thời gian sinh trưởng người ta chia lúa làm hai vụ chiêm và vụ mùa
- Căn cứ vào thời gian sinh trưởng khác nhau, Trung Quốc chia ra lúa sớm và lúa muộn hoặc lúa xuân và lúa mùa Từ lâu ở nước ta ở nước ta ựã hình thành 2 vụ lúa chiêm và lúa mùa Về nguồn gốc lúa chiêm ựược hình thành từ lúa mùa sớm nhưng do sinh trưởng trong vụ ựông xuân, nhiệt ựộ thấp nên thực tế thời gian sinh trưởng của lúa chiêm lại dài hơn lúa mùa
Lúa chiêm mẫm cảm với nhiệt ựộ, ngược lại lúa mùa nhất là lúa mùa trung và mùa muộn phản với quang chu kỳ
-Theo ựiều kiện tưới và gieo trồng
Do ruộng lúa ựược phân bố trong các ựiều kiện ựịa hình khác nhau, chế
ựộ nước tưới ngập khác nhau ựã hình thành lúa cạn( lúa ựồi, lúa nương) và lúa
Trang 16nước, lúa chịu nước sâu hay nước nổi Về nguồn góc: Người ta cho rằng lúa cạn là từ lúa nước mà hình thành Trong thân, lá của lúa cạn vẫn có tổ chức
mô thông khí, một ñặc trưng hình thái của cây lúa nước, vì vậy khi ñưa lúa cạn “ Xuống ruộng” chúng vẫn sinh trưởng và cho năng suất bình thường thậm chí còn tăng cao do gặp ñiều kiện thuận lợi
Theo chất lượng và hình dạng hạt: Komilk và Atefeld phân chia lúa ở
Ja va( Inñônêxia) thành lúa tẻ (Utinissma) và lúa nếp (Glutinosa) lúa tẻ và lúa nếp khác nhau là do cấu tạo thành phần tinh bột… Lúa tẻ có thành phần tinh bột là amylaza, các phân tử có cấu tạo mạch ngang ( liên kết 1-4) Lúa nếp có thành phần tinh bột chủ yếu là amylopectin, ngoài mạch ngang còn có cấu tạo mạch dọc (Liên kết 1-6) Người ta cho rằng lúa nếp là
do lúa tẻ biến dị mà thành
2.1.3 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển
Lúa là một trong những cây trồng chủ yếu và quan trọng trên thế giới, có ảnh hưởng tới ñời sống ít nhất 65% dân số trên thế giới Ở Việt Nam, lúa ñảm bảo lương thực cho hầu hết dân số và góp phần ñưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu ñứng thứ 2 thế giới Ngoài việc sử dụng làm lương thực, các sản phẩm phụ của cây lúa còn ñược sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Lúa có thể trồng trong ñiều kiện nhiệt ñới và á nhiệt ñới Cây lúa có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt ñộ từ 100C ñến 400C, nhiệt ñộ thích hợp nhất cho cây sinh trưởng, phát triển là từ 220C ñến 300C Khi nhiệt ñộ thấp hơn
200C cây lúa chậm phát triển, thấp hơn 150C gây hại cho cây lúa ( mức ñộ hại tuỳ theo giai ñoạn sinh trưởng) Cường ñộ ánh sáng thuận lợi cho hoạt ñộng quang hợp của cây lúa là 250 - 400calo/cm3/ngày Thời gian chiếu sáng ngắn 9-10giờ/ngày có tác dụng rõ ñối với việc xúc tiến quá trình làm ñòng và trỗ bông cây lúa
Yêu cầu về nước của cây lúa cũng ñặc biệt, trong ñất ngập nước, cây lúa ñược cung cấp nước thuận lợi nhất và cho năng suất cao, ổn ñịnh nhất
Trang 17Cây lúa có thể trồng nhiều loại ñất khác nhau nhưng ñất trồng lúa tốt cần có khả năng giữ nước tốt, có thành phần cơ giới thịt trung bình, hay nặng, có PH thích hợp nhất trong khoảng 5,5 - 6,0 giàu các chất dinh dưỡng Tuỳ theo ñiều kiện thời tiết khí hậu ở các vùng khác nhau mà thời vụ gieo cấy khác nhau Ở ñồng bằng Bắc bộ có hai vụ chính: Vụ Mùa và vụ Xuân, mỗi vụ ñều có thể chia các trà cấy sớm,chính vụ và muộn Vụ mùa có thời vụ cấy của 3 trà từ 25/6 – 25/8 Vụ Xuân có thời vụ cấy của 3 trà cấy từ 15/1 - 5/3
Thời gian sinh trưởng của cây lúa thay ñổi từ 90 -180 ngày, tuỳ theo giống và ñiều kiện ngoại cảnh Ở miền Bắc do thời tiết biến ñộng trong năm, nên thời gian sinh trưởng của cây lúa cũng thay ñổi theo thời vụ cấy Trong ñiều kiện bình thường, các giống có khả năng thâm canh tăng vụ cao thường
có thời gian sinh trưởng khoảng 100 -120 ngày ðối với các giống lúa thường
có thời kỳ sinh trưởng sinh thực khoảng 60 ngày, trong ñó thời kỳ làm ñòng khoảng 30 ngày thời kỳ chín khoảng 30 ngày Sự khác nhau của các giống lúa
về thời gian sinh trưởng dinh dưỡng Lúa cấy thường chín muộn hơn lúa gieo thẳng khoảng 7-10 ngày do phải mất thời gian bén rễ hồi xanh
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới
Lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng trên thế giới, là cây có giá trị dinh dưỡng cao Trên thế giới hiện nay có hơn 100 Quốc gia trồng lúa, diện tích lúa gạo tương ñối lớn, ñứng thứ 2 sau lúa mỳ Trong ñó Châu Á là châu lục ñứng ñầu thế giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là châu phi, Bắc Mỹ ñến Nam Mỹ
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và lương thực của liên hợp quốc ( FAO) thì trong vòng 30 năm từ 1970 - 2000 diện tích trồng lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.377,1 nghìn ha Tổng sản lượng lương thực tăng từ 308,767 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn
Trang 18Nhìn tổng quan về diện tích năng suất, sản lượng thì năm 2008 có diện tích trồng thấp nhất ñạt 148.730 nghìn ha nhưng lại có năng suất cao nhất là 42,1 tạ/ha Sở dĩ có ñược sản lượng cao là do ñược áp dụng các biện pháp kỹ thuật, các tiến bộ về khoa học như : ñầu tư phân bón, sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn thiện về biện pháp kỹ thuật Năng suất bình quân trên thế giới trong những năm gần ñây có xu hướng tăng lên rõ rệt, thể hiện năm 2004, năng suất 39.7 tạ/ha và năm 2006 ñạt 40,3 tạ/ha và ñến năm 2008 năng suất ñạt 42,1 tạ/ha
Châu Á là vùng ñông dân cư, cũng là vùng gieo trồng và sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới với diện tích trồng lúa 133.251 nghìn ha, năng suất
36 tạ /ha, sản lượng 447.267 nghìn tấn, chiếm 90% lượng thóc trên thế giới và tiêu thụ 90% lượng gạo trên thế giới Trong thập kỷ qua, châu Á có những tiến bộ ñáng kể trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo 85% sản lượng lúa gạo trên thế giới phụ thuộc 8 nước châu Á: Trung Quốc, Ấn ðộ, Inñônêxia, Banglades, Viêt Nam, Thái Lan, Myanma và Nhật Bản Trung Quốc luân là nước ñứng ñầu thế giới về sản lượng lúa gạo Năm 2000 sản lượng lúa gạo của Trung Quốc ñạt 180 triệu tấn, ñứng thứ 2 là Ấn ðộ ñạt 135 triệu tấn thóc Năm 1990 tổng diện tích trồng lúa của châu Á là 131.1903 nghìn ha, cho năng suất 36,5 tạ /ha và sản lượng ñạt 480,772 triệu tấn Năm
1992 tổng diện tích gieo trồng là 130.974 nghìn ha, năng suất ñạt 36,6 tạ /ha
và sản lượng 479,588 triệu tấn
Về tiêu dùng thì lúa ñược tiêu thụ nhiều nhất, chiếm 85% tổng sản lượng sản xuất ra, sau ñó là lúa mỳ chiếm 60% và ngô chiếm 25% Năm 1996 lúa gạo ñã ñược tiêu thụ trên 176 quốc gia trên thế giới với 5,8 tỷ dân
Tốc ñộ tăng năng suất và sản lượng lúa của các nước trong khu vực Châu Á ñã góp phần ñảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp cho toàn cầu một cách tích cực và có vai trò quan trọng Năm 2008, tổng sản lượng lương
Trang 19thực về lúa của châu Á là 582,391 triệu tấn, chiếm 94,9% sản lượng lúa trên thế giới Như vậy, châu Á có thể coi là nguồn cung cấp lương thực toàn cầu Theo số liệu dự ựoán về sự phát triển dân số trên thế giới ựến năm 2050 là 8.909 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 0,4% Với tốc ựộ tăng dân số nhanh chóng, diện tắch ựất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp thì vấn ựề an ninh lương thực vẫn luôn ựóng vai trò quan trọng hàng ựầu với nhiều quốc gia trên thế giới Những tiến bộ trong sản xuất lúa trên thế giới trong những năm gần ựây rất ựáng khắch lệ Việc ựầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuậtẦ là những lý do ựể ựạt ựược kết quả trên
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có có ựiều kiện khắ hậu nhiệt ựới nên rất thắch hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, ựặc biệt là cây lúa Từ lâu, cây lúa ựã trở thành cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa ựáng kể trong nền kinh tế ựất nước Với ựịa hình trải dài trên 15 vĩ ựộ Bắc bán cầu, ựã hình thành những vùng trồng lúa phì nhiêu như ựồng bằng Châu thổ sông Hồng và ựồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lua lớn nhất nước ta ựã cung cấp nguồn lương thực chủ yếu ựã nuôi sống của mấy trục triệu con người
Trước những năm 1945, diện tắch trồng lúa của hai ựồng bằng Bắc Bộ
và Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng tương ứng là 2.4 triệu tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân 13 tạ/ha Khoảng hai thập kỷ sau, vào những năm 60 miền Bắc có phong trào phấn ựấu giành 5 tấn/ha/năm cho ựến năm 1974 ựã ựạt ựược mục tiêu này Năng suất lúa bình quân 51,4 tạ/ha/năm Sau 1975 ựất nước ta hoàn toàn thống nhất, sản xuất lúa ở nước ta ựã có những bước phát triển ựáng kể, ựã ựưa nước ta từ một nước nhập khẩu 0,8 triệu tấn trở thành một nước tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngoài ra cũng
có một phần giành cho xuất khẩu ( Nguyễn đình Giao và CS 2001)
Trang 20Sau năm 1975, trong ñiều kiện ñất nước thống nhất sản xuất lúa ở nước
ta ñã có những thuận lợi mới và có những bước phát triển ñáng kể Bình quân lương thực của Việt Nam năm 1975 ñạt 200kg/người /năm, năm 1985 ñạt 300 kg/người/năm và ñến năm 2001 ñạt 420 kg/người/năm
Theo ñánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc ( FAO), hiện nay trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam xếp thứ 5 với 7,5 triệu ha gieo trồng, sản lượng 34,5 triệu tấn lúa /năm, xếp sau Trung quốc ( 30,5 triệu ha, 190 triệu tấn), Ấn ðộ ( 44,6 triệu ha, 134 triệu tấn) Inñônêxia ( 11,5 triệu ha, 51 triệu ha) và Banglades ( 10.7 triệu tấn, 35,8 triệu tấn)
Những năm gần ñây, ở Việt Nam sản xuất lúa gạo ñã ñạt ñược những thành tựu rất ấn tượng với cộng ñồng Quốc tế Từ một nước thiếu lương thực nay ñã từng bước vươn lên ñứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo Kể từ năm
1989, năm ñầu tiên Việt Nam có gạo xuất khẩu ñến nay Việt Nam ñã ñóng góp với thế giới hơn 40,7 triệu tấn gạo với trị giá trên 9 tỷ USD
Năng suất và sản lượng lúa tăng có nhiều nguyên nhân, trong ñó trước tiên là những thay ñổi về cơ chế chính sách mới trong nông nghiệp nông thôn, sau ñó là thay ñổi kỹ thuật trồng lúa Nhờ có sự quan tâm của ðảng và Nhà nước, với chủ trương của Bộ Nông nghiệp& phát triển nông thôn, tình hình sản xuất lúa của nước ta trong mấy trục năm gần ñây ñã có sự tăng trưởng
Về diện tích trồng lúa những năm gần ñây của nước ta không ổn ñịnh
và có xu hướng giảm xuống, biến ñộng từ 7.411 nghìn ha xuống còn 7.313 nghìn ha Diện tích trồng lúa của nước ta trong năm gần ñây có xu hướng giảm qua các năm và nguyên nhân gây nên sự biến ñộng ñó là do dân số tăng, các khu công nghiệp và ñô thị hoá hình thành ðây là xu hướng không có lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và ngành trồng lúa nói riêng Năng suất lúa có xu hướng ngày càng tăng ñược thể hiện qua các năm Năm 2004, năng suất lúa ñạt 47,9 tạ/ha, năm 2006 ñạt 49 tạ/ha và năm 2008 năng suất ñạt 51,1 tạ/ha Có ñược sự tăng trưởng là do nhà nước có những chính sách ñúng
Trang 21ựắn trong phát triển nông nghiệp, ựặc biệt là ựối với nghề trồng lúa cùng với việc áp tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và mấy năm gần ựây tăng lên cũng là do nhiều nguyên nhân khác nhau trong ựó trước tiên là những thay ựổi về chắnh sách trên phạm vi vĩ mô từ thời kỳ ựổi mới
mở của, sau ựó là những thay ựổi về cơ cấu giống chuyển ựổi mùa vụ, giải quyết tưới tiêu, cải tạo ựất đặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh việc ựưa giống mới và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ựã từng bước nâng cao năng suất cũng như sản lượng của nước ta ngày càng tăng nhanh( Bùi Huy đáp, 1999)
để ựẩy mạnh phát triển diện tắch trồng lúa cần phải có nhiều giống lúa
có năng suất, chất lượng cao Các giống lúa lai ựã góp phần ựáng kể vào việc nâng cao năng suất và tổng sản lượng cây trồng
Trên ựồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các ựiều kiện khác nhau Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan và chủ quan như ựiều kiện thời tiết, khắ hậu, ựất ựai, giống, phân bón, chế ựộ nước tưới và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh,Ầ trong ựó chế ựộ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng ựể tăng năng suất lúa
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón với lúa
Ở Việt Nam, diện tắch ựất canh tác bình quân ựầu người trong vòng 65 năm qua ựã giảm từ 2.548m2 xuống còn 732m2/ người, tương ựương với mức
ựộ giảm 1,1 %/ năm [28] Như vậy trong nông nghiệp hiện nay, sản lượng cây trồng ựược quyết ựịnh chủ yếu bằng yếu tố năng suất thông qua thâm canh và
áp dụng các kỹ thuật mới trong công tác chọn tạo giống, bảo vệ thực vật và chế biến, bảo quản sau thu hoạch, trong ựó vai trò của phân bón là cực kỳ quan trọng điều này là cũng phù hợp với kinh nghiệm lâu ựời của ông cha ta
là Ộ Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giốngỢ Phân bón góp phần tăng năng
Trang 22suất cây trồng thông qua nhiều cơ chế tác ñộng khác nhau, song quan trọng hơn cả là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh dưỡng cần thiết mà ñất không ñủ khả năng cung cấp, duy trì ñộ phì nhiêu trong quá trình canh tác Ngoài ra, cùng với năng suất kinh tế, phân bón làm tăng lượng sinh khối cây
do ñó tăng nguồn hữu cơ trả cho ñất, góp phần ổn ñịnh ñộ phì của ñất
Theo kết quả nghiên cứu của Mai Văn Quyền trên 60 thí nghiệm khác nhau, thực tiễn ở 40 Quốc gia có khí hậu khác nhau cho thấy: Nếu ñạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy ñi hết 50 kg N, 260kg P2O5 80 kg K2O, 10kg CaO, 6 kg Mg, 5kg S và nếu ruộng lúa ñạt năng suất ñến 6 tấn/ ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy ñi là 100kg ñạm, 50kg lân, 160kg kali, 19kg CaO, 12 kg Mg, 10Kg S[24] Lấy trung bình cứ tạo ra 1 tấn thóc cây lúa lấy
ñi 17kg ñạm, 8kg lân, 27kg kali,3 kg CaO, 2 kgMg và 1,7kg S
2.4.1.Cơ sở lý luận việc bón phân cho cây lúa
ðối với sản xuất nông nghiệp, phân bón ñóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam ñã sử dụng phân bón vô cơ trong Nông nghiệp và ngày càng tiến bộ ðặc biệt trong những năm gần ñây, có rất nhiều giống lúa lai ñược ñưa vào sử dụng, có khả năng chịu phân tốt, là tiền ñề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng nâng cao năng suất lúa ðối với cây lúa, N là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất nó giữ vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất Với lúa lai, vai trò của phân K cũng có vai trò quan trọng tương ñương với N
Theo Nguyễn Như Hà (2005), nhu cầu về N của cây lúa có tính chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [38], hàm lượng N trong cây và sự tích luỹ N qua các giai ñoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng N bón Nhưng nếu quá lạm dụng
N thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh ñẻ vô hiệu, trỗ muộn, ñồng thời dễ bị lốp ñổ và nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại, thiếu N cây lúa còi cọc, ñẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm
Trang 23Hiệu lực của N còn phụ thuộc vào các yếu tố dinh dưỡng khác Thông thường các giống lúa có tiềm năng năng suất cao bao giờ cũng cần lượng N cao; dinh dưỡng càng ựầy ựủ thì càng phát huy ựược tiềm năng năng suất (Vũ Hữu Yêm, 1995)
De Datta, 1984 cho rằng, N là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới Như vậy, ựể tăng năng suất lúa nước, cần tạo ựiều kiện cho cây lúa hút ựược nhiều N Sự hút N của cây lúa không phụ thuộc vào nồng ựộ N xung quanh rễ
mà ựược quyết ựịnh bởi nhu cầu N của cây.để nâng cao hiệu quả bón N thì phương pháp bón cũng rất quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón
N vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất N tới 50% do nhiều con ựường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản N hoá (Gros A, 1977), (Nguyễn Xuân Hiển và cs, 1970), (đỗ Thị Thọ, 2004)
Bùi Huy đáp (1980), khi bón vãi N trên mặt ruộng lúa ở ựất nhẹ, sau
15 ngày làm mất 50% lượng N; còn ựất thịt sau 1 tháng mất 40% lượng N đào Thế Tuấn (1970) lại cho rằng khi bón vãi N trên mặt ruộng lúa có thể gây mất tới 60 Ờ 70% lượng N bón Chắnh vì vậy, khi bón N cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng ựất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều Theo Nguyễn Như Hà (1999), khi bón N ta nên bón sớm, bón tập trung toàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng N cần bón, bón lót sâu vừa có tác dụng tránh mất N, lại vừa tăng tắnh chống lốp ựổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh Cũng theo Nguyễn Như Hà, nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ mà cụ thể là phân chuồng (Nguyễn Như Hà, 1999), (Nguyễn Như Hà, 2005)
2.4.2 Cơ sở thực tiễn của việc bón phân cho cây lúa
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương ựối cao so với những năm trước ựây do người dân áp dụng ựược rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Việt Nam hiện ựang là một trong
20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn N, 456.000 tấn P và 402.000
Trang 24tấn kali, trong ựó sản xuất lúa chiếm 62% Song do ựiều kiện khắ hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy ựược 30% hiệu quả ựối với N và 50% hiệu quả ựối với P và K Nhưng hiệu quả bón phân ựối với cây trồng lại tương ựối cao, do vậy mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong tương lai, vẫn hứa hẹn sử dụng một lượng phân bón rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù nước ta chủ yếu vẫn phải nhập khẩu phân bón (Nguyễn Văn Bộ, 2003)
Bảng 2.1: Nhu cầu và cân ựối phân bón ở Việt Nam ựến năm 2020
Năm Các loại phân bón
Nguồn: Phòng QL ựất và phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN& PTNT, 5/2007
2.4.3 Vấn ựề bón phân cân ựối cho cây lúa
Bón phân cân ựối cho lúa là tuỳ theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinh dưỡng và khả năng ựáp ứng từng loại chất dinh dưỡng cho cây lúa của ựất trồng lúa cụ thể mà bón phân Căn cứ ựịnh lượng phân bón cân ựối cho lúa:
Vụ mùa, hè thu (mùa mưa) lượng N cần bón ắt hơn so với vụ đông xuân Vụ hè ở các tỉnh phắa Nam do nắng nóng, ựất chua nhiều, phèn bốc mạnh nên cần bón nhiều P2O5 hơn so với vụ ựông xuân và vụ thu ựông
Khi hàm lượng K2O trong nước tưới cao (chẳng hạn phù sa nhiều) thì bón K với lượng thấp và ngược lại đất nhẹ cần bón nhiều K2O hơn ựất nặng, ựất phù sa bón ắt K hơn ựất xám đất cát, ựất xám, ựất bạc màu do hàm lượng
Trang 25K thấp nên cần bón nhiều K hơn so với các loại ñất khác Trên ñất này do hàm lượng hữu cơ và sét thấp nên phải chia phân ra làm nhiều lần bón hơn ñể giảm thất thoát phân bón
ðất phèn, ñất trũng nghèo P lại có nhiều sắt nhôm di ñộng gây ñộc, do
ñó cần phải bón nhiều phân P hơn các loại ñất khác, nhằm giảm ñộ ñộc của sắt, nhôm và cung cấp P cho cây lúa
Trong rất nhiều trường hợp, hiện tượng ñổ là một nhân tố không cho phép ñược bón cho lúa ñến lượng N tối ña Nếu cây lúa ñổ trước khi trỗ, năng suất có thể giảm 50-60% Giống lúa mới thấp cây có khả năng chống ñổ tốt, lượng N bón tối thích cao hơn nhiều
Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi ñồng ruộng thì bón phân nhiều hơn, ñặc biệt là phân K, do khá nhiều K bị lấy ñi khỏi ñồng ruộng theo rơm rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ khỏi ñồng ruộng thì chỉ khoảng 5% lượng K bị lấy ñi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt Khoáng trong ñất, rạ và nước tưới là nguồn K cung cấp cho cây
Ở ñất nhẹ nhiều cát cây cần K hơn, ñồng thời các giống năng suất cao cần nhiều K hơn
2.5 Phân bón lá và ñặc ñiểm sử dụng cho cây lúa
2.5.1 Cơ chế hấp thụ dinh dưỡng qua lá
Dinh dưỡng qua rễ là con ñường chủ yếu nhưng không phải duy nhất vì cây có thể hấp thụ một phần dinh dưỡng qua lá (Vũ Hữu Yêm, 1995) Các chất khoáng xâm nhập vào cây qua bề mặt lá thường phải ñi qua khí khổng và
cũng có thể thấm qua lớp cutin mỏng
Khí khổng là những khe hở nhỏ nằm trên biểu bì của lá, ñược cấu tạo bởi hai tế bào bảo vệ hình hạt ñậu quay vào nhau ñể một khe hở nhỏ thông giữa khoảng gian bào của lá với môi trường bên ngoài gọi là vi khẩu Lỗ khí khổng
có kích thước trung bình 100 µm2 (dài 7 – 10 µm, rộng 3 – 12 µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá Ở lúa số lượng khí khổng/ mm2 lá là
Trang 2647 (mặt trên: 33, mặt dưới: 14), vì thế khi phun dung dịch dinh dưỡng nên phun
cả hai mặt lá (Lê Văn Tri, 2001; Nguyễn Văn Uyển, 1995)
Cây trồng có tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn gấp 8 – 10 lần diện tích bộ lá che phủ Các chất dinh dưỡng ñược vận chuyển tự do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30 cm/h Do ñó năng lực hấp thu từ lá cũng cao hơn gấp 8 – 10 lần so với từ rễ Vì vậy, cây trồng
có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng qua lá ñạt 90 - 95% trong khi nếu bón qua ñất cây chỉ sử dụng ñược 40 – 50% lượng phân bón (Nguyễn Thị Kim Thanh, Phạm Thị Thanh Thuỷ, 2008)
Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá phụ thuộc vào sự ñóng mở của khí khổng Muốn cho phân bón lá phát huy ñược hiệu quả thì phải phun vào lúc lỗ khí khổng ñang mở Cơ chế ñóng mở khí khổng rất phức tạp chịu ảnh hưởng các yếu tố ngoại cảnh như ánh sáng, ñộ ẩm không khí, ñộ ẩm ñất, nhiệt ñộ và tình trạng sinh lý của cây Ánh sáng quá mạnh, ñộ ẩm quá khô, nhiệt ñộ cao hơn 300C ñều làm cho khí khổng ñóng Vì vậy, ñể nâng cao hiệu quả phân bón lá thì phun phân trong ñiều kiện nhiệt ñộ không khí nhỏ hơn 30oC, trời nắng nhẹ, không mưa ñể tránh phân bị rửa trôi, không có gió khô và cần cung cấp ñủ nước cho cây qua rễ (Lê Văn Tri, 2002)
2.5.2 Tác dụng của phân bón lá
Hiệu quả, vai trò của phân bón lá ñã ñược khẳng ñịnh tại nhiều kết quả nghiên cứu trên nhiều cây trồng khác nhau Cây không những hấp thụ chất dinh dưỡng qua rễ mà còn hấp thụ qua lá, trong khi diện tích lá của cây lại gấp hàng chục lần diện tích mà rễ cây ăn tới Sử dụng phân bón lá, chất dinh dưỡng ñược cung cấp cho cây nhanh hơn bón gốc, hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, chi phí thấp hơn, ít ảnh hưởng ñến môi trường và ñất trồng
Cung cấp dinh dưỡng bằng cách phun cho cây các hợp chất chứa N, P, K tinh khiết, cây hấp thu qua lá, các chất dinh dưỡng phát huy tác dụng rất nhanh Phân bón lá có tác dụng rất tốt khi bộ rễ cây yếu, khi cây có nụ, có hoa, nhằm
Trang 27tăng cường quá trình tổng hợp các chất ñường bột và tích luỹ dinh dưỡng vào quả và hạt Phân bón lá còn cung cấp các dinh dưỡng vi lượng như Bo, Mo,
Mg, Cu, Mn, Zn Ở những nơi thiếu các nguyên tố vi lượng ñã cho hiệu quả rất rõ như tăng cường sự sinh trưởng, lá xanh, ñẻ khoẻ, hạt to hơn, tỷ lệ lép thấp, chịu rét tốt hơn (Nguyễn Văn Hoan, 2003)
Phân bón lá có tác dụng làm cho cây lúa phát triển bộ lá tốt, tăng khả năng ñẻ nhánh, giảm tỷ lệ nhánh vô hiệu, tăng số bông trên m2, hạt mẩy hơn, tăng năng suất lúa nhưng số hạt chắc trên bông không khác biệt rõ rệt Tuy nhiên, phân bón lá giúp cho lúa phát triển mạnh hơn, nên tỷ lệ ñổ ngã của cây lúa cũng tăng theo, do ñó khi sử dụng các loại phân bón lá cần phải cân ñối lại phân nền ñể giảm tối ña sự ñổ ngã
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Cường, Trần Anh Tuấn (2008) [35], trong ñiều kiện bón N thấp kết hợp phun Chitosan ở nồng ñộ 10, 20, 30 ppm làm tăng diện tích lá, tăng hàm lượng diệp lục, tăng khả năng quang hợp dẫn ñến tăng tỷ lệ ñậu hạt, số hạt trên bông và ảnh hưởng của Chitosan trên ñến sinh trưởng và năng suất lúa Khang Dân trong ñiều kiện ñậm thấp cho thấy: Các công thức xử lý Chitosan có diện tích lá ở giai ñoạn làm ñòng và sau trỗ 20 ngày ñều cao hơn ñối chứng Xử lý Chitosan ñã làm tăng hàm lượng diệp lục, tăng cường ñộ quang hợp và giữ sự tồn tại của diệp lục lâu hơn ở giai ñoạn chín sáp trong ñiều kiện bón N thấp Xử lý Chitosan không làm tăng số bông/khóm, nhưng làm tăng khả năng ñậu hạt, tăng khối lượng 1000 hạt nên làm
tăng năng suất cá thể Nồng ñộ phun 30ppm là phù hợp nhất
Nghiên cứu ảnh hưởng của phun axít humic trên giống lúa C70 của Mai Thị Tân và cộng sự cho thấy, sử dụng axít humic ở nồng ñộ 0,03 phun lên lúa
ở giai ñoạn ñẻ nhánh, làm ñòng cho hiệu quả cao nhất Cụ thể là làm tăng chiều cao, tăng số nhánh hữu hiệu, tăng chỉ số diện tích lá (LAI), tăng khả năng tích luỹ chất khô
Hoàng Ngọc Thuận (2005) ñã nghiên cứu phân bón lá Pomior và ñược
Bộ NN và PTNN công nhận là tiến bộ kỹ thuật Pomior là một dạng phức hữu
Trang 28cơ bao gồm các nguyên tố ña, trung, vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng Kết quả thử nghiệm Pomior trên cây ăn quả như xoài, vải của Phạm Thị Hương (2005) có tác dụng cải thiện sinh trưởng các ñợt lộc, tăng khả năng ñậu quả, tăng năng suất
Gần ñây có nhiều chế phẩm phân bón lá ñược các nhà khoa học khảo nghiệm hiệu lực trên các loại cây trồng khác nhau Kết quả khảo nghiệm của
bộ khoa học và công nghệ TPHCM (2006) cho thấy rằng hiệu lực 3 loại phân bón lá: Phala-C, Phala-R, Phala-V, năng suất tăng từ 13 – 20% ñối với ngô và lúa, 13 – 14% với cà phê
Kết quả thử nghiệm trên nhiều loại ñất Việt Nam của nhiều tác giả cho thấy phân bón lá Komix – BFC làm tăng năng suất lúa từ 5 – 15%
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều chế phẩm, phân bón lá ñược bán rộng rãi và ñược bà con nông dân sử dụng như: NitraMa (Magnesium Oxide 15%, Nitrate 11%), Bortrac (B 15%), ðầu trâu 502 (NPK: 30, 12, 10; Ca, Mg,
Zn, Cu, Bo, Fe, Mn, Mo ), Thiên Nông, Yogen (Con én ñỏ), K– Humate, HPC–HIPHOS, Fivalua, Komix, Mymix, Atonik
2.5.3 Tình hình sử dụng phân bón lá trên thế giới và trong nước
2.5.3.1 Tình hình sử dụng phân bón lá
Phân bón lá trên thị trường trong nước và thế giới rất phong phú, thường sản xuất dưới dạng các chế phẩm phân bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm chỉ
có các yếu tố dinh dưỡng ña lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ
- Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng nhằm thúc ñẩy sinh trưởng hoặc thúc ñẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc ñẩy quá trình chín, hoặc mau ra rễ
- Nhóm có các loại thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh hoặc phối trộn tỷ
lệ thích hợp
* Trên thế giới
Sử dụng phân bón lá là việc làm ñã ñược thực hiện từ giữa thế kỷ 17 ở các nước phát triển như Mỹ và các nước Châu Âu Việc phun phân bón lá bằng
Trang 29các phương tiện cơ giới, máy bay ñã trở thành phổ biến ở nhiều nước như Mỹ, Anh, Nhật, ðức, Ba Lan, Trung Quốc, Hungari (Lê Văn Tri, 2002) Phương pháp bổ sung dinh dưỡng qua lá là phương pháp ñang ngày càng ñược phát triển
Nó ñược sử dụng như một phương tiện cung cấp dinh dưỡng vi lượng, ña lượng, hormon kích thích sinh trưởng và những chất cần thiết cung cấp cho cây Những ảnh hưởng quan sát ñược của việc bón phân qua lá là tăng năng suất cây trồng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, phản ứng của cây trồng phụ thuộc vào giống, dạng phân bón, nồng ñộ và số lần bón, cũng như từng giai ñoạn phát triển của cây trồng (Dương Văn ðảm, 1994)
Có nhiều cơ sở sản xuất phân bón lá xuất hiện trên thế giới như Phylaxia của Hungari, Kiow của Nhật Bản, Plant-Power 2003 của ðức, ðặc ða Thu của Trung Quốc
Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so với dùng phân bón gốc qua rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân Khi dùng phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng cáp hơn, chịu ñược sâu bệnh, không làm chua ñất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào ñất Hạt thóc chắc hơn, tỷ lệ gạo gãy không ñáng kể, làm cho gạo của Philippin phù hợp với thị trường quốc tế Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua ñất (Nguyễn Huy Phiêu và cs, 1994) Trong những năm gần ñây nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Nhật, Anh, ðức, Thái Lan, Trung Quốc ñã sản xuất và
sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, nhưng không làm ô nhiễm môi trường: YoGen, Atonik ( Nhật Bản), Organic, Cheer( Thái Lan), Bloom plus, Solu Spray –
N – Grow (Hoa Kỳ), Diệp lục tố ( Trung Quốc)
Nhiều chế phẩm ñã ñược khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
* Ở Việt Nam
ñể ñạt năng suất cao, chất lượng tốt ñối với cây trồng ngoài việc cung
Trang 30cấp ựầy ựủ các nguyên tố dinh dưỡng ra còn phải cung cấp kịp thời và cân ựối các nguyên tố dinh dưỡng Cây trồng ngoài có khả năng hút dinh dưỡng từ rễ còn có khả năng hút dinh dưỡng thông qua lá Cung cấp dinh dưỡng qua lá ngoài tác dụng cung cấp kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho cây khi thiếu
nó còn mang lại tắnh ưu việt như tăng hiệu quả kinh tế, tác dụng nhanh, không gây ô nhiễm môi trường ựất, nước và không khắ
đến thế kỷ XX người dân Việt Nam mới bắt ựầu sử dụng phân bón lá
Từ ựó việc nghiên cứu cũng như sản xuất phân bón lá ựược quan tâm và phát
triển Hiện nay ở cả hai miền nước ta ựã có rất nhiều cơ sở sản xuất phân bón
lá, ựó là chưa kể một số cơ quan nghiên cứu cũng ựưa ra thị trường hàng loạt sản phẩm thử nghiệm.Một số tác giả ựã có những nghiên cứu và ứng dụng về
sử dụng phân bón lá thành công trên một số cây trồng như: Tác giả đương Hồng Dật(2002) cho thấy khi bón qua lá phân phát huy hiệu lực nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dữỡng thường ựạt mức 90 Ờ 95%, trong khi sử dụng bón qua ựất cây chỉ sử dụng ựược 40 50% Các tác giả Cao kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi đình Dinh(1998) cho biết: chế phẩm bón qua lá ựã làm tăng chất lượng nông sản, giảm hàm lượng NO3 trong dưa chuột 28 Ờ 35%, trong bắp cải 25 Ờ 70% Phun phân bón lá TP Ờ 108 cho cà chua làm tăng tỷ lệ tinh bột lên 29% tăng hàm lượng muối khoáng 17,6%, Vitamin C lên 11,1% hàm lượng ựường lên 23% Phun HVP cho trái thanh long làm thời gian lưu giữ kéo dài thêm 10 -12 ngày so với ựối chứng Sử dụng chế phẩm bón lá HVP
401 Ờ N làm tăng ựộ Bric của trái quýt Tiêu 3,7%.Nếu xét về khắa cạnh lành mạnh môi trường thì phân bón lá, phân vi sinh và các phân tương tự khác ựược khuyến khắch nghiên cứu và ựưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bền vững, trong vấn ựề an toàn dinh dưỡng cây trồng
Rõ ràng phân bón lá không thể thay thế các loại phân bón qua rễ, nhưng vai trò của nó là không phủ nhận Vũ Cao Thái ( 1996), cho rằng sử dụng
Trang 31phân bón qua lá là một giải pháp chiến lược của ngành nông nghiệp, khi sử dụng hiệu quả phân bón lá thì sản lượng trung bình tăng 20 -30% với cây lấy
lá, 10 -20% với cây ăn quả, 5 -10% với cây lúa, 10 -30% với cây công nghiệp ngắn ngày ðiều này hoàn toàn có cơ sở khoa học vì lá là cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng qua các quá trình sinh lý, sinh hoá và quang hợp, khi bón lá, khắc phục ñược các hạn chế của bón phân qua ñất bị rửa trôi, bốc hơi hoặc giữ chặt trong ñất ðây là cơ sở khoa học ñể ñưa các nguyên tố vi lượng qúy hiếm vào các chế phẩm phân bón
lá, giúp cây trồng trong những ddieeuf kiện hạn hán, lũ lụt, thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng của cây giúp cho cây nhanh chóng phục hồi
2.5.3.2 ðặc ñiểm sử dụng phân bón lá
Theo Lê Văn Tri (2002) khi sử sụng phân bón lá cần: Phun lên cây nên ñược hấp thụ qua lá và thân cây, do vậy tránh phun trước và sau khi mưa Nếu phun trước mưa thì phân bị rửa trôi, hiệu lực kém hoặc không có hiệu lực Nếu phun sau mưa thì khả năng hấp thụ phân bón của cây kém do cây ñã ñược no nước
Tránh phun vào lúc nắng to, vì phun phân bón lá vào lúc nắng to thì làm cho lượng nước của phân bón lá bay hơi nhanh, tỉ lệ lỗ khí khổng của lá
bị ñóng cao, làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng Nếu dùng bình bơm máy
ñể phun thì nên tránh hiện tượng ga mạnh, gây ảnh hưởng cơ học lên cây Thời gian phun tốt nhất là 9 - 10 giờ sáng hoặc 2 - 3 giờ chiều về mùa ñông và 7
- 8 giờ sáng hoặc 5 - 6 giờ chiều về mùa hè Có thể pha phân bón lá cùng thuốc trừ sâu bệnh ñể tiết kiệm công phun khi phát hiện cây có sâu bệnh, như thế vừa diệt ñược sâu bệnh, vừa kích thích tăng năng suất Chú ý: thuốc trừ sâu và phân bón lá chỉ pha lẫn vào nhau ở nồng ñộ loãng Trường hợp cây phát triển kém có thể phun phân bón lá nhiều lần, mỗi lần cách nhau 10 - 15 ngày
Theo nhiều nghiên cứu của Nguyễn Huy Phiêu và CS (1994) việc sử dụng phân bón lá có hiệu quả nhất ở các giai ñoạn sau:
Trang 32- Giai ñoạn ñẻ nhánh: bổ sung dinh dưỡng qua phân bón lá, làm tăng số nhánh hữu hiệu, cây sinh trưởng và phát triển khỏe
- Giai ñoạn chuẩn bị hình thành ñòng : hỗ trợ cho việc hình thành ñòng
to, bông lớn nhiều hạt
- Giai ñoạn chuẩn bị phát ñòng (trước trỗ từ 10 – 15 ngày ñến khi trỗ 1– 2%) làm lúa trỗ ñồng loạt Ngoài ra quá trình tích luỹ tinh bột từ cây vào hạt nhanh hơn, lá ñòng giữ xanh lâu, hiệu suất quang hợp cao hơn, hạt lúa chắc mẩy, trọng lượng 1000 hạt tăng, hạt lép giảm
2.6 Chế phẩm EMINA và ứng dụng trong sản xuất
- Nguyên liệu chủ yếu ñể ñiều chế các chế phẩm EMINA là nước sạch, rỉ ñường, các chất hữu cơ có nguồn gốc thực vật và ñộng vật cùng một số phụ gia
- Thành phần vi sinh vật chủ yếu trong chế phẩm EMINA
-EMINA bao gồm từ 80 – 120 loại vi sinh vật có ích là tập hợp của 5 loài vi sinh vật có ích chủ yếu thuộc 5 nhóm sau:
+ Vi khuẩn quang hợp: có tác ñộng thúc ñẩy các vi sinh vật khác nhau sản xuất các chất dinh dưỡng cho cây trồng
+ Vi khuẩn axit lactic: có tác dụng khử trùng mạnh Phân huỷ nhanh chất hữu cơ làm mất mùi thối, giảm khí ñộc và làm sạch môi trường
+ Men: tạo ra quá trình phát triển các chất sinh trưởng cho cây trồng và
vi sinh vật
+ Xạ khuẩn: có tác dụng phòng chống các vi sinh vật có hại
+ Nấm men: tác dụng khử mùi, ngăn ngừa các côn trùng có hại
Như vậy, các vi sinh vật hữu hiệu EMINA hoàn toàn có bản chất tự nhiên, sẵn có trong thiên nhiên, quá trình sản xuất hoàn toàn là một quá trình lên men với các nguyên liệu tự nhiên, không chứa ñựng bất cứ sinh vật lạc hoặc biến ñổi di truyền nào, cho nên hoàn toàn ñảm bảo “an toàn sinh học”
2.6.1 Tác dụng của EMINA
Có thể nói, EMINA là một chế phẩm sinh học khá diệu kỳ bởi sự ñiều
Trang 33chế - sản xuất rất ñơn giản và ñặc biệt bởi tính ña tác dụng của nó EMINA vừa
là một loại phân bón vi sinh, vừa là một chất kích thích sinh trưởng cây trồng
và vật nuôi, vừa là một loại nông dược phòng ngừa dịch bệnh, vừa là chất khử trùng và làm sạch môi trường… EMINA có tác dụng chủ yếu sau ñây:
- EMINA thúc ñẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc ñẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong ñất, hạn chế hoạt ñộng của vi sinh vật hại, qua ñó góp phần cải tạo ñất, nâng cao ñộ phì của ñất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng dễ hấp thụ cho cây trồng
- EMINA làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất ñộc hại và ruồi muỗi trong môi trường do ñó có tác dụng làm sạch môi trường, nhất là môi trường nông thôn
- EMINA làm tăng cường khả năng quan hợp của cây trồng, thúc ñẩy
sự nảy mầm phát triển, ra hoa quả, kích thích sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi, làm tăng khả năng ñề kháng và tính chống chịu, qua ñó góp phần tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, gia súc và thuỷ sản, nhưng lại rất an toàn với môi trường và con người
- EMINA hạn chế, phòng ngừa nguồn dịch bệnh của cây trồng và vật nuôi
Do những tác ñộng trên, EMINA có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, trong làm sạch môi trường, góp phần tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng ñồng
2.6.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm EMINA trên thế giới và
ở Việt Nam
2.6.2.1 Trên thế gới
Trong những năm 80 công nghệ EM ñược nghiên cứu và ứng dụng thành công ở Nhật Bản, Từ năm 1989 công nghệ EM ñược mở rộng ra các nước ðến nay, sau 20 năm ñã có hơn 180 nước và vùng lãnh thổ tiếp cận với EM dưới nhiều hình thức: 9 hôi nghị - hội chợ quốc tế về EM ñã diễn ra với sự tham gia
Trang 34của hàng ngàn nhà khoa học khắp năm châu, giới thiệu hàng trăm chế phẩm
EM, hàng ngàn sản phẩm EM Thành lập nhiều tổ chức nghiên cứu EM (EMRO) và rất nhiều Trung tâm huấn luyện EM quốc tế và quốc gia Ở Nhật
có 48 trung tâm, Thái Lan có trung tâm quốc tế EMẦ Thành lập nhiều Hiệp hôi EM ở các nước, nhiều công ty kinh doanh EMẦ Kể cả những tổ chức quốc
tế như APNAN
Việc tổ chức nghiên cứu sản xuất EM ựược phát triển mạnh
Theo tổ chức APNAN, số lượng sản phẩm EM1 ựược sản xuất năm
2007 trên thế giới khoảng 4000 Ờ 5000 tấn trong ựó các nước đông Bắc Á là
2100 tấn Các nước đông Nam Á là 1400 tấn, Nam Á là 500 tấn, Mỹ Latinh
120 tấn, Châu Phi và Trung đông 230 tấn, Châu Âu 200 tấn
Triều Tiên có trung tâm EM thuộc Viện nghiên cứu quốc tế EM, hàng năm sản xuất 1200 tấn EM1, có 100 xưởng sản xuất EM2 với công suất 500 Ờ
2000 tấn/xưởng/năm, ựã áp dụng EM trên diện tắch 1 triệu ha trồng trọt Trung Quốc có 10 xưởng sản xuất EM1, công suất 1000tấn/năm
EM bao gồm 80 loài VSV kỵ khắ và hiếm khắ ựược lựa chọn từ hơn
2000 loài ựược sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men Chế phẩm EM ra ựời, nhanh chóng ựược tiếp thu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực ở các nươc trên thế giới Các tổ chức nghiên cứu công nghệ
EM gọi tắt là EMRO (Effective Microorganisms Research Organization) ựược hình thành ở nhiều nươc trên thế giới và có quan hệ chặt chẽ với EMRO
ở Nhật Bản (Phạm Văn Ty, Vũ Nguyên Thành, 2006)
Các nghiên cứu, áp dụng công nghệ EM ựã ựạt ựược kết quả một cách rộng rãi trong các lĩnh vực xử lý môi trường, chế biến thức ăn chăn nuôi, sản xuất phân bón vi sinh cho cây trồng Qua các báo cáo khoa học tại các hội nghị quốc tế về công nghệ ựều cho thấy rằng EM có thể gia tăng cân bằng sinh quyển, tăng tắnh ựa dạng của ựất nông nghiệp, làm phong phú thêm các thành phần có trong ựất nhằm nâng cao chất lượng ựất trồng EM giúp cho khả năng sinh trưởng phát triển và chất lượng sản phẩm nông nghiệp lên một
Trang 35tầm cao mới Vì thế các nước trên thế giới ñón nhận EM là một giải pháp ñể ñảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Tháng 10 năm 1989, tại Thái Lan ñã tổ chức hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về Nông nghiệp Thiên nhiên cứu thế và nông nghiệp EM Các nhà khoa học ñã thảo luận về giá trị của công nghệ EM và tăng cường sử dụng nó Nhờ vậy mạng lưới Nông nghiệp Thiên nhiên Châu Á - Thái Bình Dương (APNAN) ñược thành lập, là một tổ chức phi chính phủ với mục ñích thúc ñẩy việc nghiên cứu, phát triển và tiến hành áp dụng thực tiễn các giải pháp công nghệ với Nông nghiệp thiên nhiên gắn với công nghệ VSV hữu hiệu EM (Phạm Kim Hoàn, 2008) Tại hội nghị này có nhiều báo cáo khoa học về nghiên cứu ứng dụng của EM ñối với Nông nghiệp như: Báo cáo của T.Higa
và G.N Wididana - Trường ñại học Ryukyus, Okinawa, Nhật Bản về khái niệm và giả thuyết của EM (Higa, Wididana, 1989) Báo cáo của D.N Lin - Trung tâm nghiên cứu canh tác tự nhiên của Hàn Quốc về hiệu quả của EM ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa (Lin, 1989) Báo cáo của S.Panchaban - Trường ñại học Kon Kaen, Thái Lan về hiệu quả của EM ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất Ngô (Panchaban, 1989)
Hội nghị quốc tế lần thứ 2 tổ chức tại Brazil tháng 10 năm 1991 cũng
ñã có một loạt báo cáo về hiệu quả của EM ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất một số cây trồng như lúa, khoai lang, rau spinach, khoai tây, cải bắp, ớt, ở các nước Nhật Bản, Myanma, Sri Lanka, Hàn Quốc, Brazin (Phạm Thị Kim Hoàn, 2008)
Hội nghị quốc tế lần thứ 3 vào năm 1993, lần thứ 4 vào năm 1995, lần thứ 5 vào năm 1997, lần thứ 6 vào năm 1999 và lần thứ 7 vào năm 2002 Nhiều nghiên cứu mới về EM và những ứng dụng của EM trên khắp thế giới
ñã ñược công bố ở các hội nghị như nghiên cứu về tác dụng của EM tới sức nảy mầm của hạt giống; ảnh hưởng của EM tới ñất; hiệu quả của EM ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số cây trồng như ngô, ñậu, ñậu tương,
Trang 36cà chua, dưa chuột, bí, khoai tây, rau các loại, chuối, ; hiệu quả của EM ñến
rễ cây trồng và ñất; tác dụng của EM ñối với nghề trồng hoa; EM trong quản
lý sậu bệnh tổng hợp Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác ngoài cây trồng như hiệu quả của EM trong nuôi trồng thủy sản; trong xử lý chất thải; nước thải; EM với bê tông, ðặc biệt trong y học ñã có 2 hội nghị quốc tế lớn chuyên thảo luận về EM với y học Hội nghị thứ nhất vào năm 2001, hội nghị lần thứ 2 vào năm 2003 tại Nhật Bản, nhiều công trình khoa học ñã ñược công
bố khẳng ñịnh tác dụng của EM ñối với y học và con người
Nhờ những kết quả nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả, công nghệ EM
ñã ñược triển khai ở hơn 150 quốc gia và ñang ñược sản xuất ở trên 50 nước Các nước trên thế giới ñã ñón nhận EM như một giải pháp ñể ñảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường (Apnan news, 2007) Nhiều nhà máy, xưởng sản xuất EM ñã ñược xây dựng ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng năm ñã sản xuất ñược hàng ngàn tấn EM như: Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan (hơn 1000 tấn/năm), Myanmar, Nhật Bản, Brazil (1200 tấn/năm), Srilanca, Nepal, Indonesia (50 – 60 tấn/ năm)
- Tình hình ứng dụng công nghệ EM trên thế giới
Theo Ahmad R.T và ctv (1993), sử dụng EM cho các cây trồng như lúa, lúa mì, bông, ngô và rau ở Pakistan làm tăng năng suất các cây trồng Năng suất lúa tăng 9,5%, bông tăng 27,7% ðặc biệt, bón kết hợp EM-2 và EM-4 cho cây ngô làm tăng năng suất lên rõ rệt Bón EM-4 cho lúa, mía và rau ñã làm tăng hàm lượng chất dễ tiêu ở trong ñất Hàm lượng ñạm dễ tiêu tăng 2,2% khi bón kết hợp NPK + EM - 4 (Zacharia P.P, 1993)
Năm 1996, tác giả Milagrosa S.P và E.T Balaki cho rằng: Bón riêng biệt Bokashi (2000 kg/ha) hoặc sử dụng dung dịch EM gốc với nồng ñộ 0,2%
cho cây khoai tây sẽ hạn chế ñược bệnh héo xanh vi khuẩn pseudomonas solanacearum Năng suất khoai tây ở trường hợp bón Bokashi cao hơn so với
bón riêng dung dịch EM gốc Bón kết hợp Bokashi và dung dịch EM gốc làm
Trang 37tăng kích cỡ củ so với bón phân NPK + phân gà Tác giả cho rằng: Việc tăng kích cỡ củ và tăng năng suất là do Bokashi và dung dịch EM gốc có hiệu lực trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trong suốt các thời kỳ sinh trưởng, phát triển
Rochayat Y và cs (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón Bokashi, phân lân ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây ñã ñưa ra kết luận: Bón 20 tấn Bokashi/ha ñã làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất củ một cách rõ rệt
Năm 2002, Susan Carrodus cho rằng: Bokashi ñã có ảnh hưởng tích cực ñến sinh trưởng, làm tăng hàm lượng diệp lục của bắp cải và cải củ, làm tăng số rễ, thúc ñẩy sự hoạt ñộng của bộ rễ Tác giả phân tích rằng: Kết quả trên có ñược là do sự cung cấp chất dinh dưỡng liên tục cho cây từ Bokashi, còn EM có chứa các phyto hoóc môn hoặc các hoạt chất sinh học khác làm trì hoãn sự già hóa của cây
Theo Sopit V (2006), ở vùng ñông bắc Thái Lan, bón riêng Bokashi cho ngô ngọt, năng suất tăng 16% so với ñối chứng, thấp hơn nhiều so với bón NPK (15:15:15), nhưng giá phân NPK ñắt gấp 10 lần so với Bokashi Hơn nữa, giá phân hóa học cao và lợi ích trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ cho người nông dân, ñặc biệt ñối với người nông dân nghèo
2.6.2.2 Ở Việt Nam
- Tình hình nghiên cứu chế phẩm EMINA
Từ năm 1998 – 2000, ñề tài ñộc lập cấp Nhà nước về “Nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ EMINA trong các lĩnh vực nông nghiệp và vệ sinh môi trường” do Trường ðại học Nông nghiệp I Hà Nội triển khai ñã ñược Bộ Khoa học công nghệ và môi trường quyết ñịnh cho thực hiện ðề tài
ñã ñánh giá ñộ an toàn của chế phẩm EMINA, xác ñịnh thành phần, biến ñộng
số lượng, ñặc tính của chế phẩm EMINA, hiệu quả của EMINA trong xử lý rác thải, vệ sinh môi trường, trong trồng trọt và chăn nuôi LV nguyebathiep
Trang 38Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chế phẩm VSV ñược tiến hành từ những năm ñầu của thập niên 60 ñến sau những năm 80 mới ñược ñưa vào các chương trình khoa học cấp Nhà nước như: “Sinh học phục vụ nông nghiệp” giai ñoạn 1982 – 1990; chương trình “Công nghệ sinh học” KC.08 giai ñoạn 1991 – 1995; chương trình “Công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người” KHCN.02 giai ñoạn 1996 – 2000, chương trình “Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh học” giai ñoạn sau 2001 Ngoài các chương trình Quốc gia, nhiều Bộ, Nghành cũng triển khai nhiều ñề tài, dự án về vấn
ñề này (Nguyễn Xuân Thành, 2003)
Công nghệ EM ñược biết ñến từ năm 1994 – 1995 ở Cần Thơ, Hải Phòng, Năm 1997, một số cơ quan nghiên cứu và ñịa phương như Viện Bảo vệ thực vật, trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, ðại học Quốc gia
Hà Nội, tỉnh Thái Bình, thành phố Hà Nội, ñã tiến hành thử nghiệm thăm dò bước ñầu chế phẩm EMINA trên một số lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, vệ sinh môi trường ñã thấy ñược hiệu quả tích cự của công nghệ EMINA Năm
1998, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ñã quyết ñịnh thực hiện ñề tài ñộc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ EMINA trong các lĩnh vực nông nghiệp và vệ sinh môi trường” từ năm 1998 – 2000 do GS.TS Nguyễn Quang Thạch làm chủ nhiệm ðề tài ñã ñánh giá ñộ an toàn của chế phẩm EMINA, xác ñịnh thành phần biến ñộng số lượng và ñặc tính của chế phẩm EMINA, hiệu quả của EMINA trong xử lý rác thải, vệ sinh môi trường, trong trồng trọt và chăn nuôi Từ ñó ñến nay ñã có nhiều nghiên cứu ứng dụng công nghệ EMINA ở nhiều Viện, Trung tâm, các tỉnh thành nhất là trong lĩnh vực môi trường
Trên cây lúa, sử dụng chế phẩm EM-5, EM-FPE riêng rẽ hay phun xen
kẽ EM-5 và EM-FPE trên lúa 3 lần/vụ có tác dụng hạn chế sự gia tăng bệnh bạc lá và khô vằn; Sử dụng EMINA có tác dụng rút ngắn thời gian sinh
Trang 39trưởng từ 5 – 13 ngày, tăng năng suất từ 29 – 49 tạ/ha so với ñối chứng và hạn chế ñược sâu bệnh, ñặc biệt là bệnh vàng lá; Sử dụng EM ở dạng Bokashi hoặc EM thứ cấp ñều có tác dụng xúc tiến sinh trưởng, phát triển của lúa giống CR203, rút ngắn thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân ñược 7 – 9 ngày,
vụ Mùa là 4 – 5 ngày Sử dụng Bokashi kết hợp với phun EM thứ cấp có thể giảm 30% lượng phân bón vô cơ cho cây lúa
Trên cây ngô, phun EMINA làm ngô trỗ cờ tập trung hơn so với ñối chứng Bón Bokashi kết hợp phun EMINA thứ cấp có ảnh hưởng tốt ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt
Trên cây ñậu tương, sử dụng EMINA ở dạng phun hay dạng bón trên ñất thiếu ẩm làm tăng tỉ lệ nảy mầm của hạt, tăng hàm lượng diệp lục và hạn chế bệnh lở cổ rễ
- Chế phẩm EMINA và khả năng ứng dụng
Dựa trên nguyên tắc hoạt ñộng và phối chế của chế phẩm EMINA, một
số cơ quan ở Việt Nam ñã sản xuất ra các dạng EMINA của Việt Nam như: EMUNI của trường ðại học khoa học tự nhiên, EMINA của viện Sinh học Nông nghiệp – ðại học Nông nghiệp Hà Nội Trong ñó chế phẩm EMINA ñã ñược thử nghiệm và ứng dụng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp môi trường Chế phẩm có chất lượng tương ñương với chế phẩm EM nhập nội nhưng giảm ñược 1/3 giá thành sản xuất Vì thế chế phẩm EMINA ñã ñược sử dụng rộng rãi ở thị trường trong nước với nguồn tiêu thụ hàng nghìn lít một năm (Phạm Thị Kim Hoàn, 2008)
Công nghệ EMINA ñược biết ñến vào cuối những năm 1996 và ñã ñược thử nghiệm tại một số ñịa phương Ở Thái Bình, khi xử lý EMINA cho hạt cải bắp, thóc giống cho thấy tỷ lệ nảy mầm cao hơn, cây con sống khoẻ hơn và có tốc ñộ sinh trưởng, phát triển nhanh hơn Khi phun EMINA cho rau muống, năng suất tăng 21-25%, phun cho ñậu tương, năng suất tăng 15-20 % Tại Hải Phòng ñã xử lý EMINA cho các loại cây ăn quả: vải, cam, quýt… làm
Trang 40cho cây phát triển mạnh hơn, quả to, chín sớm, vỏ ñẹp hơn và năng suất tăng
từ 10-15 % Tại trường ðH Nông nghiệp I, xử lý EMINA cho lúa làm năng suất tăng 8-15 % và không bị bệnh khô vằn lá Nhóm nghiên cứu của Th.S ðỗ Hải Lan (khoa Sinh - Hoá, ðH Tây Bắc) cho biết có thể xử lý EM 1% với cây lan Hồ ðiệp Tím Nhung khi vừa ñưa ra khỏi phòng nuôi cấy mô ñể tăng cường khả năng thích nghi của cây với ñiều kiện ngoại cảnh mới Cũng có thể
xử lý EMINA ở giai ñoạn cây còn non ñể kích thích sự sinh trưởng sinh dưỡng, tạo ñiều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của cây lan ở giai ñoạn sau Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản 3 (Bộ Thuỷ sản) ñã ứng dụng thành công EMINA trong xử lý hồ nuôi tôm sú ở Việt Nam Chế phẩm EMINA cho tổng
số nhóm vi sinh vật có lợi trong hồ luôn cao hơn so với nhóm vi sinh vật không có lợi từ 2 - 7 lần, chỉ số N-NH3 ở mức thấp (dưới 0,02mg/l), các chỉ
số môi trường như pH và màu tảo ổn ñịnh trong thời gian dài
EMINA (Effective Microogarnism Institute of Agrobiology) là chế phẩm probiotic của Viện sinh học Nông nghiệp thuộc Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội EMINA bao gồm các chủng vi sinh vật hữu hiệu (EM) thuộc các nhóm vi khuẩn Lactic, Bacillus, vi khuẩn quang hợp tía không lưu huỳnh
và nấm men Các chủng vi sinh vật ñược phân lập từ các mẫu ñất, nước lấy từ nguồn tự nhiên trong nước, hoàn toàn không gây ñộc với con người và vật nuôi, ñảm bảo chất lượng cho chế phẩm (Lương ðức Phẩm, 2007)