Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống BC15...64... Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến các yếu tố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG UYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG ðẠM BÓN VÀ MẬT
ðỘ CẤY ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT LÚA GIỐNG BC15 TẠI HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của tôi, Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ công trình nào trước ñây
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên thuộc Bộ môn canh tác học, Khoa nông học, ñã tạo ñiều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành ñề tài này,
Qua ñây, tôi cũng xin ñược gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa nông học cùng tập thể các thầy cô giáo trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã dìu dắt, truyền ñạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường,
Cuối cùng Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn ñến toàn thể gia ñình, bạn bè
ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu,
Do thời gian và ñiều kiện có hạn nên luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô và bạn bè cùng ñóng góp ý kiến ñể bản luận văn ñược hoàn thiện hơn,
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Uyên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HèNH ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
I PHẦN MỞ ðẦU 1
1.1 Tớnh cấp thiết của ủề tài 1
1.2 Mục ủớch và yờu cầu 2
1.2.1 Mục ủớch 2
1.2.2 Yờu cầu 2
1.3 í nghĩa khoa học và thực tiễn của ủề tài 2
1.3.1 í nghĩa khoa học 2
1.3.2 í nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tỡnh hỡnh sản xuất lỳa gạo trờn thế giới và Việt Nam 3
2.1.1 Tỡnh hỡnh sản xuất lỳa gạo trờn thế giới 3
2.1.2 Tỡnh hỡnh sản xuất lỳa gạo ở Việt Nam 5
2.3 Kết quả nghiờn cứu về phõn bún cho lỳa trờn thế giới và Việt Nam 8
2.3.1 Kết quả nghiờn cứu về phõn bún cho lỳa trờn thế giới 8
2.3.2 Những kết quả nghiờn cứu về phõn bún cho lỳa ở Việt Nam 11
2.4 Những nghiên cứu và kết quả đạt đ−ợc về phân bón cho lúa 18
2.4.1 Tầm quan trọng của phân bón đối với cây lúa 18
2.4.2 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với lúa 19
2.4.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy 22
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 31
3.1 Vật liệu và ủịa ủiểm nghiờn cứu 31
Trang 53.1.1 Vật liệu nghiên cứu 31
3.1.2 ðịa ñiểm nghiên cứu 31
3.2 Nội dung nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 31
3.2.1 Nội dung các công thức 32
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 32
3.2.3 Các biện pháp kỹ thuật 33
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 34
3.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng: 34
3.3.2 Chỉ tiêu sinh lý 34
3.3.3 Các chỉ tiêu về sâu, bệnh hại 34
3.3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 36
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 36
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến thời gian sinh trưởng của giống BC 15 37
4.2 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến chiều cao cây của giống BC15 38
4.2.1 Ảnh hưởng của mật ñộ ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây 39
4.2.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
cao cây 40
4.2.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây của giống BC15 41
4.3 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái ñẻ nhánh của giống BC15 43
4.3.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến ñộng thái ñẻ nhánh của giống BC15 44
4.3.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến ñộng thái ñẻ nhánh của giống BC15 45
Trang 64.3.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến ñộng thái
ñẻ nhánh của giống BC15 46
4.3.4 Ảnh hưởng của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến hệ số ñẻ nhánh và
hệ số ñẻ nhánh hữu hiệu của giống BC15 48
4.4 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái ra lá 50
4.5 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến chỉ số diện tích
lá (LAI) của giống BC15 52
4.5.1 Ảnh hưởng của mật ñộ ñến chỉ số diện tích lá 53
4.5.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến chỉ số diện tích lá 53
4.5.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến chỉ số diện tích lá (LAI) 55
4.6 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến lượng chất khô tích luỹ của giống BC15 56
4.6.1 Ảnh hưởng của mật ñộ ñến lượng chất khô tích luỹ 56
4.6.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến lượng chất khô tích luỹ của giống BC15 57
4.6.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến lượng chất khô tích luỹ 58
4.7 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến khả năng chống chịu sâu bệnh 60
4.8 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lương ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống BC15 63
4.8.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống BC15 63
4.8.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống BC15 64
4.8.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống BC15 64
Trang 74.9 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến năng suất và hệ
số kinh tế của giống BC15 67
4.9.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến năng suất và hệ số kinh tế của giống BC15 67
4.9.2 Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến năng suất và hệ số kinh tế của giống BC15 67
4.9.3 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến năng suất sinh vật học (g/khóm) và hệ số kinh tế của giống BC15 68
4.9.4 Hiệu xuất sử dụng ñạm 70
5, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 ðề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 77
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới 2004 – 2008 3
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số nước trên thế giới năm 2008 4
Bảng 2.3 Các quốc gia nhập khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới năm 2004 - 2007 4
Bảng 2.4 Các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới năm 2004 - 2007 5
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam năm 1999 - 2008 7
Bảng 2.6 Một số quốc gia nhập khẩu gạo của Việt Nam năm 2007 8
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến thời gian sinh trưởng của giống BC 15 37
Bảng 4.2a Ảnh hưởng của mật ñộ ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) 39
Bảng 4.2b Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) 40
Bảng 4.2c Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây của giống BC15 (cm) 42
Bảng 4.3a Ảnh hưởng của mật ñộ ñến ñộng thái ñẻ nhánh (nhánh/khóm) 44
Bảng 4.3b Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến ñộng thái ñẻ nhánh (nhánh/khóm) 45
Bảng 4.3c Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái ñẻ nhánh của giống BC15 (nhánh/khóm) 46
Bảng 4.3d Ảnh hưởng của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến hệ số ñẻ nhánh và hệ số ñẻ nhánh hữu hiệu của giống BC15 48
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái
ra lá 51
Bảng 4.5a Ảnh hưởng của mật ñộ ñến chỉ số diện tích lá của giống BC15 (m2 lá/m2 ñất) 53
Bảng 4.5b Ảnh hưởng của lượng ñạm ñến chỉ số diện tích lá của giống BC15 (m2 lá/m2 ñất) 54
Trang 9Bảng 4.5c Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm ñến chỉ số diện tích lá
của giống BC15 (m2 lá/m2 ñất) 55
Bảng 4.6a Ảnh hưởng của mật ñộ ñến lượng chất khô tích luỹ của giống BC15 (g/m2) 56
Bảng 4.6b Ảnh hưởng của lượng ñạm ñến lượng chất khô tích luỹ của giống BC15 (g/m2) 57
Bảng 4.6c Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến lượng chất khô tích luỹ 58
Bảng 4.7 Khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh hại chính 61
Bảng 4.8a Ảnh hưởng của mật ñộ ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống BC15 63
Bảng 4.8b Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống BC15 64
Bảng 4.8c Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa BC15 65
Bảng 4.9a Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến năng suất và hệ số kinh tế 67
Bảng 4.9b Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến năng suất và hệ số kinh tế 67
Bảng 4.9c Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến năng suất và hệ số kinh tế 68
Bảng 4.10 Hiệu suất sử dụng ñạm 70
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến ñộng thái tăng
trưởng chiều cao cây 42
Hình 4.2 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ cấy và lượng ñạm bón ñến
ñộng thái ñẻ nhánh của lúa BC15 47
Hình 4.3 Ảnh hưởng của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến ñộng thái ra lá của
giống BC15 51
Hình 4.4 Ảnh hưởng tương tác của mật ñộ và lượng ñạm bón ñến lượng
chất khô tích lũy qua các thời kỳ của BC15 59
Trang 11NSLT : Năng suất lý thuyết
NSSVH : Năng suất sinh vật học
NSTT : Năng suất thực thu
TB : Trung bình
TG : Thời gian
TSC : Tuần sau cấy
Trang 12I PHẦN MỞ ðẦU 1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây lúa (Oryza sativa L,) là lương thực quan trọng trong hệ thống nông
nghiệp của Việt Nam, lúa ñược canh tác ở khắp các vùng trong cả nước vừa ñảm an ninh lương thực vừa cung ứng nguồn hàng cho xuất khẩu, Khối lượng gạo xuất khẩu tăng lên theo các năm, riêng năm 2008 ñạt 4,742 nghìn tấn với giá trị xuất khẩu 2,894,441 nghìn USD [38]
Dân số nước ta hiện nay là 85,8 triệu người, trong khi diện tích ñất trồng lúa ñang giảm ñi nhanh chóng: 2001 – 2006 trung bình giảm 41 nghìn ha/năm [23], Trước thực tế ñó, vấn ñề ñặt ra là phải có những giải pháp ñể ñảm bảo sản lượng lương thực như chọn tạo giống mới, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất mới…
Công tác nghiên cứu chọn tạo các giống lúa mới luôn ñược các nhà khoa học chú trọng, Mỗi năm, nhiều giống lúa mới, ñặc biệt là các giống lúa thuần chất lượng cao, ñã ñược khảo nghiệm, công nhận giống quốc gia và mở rộng sản xuất ở các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước, làm năng suất lúa
ñã tăng lên ñáng kể, Tuy nhiên, năng suất ñó chưa tương xứng với tiềm năng năng suất của các giống lúa, Một trong những nguyên nhân là do bón phân chưa cân ñối dẫn ñến các chất dinh dưỡng trong ñất không ñáp ứng ñược yêu cầu dinh dưỡng cho cây, Mặt khác, nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa phụ thuộc vào giống và các ñiều kiện sinh thái nên lượng phân bón cần ñược xác ñịnh ñể
sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất
ðể góp phần nâng cao hiệu quả trồng lúa tại Huyện Thanh Liêm- Hà Nam tôi nhận thấy, lượng bón và mật ñộ cấy là 2 yếu tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng ñến năng suất
Trang 13Xuất phát từ những phân tích trên, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng ñạm bón và mật ñộ cấy ñến sinh
trưởng, phát triển và năng suất lúa giống BC15 tại huyên Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng ñạm bón và mật ñộ cấy ñến các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất của giống BC 15
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu ñề tài là cơ sở của phương pháp luận trong nghiên cứu kỹ thuật thâm canh lúa tại ñịa phương ñể nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, giảm ô nhiễm môi trường ñất, nâng cao thu nhập cho nông dân
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài ñề xuất lượng ñạm bón và mật ñộ cấy cho giống lúa thuần BC15
Trang 14PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của thế giới trong những năm gần ñây ñều tăng qua các năm, Hiện nay, diện tích trồng lúa của toàn thế giới vào khoảng 158 triệu ha, năng suất trung bình 4,3 tấn/ha và sản lượng ñạt 685 triệu tấn (Bảng 2,1), Quốc gia có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới là Ấn ðộ: 44 triệu ha, sản lượng ñạt 607,9 triệu tấn; tiếp sau là Trung Quốc: 29 triệu ha, sản lượng ñạt 193,3 triệu tấn và Thái Lan: khoảng
10 triệu ha, ñạt sản lượng 30,5 triệu tấn, Việt Nam có diện tích trồng lúa ñứng thứ 4: 7,4 triệu ha và sản lượng ñứng thứ 3 trên thế giới: 38,7 triệu tấn năm 2008, Ai Cập là quốc gia có năng suất lúa trung bình cao nhất thế giới ñạt 9,7 tấn/ha (bảng 2,2),
Philippin và Indonesia là hai quốc gia nhập khẩu gạo nhiều nhất thế giới năm 2007 (tương ứng là 1,9 triệu tấn và 1,0 triệu tấn), một số quốc gia khác nhập khẩu trên 0,5 triệu tấn là: Nam phi, Iran, Saudi Arabia, Iraq, Malaysia, Mỹ và Trung Quốc (bảng 2,3), Ấn ðộ, Thái Lan và Việt Nam là các quốc gia xuất khẩu gạo hàng ñầu thế giới, Năm 2007, Ấn ðộ xuất khẩu ñạt 7,4 triệu tấn, Thái Lan ñạt 6,1 triệu tấn và Việt Nam xuất khẩu ñạt hơn 4,5 triệu tấn (bảng 2.4)
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới 2004 – 2008
Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 15Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số nước
trên thế giới năm 2008
Tên quốc gia Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 16Bảng 2.4 Các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới
năm 2004 - 2007
Số lượng (tấn) Tên nước
Thái Lan 8,616,853 6,043,554 5,996,424 7,408,299
Việt Nam 4,063,000 5,250,000 4,642,000 4,558,000 Pakistan 1,822,739 2,891,389 3,688,742 2,994,571
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Sản xuất lúa trong 5 năm ñầu thế kỷ 21 của Việt Nam ñạt ñược thành tựu khá ấn tượng: năng suất và sản lượng tăng trong khi diện tích lúa giảm cho những sản xuất lợi hơn, Năm 1999, có diện tích gieo trồng lúa lớn hơn năm 2005 là 0,8 triệu ha (7,6 và 6,8 triệu ha) nhưng năng suất thấp hơn 0,9 tấn/ha (4,1 và 5 tấn thóc/ha) nên sản lượng thấp hơn 4,4 triệu tấn (31,4 và 35,8 triệu tấn) [30]
Giai ñoạn từ 2001 – 2005, lúa Việt Nam không chỉ tăng năng suất và sản lượng mà còn có nhiều tiến bộ về chất lượng sản phẩm gạo ñể ñáp ứng tốt
Trang 17hơn yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu, Xu hướng tăng năng suất bằng mọi giá ựã dần dần chuyển sang tăng chất lượng và hiệu quả ựể tăng giá trị thu nhập trên từng ựơn vị diện tắch, Các tỉnh ựồng bằng sông Cửu Long ựã chú trọng tăng diện tắch lúa hàng hoá chất lượng phục vụ xuất khẩu, một số tỉnh có diện tắch lúa chất lượng cao năm 2005 như An Giang trên 90%, Tiền Giang trên 70%, đồng Tháp trên 60%,,, Các tỉnh vùng ựồng bằng sông Hồng ựã bước ựầu hình thành những vùng sản xuất lúa ựặc sản Tám thơm, Dự hương, nếp cái Hoa vàng vùng Nam định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải DươngẦ [5]
Nhìn chung, vùng ựồng bằng sông Hồng có năng suất lúa qua các năm cao hơn các vùng trồng lúa khác trong cả nước, năm 2008 năng suất là 58,8 tạ/ha, ựồng bằng sông Cửu Long 53,6 tạ/ha, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 50,5 ta/ha, Tây Nguyên 44,3 tạ/ha, trung du miền núi phắa Bắc 43,3 tạ/ha và đông Nam Bộ 42,5 tạ/ha [39]
Sản lượng và năng suất lúa của nước ta liên tục tăng lên qua các năm: năm 1999: sản lượng là 31,4 triệu tấn và năng suất 41,0 tạ/ha ựến năm 2008 sản lượng ựạt 38,7 triệu tấn và năng suất là 52,2 tạ/ha (bảng 2,5) [39]
Xuất khẩu gạo tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng và giá cả, Lượng gạo xuất khẩu 2001 là 3,7 triệu tấn, năm 2002 là 3,2 triệu tấn, năm 2003 là 3,8 triệu tấn, năm 2004 là 4,1 triệu tấn, Năm 2005, lần ựầu tiên nước ta xuất khẩu ựạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho ựất nước hơn 1,34 tỷ USD, giá gạo bình quân ựạt 267 USD/tấn, ựây là mức cao nhất ựạt ựược trên cả 3 chỉ tiêu lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu từ khi Việt Nam chắnh thức tham gia thị trường gạo thế giới, So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn, kim ngạch tăng trên 400 triệu USD và giá cả tăng 48 USD/tấn, đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo, giữ vững vị trắ thứ 2 về xuất khẩu gạo, sau
Ấn độ, Thị trường xuất khẩu gạo tiếp tục mở rộng nhờ chất lượng gạo xuất khẩu có nhiều tiến bộ hơn các năm trước, Năm 2005, gạo Việt Nam ựã xâm
Trang 18nhập ñược vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản,
EU, Hoa Kỳ, Tại Thị Trường Nhật Bản, năm 2005, Việt Nam ñã xuất khẩu vào thị trường này 90,000 tấn gạo thơm, tăng 60% so với năm trước, có ñược kết quả ñó là do chất lượng gạo nước ta ñã ñạt tiêu chuẩn nhập khẩu vào Nhật Bản với 579 tiêu chuẩn khắt khe thay cho 250 tiêu chuẩn trước ñây [5], Năm
2006 – 2007, lượng gạo xuất khẩu giảm hơn: năm 2006: 4642 nghìn tấn, năm 2007: 4580 nghìn tấn và năm 2008 là 4742 nghìn tấn, xuất khẩu ñứng hàng thứ 3 trên thế giới [37], [38], Các nước nhập khẩu gạo của nước ta với số lượng lớn năm 2007 là Philippin: 1,46 triệu tấn, Indonesia: 1,17 triệu tấn,
Cuba: 0,47 triệu tấn và Malaixia: 0,37 triệu tấn (bảng 2,6) [38]
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
năm 1999 - 2008
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Trang 19Bảng 2.6 Một số quốc gia nhập khẩu gạo của Việt Nam năm 2007
Tên nước Số lượng nhập khẩu (tấn) Trị giá(1000 USD)
(Nguồn: xuất nhập khẩu hàng hoá 2007)
2.3 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa trên thế giới
Lúa là cây lương thực quan trọng ở Pakistan, thí nghiệm trên ñồng ruộng của người nông dân 2005 – 2007 cho thấy: trên nền (85 kg P2O5 + 62
K2O)/ha, các mức ñạm bón khác nhau ñã ảnh hưởng ñáng kể ñến năng suất lúa thuần, Năng suất lúa cao nhất ñạt ñược ở mức bón ñạm 85 kgN/ha: 4,02 tấn/ha, Mức bón 115 kgN/ha cho năng suất lúa thấp hơn: 3,88 tấn/ha, Năng suất lúa giảm khi lượng ñạm bón nhiều hơn 115 kgN/ha và ít hơn 85 kgN/ha [51]
Theo kết quả nghiên cứu của Bali A, S, trong 3 năm 2001, 2002 and
2003 thì giống lúa lai KHR 2 ñược bón (150 kg N + 80 kg P2O5 + 60 kg K2O)
Trang 20cho năng suất cao nhất 6,26 tấn/ha trên loại ñất pha cát ở Jammu [42], Còn theo kết quả nghiên cứu của Lal Meena Samth & cộng sự năm 2003 thì với mức bón 200 kgN/ha và 62,3 kg K2O làm tăng ñáng kể số nhánh, tích lũy chất khô, năng suất sinh vật học và năng suất hạt của lúa lai [46], Bón ñạm làm cho năng suất giống lúa lai XL723 cao hơn lúa thuần 17 – 20% [52]
Năng suất của bất kỳ cây trồng nào cũng là kết quả của hoạt ñộng quang hợp và lượng dinh dưỡng hấp thu, Kết quả nghiên cứu về lúa lai tại Ấn
ðộ năm 2000 trên nền phân bón (120N + 60 P2O5 + 45 K2O) cho thấy: Giống TNRH 16 có lượng chất khô tích lũy cao nhất (1164 g/m2), năng suất hạt
6470 kg/ha và ưu thế lai 28%, thấp hơn là giống DRRH 1 tương ứng là 1089 g/m2, 5750 và 19,5%, Lượng chất khô tích lũy ở các bộ phận trên cây là khác nhau: 14,35% ở rễ, 9,34% ở lá, 31,2% ở thân và 45% ở bông, Giống TNRH
16 hấp thu ñược lượng dinh dưỡng ñạm, lân, kali cao nhất tương ứng là: 144,
21 , 126 kg/ha, còn giống DNRH 1 hấp thu ñược ít hơn tương ứng là 134, 20,
97 kg/ha, ðể tạo ra 100 kg hạt cần 1,7 - 2,4 kgN, 0,27 – 0,34 kg P2O5 và 1,0 – 2,1 kg K2O [45]
M, Suganthi, P, Subbian và S, Marimuthu (2003), trường ðại học nông nghiệp Tamil nadu, Ấn ðộ cho biết: ðối với giống lúa lai ADTRH 1, năng suất hạt tăng dần khi bón ñạm với lượng 0 – 150kg/ha và không có sự khác biệt về năng suất lúa ở mức bón ñạm 150 và 200 kgN/ha [48]
Thí nghiệm khác của M,P, Kavitha và Balasubramania năm 1999 –
2001 về ảnh hưởng của phân hữu cơ, ñạm trên hai giống lúa lai ADTRH 1 và CORH 2 cho thấy: Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất ở cả hai mức bón ñạm 150 và 200 kgN/ha và lượng bón phân hữu cơ 10 tấn/ ha và 200 kgN/ha cho năng suất lúa lai cao nhất [49]
Tại Viện nghiên cứu lúa Hyderabad của Ấn ðộ, Thí nghiệm của các tác giả S,V, Subbaiah, R,M, Kumar và S,P, Sing nghiên cứu ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng và vai trò của NPK ñối với lúa lai từ năm 1999 – 2001 ñã
Trang 21cho kết quả như sau: với giống lúa lai ProAgro, năng suất lúa giảm khi mức ñạm bón vượt quá 150 kg/ha, Các tác giả khi bón ñạm và lân trên nền 50 kg
K2O/ha trong 24 ñiểm nghiên cứu ñã xác ñịnh ñược mức phân bón tối ưu cho mỗi ha là 120kg N + 60kg P2O5
Còn khi thay ñổi lượng ñạm và kali bón trên nền lân cố ñịnh (60 kg/ha) thì cứ tăng 1 kg K2O hiệu quả tăng 1 kg hạt (mức bón 90 kg K2O/ha), Kali có vai trò quan trọng ñối với năng suất lúa trong nền bón ñạm thấp (90kg N/ha), Tổng hợp kết quả nghiên cứu của 24 ñiểm khác nhau, các tác giả ñưa ra kết luận mức bón 120N + 60 P2O5 + 40K2O là tốt nhất cho lúa lai [41]
Theo M, Narayana, K, Surekha, Viện nghiên lúa Ấn ðộ (200) thì sự hút ñạm và sử dụng ñạm trong sản xuất lúa phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ hút ñạm/ vận chuyển ñạm/ ñồng hoá và phân phối ñạm trong cây lúa, Sự biểu hiện của quá trình này khác nhau ở các giống lúa khác nhau, Thí nghiệm ñược tiến hành năm 2000 và 2001 ở 4 ñiểm khác nhau với 4 mức bón ñạm: không bón, bón 50%, 100%, 150% so với mức khuyến cáo cho hai giống lúa lai (PHB 71, KRH 2) và giống lúa thuần, Kết quả cho thấy: năng suất của các giống theo mức tăng phân ñạm là 5,3 – 6,7 tấn/ha vượt ñối chứng 2,3 – 3,9 tấn/ha, Nhưng ở một trong 4 ñiểm thí nghiệm, năng suất chỉ ñạt 4,2 tấn/ha khi mức bón trên 100%, Ở hầu hết các ñiểm năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần 9 – 18%, chỉ có 1 ñiểm năng suất lúa thuần cao hơn, Giống lai PHB 71 cho biểu hiện cao nhất về hiệu quả sử dụng ñạm, hiệu quả sinh lý, chỉ số thu hoạch, Các giống lai có chỉ số diện tích lá, tổng số hạt/bông, số hạt chắc/bông cao hơn lúa thuần, Như vậy, năng suất hạt cao do hiệu quả sử dụng ñạm và có thay ñổi ở các ñiều kiện sinh thái khác nhau
Lúa lai cần lượng kali bón khoảng 50 – 60 kg/ha, khi bón kali 50% lúc ñẻ nhánh và 50% bón khi phân hoá ñòng, năng suất lúa lai tăng 12 – 30% so với lúa thuần và năng suất tăng 9% so với bón 100% kali vào lúc
ñẻ nhánh [15]
Trang 22Tại Bangladesh, M, Sirajul Islam, M,A, Jabbar và cộng sự Viện nghiên cứu lúa Bangladesh ñã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón và chế ñộ canh tác ñến năng suất lúa lai trên giống Dhan 1 tại vùng Gazipur vào mùa khô năm 2000 và 2001 thu ñược kết quả là: với khoảng cách cấy 25 x 20 (20 khóm/m2) và 20 x 15 (33,34 khóm/m2), tuổi mạ 30 ngày thì cấy 1 dảnh cho năng suất cao nhất, Ở mức bón 120N/ha, lúa ñạt năng suất cao nhất, vượt qua mức ñạm này năng suất lúa không tăng, Năng suất cao nhất thu ñược từ công thức bón ñạm vào giai ñoạn lúa ñẻ nhánh rộ, Riêng với phân kali, các tác giả không thấy có sự khác biệt giữa các công thức bón [41]
Lúa lai có bộ rễ phát triển, khả năng huy ñộng dinh dưỡng từ ñất rất lớn nên ngay trong trường hợp không bón phân, năng suất của lúa lai vẫn cao hơn ñối chứng, Các nhà khoa học Trung Quốc ñã kết luận: Với cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng ñạm và lân thấp hơn lúa thuần: ở mức năng suất 75 tạ/ha, lúa lai hấp thu ñạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu lân thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30%, Với ruộng lúa cao sản thì hấp thu ñạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45%, còn hấp thu lân thì bằng lúa thuần [2]
2.3.2 Những kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa ở Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa thuần ở Việt Nam
Nhu cầu phân bón cho lúa ở ñồng bằng sông Cửu Long ước tính hàng năm khoảng 400,000 tấn N, 180,000 tấn P2O5 và 120,000 tấn K2O, Phần lớn lượng phân trên phải nhập bằng ngoại tệ, chỉ một phần ít ñược sản xuất trong nước, Hiệu quả sử dụng phân bón của nông dân hiện nay vẫn còn ở mức rất thấp, Nếu tính trong cả nước hàng năm lượng phân ñạm bị mất ñi do quá trình bốc hơi, thẩm thấu, rửa trôi,, vào khoảng 1,2 – 1,3 triệu tấn/ tổng số 2 triệu tấn ñược bón vào ñất
Tình hình sử dụng phân bón của nông dân biến ñộng rất lớn theo mùa
vụ, giống lúa trồng, ñiều kiện ñất ñai và trình ñộ canh tác của từng hộ [13],
Trang 23Năng suất lúa phụ thuộc vào mức ñầu tư phân bón tới 36 - 78%, trong ñó ñạm là yếu tố quan trọng trên tất cả các loại ñất, Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng phân ñạm là không quá 40%, nguyên nhân do việc bón ñạm nhiều lần theo liều lượng ñịnh sẵn và thường vượt quá yêu cầu của cây trồng vì nhu cầu ñạm của cây lúa biến ñổi rất lớn theo các vùng, giữa các
vụ và qua các năm [27]
Kết quả ñiều tra 100 hộ dân sản xuất cùng giống lúa Khang dân 18 ở huyện Phú Xuyên và Quốc Oai của Hà Tây cho thấy có sự khác nhau rất lớn
về mức ñộ ñầu tư phân bón thể hiện trong bảng 2,12:
Bảng 2.8: Mức ñộ ñầu tư phân bón của nông dân ở huyện Phú Xuyên và
Quốc Oai của Hà Tây
Chỉ tiêu Giá trị
trung bình
Giá trị lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
ðộ lệch tiêu chuẩn Năng suất (kg/ha) 4,698,23 5,805 3,780 446,19 Phân chuồng (kg/ha) 2,182,26 3,600 900 501,73
Mức ñộ biến ñộng số lượng phân bón giữa các hộ là tương ñối lớn, do
sự nhận thức khác nhau về cung cấp dinh dưỡng cho lúa, Mức ñầu tư phân bón ảnh hưởng ñến năng suất lúa, Kết quả ước lượng các tham số cho biết: ðối với yếu tố ñạm, mô hình phản ánh mối quan hệ tỷ nghịch giữa lượng ñạm
sử dụng với năng suất lúa, như vậy, một số hộ bón ñạm quá liều lượng yêu cầu, thời gian bón ñạm không hợp lý dẫn ñến cháy lá lúa và làm giảm năng suất, ðối với yếu tố lân, mô hình phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa lượng lân sử dụng và năng suất lúa, chứng tỏ khi nông dân tăng số lượng lân thì năng suất tăng, Do ñó, nông dân cần giảm lượng ñạm, tăng lượng lân khi bón cho lúa ñể ñạt năng suất cao hơn [6]
Trang 24Bĩn phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện khá phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí của sản xuất nơng nghiệp, Cây trồng cĩ yêu cầu với các chất dinh dưỡng ở những lượng và tỷ lệ nhất định, thiếu một chất dinh dưỡng nào
đĩ cây sinh trưởng phát triển kém, ngay cả khi cĩ các chất dinh dưỡng khác ở mức dư thừa, Do đĩ cần bĩn phân hợp lý để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất,
Bĩn phân hợp lý là sử dụng phân bĩn thích hợp bĩn cho cây trồng đảm bảo tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, khơng để lại các hậu quả tiêu cực đến nơng sản và mơi trường sinh thái, Bĩn phân hợp lý là thực hiện 5 đúng: Bĩn đúng loại phân; bĩn đúng lúc; bĩn đúng đối tượng; bĩn đúng thời tiết, mùa vụ; bĩn đúng cách [7], [4]
2,3,2,2, Một số kết quả nghiên cứu về phân bĩn cho lúa thuần ở Việt Nam
Màu sắc ở lá thứ hai thời kỳ làm địng cĩ tương quan thuận, chặt với hàm lượng N trong thân lá và với năng suất lúa, do vậy cĩ thể xác định hàm lượng đạm trong thân lá, dự đốn năng suất lúa, tính lượng đạm cần bĩn cho lúa thơng qua thang đo màu sắc lá ở thời kỳ làm địng, Giống lúa Khang dân cấy vụ xuân ở Thái Nguyên muốn đạt năng suất tối đa thì màu sắc lá ở thời kỳ làm địng phải xanh tương đương với thang màu 4, nếu muốn đạt năng suất 55 tạ/ha thì màu sắc lá ở thời kỳ làm địng tối thiểu phải xanh tương đương với thang màu 3,2 lượng đạm cần bĩn là 45,3 kg/ha, Nếu màu sắc lá xanh tương đương với thang màu 3,5 cần bĩn 32,6 kg N/ha và màu 4 thì chỉ cần bĩn 26,8
kg N/ha, trên màu 4 thì khơng cần bĩn đạm thúc địng [26]
Chỉ số diệp lục giúp xác định nhanh tình trạng dinh dưỡng đạm và lượng đạm cẩn bĩn cho lúa trong suốt quá trình sinh trưởng dựa trên sự tương quan giữa hàm lượng đạm với mỗi chỉ số máy đo, ðối với giống lúa Khang dân cấy vụ xuân ở Thái Nguyên bĩn đạm dựa vào chỉ số diệp lục làm năng
Trang 25suất lúa từ 4,21 ñến 5,36 tạ nhưng lượng ñạm bón cho lúa giảm ñáng kể từ 24 – 28,2%, giống lúa này có thể ñạt ñược năng suất 56,92 tạ/ha với lượng ñạm tối ña cần bón vào thời kỳ làm ñòng là 57,9 kg N/ha, chỉ số diệp lục tối ña là 38,2, Năng suất lúa sẽ giảm nếu bón lượng ñạm nhiều hơn 57,9 kg/ha hoặc chỉ số diệp lục trong lá cao hơn 38,2, [27]
Bón phân làm cho năng suất lúa tăng từ 13,9 – 22,5% so với không bón phân [ 7], Mỗi loại phân bón có ảnh hưởng khác nhau ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa, Phân lân có tác ñộng thúc ñẩy tăng trưởng cho lúa ít hơn phân ñạm, Bón tăng lượng lân từ 0 – 60 kg/ha, số bông/m2 và số hạt/ bông tăng lên, tuy nhiên không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các công thức bón lân, Số bông/m2 và số hạt/ bông chỉ tăng lên khi lượng ñạm bón từ 100 –
150 kg/ha, nếu bón nhiều hơn 150 kg N/ha thì năng suất lúa giảm, Cân bằng dinh dưỡng giúp cây lúa có sức chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại [47]
Phân bón là một trong những yếu tố quyết ñịnh năng suất, chất lượng
và giá thành nông sản nói chung, Thâm canh sản xuất lúa cao sản trong nền nông nghiệp bền vững cũng ñòi hỏi phải ñầu tư phân bón sao cho vừa ñạt năng suất cao, ổn ñịnh vừa ñạt hiệu quả kinh tế cao, Các thí nghiệm ngoài ñồng thực hiện trên hai loại ñất: ñất phù sa ñầu nguồn ở Châu Thành, An Giang và ñất phèn nhẹ ở Cờ ðỏ, Cần Thơ nhằm tìm ra công thức phân bón vừa ñạt năng suất lúa cao vừa ñạt lợi nhuận cao nhất, Các nghiệm thức nghiên cứu là tổ hợp của 5 mức phân ñạm (0, 30, 50, 70 và 90 kg N/ha), 4 mức phân lân (0, 30, 50 và 70 kg P2O5/ha) và 4 mức phân kali (0, 30, 50 và 70 kg
K2O/ha) trên nền phân hữu cơ VIDAGRO (0,5 tấn/ha) có thành phần dinh dưỡng: 45% chất hữu cơ, N tổng số 10%, K2O dễ tiêu 3,5%, Năng suất lúa biến ñộng từ 5,77 - 6,05 tấn/ha trên chân ñất phèn nhẹ Cần Thơ với liều lượng phân bón thích hợp cho vụ ñông xuân là từ 80 - 120 kg N/ha, 30 - 50 kg
P2O5/ha, 30 - 50 kg K2O/ha, Các công thức phân bón: 30-50-50 kg N- P2O5
-K2O/ha, 50-50-30 kg N- P2O5 -K2O/ha và 50-30-30 kg N- P2O5 -K2O/ha cùng
Trang 26với phân hữu cơ vừa ñạt năng suất lúa cao vừa ñạt hiệu quả kinh tế cao nhất, Trên chân ñất phù sa ñầu nguồn An Giang năng suất lúa ñạt từ 6,81-7,16 tấn/ha với liều lượng phân bón thích hợp là từ 100-120 kg N/ha, 30-50 kg
P2O5/ha, 30 - 70kg K2O/ha, Các công thức phân bón: 50-30-50 kg N-P2O5
-K2O/ha, 50-50-30kg N-P2O5-K2O/ha, 70-50-50kg N-P2O5-K2O/ha, và
50-50-70 kg N- P2O5-K2O/ha kết hợp với phân hữu cơ vừa cho năng suất lúa cao vừa ñạt lợi nhuận tối ña [53]
Trên ñất 2 vụ lúa ñịa hình vàn vụ xuân 2007 tại Thái Bình và vụ mùa
2007 tại Hưng Yên, bón ñạm dạng viên nén ở các mức 0; 30; 60; 90; 120 kg/ha (nén cùng kali) trên nền phân bón (10 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 +
90 kg K2O)/ha cho giống lúa N46 kết quả thu ñược như sau: khi tăng lượng ñạm bón ñã kéo dài thời gian sinh trưởng, tăng chiều cao cây, tăng số nhánh
và nhánh hữu hiệu/khóm, ñạm viên nén cũng làm tăng chỉ số diện tích lá, tăng
số bông/m2, Tuy nhiên, số hạt trên bông và tỷ lệ hạt chắc chỉ tăng khi lượng bón từ 0 – 90 kg N/ha, còn khi tăng ñến 120 kg N/ha các chỉ tiêu này bắt ñầu giảm, Năng suất thực thu ñạt cao nhất khi bón 90 kg N/ha: 67,2 tạ/ha tại Hưng Yên và 57,2 tạ/ha tại Thái Bình, Và hiệu suất bón ñạm ñạt cao nhất ở mức bón 60 kg N/ha, Bón phân viên nén NK ở các mức bón tiết kiệm phân N hơn bón vãi [24]
Kết quả nghiên cứu xác ñịnh lượng ñạm bón vãi cho lúa thuần N18 tại Tích Giang, Phúc Thọ, Hà Tây năm 2005 cho năng suất thực thu cao nhất là 5,58 tấn/ha ở lượng bón 150 kg N/ha, Hiệu suất bón ñạm ñạt cao nhất là 9,2
kg thóc/kg N ở mức bón 100 kg N/ha trên nền phân (5 tấn phân chuồng + 90
kg P2O5 + 90 kg K2O)/ha với ñất hai vụ lúa, sự khác nhau có ý nghĩa ở ñộ tin cậy P = 95% [22]
Trên ñất phù sa chua, nghèo chất hữu cơ và nghèo dinh dưỡng chuyên lúa tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trong vụ xuân 2008 với giống lúa Xi 23 khi lượng ñạm bón tăng 60 – 150 kg N/ha ñã dẫn tới thời gian sinh trưởng,
Trang 27chiều cao cây, tổng số nhánh và số nhánh hữu hiệu tăng, sự khác nhau có ý nghĩa ở ựộ tin cậy P = 95%, tuy nhiên tỷ lệ nhánh hữu hiệu lại giảm dần khi N bón tăng, Chỉ số diện tắch lá, chất khô tắch luỹ tăng dần theo sự tăng lượng ựạm bón, Khi bón kali tăng, thời gian sinh trưởng ngắn hơn, nhưng số nhánh hữu hiệu lại ựồng biến với lượng kali bón, Kali ảnh hưởng không ựáng kể ựến chiều cao cây cuối cùng của giống Xi 23, chỉ số diện tắch lá tăng, chất khô tắch luỹ tăng có ý nghĩa ở giai ựoạn chắn sáp, Bón 80 Ờ 100 kg K2O có tác dụng tương tự nhau, Công thức bón ựạm và kali hiệu quả nhất cho Xi 23 trên nền (10 tấn phân chuồng + 70 kg P2O5 + 400 kg vôi bột)/ha là: 120 kg N + 80
ọ 100 kg K2O/ha [23]
Kết quả nghiên cứu phản ứng của 5 giống lúa cao sản OMCS 2000,
OM 2718, OM 3419, OM 3238, OM 4872 với phân bón ở ựồng bằng sông Cửu Long cho thấy ựể ựạt năng suất lúa cao nên bón trong vụ hè thu với lượng 60 Ờ 80 kgN/ha, vụ đông Xuân bón 80 Ờ 100 kg N/ha [13]
Kết quả phân tắch thắ nghiệm ảnh hưởng của liều lượng ựạm, lân, kali trên ựất phèn ở tỉnh An Giang ựối với giống AS 996 cho thấy: phân lân và phân kali ảnh hưởng ựến tỷ lệ bạc bụng và hàm lượng amylose của hạt gạo, trong khi phân ựạm có ảnh hưởng ựến tỷ lệ bạc bụng nhưng hàm lượng amylose khác biệt không có ý nghĩa giữa các công thức bón [13]
đối với giống OMCS 2000, phân lân và phân kali ảnh hưởng ựến tỷ lệ gạo trong và hàm lượng amilose của hạt gạo, Liều lượng bón phân ựạm 80 Ờ 100
kg N/ha không ảnh hưởng ựến tỷ lệ gạo trong và hàm lượng amylose, Công thức bón 80N + 60P2O5 + 60K2O, 100N + 90P2O5 + 30K2O, 100N + 60P2O5 + 30K2O
có ưu ựiểm về năng suất, tỷ lệ bạc bụng và hàm lượng amylose [32]
Trên ựất phèn của tỉnh An Giang, kết quả thắ nghiệm bảng 2,9 cho thấy: Trên nền phân bón là 90N + 45 K2O, khi bón tăng lân thì năng suất giống AS
996 tăng và ở mức bón 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất và tỷ lệ gạo không bạc bụng cao hơn không bón lân (bảng 2,9) [33]
Trang 28Bảng 2.9: Năng suất và mức ñộ bạc bụng của giống AS 996 ở các
công thức bón phân
Tỷ lệ bạc bụng(%) Công thức
Năng suất (Tấn/ha)
Cấp 0 (Không bạc bụng)
Cấp 1 (Vết ñục
< 10%
Cấp 5 (Vết ñục 11-20%)
Cấp 9 (Vết ñục
>20%) 90N +0 kg P2O5+ 45 K2O 4,276 89,88 1,73 2,88 5,52 90N +60 kg P2O5+ 45 K2O 5,293 92,67 1,79 1,92 3,63 90N +90 kg P2O5+ 45 K2O 5,548 92,56 2,19 2,88 2,38
Phân bón nói chung và phân lân nói riêng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong ñời sống cây trồng, ðối với lúa, việc bón hợp lý và cân ñối N: P:
K cùng với phân hữu cơ ñể cho năng suất cao và giữ ñược cân bằng dinh dưỡng trong ñất góp phần sử dụng ñất có hiệu quả, bền vững là cần thiết, Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các mức lân bón khác nhau ñến hai giống lúa Khang dân 18 và Q5 với nền phân bón (10 tấn phân chuồng + 90 kg N + 90
K2O)/ha trên ñất vàn chuyên lúa tại Hà Tây cho thấy: Chiều cao cây không có
sự khác nhau ở các mức bón lân, nhưng số nhánh hữu hiệu lại có sự chi phối bởi lân, Bón 120 kg P2O5/ha cho tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao nhất (49% với Khang dân 18, 50% với Q5), Năng suất lúa cao nhất ở mức bón 90 kg P2O5/ha
và hiệu suất sử dụng lân là 15,6 kg thóc/kg P2O5, năng suất lúa ở mức bón 60
và 120 kg P2O5 /ha là như nhau [20]
Nghiên cứu xác ñịnh lượng kali bón cho lúa thuần Q5 vụ mùa 2005 tại Yên ðịnh – Thanh Hoá ñã có kết quả là: trên nền phân bón chung (5 tấn phân chuồng + 120 kg N + 90 Kg P2O5)/ha, bón kali cho số bông/m2 và năng suất thực thu cao hơn không bón, Trong ñó, bón 60 kg K2O/ha cho năng suất ñạt cao nhất (52,0 tạ/ha) và ñạt hiệu suất bón cao nhất 14,5 kg thóc/kg K2O, nhưng khi bón tăng kali ở mức 90 và 120 kg/ha thì năng suất khác nhau
Trang 29khụng cú ý nghĩa so với bún 60 kg K2O/ha và hiệu suất bún giảm ủỏng kể chỉ cũn 7,78 và 6,42 kg thúc/kg K2O [21]
ðối với giống lỳa chịu hạn như CH 5 trồng tại Hà Giang ủể tạo ủiều kiện cho lỳa phỏt triển tốt thỡ nờn bún phõn với lượng 8 tấn phõn chuồng 90 N + 90 P2O5 + 90 K2O sẽ phỏt huy hết tiềm năng năng suất của giống, cũn bún theo khuyến cỏo của ủịa phương là 8 tấn phõn chuồng 90 N + 60 P2O5 + 60
K2O sẽ hạn chế năng suất lỳa [12]
2.4 Những nghiên cứu và kết quả đạt được về phân bón cho lúa
2.4.1 Tầm quan trọng của phân bón đối với cây lúa
Cây lúa, bất kỳ lúa nước hay lúa trồng trên cạn, muốn có năng suất cao
đều cần nguồn dinh dưỡng rất lớn, Theo GS - TS Mai Văn Quyền tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau thực tiễn ở 40 nước có khí hậu khác nhau đH cho thấy: Nếu đạt năng suất 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50kg N, 26kg
P2O5, 80kg K2O , 100kg Ca, 6kg Mg, 5kg S, Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N, 50kg P2O5, 160kg K2O 19kg Ca, 12kg Mg, 10kg S (Nguồn FIAC, do FAO Rome dẫn trong Fertilizes and Their use lần thứ 5, [40]), Lấy trung bình cứ tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy đi hết 17kg N, 8kg P2O5, 27kg K2O, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S
Còn theo Murayama IRRI (1979) cho rằng: Để tạo được 1 tấn gạo lứt thì cần 19 - 20kg N
Những số liệu này cho thấy cây lúa cần dinh dưỡng mới tạo được năng suất cao, Nhiều năm trước đây nông dân Việt Nam chỉ trồng các giống lúa địa phương, cao cây, kém chịu phân, thời gian sinh trưởng dài, năng suất chỉ đạt
được từ 1 - 3 tấn/ha nên nhu cầu cung cấp thêm chất dinh dưỡng từ các nguồn phân bón không cao lắm, Ngày nay các vụ lúa đông xuân và hè thu, nông dân
đH trồng hầu hết các giống lúa cải tiến thấp cây, chịu phân cao nên muốn có năng suất cao cần phải cung cấp thêm nhiều chất dinh dưỡng có trong các nguồn phân bón và phải bón đúng kĩ thuật, cân đối, đáp ứng nhu cầu của từng
Trang 30giống, từng vùng, từng vụ thì năng suất lúa mới cao và ổn định được
2.4.2 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với lúa
- Đối với phân đạm:
Theo Bùi huy Đáp thì đạm là dinh dưỡng chủ yếu của lúa, nó ảnh hưởng nhiều đến số thu hoạch vì chỉ khi có đủ đạm các chất khác mới phát huy tác dụng
Yosida (năm 1980) đH nói: Đạm là nguyên tố quan trọng đối với lúa, nếu như không bón đạm thì ở đâu cũng thiếu đạm, Điều này rất phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam
Mutara (1965); Pham Van Cuong và cs, 2003 [49],, cho thấy ảnh hưởng của đạm đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp lục có trong lá, nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít bị ảnh hưởng mặc dù điều kiện ánh sáng yếu
Mitsui (1973) khi nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến hoạt động sinh lý của lúa đH kết luận: Sau khi bón đạm cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp 10 lần vì thế đạm làm tăng tích luỹ chất khô, (Nguyễn Thị Lẫm, 1994 [25]
Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy các hoạt động sinh lý của cây lúa thay đổi qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau, Cường độ hoạt động của chúng phụ thuộc vào hàm lượng đạm có trong
đất và sự hoạt động tích cực của bộ rễ cây lúa
Tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa Iruka (1963) thấy: Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yosida, 1985 [39]), Năm 1973 Xiniura và Chiba đH thí nghiệm khá công phu là bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng,
Trang 31phát triển và mỗi lần bón với 7 mức đạm khác nhau, hai tác giả trên đH có những kết luận:
- Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ít
- Có 2 đỉnh về hiệu suất, đỉnh thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 đến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ hai
Hai tác giả đH đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ, khi lượng đạm trung bình bón 2 lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái [34]
ở Việt Nam, Viện Nông hoá Thổ nhưỡng cũng đH tiến hành nghiên cứu
ảnh hưởng của loại đất, mùa vụ và lượng đạm bón vào tỉ lệ đạm cho cây lúa hút
Kết quả nghiên cứu nhiều năm (1985 - 1994) của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Kết quả này một lần nữa chứng minh rằng: Trên đất phù sa
được bồi hàng năm có bón 60P2O5 và 30K2O làm nền thì khi có bón đạm đH làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ đông xuân và 8,5 - 35,6% trong
vụ hè thu, Chiều hướng chung của cả 2 vụ là bón đến 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức này năng suất lúa tăng không đáng kể Nguyễn Văn Luật (2001) [31]
Theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994 [24] khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn đH kết luận: Lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương là 60 N/ha, với các giống thâm canh cao (CK 136) lượng đạm thích hợp từ 90 - 120 N/ha
Theo Nguyễn Như Hà, 1999 [11] khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ
và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng bón đạm ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỉ lệ dảnh hữu hiệu
Dinh dưỡng đạm đối với lúa lai cũng là một vấn đề quan trọng đH được các nhà nghiên cứu về lai quan tâm tới rất sớm, Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy động dinh dưỡng từ đất của lúa lai rất lớn lên ngay trường hợp
Trang 32không bón phân, năng suất của lúa lai vẫn cao hơn đối chứng (lúa thuần), Các nhà khoa học Trung Quốc đH kết luận:
Với cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha, lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8% hấp thu P2O5 thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu K2O cao hơn 30%, Với ruộng lúa cao sản thì hấp thu N cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K2O cao hơn 45% còn hấp thu P2O5 thì bằng lúa thuần
Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: Trên đất phù sa sông Hồng bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi đó năng suất giống CR203 chỉ tăng 23,1%, Trong điều kiện thí nghiệm đồng ruộng, bón phân đạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt, [3], Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộng cho thấy hiệu quả 1kg N bón cho lúa lai làm tăng
9 - 18kg thóc, so với lúa thuần tăng 2 - 13kg thóc, Trên đất phù sa sông Hồng bón lượng N180kg/ha trong vụ xuân và 150kg/ha trong vụ mùa cho lúa vẫn không làm giảm năng suất
Đối với phân Lân
Theo Mai Thành Phụng (1996), khi thí nghiệm bón phân lân trên đất phèn một số tác giả khác cho rằng trên đất phèn nặng muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: Sử dụng nước ngọt để rửa phèn có hiệu quả nhất,
kế đến là bón phân lân liều lượng cao trong những năm đầu để tích luỹ lân, Còn trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long, dù là trồng lúa trên đất phù sa
được bồi hàng năm, bón lân vẫn có hiệu quả rất rõ, vụ đông xuân có bón 20kg
P2O5 /ha đH tăng năng suất được 20% so với công thức không bón lân, Tuy nhiên bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ, Vì vậy trong ruộng thâm canh thường được khuyến cáo bón phối hợp từ 20 - 30kg P2O5 là đủ, Trong vụ hè thu nhận thấy nhu cầu phân lân có cao hơn và
có hiệu quả rõ hơn vụ xuân, bón 20kg P2O5 đH bội thu được 43,7% so với không bón lân, bón 40kg bội thu 62,5% bón tăng thêm năng suất có tăng song không rõ, Nguyễn Văn Luật (2001) [29]
Trang 33Thí nghiệm bón lân cho lúa của trường Đại học Nông nghiệp II tại xH Thuỷ Dương - huyện Hương Thuỷ (Thừa thiên Huế) năm 1994 cho nhận xét: Trong vụ xuân bón lân cho lúa từ 30 - 120 P2O5 /ha đều làm tăng năng suất lúa từ 10 - 17%, Liều lượng bón 90kg P2O5 đạt năng suất cao nhất, bón trên liều lượng đó năng suất có xu hướng giảm, Trong vụ hè thu, với giống VM,1 bón Supe lân hay lân Nung chảy đều làm tăng năng suất rất rõ rệt, [36], Các thí nghiệm trong chậu và ngoài động ruộng đều cho thấy hiệu suất sử dụng lân ở lúa lai là 10 - 12kg thóc/Kg P2O5 so với lúa thuần là 6 - 8kg thóc/Kg P2O5 [3]
Đối với phân Kali:
Từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi lúa lai trỗ cường độ hút Kali tương tự như lúa thường, Tuy nhiên từ sau khi trỗ thì lúa thường hút rất ít Kali, trong khi đó lúa lai vẫn duy trì sức hút Kali mạnh, mỗi ngày vẫn hút 670 g/ha chiếm 8,7% tổng lượng hút, Như vậy trong suốt thời kỳ sinh trưởng cường độ hút kali luôn cao, Đây là đặc điểm rất đặc trưng về hút các chất dinh dưỡng của lúa lai, Từ
đặc điểm này có thể kết luận để có năng suất cao cần coi trọng bón phân kali cho lúa lai
Nhiều thí nghiệm bón phân kali cho lúa lai cũng cho kết luận: Hiệu suất kali ở lúa lai cao hơn luá thuần và đạt từ 7,5 – 9,5kg thóc/kg K2O và muốn đạt năng suất lúa lai cao nhất thiết phải bón phân kali cho lúa [3]
Mỗi nguyên tố dinh dưỡng đều có một vai trò quan trọng trong đời sống cây lúa, Tuỳ mùa vụ, tuỳ giai đoạn sinh trưởng, tuỳ loại đất và phương pháp sử dụng mà tác dụng và hiệu quả của các nguyên tố này rất khác nhau, Rất nhiều các kết quả nghiên cứu cho thấy: Hiệu quả của các nguyên tố dinh dưỡng
được phát huy cao nhất khi các nguyên tố này được bón phân phối hợp với nhau theo một tỷ lệ thích hợp
2.4.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy
Năng suất ruộng lúa do số bông/đơn vị diện tích, số hạt/bông và khối
Trang 34lượng của hạt quyết định:
Năng suất = Số bông/m2 x Số hạt chắc/bông x Khối lượng hạt,
Một quần thể ruộng lúa có nhiều bông trước hết mỗi cá thể phải đẻ nhiều nhánh, tỷ lệ nhánh thành bông cao, Muốn có nhiều hạt chắc trước hết bông lúa phải có nhiều hoa, quá trình thụ phấn, thụ tinh bình thường, tỷ lệ hạt mẩy cao, Khối lượng hạt là chỉ tiêu ổn định do yếu tố di truyền của từng giống quyết định
Số bông của ruộng lúa là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất,
đồng thời cũng là yếu tố tương đối dễ điều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại,
Số hạt trên bông và khối lượng 1000 hạt được kiểm soát chặt chẽ hơn bởi yếu
tố di truyền, dù cho đầu tư kỹ thuật cao cũng không thể biến một bông nhỏ, hạt nhẹ thành giống to, hạt nặng được, Muốn thay đổi tính trạng này cần phải thay đổi giống
Tác động kỹ thuật làm tăng số bông đến mức tối đa là vô cùng quan trọng trong thâm canh lúa lai, Tuy nhiên nếu cấy quá dầy hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm, Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi, Số bông tối ưu của một giống lúa là số bông thu được nhiều nhất mà ruộng lúa có thể đạt được nhưng chưa làm giảm khối lượng hạt vốn có của giống đó, Như vậy, các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông tối ưu trên đơn vị diện tích khác nhau, việc xác định số bông cần đạt trên một đơn vị diện tích quyết
định mật độ cấy, khoảng cách cấy và số dảnh cơ bản khi cấy
Căn cứ vào tiềm năng cho năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng thâm canh của người sản suất và gieo trồng để định ra số bông cần đạt một cách hợp lý, Những yếu tố quyết định số bông bao gồm mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm
Trang 352.4.3.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy:
Mật độ cấy là số khóm cấy/m2, Lúa được tính bằng khóm, lúa gieo thẳng được tính bằng số hạt mọc, Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều, Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt qua giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông, Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường, Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống
có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt số bông tối ưu cần thiết theo dự định
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống… Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống to bông, Vùng lạnh nên cấy dày hơn
so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S, Yoshida (1985) [39] đH khẳng
định: Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ (20 x 20) cm đến (30 x 30) cm, Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông, Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182- 242 dảnh/m2, Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm
số hạt trên bông, Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và
sự đẻ nhánh, Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít [34]
Các tác giả sinh thái học đH nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản ứng với mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng còn tăng quá năng năng suất giảm xuống [16]
Trang 36Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau, Yoshida [34] cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 50 x 50cm đến 10 x 10cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất, Ông đH thấy rằng năng suất hạt của giống IR-154-451 (một giống đẻ nhánh ít) tăng lên so với việc giảm khoảng cách 10 x 10cm, Còn IR8 (giống đẻ nhánh khoẻ) năng suất đạt cực đại
ở khoảng cách cấy là 20 x 20cm
Lâm Thế Thành (1963) đH tiến hành một số thí nghiệm và đi đến kết luận rằng ở điều kiện phân nhiều thì việc xác định mật độ cấy phải dựa vào đẻ nhánh, trái lại ở điều kiện phân ít thì phải dựa vào số thân chính
Các tác giả Yuan Qianhua, Lu Xinggui, Cao Bing và cộng sự (2002) đH
sử dụng tổ hợp lai 2 dòng PA 64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng xuất của tổ hợp lai, Các tác giả sử dụng hai công thức cấy thưa (90,000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống ở Trung Quốc (30,000 khóm/ha), Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức cấy dầy vào thời điểm trước 10/5, nhưng đến sau 25/5 thì sự sai khác chỉ còn rất nhỏ, + Kích thước nhánh đẻ ở công thức cấy thưa lớn hơn công thức cấy dầy 8,86%, tỷ lệ hạt thấp hơn 2,35% và khối lượng 100 hạt cũng thấp hơn 0,86g, Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17-19%
Theo Nguyễn Thị Trâm thì mật độ cấy càng cao thì số bông càng nhiều, Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2, Các giống
có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40-45 khóm/m2
Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt thì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng đất xấu nên cấy dày,
Để xác định mật độ cấy hợp lý có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cần
Trang 37đạt/m2 và số bông hữu hiệu trên khóm, Từ hai thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp theo công thức:
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh, Nguyễn Như Hà [11] kết luận: Tăng mật
độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm, So sánh số dảnh trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2và mật độ cấy dày 85 khóm/m2thì thấy số dảnh đẻ trong một nhóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh – 14,8% ở
vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25%, Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dày
có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu, Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2ở vụ xuân, Tăng bón
đạm ở mật độ cao khoảng 55- 65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu
Nguyễn Thạch Cương [6] đH làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi Tạp Sơn Thanh trên đất phù sa sông Hồng và đi đến kết luận:
+ Trong vụ xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m2trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ /ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 83,5 tạ/ha, ở vùng đất bạc màu rìa đồng bằng mật độ 55- 60 khóm/m2cho năng suất 77,9 tạ /ha
+ Trong vụ mùa: Mật độ 50khóm/m2, trên đất phù sa sông Hồng cho
Trang 38năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất đạt 74 tạ/ha, mật độ 55 khóm/m2trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha
Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy
Đáp [9] cho rằng sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng, Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài, Ngược lại diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn, Cấy dày ở mật độ cao lúa sẽ không đẻ nhánh và một số cây mẹ sẽ lụi dần Nguyễn Văn Luật [29] nhận xét phương pháp canh tác cổ truyền trước
đây so với ngày nay: trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy thưa với mật độ (40 x 40) cm hoặc (70 x 70) cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có
xu hướng cấy dày (20 x 20)cm; (20 x 25)cm; (15 x 20)cm; (10 x 15)cm
Theo Nguyễn Văn Hoan [17], [18] thì nên bố trí các khóm lúa cấy theo kiểu hàng xông, hàng con, trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để khoảng cách giữa các khóm lúa theo kiểu hình chữ nhật là tốt nhất
Khi nghiên cứu ảnh hưởng mật độ cấy lúa mẹ BoA tới năng suất hạt lai F1 của tổ hợp Bắc ưu 64 tại Đồng Văn – Hà Nam, Đào Trọng Văn (2001) [6]
đH kết luận: Mật độ 60 khóm/m2cho năng suất hạt lai cao nhất, năng suất thấp nhất khi cấy với mật độ 80 khóm/m2
Theo Chu Văn Hiểu [16] thì công thức cấy 40 khóm/m2, 2 dảnh/khóm cho năng suất cao nhất đối với giống TN 13- 4 trong vụ xuân 2002
Theo kết quả nghiên cứu của Ma Thị ảnh [1] tại Chiêm Hoá – Tuyên Quang thì giống lúa Tạp Giao 1 cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao nhất khi cấy với phương thức cải tiến hàng rộng hàng hẹp (30+15)cm x 12 cm ứng với
33 khóm/m2, 4 rảnh/khóm (132 dảnh/m2)
Đối với giống lúa Việt lai 20, Đỗ Thị Hải [14] cũng triển khai thí nghiệm về mật độ cấy tại Vĩnh Bảo -Hải Phòng vào vụ Xuân 2002 và đi đến kết luận: Phương thức cấy cải tiến (40+15)cm x 12 cm ứng với 30 khóm/m2, 3 dảnh/khóm cho năng suất hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 39Theo Trần Thúc Sơn [31] thì mở rộng khoảng cách cấy (20 x 30 cm) là con đường tốt nhất để giảm lượng gieo cần thiết cho 1 ha (25kg) mà không làm giảm năng suất
2.5.3.2 Những nghiên cứu về số dảnh cấy/khóm
Số dảnh cấy/khóm phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2 trên cơ
sở mật độ cấy đH xác định, Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo theo yêu cầu,
độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định Theo Nguyễn Thị Trâm [43] thì sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh, Ví dụ, nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần lấy 3 - 4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đH đẻ 2- 5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ, Loại mạ này già hơn 10 – 15 ngày so với mạ chưa
đẻ, vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải
đạt trên 70% số bông dự định, Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra lá, lớn lên và thành bông, Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8 – 15 ngày sau cấy, Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non
Nguyễn Văn Hoan [17] cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2thì
để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non), Với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8
Ví dụ cần đạt 10 bông/khóm chúng ta cấy 10 x 0,8 = 8 nhánh
Khi tiến hành thí nghiệm xác định ảnh hưởng của số dảnh cấy đến
Trang 40năng suất lúa trong vụ xuân và vụ mùa 1998 tại Hà Tây trên tổ hợp Bồi Tạp Sơn Thanh với 4 công thức cấy, Nguyễn Thạch Cương [6] đH nhận thấy ở thí nghiệm cấy 2 dảnh và 3 dảnh thì năng suất tương ứng là 78,8 và 79,9 tạ/ha; trong khi đó thí nghiệm cấy 1 dảnh và 4 dảnh thu được năng suất là 76,0 và 76,5tạ/ha, từ đó đi đến kết luận: Trong cả vụ xuân và vụ mùa trên đất phù sa sông Hồng đối với lúa lai nên cấy số dảnh vừa phải (2-3 dảnh/khóm) sẽ cho hiệu quả kinh tế cao
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự [37] thì giống lúa nhiều bông nên cấy 200-250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180 – 200 dảnh/m2, Số dảnh cấy/khóm là 3 – 4 dảnh ở vụ mùa và 4-5 dảnh ở vụ chiêm xuân
Số dảnh cấy phụ thuộc vào sức đẻ nhánh của giống, khi nghiên cứu số dảnh cấy cho vụ xuân, Bùi Huy Đáp [8] kết luận trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh, Cấy 2-3 dảnh thường có ưu thế hơn 5-6 dảnh, chỉ
có mạ già đặc biệt thì mới tăng thêm số dảnh
Cũng theo Bùi Huy Đáp [9]: cấy ít dảnh thì mỗi khóm (cấy 2-3 dảnh/khóm) thì lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ hơn và năng suất cũng cao hơn, Nếu cấy 3-4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường thì nên cấy 25-30khóm/m2; ruộng sâu và trong vụ mùa nên cấy dày trên dưới 40 khóm/m2, còn ruộng tốt, bón nhiều phân có thể cấy 1-2 dảnh Còn theo Trương Đích [10] với các giống lúa lai nên cấy 2-3 dảnh với mật độ 50-55 khóm/m2 và cấy 3-4 dảnh với mật độ 40-45 khóm /m2
Theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Viện nghiên cứu lúa Philippin (-DA-PhilRice, (2003) [48]) thì công thức cấy thích hợp nhất cho lúa lai là 1-2 dảnh/khóm với khoảng cách 20cm x 20cm vào mùa mưa và 20cm x 15cm vào mùa khô
Tóm lại, kỹ thuật bón phân và mật độ cấy là biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của