1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng

42 417 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 11,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần nhóm Chân khớp bé, các nhóm phân loại của Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola ở tại núi Ngọc — Cát Bà va vùn

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

Môi trường đất là một môi trường sống rất đặc thù, với câu trúc ba thể

rắn, lỏng, khí, trong đó chứa cả một thế giới sinh vật vô cùng đa dạng và phong phú Nhóm động vật đất chiếm hơn 90% tông sinh lượng hệ động vật ở

cạn và hơn 50% tổng số loài động vật sống trên trái đất Nhiều nhóm sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh thái của môi trường đất, góp phần làm sạch môi trường, trong đó có động vật Chân khớp bé (Microarthropoda)

Việc nghiên cứu sinh vật đất có ý nghĩa quan trọng trong tìm hiểu tính

đa dạng của thế giới sinh vật và các đặc tính sinh học đất Từ đó góp phần đề xuất cải tạo và tăng độ phì nhiêu của đất, hoặc giúp đánh giá sắp xếp các vùng địa lý tự nhiên, các vùng sinh thái, quy hoạch và phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp

Trong hệ thống động vật đất, nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda)

với kích thước cơ thê khoảng 0,1 - 0,2 mm đến 2,0 — 3,0 mm thường chiếm

ưu thế về số lượng Hai đại diện chính của nhóm này là Ve bét (Acari) và Bọ nhảy (Collemboda) Ngoài ra còn có các đại diện thuộc các nhóm động vật không xương sống khác như: Nhiều chân (Myriapoda), Hai đuôi (Diplura), Ba đuôi (Thysanura)

Vườn quốc gia Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ âm, lượng mưa

ở Cát Bà cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc

điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền

Quần đáo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các

Trang 2

rặng san hô, thâm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học

Đây cũng là nơi hội tụ nhiều hệ sinh thái (HST) khác nhau: HST rừng ngập mặn, HST rừng trên núi đá vôi, HST rừng biển với các rạn san hô Có một hệ động thực vật đa dạng, gồm 2.320 loài động thực vật, trong đó có 282 loài động vật sống trong rừng, 538 loài động vật sống ở đáy biển, 196 loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vật ngập mặn, 75 loài rong biển,

177 loài san hô Nguồn tài nguyên sinh học của vườn đã được điều tra nghiên cứu khá kĩ nhưng chủ yếu tập trung vào khu hệ thực vật, động vật có xương sông trên can, côn trùng Các nhóm động vật không xương sông ở đất hầu như chưa được quan tâm, ngoại trừ một vài nghiên cứu về nhóm Microarthropoda, Acari cũng như Collemboda còn hạn chế về quy mô và thời gian

Với tất cả lí do trên, tôi đã thực hiện “Nghiên cứu sự biến động cấu trúc mật độ và tỉ lệ thành phần nhóm động vật chân khóp bé (Microarthropoda) tại núi Ngọc - Cát Bà vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải - Hải Phòng ”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần nhóm Chân khớp bé, các nhóm phân loại của (Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola) ở tại núi Ngọc — Cát Bà va vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải — Hai Phong

Bước đầu nhận xét mức độ thay đổi số lượng các nhóm này ở môi trường đất tại núi Ngọc - Cát Bà và vùng sinh cảnh nghiên cứu

Bắt đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, xây dựng lòng say mê học tập, làm tiền đề cho phục vụ giảng dạy và nghiên cứu sau này

3 Nội dung nghiên cứu

Trang 3

Xác định số lượng, tỷ lệ % các nhóm của quần xã Chân khớp bé (Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola) tại 3 sinh cảnh nghiên cứu: Vườn Cát

Bà, Chân Núi Ngọc và Đỉnh Núi Ngọc

Xác định số lượng, ty lệ % các nhóm phân loại của (Ve gidp: Acari va

Bọ nhảy: Collembola) tại vùng nghiên cứu

Nhận xét về sự biến động số lượng của quần xã Chân khớp bé, sự thay đổi tỷ lệ % các nhóm phân loại của (Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola)

ở tại vùng nghiên cứu

Trang 4

CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé trên thế giới

Sự phát triển của thực vật có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của con người và động vật sống trong hệ sinh thái Quá trình phát triển của thực vật không chỉ phụ thuộc vào dinh dưỡng khoáng trong đất mà còn phụ thuộc vào quá trình phân giải chất hữu cơ do các nhóm động vật đất tiền hành

Bộ môn khoa học Sinh thái đất là một môn khoa học được nghiên cứu

và phát triển từ những năm 50 của thế kỉ XX, đây là môn khoa học nghiên cứu nhóm sinh vật đất cùng với mối quan hệ chặt chẽ của chúng với hoạt động sống ở môi trường đất Khoa học Sinh thái đất ngày càng phát triển, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu của các lĩnh vực khác nhau

Cũng như các động vật đất khác nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) với hai đại diện chủ yếu là Ve bét (Acari) và Bọ nhảy (Collembola) đã được biết đến cách đây hàng trăm năm Tuy nhiên, những bước đầu nghiên cứu về chúng vẫn còn lẻ tẻ và chỉ phát triển mạnh trong vài chục năm gần đây

Collembola, một trong những đại diện chủ yếu của nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) sống ở đất đã được biết từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm Hóa thạch của chúng (Rhymiella paraecursor Hirst et Maulik, 1926) da được phát hiện ở vùng đầm lầy Thụy Điển có tuổi từ kỷ Devon giữa, cách ngày nay 400 triệu năm (Palacois — Vargas, 1983 - Theo Vũ Quang Mạnh 2003)[9]

Nam 1758, loai Collembola dau tién da được Linne mô tả từ Thụy Dién: Podura viridis Linnaeus (Wallace, 1794) ciing voi hang loat loai khác thudc giéng Podura: P aquatica, P cincta, P fusca Tiếp sau đó có các

Trang 5

công trình của Muller, 1776; Templeton, 1835; Boheman, 1856; Lubbock,

1899 nhưng chỉ ở mức độ là các thông báo tản mạn về thành phần loài, mô

tả loài mới ở từng khu vực hạn chế (vùng Bắc Âu, vùng châu Âu, .) [11]

Phải đến năm 1905, khi nhà động vật học người Italia, A Berlese tìm

ra phương pháp đơn giản, tách động vật chân khớp bé ra khỏi môi trường đất thì những nghiên cứu về nhóm này mới phát triển mạnh mẽ

Các kết quả nghiên cứu hình thái Collembola có thể tìm thấy trong các

công trình nghiên cứu của Bellinger, 1960; Yosi, 1960; Gisin, 1963;

Ghilarov, 1963; Dallai, 1977; Betsch, 1980; vé kich thước, đặc điểm hình

dạng bên ngoài của cơ thể, màu sắc, cấu trúc vỏ da, lông, các cầu tạo chi tiết của từng bộ phận: đầu, ngực, bụng, chân, , dạng sinh thái, hiện tượng biến

đổi chu kỳ

Ảnh hưởng của các nhân tổ môi trường: độ ẩm, ánh sáng, thành phần

và các tính chất hóa lý của đất, đặc điểm cư trú, di chuyên, dinh dưỡng, cấu trúc thành phần loài, sự phân hóa sinh cảnh, vai trò của Collembola trong các quá trình trao đổi chất, vận chuyển năng lượng là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhìn chung, trong vài chục năm trở lại đây, những kết quả nghiên cứu về Collembola nhằm khai thác theo hướng sử dụng chúng như những chỉ thị sinh học cập nhật trong quá trình khôi phục và bảo vệ độ phì của đất, kiểm soát và bảo vệ môi trường đất hoặc sử dung chúng như những tác nhân sinh học, cải tạo và nâng cao chất lượng đất, xử lý rác thải [12]

Bên cạnh đó, Acari cũng đã được nghiên cứu từ lâu Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong những người quan

tâm đến ve giáp đầu tiên Từ năm 1881 đến năm 1923, ông đã mô tả khoảng

Trang 6

120 loài Oribatida (Hammen L.Van Der, 2009 - Theo Đào Duy Trinh 2006)[13]

1.2 Tinh hình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam

Trên thế giới, Chân khớp bé được nghiên cứu từ rất sớm nhưng ở Việt

Nam, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới bắt đầu được nghiên cứu Lúc này có rất ít các công trình nghiên cứu bởi các tác giả nước ngoài về Acari trước năm 1975

Từ năm 1975, những nghiên cứu ở Việt Nam đã được tiến hành nghiên cứu khá đồng bộ ở nhiều vùng trong cả nước Mặc dù thời gian nghiên cứu chưa nhiều nhưng cho đến nay đã thu được nhiều kết quả đáng chú ý Có thể

kể đến một số công trình luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ chuyên ngành như:

Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh (1980) về thành phan, phan bé và số lượng của các nhóm Microarthropoda ở một số kiểu hệ sinh thái đồng bằng sông Hồng và rừng nhiệt đới [5]

Sau đó là hàng loạt các công trình nghiên cứu khoa học khác về lĩnh vực này như: Vũ Quang Mạnh (1984) đã công bố kết quả nghiên cứu về thành phần, phân bố số lượng các nhóm Microarthropoda ở đất Cà Mau (Minh Hải)

và Từ Liêm (Hà Nội) trong Thông báo khoa học, Sinh học —- Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I [7]

Vũ Quang Mạnh, 1990 đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu chân khớp bé ở Việt Nam Tác giả đã rút ra kết luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé, nêu lên một số quy luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc của quần xã Oribatida ở đất Tác giá đã đưa ra danh sách 117 loài Oribatida đã biết ở Việt Nam, cùng với đặc điểm phân bố

của chúng theo vùng địa lý, loại đất và hệ sinh thai (Vi Quang Manh,1990)

[8]

Trang 7

Nhóm Bọ nhảy (Collembola) ở Việt Nam cũng chưa được điều tra nghiên cứu nhiều Công trình đầu tiên về Collembola Việt Nam, công bố năm

1948 là của Delamare Debouttville Cũng trong năm đó, Denis đã liệt kê danh sách 17 loài được Dawidoff thu thập từ một SỐ địa phương: Vĩnh Phúc, Đắc

Lac, Da Nang [11]

Năm 1965, khi nghiên cứu bộ sưu tập Collembola của Bartkei thu được

từ Sapa (Lào Cai), Stach J đã lập một danh sách 30 loài thuộc 9 họ, 22 giống, trong đó có 20 loài mới cho khu hệ Bắc Việt Nam và 10 loài mới cho khoa hoc [11]

Từ năm 1995 các công trình nghiên cứu về nhóm bọ nhảy do các tác giả trong nước bắt đầu được đây mạnh và phát triển, đặc biệt các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc Năm 1995, khu hệ Collembola Việt Nam đã ghi nhận được 113 loài Đến năm 2005, con số này là 147 loài; trong

đó bố sung mới cho Việt Nam hàng trăm loài, mô tả mới cho khoa học 21 loài ( Nguyễn Trí Tiến, 1995){11]

Từ năm 1998 trở lại đây, những đề tài nghiên cứu Collembola đã bổ sung nhiều dẫn liệu mới không chỉ về khu hệ và đặc điểm phân bó theo kiểu

sinh cảnh, theo độ sâu của đất, theo đai cao khí hậu mà còn đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ hữu cơ giữa đối tượng này với các điều kiện ngoại cảnh,

về vai trò chỉ thị sinh học của Collembola cho sự suy giảm của lớp phủ thực vật, cho sự suy thoái và mức độ ô nhiễm đất bởi chất thải công nghiệp, bởi việc sử dụng không hợp lý các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát sinh học, sinh thái môi trường sống [1], [2]

Nghiên cứu về nhóm Chân khớp bé ở vườn Quốc gia Ba Vì đã được đề

cập đến trong luận văn Thạc sĩ sinh học của Phan Thị Huyền (2003) Tác giả

đã bước đầu nghiên cứu quần xã động vật Chân khớp bé ở các sinh cảnh là

Trang 8

rừng tự nhiên, rừng nhân tác, savan — trang cỏ, đất trồng Kết quá cho thấy:

Có sự sai khác về phân bố theo tầng thăng đứng giữa các quần xã ở các sinh cảnh nghiên cứu và điều tra được 22 loài Ve giáp ( Acari: Oribatida) [3]

Năm 2006, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý của vườn quốc gia

Xuân Sơn, Phú Thọ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời tiết lên lên sự phân

bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện được 8 họ [13]

Nhìn chung còn các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học về Chân khớp bé đã và đang được thực hiện Tuy đã đạt được những kết quả đáng chú ý, nhưng đây mới chỉ là những kết quả bước đầu mang tính chất thăm dò định hướng, vẫn còn nhiều hạn chế và nhiều điều chưa biết đến Vì vay, dé thực sự hiểu rõ vai trò quan trọng của Chân khớp bé, từ đó ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ cho con người thì cần phải nghiên cứu nhiều hơn

Trang 9

CHUONG 2 DOI TUQNG, THOI GIAN, DIA DIEM

VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhóm động vật Chân khớp bé Microarthropoda ở đất tại núi Ngọc — Cát Bà va vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hai — Hai Phong

Trong đó, phân tích chủ yếu là các đại diện thuộc hai nhóm: Ve giáp (Acari) va Bo nhay (Collembola)

Nhóm Ve gidp (Acari) thuộc lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành

Có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda) gồm các nhóm phân

loại nhỏ sau: Oribatida, Gamasina, Uropodina, Acari khác

Nhóm Bọ nhảy (Collembola) thuộc phân lớp Sâu bọ hàm an (Entognatha), lớp Sâu bọ (Insecta), phân ngành Có ống khí (Tracheata), ngành Chân khớp (Arthropoda) gồm các nhóm phân loại nhỏ sau: Poduromorpha, Entomobryomorpha, Symphypleona

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiễn hành thu mẫu đất tại 3 điểm: vườn cát bà và khu vực lân cận Mẫu lấy ở cả 2 tang dat -1 (0 — 10 em) và -2 (11 — 20 cm) Tông số mẫu đất đã thu là 30 mẫu (Bảng 2.1)

Bang 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ớ khu vực nghiên cứu

Dia diém -1(0- 10cm) -2 (11 —20 cm) Tong

Trang 10

Việc xử lý mẫu thu được từ thực địa được thực hiện trong phòng thí

nghiệm bộ môn Động vật của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu của Ghilarov, 1975 ở ngoài thực địa

và trong phòng thí nghiệm [15]

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Mẫu đất được lấy ở 2 tầng có độ sâu từ 0 — 10 cm (tính từ mặt đất) kí hiệu là tầng -1, và ở độ sâu tiếp theo 11 — 20 cm kí hiệu là tầng -2 Mỗi mẫu

có kích thước(S x 5 x 10) cm

Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở mỗi điểm nghiên cứu Mỗi mẫu được cho vào 1 túi nilon riêng được buộc chặt, bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất, ngày tháng, địa điểm lấy mẫu

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Mẫu đất sau khi lấy ở thực địa được chuyên về phòng thí nghiệm động vật của trường đê xử lý

Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp bé theo phương pháp phểu lọc “Berlese — Tullgren” dựa theo tập tính hướng sáng âm và hướng đất dương của chúng Mẫu đất trong phễu lọc sẽ khô dần, theo đó Microarthropoda sẽ chui sâu xuống lớp đất phía dưới, qua lưới lọc và rơi xuống đáy phễu

Cấu tạo của phễu như sau: phễu bằng thủy tỉnh (hay bằng giấy cứng), cao 30 cm, đường kính miệng là 18 cm, đường kính vòi là 1,5 cm Bộ phễu được đặt trong giá gỗ, vòi phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch formol 4%, bên trong có nhãn ghi các số liệu như khi lấy mẫu ngoài thực địa

Đặt trên phéu là rây lọc hình trụ, thành là vành kim loại, đường kính 15

cm, cao 4 em; lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới khoảng (1,0 x 1,0)

Trang 11

mm Trước khi cho mẫu đất vào rây lọc, đất được bóp nhỏ và rải đều trên mặt lưới, phần vụn lọt qua mắt lưới sẽ được đồ trở lại trước khi đặt rây vào phéu

Mẫu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm 25°C — 30°C, trong bảy ngày đêm rồi tiễn hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được lọc Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có chứa dung dịch formon 4% để giữ mẫu không bi hỏng

2.4.3 Xứ lý và phân tích số liệu

Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đỗ dung dịch có chứa trong Ống nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất dé tránh sót mẫu Đến lúc đã lọc hết dung dich trong giấy lọc thì đặt giấy loc ra dia Petri va tién hành phân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa Petri, nhận dạng và ghi số liệu từng nhóm vào sô bảo tàng Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ

có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh, tầng đất rồi nút lại bằng bông không thấm nước

Trong khi phân tích mẫu, một số nhóm động vật được tách riêng và tính toán số lượng của từng nhóm, cụ thể như sau:

- Với Acari, chúng tôi tách ra 4 nhóm phân loại:

Trang 12

2.5 Một vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Vườn quốc gia Cát Bà thành lập ngày 31/3/1986 theo quyết định số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam (nay là chính phủ) Gồm các hệ sinh thái biên, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn [16]

2.5.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Cát Bà, còn gọi là đảo ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0-331 mì) Trên đảo này có thị trần Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6

xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám Cư dân

chủ yếu là người Kinh [17]

Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ sé trung binh về nhiệt độ, độ âm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền Cụ thể là: Lượng mưa từ 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8 Nhiệt độ trung bình: từ 25-28°C, dao động theo mùa Về mùa hè có thể lên

trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống

dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc) Độ âm trung bình là 85% Dao động của thủy triều từ 3,3-3,9 mét.Độ mặn nước biển từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)[ 17]

Trang 13

Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đây mạnh phát triển du lịch sinh thái

2.5.2 Hiện trạng sinh thái tại khu sinh thái núi Ngọc - Cát Bà

Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu

của khu dự trữ sinh quyên thế giới theo quy định của UNESCO

Rừng ở đây có một kiểu chính là kiểu rừng mưa nhiệt đới thường xanh,

nhưng do điều kiện địa hình, đất đai và chế độ nước nên ở đây có một số kiểu rừng phụ: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn ven đảo, rừng ngập nước ngọt

trên núi Rừng ở đây cũng có nhiều kiểu sinh thái rừng cá biệt như quần hợp

Kim giao (tại khu vực gần đỉnh Ngự Lâm); đơn ưu và nước (khu vực Ao Éch) [17]

Trang 14

Hình 2.2 Vị trí Núi Ngọc ớ thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đáo Cát

Hải - Hải Phòng

Trang 15

CHUONG 3 KET QUA VA BAN LUAN

3.1 Mật độ và tỷ lệ thành phần Chân khớp bé tại núi Ngọc-Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải-Hải Phòng

3.1.1 Mật độ và tỷ lệ thành phan nhóm Chân khóp bé ở tầng -1 tại núi Ngọc - Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải - Hải Phòng

Bảng 3.1 giới thiệu mật độ trung bình và tỷ lệ phần trăm các nhóm Chân khớp bé bao gồm: (Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola) ở 3 sinh cảnh nghiên cứu

Trang 16

Kết quả ở bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy:

- Về mật độ trung bình:

Ở sinh cảnh đất trong VCB: trong tổng số Chân khớp bé thu được (25120 cá thể/m?), Collembola chiếm số lượng cao hơn nhiều so với Acari

(tương ứng Collembola: 18160 cá thê/m”, Acari: 6960cá thể/m?)

Ở sinh cảnh đất ĐNN cách VCB 1km: với tổng số Chân khớp bé thu

được (11440 cá thểm?) Acari có số lượng cao hơn rất nhiều so với Collembola (tương ứng Acari: 11200 cá thé/m’, Collembola: 240 ca thé/m’)

Ở sinh cảnh dat CNN nằm cạnh VCB: Trong tổng số Chân khớp bé thu

được là 10240 cá thể/m” thì Collembola chiếm số lượng ít hơn rất nhiều so

voi Acari, it hon gan 25 lần so với Acari

Nhìn chung, tại 3 địa điểm lấy mẫu thì số lượng Chân khớp bé thu được

nhiều nhất ở trong đất VCB (25120 cá thể/m”), gấp 2,2 lần số lượng thu ở

ĐNN (11440 cá thê/m”), và gấp gần 2,5 lần số lượng thu ở đất CNN (10240

cá thê/m?) Sở dĩ, số lượng Chân khớp bé ở 2 sinh canh dat DNN va dat CNN

ít hơn sinh cảnh đất VCB có thể do môi trường đất ở ĐNN va CNN tôn tại

chất nào đó mà không thích hợp với nhóm động vật đất này Từ đó, làm

chúng kém phát triển nên làm giá trị mật độ trung bình của nhóm động vật này ở sinh cảnh đất ĐNN và CNN thấp hơn so với sinh cảnh còn lại

Ở đất CNN, tỷ lệ này cũng tương tự đất ĐNN, đó là Acari cũng chiếm

tỷ lệ ưu thế hơn rất nhiều so với Collembola (tương ứng Acari: 96,09%, Collembola: 3,91%)

Trang 17

Hình 3.1 Tỷ lệ thành phần hai nhóm Acari và Collembola

theo từng sinh cảnh của tầng -1

Trang 18

3.1.2 Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phân các nhóm Chân khóp bé ở tang -2

Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần các nhóm Chan khép bé 6 tang -2 tại các sinh cảnh nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.2

Bang 3.2 Mật độ trung bình và tÿ lệ thành phần các nhóm Chân khớp

bé ở tầng -2 tại các sinh cảnh nghiên cứu

Trang 19

Kết quả trình bày ở bảng 3.2 và hình 3.2 cho thấy:

Đất ở VCB có số lượng Collembola cao hơn so với Acari (tương ứng

3280 cá thê/m”) chiếm tỷ lệ 63,08% trong tổng số lượng của Chân khớp bé

MĐTB của Acari chỉ đạt 1920 cá thé/m’, chiếm tỷ lệ 36,92% trong tổng số

lượng của Chân khớp bé

Đất ở ĐNN cách VCB Ikm: sự tăng giảm giá trị MĐTB ngược với sự tăng giảm giá trị MĐTB ở đất VCB, đó là sự chênh lệch về số lượng cá thể là đáng kể: Acari chiếm số lượng nhiều hơn (5520 cá thể/m”, chiếm tỷ lệ 95,65%), Collembola chiếm số lượng ít hơn rất nhiều (80 cá thể/m”, chiếm tỷ

vườn, nhưng do điều kiện môi trường đất ở ĐNN có lớp thảm lá phủ, tạo điều

kiện sống thuận lợi hơn cho động vật nên động vật vẫn có khả năng cư trú ở

lớp đất sâu hơn

Trang 20

Chân Núi Ngọc

#Acari #Collembola 4,35%

Hình 3.2 Tỷ lệ thành phần hai nhóm Acari và Collembola

theo từng sinh cảnh của tầng -2

Trang 21

3.1.3 Nhận xét sự biễn động cấu trúc và tỷ lệ thành phần nhóm Chân khóp bé

Kết quả từ bảng 3.1, 3.2 và các biểu đồ ở hình 3.1, hình 3.2 cho thấy:

Nhóm Chân khớp bé chủ yếu phân bố ở tầng mặt (0 — 10 em) Giá trị mật độ trung bình của Chân khớp bé giảm dần theo độ sâu của đất

Tai tang dat -1 hay -2, số lượng Chân khớp bé thu được có chiều hướng tăng dần từ đất thuộc CNN đến đất ĐNN và đất VCB Đất ở CNN có số lượng Chân khớp bé thấp nhất so với 2 sinh cảnh còn lại ở cả 2 tầng đất

Trong cả 3 sinh cảnh nghiên cứu, nhóm phân loại Collembola luôn có

số lượng thấp hơn so với nhóm phân loại Acari Chỉ có ở sinh cảnh VCB cách ĐNN Ikm, nhóm phân loại Collembola mới chiếm ưu thế nhiều hơn so với nhóm phân loại Acari (ở tầng -lI: Acari có số lượng gấp 1,5 lần so với Collembola, ở tầng -2: Acari có số lượng gấp 3,5 lần so với Collembola) Điều đáng nói ở đây là chỉ có đại diện của nhóm phân loại Acari khác của Acari là nguyên nhân gây ra điều nói ở trên Đây là nhóm phân loại đặc trưng cho nhóm dạng sống thảm - đất, là nhóm có đời sống linh hoạt nên dù ở đất vườn bị xáo xới thì khả năng vẫn bắt ngẫu nhiên được các loại này

3.2 Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần nhóm phân loại Acari tại núi Ngọc và khu vực phụ cận quần đảo Cát Bà - Hải Phòng

3.2.1 Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại Acari ở tang -1

Bảng 3.3 trình bày mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acari bao gồm: O - Oribatida, G - Gamasina, U - Uropodina, A# - Acari khác tại các sinh cảnh nghiên cứu

Ngày đăng: 06/10/2014, 18:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.2.  Vị  trí  Núi  Ngọc  ớ  thị  trấn  Cát  Bà  thuộc  huyện  Đáo  Cát - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 2.2. Vị trí Núi Ngọc ớ thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đáo Cát (Trang 14)
Bảng  3.1  giới  thiệu  mật  độ  trung  bình  và  tỷ  lệ  phần  trăm  các  nhóm  Chân  khớp  bé  bao  gồm:  (Ve  giáp:  Acari  và  Bọ  nhảy:  Collembola)  ở  3  sinh  cảnh  nghiên  cứu - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
ng 3.1 giới thiệu mật độ trung bình và tỷ lệ phần trăm các nhóm Chân khớp bé bao gồm: (Ve giáp: Acari và Bọ nhảy: Collembola) ở 3 sinh cảnh nghiên cứu (Trang 15)
Hình  3.1.  Tỷ  lệ  thành  phần  hai  nhóm  Acari  và  Collembola - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.1. Tỷ lệ thành phần hai nhóm Acari và Collembola (Trang 17)
Hình  3.2.  Tỷ  lệ  thành  phần  hai  nhóm  Acari  và  Collembola - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.2. Tỷ lệ thành phần hai nhóm Acari và Collembola (Trang 20)
Bảng  3.3.  Mật  độ  trung  bình  và  tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  của - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
ng 3.3. Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của (Trang 22)
Hình  3.3.  Tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phan  loai  Acari - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.3. Tỷ lệ thành phần các nhóm phan loai Acari (Trang 24)
Bảng  3.4.  Mật  độ  trung  bình  và  tý  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  của - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
ng 3.4. Mật độ trung bình và tý lệ thành phần các nhóm phân loại của (Trang 25)
Hình  3.4.  Tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  Acari  theo - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.4. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại Acari theo (Trang 27)
Bảng  3.5.  Mật  độ  trung  bình  và  tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  của - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
ng 3.5. Mật độ trung bình và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của (Trang 29)
Hình  3.5.  Tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  ,Collembola - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.5. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại ,Collembola (Trang 31)
Bảng  3.6.  Mật  độ  và  tý  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  cúa  Collembola - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
ng 3.6. Mật độ và tý lệ thành phần các nhóm phân loại cúa Collembola (Trang 32)
Hình  3.6.  Tỷ  lệ  thành  phần  các  nhóm  phân  loại  Collembola - Nghiên cứu sự biến động cấu trúc, mật độ và thành phần nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda) tại Núi Ngọc Cát Bà và vùng phụ cận thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng
nh 3.6. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại Collembola (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w