1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình tiếng việt ở tiểu học

62 564 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 8,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được sự cần thiết của việc nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong văn bản văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng nhận thức, bồi đưỡng tâm hồn và giáo dục thâm mỹ cho học s

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của

rất nhiều thầy cô giáo và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thực sĩ Phan Thị Thạch — GVC khoa Ngữ Văn

Tôi xin gửi tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy

cô phản biện khóa luận, đặc biệt tôi xin trân trọng gửi tới cô giáo - Thạc sĩ

Phan Thị Thạch lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất!

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Khuất Thị Như

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả

và số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố đưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm vệ sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Khuất Thị Như

Trang 3

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

THCS : Trung hoc cơ sở

Trang 4

MỤC LỤC

1 Lí do chọn để tài -sc-cc2vvrrttrrrtrrrrrerrrrree 7

II Lịch sử vấn đề -c- k1 S1 E111 1111111111111 11 111111 te 8

II Đối tượng nghiên cứu 2-22 2+5<+ESE 23221221 EE223221 2212 11

TV Muc dich nghién Ctu cceceeceeceesessceeseeseceeeeeeesecaeeeeceaeeeeeeeeeeaees 11

V Nhiệm vụ nghiên CỨU .- - 5 5< +11 91 E151 9E sec 12

MINdi 0261200 017 12 VII Phương pháp nghiên CỨU - 2 6 S6 S241 E ve sieesee 12 NỘI DUNG, 5 55-5 5< 4 ch hư ghe reeiree 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG -5° 25c cc<ccsccsscse 14

1.1 Co s6 ngOn ngtt HOC 14 1.1.1 Câu trong tiếng Việt .2©5- S222 SE22122121111221211 21126 14 1.1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ -2 -¿©csccs+cse2 24

CHUONG 2 KET QUA THONG KE PHAN LOAI NHUNG CÁCH

DUNG CAU TRONG VAN BAN VAN XUOI NGHE THUAT THUOC

SGK TIENG VIET Ở TIỂU HỌC . 2-22 secssecscrsees 29 2.1 Đối tượng khảo sát, thống kê của khóa luận . - 29

Trang 5

2.2 Miêu tả kết quả thống kê phân loại những cách dùng câu trong văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở tiểu học 29 2.2.1 T¡ lệ sử đụng những kiểu câu được phân chia theo cấu tạo ngữ

2.2.2.4 Câu cầu khiến ccccc tri 34

2.2.3 Tỉ lệ sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp trong văn bản văn xuôi

0305001001010 35

2.2.3.2 Đảo cú pháp - - ch TH HT ng Hàng cưy 35 2.2.3.3 Tim Lang nh 36 2.2.3.4 Chêm xen . Ác LH TH HH HH HH HH HH HH He 36 2.2.3.5 LIỆI kê c SH TH HH HH nh nh nh nh nh nh 36

2.3 Nhận xét khái quát về kết quả thống kê 2 se 55+: 37 CHUONG 3 HIEU QUA CUA NHUNG CACH DUNG CAU TRONG CAC VAN BAN VAN XUOI NGHE THUAT THUOC SGK TIENG

3.1 Những cách dùng câu góp phần làm nên giá trị nhận thức trong văn

3.2 Những cách dùng câu trong văn bán văn xuôi nghệ thuật đối với

việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh tiểu học 48

Trang 6

3.3 Những cách dùng câu đối với việc làm nên giá trị thâm mĩ trong

văn bản văn xuôi nghệ thuật ở tiểu hỌC ¿ csctctEE TH 1x crey 55

Trang 7

MO DAU

I Li do chon dé tai

Tiéu hoc 1a bac hoc nén tang trong hé théng giao duc quéc dân Ở bậc học này, các em học sinh được tiếp cận với nhiều môn học: Toán, Tiếng Việt,

Tự nhiên và Xã hội Trong các môn học đó, môn Tiếng Việt có một vai trò

đặc biệt quan trọng Thông qua các bài học Tiếng Việt, đặc biệt thông qua các

văn bản nghệ thuật, trong đó có các văn bản văn xuôi nghệ thuật, chúng ta

cung cấp cho học sinh những tri thức về tiếng, từ, câu Từ đó giúp các em

có thể phát triển vốn ngôn ngữ, nâng cao năng lực giao tiếp và tư duy Nhận thức được sự cần thiết của việc nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong văn

bản văn xuôi nghệ thuật đối với việc bồi dưỡng nhận thức, bồi đưỡng tâm hồn

và giáo dục thâm mỹ cho học sinh tiểu học, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề

tài: “ Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở tiểu học”

Đây là một đề tài không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà nó còn có ý

nghĩa thực tiễn cao Bởi lẽ, thực hiện đề tài này, chúng tôi có điều kiện hệ

thống hoá những kiến thức cơ bản về câu trong Tiếng Việt Nhờ vậy, những

kiến thức ngữ pháp về câu của bản thân được củng cố vững chắc hơn Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu đề tài, chúng tôi phải tiến hành khảo sát

chương trình SGK Tiếng Việt ở tiểu học, thâm nhập sâu sát hơn với những tác phẩm văn xuôi Điều đó không chỉ giúp chúng tôi nắm chắc chương trình SGK, làm giàu nguồn ngữ liệu về câu mà còn giúp chúng tôi có năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương và trang bị cho chúng tôi phương pháp thích hợp để

bồi dưỡng cho học sinh tiểu học có được những năng lực đó Những việc làm

này rất hữu ích cho chúng tôi trong đợt thực tập sư phạm cuối khoá cũng như trong giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học trong tương lai

Trang 8

Như vậy, nhận thức về ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

là những lí do khiến chúng tôi quyết định “ Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình

Tiếng Việt ở tiểu học”

II Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về câu trong tiếng Việt là đề tài lớn, được nhiều người quan tâm, tìm hiểu Chúng ta có thể hệ thống hoá kết quá nghiên cứu về câu tiếng Việt trong các tài liệu sau:

1 Các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt

Trong khuôn khổ khoá luận, chúng tôi xin kể ra một số tài liệu của

những tác giả có tên tuôi sau:

- Sơ thảo Ngữ pháp Việt Nam, Lê Văn Lý, Bộ giáo dục, Trung tâm học

liệu (Sài Gòn) xuất bản, 1968

- Ngữ pháp Việt Nam giản dị và thực dụng, Bùi Đức Tịnh, tái bản lần

1, Nxb Văn hoá Thông tin, 1992

- Ngữ pháp tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1980

- Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Diệp Quang Ban, Nxb Giáo dục, 1992

- Ngữ pháp tiếng Việt, Hoàng Thung - Lê A, Trường Đại học sư phạm

Ha Noi 1, 1994

- Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban (chủ biên) - Hoàng Dân, Nxb

Giáo dục, 2000

- Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Nxb Giáo dục, 2008

Trong những giáo trình tiêu biểu kể trên, nội dung nghiên cứu câu ngày càng phong phú, ngày càng hiện đại Tính chất hiện đại của việc nghiên cứu vấn đề này được thể hiện trong cách dùng thuật ngữ

Trang 9

Chẳng hạn, Lê Văn Lý và Bùi Đức Tịnh, trong các giáo trình ngữ pháp xuất bản ở Sài Gòn trước giải phóng đã sử dụng các thuật ngữ như: Câu tự

luận, câu phức tạp, câu khuyến lệnh, câu một mệnh đề, câu nhiều mệnh

đề Sau này, trong các tài liệu hoặc giáo trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, các nhà khoa học đã thống nhất gọi câu tự luận là câu kể (hoặc câu

tường thuật, câu trình bày), câu khuyến lệnh được gọi là câu cầu khiến

Tương tự, thuật ngữ câu một mệnh đề được thống nhất thay là câu đơn và câu nhiều mệnh đề được thay bằng thuật ngữ câu ghép

Nội dung nghiên cứu về câu trong các giáo trình ngữ pháp ngày càng phong phú hơn Chẳng hạn, các tác giả Lê Văn Lý, Bùi Đức Tịnh chỉ nêu lên cách hiểu sơ lược về từng kiểu câu Và những cách hiểu đó ít nhiều chịu ảnh

hưởng cách nhìn nhận về câu của phương Tây Hạn chế này đã đựợc các nhà ngữ pháp như Diệp Quang Ban, Hoàng Thung - Lê A, Bùi Minh Toán, Nguyễn Minh Thuyết khắc phục trong những công trình nghiên cứu của mình Ngay giữa những công trình nghiên cứu của một nhà ngữ pháp ở những thời điểm khác nhau, vấn đề nghiên cứu câu cũng ngày được mở rộng hơn Ví dụ: trong giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (1992), Diệp Quang Ban đã trình bày:

khái niệm về câu, các tiêu chí phân loại câu, khái niệm từng kiểu câu được

phân chia dựa vào đặc điểm cấu tạo ngữ pháp hay mục đích nói Ở giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (2000), tác giả đã đề xuất việc xem xét câu theo mục đích nói phải căn cứ vào hai tiêu chuẩn:

- Mục đích sử dụng câu

- Đặc điểm hình thức (các phương tiện từ ngữ và ngữ pháp được đùng

để cấu tạo câu)

Cũng trong giáo trình này, vấn đề nghiên cứu câu theo mục đích nói được tác giả làm sâu sắc hơn Theo Diệp Quang Ban, việc nghiên cứu câu phải gắn liền với hoạt động nói của người giao tiếp trong sử dụng Từ đó, ông

Trang 10

đưa ra sự phân biệt những kiểu câu theo mục đích nói được sử dụng theo lối trực tiếp với những kiểu câu được sử dụng theo lối gián tiếp

Các giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt nêu trên, đặc biệt các công trình nghiên cứu về câu của Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban đã cung cấp cho những người học tập, nghiên cứu về câu một số hiểu biết quý báu như:

khái niệm về câu, những tiêu chí phân loại câu, đặc điểm của từng kiểu câu theo các tiêu chí phân loại và các bình diện nghiên cứu câu

2 Các SGK Tiếng Việt ở tiểu học, SGK Ngữ Văn THCS

Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học từ năm 2000 đến nay, kiến thức về câu được đưa vào từ lớp 2 đến lớp 5 qua phân môn Luyện từ và câu

Để thực hiện mục tiêu là chú trọng rèn kĩ năng thực hành sử dụng tiếng Việt, nên ngay từ lớp 2, học sinh không học lý thuyết về câu mà thông qua các bài

tập thực hành đề nhận ra đặc điểm cấu trúc và cách thức đặt câu Đến lớp 4, 5 học sinh mới học những bài lý thuyết về câu, trong đó có khái niệm về các

thành phần của câu, các kiểu câu xét theo cấu tạo, các kiểu câu xét theo mục

đích nói

Có thể thấy trong SGK Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5, nội dung dạy học

về câu chủ yêu theo hướng thực hành từ dễ đến khó; từ bài tập nhận diện theo

mẫu đến vận dụng sáng tạo đề tạo lập câu vận dụng hiểu biết giản yếu về câu,

hướng dẫn học sinh tạo lập văn bản, đoạn văn bản

Đối với bậc THCS, nội dung dạy câu đã được đề cập đến trong SGK

Ngữ Văn Kiến thức về câu được đưa vào dạy ở bậc học này có sự mở rộng

trên cơ sở kế thừa kiến thức học sinh đã biết ở tiểu học Các bài học ly thuyét

và thực hành có sự gắn bó chặt chẽ Học sinh đựơc tìm hiểu sâu hơn về khái niệm câu, các loại câu, các thành phần câu Các bài tập thực hành giúp các em

củng cố vững chắc kiến thức về câu, đồng thời giúp các em rèn kĩ năng tạo

Trang 11

lập đoạn văn bản có sử dụng các kiểu câu theo chủ đề sát hơn với hoàn cảnh

- Chức năng của câu hỏi trong một số văn bản văn xuôi nghệ thuật, Phạm Thị Thu Vân, K27B Ngữ Văn

- Câu phân theo mục đích nói và cách sử dụng, Đào Thị Hưởng, K29 Ngữ Văn

- Các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong sách giáo Tiếng Việt tiểu học, Nguyễn Thị Phương, K30 Giáo dục Tiểu học

Điểm lại tình hình nghiên cứu về câu trong ba nguồn tài liệu kể trên, có thể thấy rõ: việc nghiên cứu vấn đề này không mới vì đã có rất nhiều người khai thác Tuy vậy, đề tài “ Từm hiểu hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bán văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở tiểu hoc” cia ching toi khong han là cũ vì nó chưa trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu nảo

II Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở tiểu học

IV Mục đích nghiên cứu

Khoá luận của chúng tôi nhằm các mục đích sau:

- Củng cố kiến thức những hiểu biết về câu cho bản thân, đồng thời trang bị cho mình cách cảm thụ hiệu quả nghệ thuật dùng câu trong văn bản

văn xuôi nghệ thuật

Trang 12

- Tìm ra cách thức phù hợp để bồi dưỡng năng lực nhận thức về hiệu

quả dùng câu trong văn bản văn xuôi nghệ thuật cho học sinh tiểu học khi tác

giả khoá luận trở thành một giáo viên tiểu học

V Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Hệ thống nhứng lý thuyết về câu trong các giáo trình Ngữ pháp tiếng

Việt của những nhà Việt ngữ học có tên tuổi để tìm hiểu lịch sử vấn để và để

xác định cơ sở lí luận cho đề tài

2 Thống kê khảo sát các kiểu câu trong các văn bản văn xuôi nghệ

thuật thuộc phạm vi nghiên cứu

3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu để xác định hiệu quá của các kiểu

câu trong văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở tiểu

học

VI Phạm vi nghiên cứu

1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

- Do thời hạn và khuôn khổ khoá luận, nên chúng tôi tập trung tìm hiểu: hiệu quả của các kiểu câu, các biện pháp tu từ cú pháp đối với việc thực hiện

chức năng thông báo thẩm mỹ, chức năng biểu cảm, chức năng giáo

dục trong văn bản văn xuôi nghệ thuật

2 Giới hạn đối tượng khảo sát

- Khảo sát 58 văn bản (đoạn văn bản) thuộc kiểu bài Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, 3, 4 ở tiểu học

VII Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được dùng để thống kê, phân loại các kiểu câu đã

được các nhà văn sử dụng trong văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc phạm vi

nghiên cứu

Trang 13

Chúng tôi sử dụng phương pháp này đề phân tích ngữ liệu nhằm chỉ ra hiệu quả của các câu trong văn bản văn xuôi nghệ thuật

4 Ngoài những phương pháp đã kế trên, chúng tôi còn sử dụng các

phương pháp miêu tá, so sánh để xứ lý đề tài

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.1 Câu trong tiếng Việt

1.1.1.1 Khái niêm về câu

Trong các đơn vị ngôn ngữ, câu là đơn vị được định nghĩa theo nhiều

cách khác nhau Chúng tôi xin chọn định nghĩa của Diệp Quang Ban:

Diệp Quang Ban định nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thê kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp

hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn

vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” (Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng

Việt, tập 2, Nxb Giáo dục)

Chúng tôi cho rằng định nghĩa trên của Diệp Quang Ban hội tụ những

đặc điểm cơ bản sau về câu:

Về hình thức: Câu cô câu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài có tinh

chất tự lập và có một ngữ điệu kết thúc

Về nội dung: Câu có nội dung là một tư tưởng tương đối trọn vẹn và có kèm theo thái độ của người nói hay nội dung là thái độ, tình cảm của người noi

Về chức năng: Câu có chức năng truyền đạt tư tưởng, tỉnh cảm Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất

Về lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học

Trang 15

1.1.1.2 Sự phân loại câu trong tiếng Việt

Có rất nhiều cách phân loại câu Hiện nay, người ta thường chọn hai tiêu chí phân loại câu Đó là: đặc điểm cấu tạo câu và mục đích nói (còn gọi là

mục đích phát ngôn) Dựa vào từng tiêu chí đã xác định, có thể phân loại

thành những kiểu câu cụ thê

a Các kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp

Dựa vào tiêu chí này, các nhà Việt ngữ học đã phân chia câu tiếng Việt

thành câu đơn và câu ghép Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo, người ta lại phân chia từng kiểu câu thành những tiểu loại nhất định

> Câu đơn trong tiếng Việt

Dựa vào đặc điểm cấu tạo câu, các nhà khoa học phân chia câu đơn thành câu đơn bình thường, câu đơn mở rộng, câu đơn rút gọn và câu đơn đặc biệt

s* Câu đơn bình thường (còn được gọi là câu đơn hai thành phần)

Đó là kiểu câu được cấu tạo bằng hai thành phần chính: Chủ ngữ (viết tắt là CN hoặc C) và vị ngữ (viết tắt là VN hoặc V) Hai thành phần này làm thành một kết cầu C - V nòng cốt duy nhất trong câu

Câu đơn bình thường có hai kiểu cấu trúc:

Câu đơn bình thường có cấu trúc C — V khi CN do danh từ, đại từ đảm

nhiệm, còn VN do động từ, tính từ đảm nhiệm

Kiểu câu đơn bình thường có cấu trúc C là V khi CN đo động từ, tinh

từ đảm nhiệm, còn VN do danh từ đảm nhiệm Trong tiếng Việt cũng có

trường hợp câu đơn hai thành phần có cấu trúc C là V khi CN và VN đều do

danh từ hoặc động từ đảm nhiệm

VDI : Đền Thượng nằm chót vớt trên đỉnh núi Nghĩa Linh (Doan Minh Tuan)

Trang 16

VD2: Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi chúng ta (Hồ Chí Minh)

TRN là một trong các thành phần phụ của câu, nó có chức năng bổ sung ý nghĩa về: thời gian, không gian, nguyên nhân, mục đích hoặc ý nghĩa

về phương tiện, cách thức cho nòng cốt câu Về mặt lí thuyết, TRN là thành phần có thê đặt linh hoạt trong câu (ở đầu câu, giữa hai thành phần chính hoặc

ở cuối câu) Trong thực tế, việc lựa chọn vị trí của TRN hoàn toàn tùy thuộc

vào chủ ý của người nói trong những hoàn cảnh giao tiếp cu thé

VD4: Từ ngày còn ít tuổi, tôi đã thích những tranh lợn, gà, chuột, ếch, tranh

cây dừa, tranh tô nữ của làng Hồ

(Nguyễn Tuân) VDS: Vì đường xa, chung tôi chỉ ở nhà được có ba ngày

(Nguyén Quang Sang)

VD6 : Ở mỗi người Việt Nam chúng ta, niềm kính yêu lòng biết ơn Bác Hồ

luôn là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc (Đức Thảo)

Vv

Trang 17

VD7: Dé lam ra buồng, ra nai, cây mẹ phải đưa hoa chúc xuống một phía

(Pham Dinh An)

Cũng là thành phần phụ của câu, nhưng KN lại có chức năng nêu chủ

đề cho câu KN thường đứng ở đầu câu Trong văn viết, thành phần này được ngăn cách với thành phần nòng cốt bằng dấu phảy

VD8: Nhà, bà ấy có dãy ở khắp các phố (Nguyễn Công Hoan)

VD9: Cứ dạy; một thằng cũng dạy (Nam Cao)

s* Cau đơn rút gọn

Trong giao tiếp, người Việt có thé rút gọn CN hoặc VN, hoặc cả hai

thành phần chính của câu, nhưng người nghe vẫn tiếp nhận được một nội dung thông báo trọn vẹn và có thể khôi phục được những thành phần đó Những câu đơn như thế gọi là câu đơn rút gọn

VD10: - Ở nhà trông em nhá! (Kim Lân)

Câu nói trên là của nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân

Ở đây, ông Hai đã rút gọn CN “con” Trong hoàn cảnh giao tiếp với ông, con

gái ông hiểu đầy đủ lời đặn của cha

VDII: - Mai anh có di Hà Nội không?

- Không

Ở ví dụ I1, lời đáp là một câu rút gọn cả hai thành phần chính Tuy vậy, trong giao tiếp người nghe vẫn thỏa mãn vì nội dung hỏi đã được giải đáp cụ thé

% Câu đơn đặc biệt

Đây là kiểu câu đơn chỉ được cấu tạo bằng một từ, hoặc cụm từ, không phân định được đâu là CN, VN; nhưng nó vẫn thông báo một nội dung trọn vẹn trong một tình huống cụ thể

'VDI12: Nước!

Trang 18

'VDI13: Gió! Mưa! Nao nung!

> Câu ghép trong tiếng Việt

Câu ghép là kiểu câu được cấu tạo từ hai kết cấu C — V nòng cốt trở

lên, mỗi kết cấu C — V nòng cốt làm thành một về câu, các về có quan hệ

VD14: Bố em là bác sĩ, còn mẹ em là giáo viên

s* Cau ghép chính phụ

- Là kiểu câu được cấu tạo từ hai kết cấu C — V nòng cốt trở lên, mỗi

kết cấu C — V nòng cốt làm thành một về câu Các về có quan hệ chính — phụ Các về của câu ghép chính phụ có thể được nối với nhau bằng các cặp quan

hệ từ (các kết từ)

VDI5: Nếu cụ chỉ cho một đồng thì chúng con biết chạy vào đâu

b Các kiểu câu được phân chia theo mục đích nói

Dựa vào chức năng của câu gắn với mục đích nói (mục đích phát

ngôn), các nhà ngữ pháp đã phân chia câu tiếng Việt thành: câu kế, câu hỏi,

câu cầu khiến, câu cảm thán Ở từng kiểu câu trên, đựa vào mục đích dùng

câu trong giao tiếp, Diệp Quang Ban (2000) lại phân chia thành câu đích thực

và câu không đích thực

Trang 19

> Câu kế (còn được gọi là câu tường thuật, câu trần thuật, câu trình bày)

“+ Định nghĩa

Diệp Quang Ban (2000) cho rằng: đây là kiểu câu “có chức năng trình

bày, tức là xác nhận, mô tả một vật, hiện tượng, sự việc với các đặc trưng và

quan hệ của chúng” (Ngữ pháp tiếng Việt, trang 212)

s* Các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng để tạo câu

Các nhà ngữ pháp đều cho rằng câu kể là câu không có các từ ngữ chuyên dụng thực hiện hành động nói như ở câu hỏi, câu cảm thán và câu cầu khiến Theo Nguyễn Văn Tu (1968), khi nói, câu kể có ngữ điệu kể (thường

hạ giọng ở cuối câu), khi viết được kết thúc bằng dấu chấm

Diệp Quang Ban (2000) thì cho rằng: ngoài các thực từ và hư từ, trong câu trình bày, người ta có thể dùng các trợ từ tình thái để làm rõ quan hệ nào

đó giữa người nói với người nghe, hoặc với nội dung được nói tới

VDI6: Con di a

Từ ạ trong ví dụ trên được người nói sử dụng để làm rõ quan hệ tôn

trọng, nhằm biểu thị sự lễ phép của con với cha mẹ

s%% Sự phân loại câu kế

Từ quan niệm của Diệp Quang Ban (2000), có thé phan chia cau ké thành câu kế đích thực và câu kế không dich thực

Dựa vào định nghĩa của Diệp Quang Ban (2000) về câu đích thực, chúng ta có thể hiểu câu kế đích thực như sau: Đó là những câu kể mang hình thức kế phù hợp với chức năng nguyên cấp của nó, tức là nó được dùng để kể,

dé ta, dé trình bay vé mot su vat, su viéc, hién tượng với những đặc trưng và quan hệ của nó trong hiện thực

VDI7: Triệu Thị Trinh quê ở vùng núi Quan Yên (Thanh Hóa)

Câu kế không đích thực là những câu có hình thức của câu kế nhưng

mục đích dùng câu lại nhằm đề hỏi, để cầu khiến hoặc để cảm than

Trang 20

VDI8: Hôm nay, trời nắng cháy rát cả mặt

Câu trên sẽ là một câu kế không đích thực khi người nói muốn mượn

hình thức câu kể để ngầm sai khiến người nghe: “/##ấy cho tôi uống bia” hoặc

“Hãy dành chiếc quạt máy duy nhất của nhà cho tôi ”

> Câu hỏi (còn được gọi là câu nghỉ vấn)

“+ = Dinh nghia

Câu hỏi là câu trong đó người nói có sử dụng hành động hỏi để thê hiện một mục đích giao tiếp nào đó (để bày tỏ điều mình chưa biết, chưa rõ, hoặc nhằm một mục đích tu từ)

s* Các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong câu

Khác với câu kể, trong câu hỏi, người nói thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng như: từ nghỉ vấn, ngữ điệu nghi vấn (khi nói) và

dấu chấm hỏi đề kết thúc câu (khi viết)

Các từ nghi vấn trong câu hỏi rất đa dạng Có thê là các đại từ nghỉ vấn

như: ai, gì, nào, sao, thế nào, đâu, bao giờ, bao lâu, bao nhiêu

Trong câu hỏi, có khi người nói sử dụng các phụ từ ở cuối câu như: chưa, không, chăng Cũng có khi người ta dùng các khuôn hình cú pháp kết

hợp động từ với phụ từ, chang han:

` Phân loại câu hỏi

Các nhà ngữ pháp học đã phân chia câu hỏi thành câu hỏi thông thường (câu hỏi đích thực) và câu hỏi tu từ (câu hỏi không đích thực)

Trang 21

Câu hỏi đích thực là những câu có hình thức câu hỏi phù hợp với chức năng nguyên cấp của câu, tức là người nói đùng để biểu thị điều chưa biết, chưa rõ với mong muốn được người nghe trả lời trực tiếp

VDI19: - Cậu nói chuyện với ai trong đó thế?

- Cái Lan

Khác với câu hỏi đích thực, câu hỏi tu từ là những câu, ở đó người nói chỉ mượn hình thức câu hỏi để nhằm mục đích khẳng định, phủ định, ngợi ca,

than thở, sai khiến

VD20: Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?

Em có tuổi hay không có tuôi?

Mái tóc em đây hay là mây là suối?

Đôi mắt em nhìn hay lửa chớp đêm đông?

Thịt da em hay là sắt là đồng?

Trong ví dụ trên, nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng một loạt các câu hỏi tu từ

để ngợi ca chị Trần Thị Lý - một người con gái bình thường nhưng lại có những phẩm chất phi thường Những câu hỏi tu từ đó được nhà thơ sử dụng

để bộc lộ sự ngưỡng mộ và thán phục của mình đối với người con gái miền

Nam anh hùng

> Cau cam than

“+ Định nghĩa

Câu cảm thán được hiểu là loại câu dùng để bày tỏ thái độ, cảm xúc,

tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tính thần khác thường

của người nói đối với người nghe, đối với sự vật mà câu nói đó đề cập hoặc

ám chỉ

s* Các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng đề tạo câu

Trang 22

Trong câu cảm thán, người nói thường sử dụng các phương tiện ngôn

ngữ chuyên dụng như: ngữ điệu (khi nói), trợ từ tình thái và dấu chấm than dé kết thúc câu (khi viết)

Các trợ từ tình thái trong câu cảm thán cũng rất đa dạng Có thể là các

thán từ như: Ôi, chao 6i, 6 hay, eo Gi ;cac tiểu từ thay, nhỉ, nhé, phô từ nhu: that, lắm, quá, xiết bao, biết mấy,

Trong câu cảm thán có khi người ta sử dụng lối kết hợp thán từ và thực

từ làm thành khuôn hình “X ơi là X†” hoặc sử dụng khuôn hình không chưa

thán từ: sao mà, thế

VD2I: Vui ơi là vui!

VD22: Sao ma cai đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế

Khi đọc, ngữ điệu câu cảm thán thường nhấn mạnh, kéo dài cuối câu

ˆ Phân loại câu cảm thán

Cũng giống như câu kể và câu hỏi, câu cảm thán cũng được chia làm

hai loại là câu cảm thán đích thực và câu cảm thán không đích thực

Câu cảm thán đích thực là những câu cảm thán mang hình thức cảm thán phù hợp với chức năng nguyên cấp của nó là dùng dé thể hiện cảm xúc,

thái độ đánh giá, tình cảm của người nói đối với người nghe, đối với sự vật,

SỰ VIỆC

VD23: Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!

Câu cảm thán không đích thực là những câu có hình thức của câu cảm thán nhưng mục đích lại nhằm để cầu khiến (yêu cầu, đề nghị )

VD24: Lớp ồn quá!

Câu trên sẽ là một câu cảm thán không đích thực khi người nói muốn

mượn hình thức câu cảm thán để yêu cầu lớp học “Trật tự”

> Câu cầu khiến (còn được gọi là câu mệnh lệnh)

Trang 23

Từ định nghĩa của các nhà ngữ pháp học, chúng ta có thể hiểu câu cầu

khiến là loại câu được dùng đề nêu ý muốn mệnh lệnh của người truyền đạt,

mục đích của câu cầu khiến là hướng tới người nghe để người nghe phải thực

hiện điều được nêu ra trong câu

s* Các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong câu

Câu cầu khiến được biểu thị bằng ngữ điệu, phụ từ tạo ý mệnh lệnh

Khi viết, cuối câu câu khiến thường đặt dấu chấm than

Các phụ từ tạo ý mệnh lệnh như: hấy, đừng, chớ; hoặc các trợ từ tình

thái mang ý nghĩa sai khiến như: đi, ngay, đi ngay

Ngữ điệu câu cầu khiến có nhiều thang độ và mang những ý nghĩa tỉnh

tế khác nhau Khi nói lên giọng ở cuối câu và kéo đài từ mang nội dung chính

Có khi câu cầu khiến còn được cấu tạo bằng gắn một ngữ điệu bằng một thực

từ

VD24: Im!

Ngoài ra để cho lời ra lệnh có sắc thái địu dàng, bớt gay gắt hoặc tăng tính chất quyết liệt, có thê thêm chủ ngữ thích hợp vào trước phần nội dung lệnh, hoặc thêm hô ngữ thích hợp vào trước hay sau phần ấy

VD25: Bác đừng nói thế !

CN

ˆ Phân loại câu cầu khiến

Từ quan niệm của Diệp Quang Ban, có thể phân chia câu cầu khiến ra thành hai loại: câu cầu khiến đích thực và câu cầu khiến không đích thực Câu cầu khiến đích thực là những câu có hình thức phù hợp với mục đích sử dụng của nó, tức là dùng để nêu mệnh lệnh và yêu cầu người nghe

thực hiện

VD26: Hãy làm bài đi !

Trang 24

Câu cầu khiến không đích thực là kiểu câu có hình thức của câu cầu

khiến nhưng lại được dùng với mục đích dé bộc lộ tình cảm, sự giận dỗi, sự thách thức, phản đối

VD27: Anh thử động vào những đồ vật của tôi xem !

Câu trên sẽ là câu cầu khiến không đích thực khi người nói nhằm khẳng định thực hiện một hành động trừng trị sau lời thách thức

1.1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.1.2.1 Khái niệm

Các tác giá SGK Ngữ Văn 10 trong bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” đã giúp chúng ta nhận ra rằng: Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc dạng viết) nhằm thực hiện mục đích giao tiếp trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa các nhân tô trong hoạt động giao tiến

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tổng hòa giữa các nhân tố ngoài ngôn ngữ (nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp)

và các nhân tố ngôn ngữ (các phương tiện âm thanh, chữ viết, từ vựng ngữ nghĩa, câu và cách thức sử dụng các phương tiện đó) Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân tố ngoài ngôn ngữ đóng vai trò làm tiền dé chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ Ngược lại, các nhân tố ngôn ngữ và cách thức

sử dụng chúng có tác đụng hiện thực hóa các nhân tố ngôn ngữ

Những hiểu biết về lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta có những căn cứ khoa học để lý giải vì sao các tác giả văn xuôi nghệ

thuật lại lựa chọn những kiểu câu như vậy để hiện thực hóa nội dung phản ánh, để gây được thiện cảm và hứng thú tiếp nhận của học sinh tiểu học

Trang 25

1.1.3 Văn bản

1.1.3.1 Khải niêm

Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói

hoặc lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài có loại như một

truyện kể, một bài thơ, một biển chỉ đường (Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, 1994, R.E.Asher (chủ biên), Dẫn theo Diệp Quang Ban - Giao

tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn, 2003 tr 30)

1.1.3.2 Đặc điểm cơ bản của văn bản

a Về nội dung

Mỗi văn bản thường thể hiện một chủ đề, chủ đề đó được khai triển

theo dụng ý của người tạo lập văn bản Nội dung của văn bản phải có tính mạch lạc, tính liên kết và tính hoàn chỉnh

- Tính hoàn chỉnh: Văn bản phải trình bày trọn vẹn vấn đề nào đó cần thông báo

- Tính mạch lạc và liên kết

+ Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 2001, Diệp Quang Ban chỉ rõ “Mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát

ngôn không có liên quan với nhau” Theo cách hiểu này, nói đến mạch lạc trước hết là nói đến tính hệ thống nhất trong việc biểu hiện nội dung giữa các

cau, biéu hiện đề tài (chủ đề) của toàn văn bản

+ Liên kết là đặc trưng cơ bán của văn bản Diệp Quang Ban quan niệm

liên kết là một bộ phận biểu hiện của mạch lạc “ Liên kết là thứ quan hệ

nghĩa giữa hai (hơn hai) yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai (hơn hai) câu (hay khúc đoạn lời nói chung) theo kiểu muốn hiểu nghĩa của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau” (Wgữ pháp tiếng Việt, Nxb, 2001)

Trang 26

b Về hình thức

- Mỗi văn bản bao giờ cũng phải gắn với một thê loại nhất định

- Mỗi văn bản bao giờ cũng có một hình thức kết cấu nhất định Hình

thức đó được thế hiện trong bố cục toàn văn bản và cách tổ chức từng bộ phận

của văn bản

- Ngôn ngữ trong mỗi văn bản bao giờ cũng phải mang màu sắc của một phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định

1.2 Cơ sở lý luận văn học

Các nhà lý luận văn học cho rằng: Các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật có

đặc trưng đặc thù so với tác phẩm thơ hoặc kịch Những đặc trưng đặc thù đó được thé hién 6 cac yếu tố như: Nhân vật, cốt truyện, giọng điệu, ngôn từ

1.2.1 Nhân vật

Trong cuốn “Lý luận văn học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, các tác giả định nghĩa về nhân vật văn học như sau: “Nhân vật văn học là khái niệm

ding dé chi hình tượng các cá thể con người trong tác phâm văn học — cái đã

được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ

thuật ngôn từ” (Sđd, tr 73)

Nhân vật trong văn học rất đa dạng Đó có thể là những nhân vật hữu danh như Chí Phèo, Bá Kiến, Thúy Kiều, Từ Hải Đó có thể là các nhân vật không có tên riêng Nhà văn có thể dựa vào nghề nghiệp hoặc đặc điểm số phận mà gọi tên nhân vật như: thằng bán tơ (trong 7ruyện Kiểu của Nguyễn

Du), người vợ nhặt (trong ƒợ nhặt của Kim Lân)

Nhân vật trong văn bản văn xuôi nghệ thuật có thể là một ông Bụt, bà Tiên, một vị thần, một con quỷ, con ma, một hiện tượng thiên nhiên, một con

vật có đời sống, số phận như con người Chẳng hạn: cây xà nu trong Rừng xà

nu cia Nguyễn Trung Thành; con sông Đà trong Người lái đò sông Đà của

Trang 27

Các nhà lí luận văn học căn cứ vào những tiêu chí phân loại phân chia nhân vật thành nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật

phản diện Thông qua việc miêu tả hình tượng nhân vật, nhà văn thể hiện một chủ đề hoặc một tư tưởng chủ đề nào đó

Theo Trần Đình Sử “Giọng điệu trong văn bản thể hiện giọng điệu

riêng mang thái độ, tình cảm và đánh giá của tác giả”

Trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật, giọng điệu thể hiện qua giọng kể,

mà người kế có thể là nhà văn, có thể là một nhân vật Giọng điệu bao giờ

cũng được biểu đạt bằng những cách xưng hô, cách gọi tên sự vật gắn liền với cảm hứng chủ đạo của tác giả qua các từ ngữ và câu văn

1.2.4 Ngôn ngữ

Văn học là nghệ thuật của ngôn từ Trong văn bản văn xuôi nghệ thuật, tất cả cốt truyện, nhân vật, giọng điệu được hiện thực hóa thông qua các phương tiện ngôn ngữ giàu sức gợi hình, biểu cảm mang đậm dấu ấn của nhà văn

1.3.Cơ sở tâm lý

Bùi Văn Huệ trong Giáo trình tâm lý học tiểu học, Nxb Giáo dục, 1997,

đã trình bày những đặc điểm về tâm lý của lứa tuổi học sinh tiểu học Những đặc điểm này có vai trò rất quan trọng đối với quá trình đạy học nói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng

oe

4 Về đặc điểm trí nhớ

Trang 28

Ở lứa tuôi học sinh tiểu học, hai quá trình thần kinh 1a hung phan va te chế của bộ não đều phát triển và có sự phân hóa rõ rệt Quá trình hoạt động của các đường liên hệ thần kinh tạm thời trên bộ não dễ dàng nhưng không bền vững nên học sinh dễ nhớ nhưng chóng quên Ở các em, tri giác còn gắn liền với sự quan sát tổng thể đối tượng, trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển

tốt hơn trí nhớ khái niệm trừu tượng, trí nhớ ngắn hạn phát triển tốt hơn trí

nhớ đài hạn Học sinh ghi nhớ máy móc là chủ yếu do ngôn ngữ còn hạn chế nên việc nhớ chính xác từng câu từng chữ trong bài học dễ đàng hơn khi diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình

Về đặc điểm tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức, nhờ đó giúp học sinh tiếp thu được,

phản ánh được bản chất của các đối tượng trong quá trình học tập Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tư duy bằng trực quan sinh động chiếm ưu thế Tư duy trừu tượng, tư duy khoa học bắt đầu phát triển nhưng chưa mạnh và vẫn phải dựa trên tư duy cụ thể

+ Về mặt cảm xúc, tinh cam

Học sinh tiểu học đã hình thành, phát triển những tình cảm mới: yêu, ghét, hứng thú Tình cảm của học sinh tiểu học chưa ổn định, trẻ dễ xúc động và xúc cảm, khó làm chủ được cảm xúc của mình và tình cảm của các

em còn gắn liền với tính trực quan thông qua hình ảnh cụ thẻ

Những cơ sở tâm lý học nêu trên, giúp chúng ta có căn ctr dé ly giải vì

sao các tác giả lại lựa chọn các văn bản văn xuôi ngắn gọn, dễ hiểu, đáng yêu

Đa số các văn bản đều có tranh minh họa để nhằm cụ thể hóa nội dung được

phản ánh

Như vậy, ở chương này, chúng tôi đã chọn một số lý thuyết tiêu biểu của ngôn ngữ học, lí luận văn học và tâm lý học làm cơ sở lí luận cho đề tài Những lí luận liên ngành đã được trình bày ở trên sẽ là những căn cứ khoa

học chắc chắn giúp chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Trang 29

CHƯƠNG 2

KET QUA THONG KE PHAN LOAI NHUNG CACH DUNG CAU TRONG VAN BAN VAN XUOI NGHE THUAT THUOC

SGK TIENG VIET Ở TIỂU HỌC

2.1 Đối tượng khảo sát, thống kê của khóa luận

Dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà Ngữ pháp tiếng Việt, chúng tôi khảo sát các kiểu câu được dùng trong 58 văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc sách giáo khoa Tiếng Việt 2, 3, 4 (những kiểu câu được phân chia theo cấu tạo ngữ pháp và những kiểu câu được phân chia theo mục đích nói) Ngoài ra, các biện pháp tu từ cú pháp cũng thuộc đối tượng khảo sát, thống kê của chúng tôi trong khóa luận này

2.2 Miêu tả kết quả thống kê phân loại những cách dùng câu trong văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học 2.2.1 Tỉ lệ sử dụng những kiểu câu được phân chia theo cấu tạo ngữ

pháp

Trong tổng số 150 văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc kiểu bài tập đọc

trong chương trình Tiếng Việt 2, 3, 4, chúng tôi đã thống kê các cách dùng câu trong 58 văn bản (đoạn văn bản) với tổng số 819 câu

2.2.1.1 Tỉ lê câu đơn được dùng trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật Trong tổng số 819 câu, số lượng câu đơn là 722 chiếm 88,1% Trong đó:

a Tỉ lệ câu đơn hai thành phân là 228/722 > 31,6%

VDI: Mến bơi rất nhanh

(Đôi bạn, Tiếng Việt 3, tập một)

VD2: Công chúa rất đỗi bàng hoàng

(Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử, Tiếng Việt 3, tập hai)

Trang 30

VD3: Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng

(Con chuồn chuồn nước, Tiếng Việt 4, tập hai)

b Tỉ lệ câu đơn mở rộng thành phân phụ là 436/722 > 60,3% Trong đó:

b.1 Câu đơn mở rộng bằng TRN chiếm tỉ lệ 315/436 ~ 72,2%

VD4: Từ cầu Hiền Lương, thuyền xuôi khoảng 6 cây số nữa là đã gặp biển cả mênh mông

(Cửa Tùng, Tiếng Việt 3, tập một) VD5: Để tránh bị địch phát hiện, ông phải vòng từ Nhật Bản qua Thái Lan, sang Lào, về Nghệ An, rồi từ Nghệ An lên Việt Bắc

(Người trí thức yêu nước, Tiếng Việt 3, tập hai) VD6: Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tươi đẹp vô cùng

(Trung thu độc lập, Tiếng Việt 4, tập một) b.2 Câu đơn mở rộng bằng KN chiếm tỉ lệ 19/436 = 4,35%

VD7: Còn hạt thì cháu vứt đi rồi

(Những quả đào, Tiếng Việt 2, tập hai) VD8: Cứu người, họ không hề ngần ngại

(Đôi bạn, Tiếng Việt 3, tập một) VD9: Người ta ai cũng phải có một cái nghề

(Thưa chuyện với mẹ, Tiếng Việt 4, tập một) b.3 Tỉ lệ câu đơn mở rộng bằng các thành phần phụ khác (Hô ngữ (HN), Liên ngữ (LN), thành phần phụ chú .) là 102/436 ~ 23,4%

VDI0: Rồi vườn cây ra hoa

LN (Mùa xuân đến, Tiếng Việt 2, tập hai)

VDII: Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu?

HN (Cậu bé và cây sỉ già, Tiếng Việt 2, tập hai)

Trang 31

VD12: Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học, tôi đã may mắn có ông ngoại

~ thầy giáo đầu tiên của tôi

(An "mam da" , Tiếng Việt 4, tập hai)

d Tỉ lệ câu đơn đặc biệt là 31/722 = 4,3%

Ngày đăng: 06/10/2014, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w