LỜI NÓI ĐẦUBước sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự đổi mới về cơ chế chính sách của Nhà nước, cũng như những tư tưởng đường lối của đảng, nước ta có những chuyển biến vượt bậc về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, đời sống dân cư được cải thiện, tạo tiền đề cho sự ổn định về chính trị, đã khẳng định vị trí của nước ta trong khu vực cũng như trên trường quốc tế.Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, mục tiêu hàng đầu của các DN là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi các DN thương mại phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình kinh doanh, đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh luôn diễn ra thường xuyên, liên tục và có hiệu quả. Do vậy, hoạt động tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ giữ vai trò rất quan trọng, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát triển của DN. Chỉ khi DN tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụ thì DN mới có cơ sở tiếp tục quá trình kinh doanh của mình, nghĩa là mới bù đắp được chi phí và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Đẩy mạnh hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, tăng doanh thu sẽ đảm bảo cho các DN thắng thế trong cạnh tranh, mở rộng quy mô kinh doanh, đưa vị trí của DN lên một tầm cao mới.Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, ngời cho vay, Nhà nước và người lao động. Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh. Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp.Ngay từ khi mới ra đời, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh của DN đã và đang là công cụ thực sự quan trọng trong quản lý kinh tế cùng với các công cụ quản lý khác ngày càng được cải tiến, đổi mới và phát huy tác dụng để đáp ứng yêu cầu quản lý trong nền kinh tế thị trường. Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc là một đơn vị hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực dược vật tư y tế, trực thuộc Công ty Dược VTYT Thanh Hóa. Là một trong những đơn vị ngoài việc phấn đấu vì doanh thu và lợi nhuận còn phải vì mục tiêu : tất cả vì sức khỏe cộng đồng. Chính vì thế, chữ tín (Thương hiệu) trong hoạt động kinh doanh là vấn đề then chốt.Xuất phát từ thực tế nêu trên, và với sự chỉ đạo tận tình của Thây giáo Ths. Lê Đức Thiện, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Bộ phận tài chính kế toán của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc, trong phạm vi nghiên cức tình hình tài chính của đơn vị năm 2011 và năm 2012, em đã lựa chọn đề tài “ Phân tích báo cáo tài chính và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Chi nhánh Dược Phẩm Hậu Lộc” với mong muốn làm rõ cơ sở lí luận về công tác phân tích tài chính và đánh giá tình hình kinh doanh tại Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc.Đơn vị có tên đầy đủ: Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc Tên viết tắt: ThephacoĐịa chỉ: Khu 1, Thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.Điện Thoại: 0373 831 045Nội dung chính của chuyên đề bao gồm 3 chương:Chương 1: Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệpChương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Chi nhánh Dược phẩm Hậu LộcChương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc thông qua phân tích tài chính của đơn vị.Em cam đoan chuyên đề này do chính bản thân em thực hiện với số liệu chính xác do Bộ phận tài chính kế toán của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc cung cáp hoàn toàn chính xác dưới sự giúp đỡ của của Thây giáo Ths. Lê Đức Thiện, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Bộ phận tài chính kế toán của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc , rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc, để có thể hoàn thiện bài chuyên đề cuả mình.Em xin chân thành cảm ơn MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU1CHƯƠNG I3LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP31.1 Khái quát về doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp31.1.1 Khái quát về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.31.1.2 Tài chính, bản chất của tài chính doanh nghiệp.41.2. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp.51.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp,51.2.3 Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp61.2.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.81.2.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.111.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.131.3.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp131.3.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng151.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phân tích tài chính doanh nghiệp211.4.1 Các nhân tố chủ quan211.4.2 Các nhân tố khách quan22CHƯƠNG II:23PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH23TẠI CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM HẬU LỘC23Luôn có chính sách ưu đãi đối với khách hàng trung thành trong kinh doanh.262.2 Phân tích tài chính của chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc272.2.2. Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng382.3 Những thành quả và vấn đề còn tồn tại tại Chi nhánh dược phẩm huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa442.3.1 Những thành quả đạt được442.3.2 Hạn chế còn tồn tại trong vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty trong năm vừa qua.452.3.3 Nguyên nhân của hạn chế46CHƯƠNG III:47CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ47HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM HẬU LỘC47THÔNG QUA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ473.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh doanh của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc473.1.1 Những tiền đề cơ sở473.1.2 Phương hướng hoạt động của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc trong thời gian tới483.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc493.2.1 Các giải pháp về quản trị vốn lưu động và vốn cố định493.2.2 Tăng cường quản lý chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận513.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ các bộ công nhân viên513.2.4 Hoàn thiện công tác phân tích tài chính523.3 Kiến nghị với cơ quan nhà nước52KẾT LUẬN54Bảng ký hiệu chữ viết tắt56Tài liệu tham khảo:57
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự đổi mới về cơ chế chính sách củaNhà nước, cũng như những tư tưởng đường lối của đảng, nước ta có những chuyểnbiến vượt bậc về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế.Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, đời sống dân cư được cải thiện, tạo tiền
đề cho sự ổn định về chính trị, đã khẳng định vị trí của nước ta trong khu vực cũng nhưtrên trường quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, mục tiêu hàng đầu của các
DN là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏicác DN thương mại phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình kinh doanh, đảmbảo cho các hoạt động kinh doanh luôn diễn ra thường xuyên, liên tục và có hiệu quả
Do vậy, hoạt động tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ giữ vai trò rất quan trọng, gắn bó mậtthiết với sự tồn tại và phát triển của DN Chỉ khi DN tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụthì DN mới có cơ sở tiếp tục quá trình kinh doanh của mình, nghĩa là mới bù đắp đượcchi phí và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Đẩy mạnh hoạt động bán hàng và cungcấp dịch vụ, tăng doanh thu sẽ đảm bảo cho các DN thắng thế trong cạnh tranh, mởrộng quy mô kinh doanh, đưa vị trí của DN lên một tầm cao mới
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanhnghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, ngời chovay, Nhà nước và người lao động Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế củadoanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinhdoanh Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liênquan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanhnghiệp
Ngay từ khi mới ra đời, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh của DN đã
và đang là công cụ thực sự quan trọng trong quản lý kinh tế cùng với các công cụ quản
lý khác ngày càng được cải tiến, đổi mới và phát huy tác dụng để đáp ứng yêu cầuquản lý trong nền kinh tế thị trường
Trang 2Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc là một đơn vị hoạt động kinh doanh trên lĩnhvực dược - vật tư y tế, trực thuộc Công ty Dược - VTYT Thanh Hóa Là một trongnhững đơn vị ngoài việc phấn đấu vì doanh thu và lợi nhuận còn phải vì mục tiêu : tất
cả vì sức khỏe cộng đồng Chính vì thế, chữ "tín" (Thương hiệu) trong hoạt động kinhdoanh là vấn đề then chốt
Xuất phát từ thực tế nêu trên, và với sự chỉ đạo tận tình của Thây giáo Ths LêĐức Thiện, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Bộ phận tàichính kế toán của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc, trong phạm vi nghiên cức tình hình
tài chính của đơn vị năm 2011 và năm 2012, em đã lựa chọn đề tài “ Phân tích báo cáo tài chính và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Chi nhánh Dược Phẩm Hậu Lộc” với mong muốn làm rõ cơ sở lí luận về công tác phân tích tài chính
và đánh giá tình hình kinh doanh tại Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc
Đơn vị có tên đầy đủ: Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc
Tên viết tắt: Thephaco
Địa chỉ: Khu 1, Thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Điện Thoại: 0373 831 045
Nội dung chính của chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc thông qua phân tích tài chính của đơn vị.
Em cam đoan chuyên đề này do chính bản thân em thực hiện với số liệu chínhxác do Bộ phận tài chính kế toán của Chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc cung cáp hoàntoàn chính xác dưới sự giúp đỡ của của Thây giáo Ths Lê Đức Thiện, cùng với sựquan tâm, giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Bộ phận tài chính kế toán của Chinhánh dược phẩm Hậu Lộc , rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo,bạn bè cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong chi nhánh Dược phẩm Hậu Lộc, để cóthể hoàn thiện bài chuyên đề cuả mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Điều 4, luật doanh nghiệp năm 2006 quy định: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Nếu dựa vào tính chất pháp lý, doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp tưnhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Nếu xét trêngóc độ cung cầu vốn, doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp tài chính kinhdoanh tiền tệ và doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hóa dịch vụ thôngthường Trong chuyên đề này em chỉ đề cập đến doanh nghiệp phi tài chính , thực hiệncác hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằmmục đích sinh lời
Doanh nghiệp là một loại hình tổ chức kinh tế, quá trình hoạt động của nó làquá trình vận động không ngừng của một cơ thể sống gồm hai phần: phần “cứng” vàphần “mềm” Phần cứng là toàn bộ những yếu tố hữu hình như cơ sở vật chất kỹ thuật,trang thiết bị nhà xưởng…Chúng quyết định quy mô, năng lực hoạt động của doanhnghiệp Phần “mềm” bao gồm các yếu tố vô hình như cơ cấu tổ chức, cách thức hoạtđộng và nguồn lực con người Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải trải qua quy luật vậnđộng chung: ra đời, phát triển, hưng thịnh và suy thoái Tuy nhiên sự gắn kết giũa cácnguồn lực vô hình và hữu hình chặt chẽ đến đâu mới là yếu tố quyết định sự tồn vong,
độ dài thời gian hưng thịnh cũng như suy thoái của doanh nghiệp
Ngày nay, các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường của nền kinh tế thịtrường Đây là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, với môi trường kinh
tế mở, có sự giao lưu rộng rãi giữa các thị trường Vận động trong môi trường đó, cácchủ thể kinh tế nói chung, các doanh nghiệp nói riêng có tính dộc lập cao và tự quyếtđịnh lấy hoạt động kinh doanh của mình Phải thừa nhận rằng nền kinh tế thị trườngcùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang mang lại cho doanh nghiệp không
ít cơ hội phát triển và những thuận lợi mới Nhưng bên cạnh đó là rất nhiều thách thức,Khó khăn, mà nổi cộm nên là vấn đề cạnh tranh ngày càng gay gắt Để tồn tại và pháttriển thành công, bản thân doanh nghiệp phải xác định được những nhân tố cơ bản nhất
Trang 4ảnh hưởng tới sự tồn tại của mình, xác định được năng lực bản thân cũng như năng lựccủa đối thủ cạnh tranh Đồng thời phải xác định được nhu cầu của thị trường, phát huymọi nguồn lực bản thân để đáp ứng nhu cầu đó.
1.1.2 Tài chính, bản chất của tài chính doanh nghiệp.
Theo các nhà kinh tế học, tài chính được hiểu là sự vận động của tiền tệ diễn ra
ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinhtrong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền
tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Quan niệm trên là cách nhìn nhận đầy đủ về tài chính Nó vừa chỉ ra mặt cụ thể
- hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ;vừa vạch rõ mặt trừu tượng – bản chất bên trong của tài chính là các mối quan hệ kinh
tế trong phân phối các nguồn tài chính, phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị
Tài chính doanh nghiệp với tư cách là một khâu của tài chính nói chung nócũng mang đầy đủ các đặc tính như trên
Trong kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách đa dạngphong phú Chúng hoạt động trong các lĩnh vực nghành nghề khác nhau, phương thứchoạt động cũng khác nhau Tuy nhiên dù là doanh nghiệp nào đi nữa, muốn tiến hànhhoạt động kinh doanh, đều phải có một số vốn ban đầu Số vốn đó dùng để mua sắmcác yếu tố ban đầu cần thiết gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động, Sau khi sảnxuất và cung ứng dịch vụ, hàng hóa, doanh nghiệp sẽ thu được tiền bán hàng Với sốtiền bán hàng đó, doanh nghiệp dùng để bù đắp chi phí vật chất đã tiêu hao, trả côngcho người lao động, nộp thuế cho Nhà Nước Phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanhnghiệp tiếp tục phân phối vào các quỹ của doanh nghiệp và phân chia cho chủ sở hữu
Có thể nói, trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các quỹ tiền tệ liêntục được hình thành, phân phối và sử dụng, thể hiện bằng các luồng tiền tệ đi vào và đi
ra, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính doanh nghiệp
Mặt khác, ta lại thấy rằng, trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹtiền tệ đó của doanh nghiệp phát sinh các quan hệ kinh tế, được gọi là các quan hệ tàichính như:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước: Quan hệ này được thểhiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà Nước nhưnộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách v.v Đối với doanh nghiệp Nhà Nước còn
Trang 5thể hiện ở việc nhà nước đầu tư vốn ban đầu và vốn bổ sung cho doanh nghiệp bằngnhững cách thức khác nhau.
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xãhội khác: Quan hệ đa dạng và phong phú này được thể hiện trong việc thanh toán,thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa,dịch vụ cho nhau(bao hàm cả các dịch vụ tài chính), hay khi doanh nghiệp thực hiệntài trợ cho các tổ chức xã hội…
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động: Quan hệ này đượcthể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền công, thưởng phạt vật chất với ngườilao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với chủ sở hữu doanh nghiệp: Quan hệnày thể hiện trong việc đầu tư vốn ban đầu, bổ sung vốn, góp vốn hay rút vốn của chủ
sở hữu với doanh nghiệp trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Quan hệ này thể hiện trong quátrình thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh,trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ đều thuộc hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tài chính đó là một mặt hoạt động quantrọng của doanh nghiệp, phối hợp với các hoạt động khác cùng hướng tới mục tiêuchung mà doanh nghiệp đề ra
1.2 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp,
Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỷ XIX Từđầu thế kỷ XX đến nay, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, sự phong phú đadạng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài
Trang 6chính, sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin…Phân tích tài chính thực sự đượcchú trọng hơn bao giờ hết.
Vậy phân tích tài chính doanh nghiệp là gì?
“ Phân tích tài chính doanh nghiệp là tập hợp các khái niệm, phương pháp vàcông cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản
lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanhnghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định phù hợp với lợi ích củahọ”
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính củadoanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và mục tiêu khác nhau Do nhucầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, phân tích tài chính phải được tiếnhành bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng nhu cầu đó Chính điều đó đã tạothuận lợi cho phân tích tài chính ra đời, Phát triển ngày càng hoàn thiện, đồng thờicũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghệp là các mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, gắnliền với việc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Qúa trình và kết quả tổ chức, vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chínhcủa doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng những chỉ tiêu kinh tế cụ thể hoặc có thểđược biểu hiện thông qua miêu tả cuộc sống kinh tế tài chính đang và sẽ diễn ra Sựmiêu tả cùng với nghiên cứu các chỉ tiêu kinh tế cụ thể, những nguyên nhân và nhữngnhân tố ảnh hưởng đến các quan hệ phân phối đó chính là đối tượng nghiên cứu của tàichính doanh nghiệp
1.2.3 Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trang 7Mỗi đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết địnhvới mục đích khác nhau.
a) Phân tích tài chính đối với những nhà quản lý:
Nhà quản lý là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp, họ hiểu rõ nhất tình hìnhtài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích Phântích tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm những mục tiêu sau:
- Đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, đánh giá việc thực hiệncân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro của tài chínhdoanh nghiệp
- Phân tích tài chính làm cơ sở cho dự đoán tài chính
- Phân tích tài chính làm công cụ kiểm tra kiểm soát hoạt động, quản lý doanhnghệp
- Hướng các quyết định của ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp tình hìnhthực tế của doanh nghiệp như: Các quyết địnhvề đầu tư, quyết định tài trợ, phân phốilợi nhuận…
b Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư:
Nhà đầu tư là người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng Thu nhập của nhà đầu tư là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn Họ quan tâmtới phân tích tài chính doanh nghiệp để nhận biết khả năng sinh lời, ước đoán giá trị cổphiếu, phân tích rủi ro kinh doanh…Đó là những căn cứ giúp họ có quyết định có nên
bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không
c Phân tích tài chính đối với người cho vay:
Đây là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đảm bảo nhu cầu sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Khi cho vay, họ phải biết được khả năng hoàn trả tiềnvay Mặt khác thu nhập của họ lại là lãi xuất cho vay Do đó, phân tích tài chính đốivới người cho vay là xác định khả năng trả nợ của khách hàng
Trang 8Ngoài những đối tượng chủ yếu trên, phân tích tài chính cũng cần thiết vớinhững đối tượng khác như người lao động hưởng lương trong doanh nghiệp, cán bộthuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế…
1.2.3.2 Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp với vị trí là công cụ nhận thức các vấn đề liênquan đến tài chính doanh nghiệp, trong quá trình tiến hành của mình phân tích tàichính sẽ thực hiện chức năng: đánh giá, dự đoán và điều chỉnh tài chính doanh nghiệp
- Chức năng đánh giá: Quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, hoạt động củacác quỹ tiền tệ diễn ra như thế nào, tác động ra sao đến quá trình kinh doanh, chịu ảnhhưởng của những yếu tố nào, tác động đến sự vận động và dịch chuyển gần với mụctiêu hay càng xa rời với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp…là những vấn đề phântích tài chính doanh nghiệp phải làm rõ.Thực hiện trả lời những vấn đề trên là thựchiện chức năng đánh giá tài chính doanh nghiệp
- Chắc năng dự đoán: Bản thân doanh nghiệp dù đang ở giai đoạn nào trong chu kỳphát triển thì các hoạt động của nó cũng đều hướng tới những mục tiêu nhất định Để
có những quyết định phù hợp và tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng mục tiêu mongmuốn cần dự đoán được tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp Đóchính là chức năng dự đoán của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng điều chỉnh: Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải biết kết hợp hàihòa các mối quan hệ nội sinh và ngoại sinh, đặc biệt là các mối quan hệ tài chính Hệthống các mối quan hệ đó bao gồm nhiều loại khác nhau, đa dạng và phức tạp, chịuảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Phân tíchtài chính doanh nghiệp giúp doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm nhận thức rõ nộidung, tính chất, hình thức và xu hướng phát triển của các quan hệ tài chính có liênquan, từ đó điều hóa các mối quan hệ của doanh nghiệp
1.2.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Thông tin mà các doanh nghiệp sử dụng bao gồm:
- Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp
- Các thông tin nội bộ doanh nghiệp
1.2.4.1 Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp.
Trang 9Nền kinh tế thị trường là môi trường hoạt động và tương tác lẫn nhau của rấtnhiều các chủ thể kinh tế Các chủ thể này có mối quan hệ trực tiếp, hoặc gián tiếp vớinhau Bên cạnh đó phân tích tài chính có chức năng đưa ra những dự báo tài chính,giúp cho việc ra quyết định về mặt tài chính va dự đoán kết quả tương lai của doanhnghiệp Nắm được tầm quan trọng của thông tin kinh tế và xử lý các thông tin bênngoài doanh nghiệp, thông tin phân tích tài chính doanh nghiệp không thể chỉ giới hạntrong phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà còn phải mở rộng sang các lĩnhvực khác như: thông tin chung về kinh tế, thông tin về tiền tệ, chính sách tài chính củanhà nước đối với các doanh nghiệp, thông tin về thị trường, những tiến bộ khoa học kỹthuật…
Mặt khác, phân tích tài chính cần phải đặt sự hoạt động của doanh nghiệp trongmối hoạt động chung của ngành kinh doanh Bởi các doanh nghiệp cùng ngành cónhiều tính chất và đặc điểm giống nhau Các hệ số trung bình ngành – kết quả thống kêdựa trên quy luật số lớn luôn là chỉ tiêu tin cậy và chuẩn mực khi muốn đánh giá kếtquả hoạt động của doanh nghiệp trong nghành Cũng cần thấy rằng, những nghiên cứutheo ngành sẽ chỉ rõ tầm quan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế, các sảnphẩm và hoạt động khác nhau của ngành, quy trình công nghệ, các khoản đầu tư, cơcấu nghành, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển Đó là những vấn đề hết sứcquan trọng đối với mỗi doanh nghệp đang hoạt động trong nghành kinh tế
1.2.4.2 Các thông tin nội bộ doanh nghiệp
Đây là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết mang tính chất bắt buộc Với nhữngđặc trưng: hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như là một nhà cungcấp quan trọng thông tin cần thiết cho phân tích tài chính doanh nghiệp Thông tin kếtoán được tổng hợp và phản ánh trong các báo cáo tài chính sau:
a) Bảng cân đối kế toán:
Là báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính doanh nghiệp tại một thời điểmnhất định Đây là báo cáo có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sởhữu kinh doanh với doanh nghiệp
Kết cấu bảng cân đối kế toán gồm 2 phần: phần tài sản và phần nguồn vốn,được trình bày dưới dạng một phía hoặc hai phía Cả hai phần đều bao gồm các chỉtiêu tài chính phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 10Phần tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có thuộc quyền quản lý và
sử dụng của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, các số liệu ởphần tài sản phản ánh được quy mô và kết cấu tài sản ở thời điểm lập báo cáo đó
Phần nguồn vốn phản ánh cơ cấu vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh,tức là nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo.Phần nguồn vốn cho thấy cơ cấu, quy mô nguồn vốn đầu tư vào tài sản của doanhnghiệp; phản ánh trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số kinh doanh với các chủ thểnhư: Nhà nước, các chủ sở hữu, các chủ nợ, nhà cung cấp, công nhân viên hưởnglương trong doanh nghiệp…
Có thể nói, bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp người phântích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán cũng như tínhhợp lý trong cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp
b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh là tài liệu cung cấp thông tin kế toánkhông kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mang tính thời
kỳ, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, thường
là một năm Nó cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềmnăng vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm các chỉ tiêu về doanhthu, chi phí , lợi nhuận của doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh thường xuyên vàhoạt động khác Số liệu này được sử dụng để tính toán về các khả năng sinh lời, tìnhhình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước về các khoản phải nộp Kết hợp số liệu trênbảng cân đối kế toán, số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng
để tính toán hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh sự hìnhthành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp, cung cấp thông tin về các dòng tiền lưu chuyển và các khoản coi như tiền( các khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành một
Trang 11khoản tiền biết trước, ít rủi ro về giá trị) Những luồng tiền vào ra và các khoản tương đương tiền được tập hợp thành ba nhóm:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
d) Bản thyết minh báo cáo tài chính:
Đây là một báo cáo tài chính bày những thông tin trọng yếu mà các báo cáo tài chính khác chưa thể hiện được Nó mô tả mang tính kỹ thuật và chi tiết thông tin đã được trình bày ở ba báo cáo tài chính trên, cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu chuẩn mực kế toán
Thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng để phân tích, đưa ra những ý kiến khách quan và phù hợp
Các báo cáo tài chính có mối liên hệ mật thiết với nhau Mỗi sự thay đổi của chỉtiêu trên báo cáo tài chính này sẽ hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến báocáo kia Trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính được bắt đầu từ báo cáokết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển, kết hợp bảng cân đối kế toán kỳ trước đểđọc và kiểm tra bảng cân đối kế toán kỳ này
Để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cầnđọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó nhận biết được và tập trung vào các chỉtiêu tài chính liên quan trực tiếp đến mục tiêu của mình
1.2.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.
Để phân tích tài chính doanh nghiệp ta có thể sử dụng tổng hợp các phươngpháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính Về mặt lý thuyết,
có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Nhưng trên thực tế, có baphương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ vàphương pháp phân tích tương tác các hệ số tài chính
1.2.5.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanhnghiệp
Trang 12a) Điều kiện so sánh:
- Phải có ít nhất hai chỉ tiêu đem so sánh
- Các chỉ tiêu đem so sánh phải đảm bảo tính so sánh được: Thống nhất về thờigian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán
b) Xác định gốc so sánh;
Tùy theo mục đích phân tích, gốc so sánh được chọn có thể là gốc về thời gian,không gian; có thể là gốc xác định tại thời điểm hay gốc thời kỳ; là giá trị trung bìnhhay giá trị tuyệt đối…
- So sánh bằng số tương đối cho thấy tỷ lệ biến động của chỉ tiêu so sánh với gốc
so sánh và được biểu hiệ ra bằng tỷ lệ phần trăm(%)
d) Nội dung so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy xu hướngthay đổi, đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
- So sánh giữa số kỳ thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp và số trung bình ngành để đánh giá tìnhhình tài chính và vị trí của doanh nghiệp
- So sánh chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể củanó; so sánh chiều ngang để thấy sự biến đổi của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kếtoán liên tiếp
1.2.5.2 Phương pháp tỷ lệ
Trang 13Đây là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tàichính doanh nghiệp Phương pháp tỷ lệ hay còn được gọi là phương pháp tỷ số làphương pháp dùng các tỷ số để phân tích Đó là các chỉ số đơn được thiết lập bằngcách so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác Tất nhiên ta chỉ có thể thiết lập tỷ số giữahai chỉ tiêu có mối quan hệ với nhau và tỷ số thu được phải có ý nghĩa kinh tế nhấtđịnh.
Phương pháp phân tích tỷ số được dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số của cácđại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi của các tỷ số cố nhiên là
do sự biến đổi của các đại lượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số yêu cầuphải xác định được ngưỡng – các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chínhdoanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với giá trị các tỷ số thamchiếu Điều đó xuất phát từ một đặc tính dễ nhận thấy của tỷ số đơn là khi nó đứng độclập thì bản thân nó trở thành vô nghĩa
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ sô tài chính phân chia thành cácnhóm đặc trưng Đó là các nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản, cơ cấuvốn, nhóm tỷ số về hiệu suất hoạt động, về khả năng sinh lời Trong mỗi trường hợpkhác nhau, tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu phùhợp để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
1.2.5.3 Phương pháp phân tích tương tác các hệ số
Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số còn gọi là phươngpháp Dupont Phương pháp này có thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chínhchủ yếu Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp thành tích cácchuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởngcủa các tỷ số đó tới tỷ số tổng hợp
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.3.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1.1 Phân tích khái quát về tài sản và nguồn vốn
a) Phân tích tình hình tài sản:
Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm được phảnánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán Nó không những thể hiện cơ sở vậtchất, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo mà còn có khả năng
Trang 14biểu hiện những dấu hiệu tương lai trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Phân tích tình hình tài sản là phân tích sự biến động các khoản mục tài sảnnhằm giúp người phân tích tìm hiểu; sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của từng loại tàisản qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu chủ độnghay bị động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế
để phục vụ cho kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp haykhông…
b) Phân tích tình hình nguồn vốn:
Nếu như toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáođược phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán, thì nguồn hình thành nênchúng được phản ánh trên nguồn vốn của cùng bảng cân đối kế toán đó
Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tíchtìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào; sựthay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong kinh doanh; cóphù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính hay không, tính tự chủ, khả năng khaithác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không…
Nhìn chung, khi phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn, phươngpháp so sánh là phương pháp chủ yếu được sử dụng, kết hợp với hai kỹ thuật phân tíchdọc và phân tích ngang Cần chú ý rằng, trong quá trình phân tích phải đồng thời xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Mối quan hệ chặt chẽ này được thểhiện qua quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn, giữa tài sảndài hạn và nguồn tài sản dài hạn Qua đó xem xét, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảmbảo cân bằng tài chính hay chưa
1.3.1.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn.
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn dùng bảng cân đối kế toán làmtài liệu phân tích chủ yếu Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biếnthay đổi của nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền củadoanh nghiệp, trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Từ đó có thể giúp doanh nghiệp có thể định hướng cho việc huy động vốn và sử dụngvốn ở thời kỳ tiếp theo
Trang 15Về cách thức thực hiện, để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn người
ta so sánh chỉ tiêu cuối kỳ với đầu kỳ Sự thay đổi của từng khoản mục là căn cứ xemxét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hay diễn biến nguồn vốn theonguyên tắc:
- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản
Diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn được đặt trong mối quan hệ với vốnbằng tiền Các khoản mục liên quan đến nguồn vốn và sử dụng vốn được sắp xếp theohình thức một bảng cân đối Qua bảng này người phân tích có thể xem xét và đánh giátổng quát: số vốn tăng hay giảm trong kỳ đã được sử dụng vào việc gì và các nguồnphát sinh dẫn đến tăng giảm vốn Trên cơ sở phân tích đó có thể định hướng huy độngvốn cho kỳ tiếp theo
1.3.1.3 Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh.
- Mục tiêu cơ bản của phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh là tìm hiểunguồn gốc, thực trạng và xu hướng biến động của chi phí, thu nhập cũng như lợi nhuậndoanh nghiệp Quá trình phân tích tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
- Thu nhập, chi phí có thực hay không, được tạo ra từ những nguồn nào, sự hìnhthành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động kinh doanh hay không
- Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi như thế nào, sự thay đổi đó có phù hợp vớiđặc điểm chi phí, hiệu quả kinh doanh và phương hướng kinh doanh hay không
Tương tự như phân tích khái quát về tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối kếtoán Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Nó cũng sử dụng phương pháp so sánh với kỹthuật phân tích ngang và phân tích dọc làm chủ đạo trên cơ sở tìm hiểu về chính sách
kế toán, đặc điểm kinh doanh, phương hướng phát triển và những tài liệu chi tiết kháccủa doanh nghiệp
1.3.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng
1.3.2.1 Hệ số khả năng thanh toán
Trang 16Một doanh nghiệp được đánh giá có tình hình tài chính lành mạnh trước hết phải thểhiện ở khả năng chi trả và thanh toán các khoản nợ Khả năng đó được phản ánh khá rõ nétqua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là chỉ tiêu tài chính phản ánh mối quan
hệ giữa các khoản có khả năng dùng để thanh toán với các khoản phải thanh toán.Nhóm chỉ tiêu này gồm những chỉ tiêu chủ yếu sau:
a) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sẩn hiện có với tổng số nợ phảitrả của doanh nghiệp( bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) Hệ số này có ý nghĩatrong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát được tính bằng cách lấy tổng tài sản chiacho tổng nợ phải trả của doanh nghiệp
Tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng nợ phải trả
b) Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải cáckhoản nợ ngắn hạn Vì thế, hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời được tính bằng cách lấy tổng tài sản ngắnhạn chia cho số nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Tài sản ngắn han
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
c) Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Đây là chỉ tiêu đánh giá khá chặt chẽ khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Nó được xác định bằng tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho rồi chia cho nợ ngắn hạncủa doanh nghiệp
Trang 17Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
d) Hệ số thanh toán tức thời:
Hệ số này phản ánh khả năng ứng phó nhanh nhất các khoản nợ đến hạn củadoanh nghiệp, nó được tính bằng công thức sau:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Ở đây, tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Các khoảntương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản đầu tưngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thờn hạn ba tháng mà khônggặp phải rủi ro lớn
e) Hệ số thanh toán lãi vay
Đây là hệ số mang tính thời kỳ Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiềnvay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ.Nếu một doanh ngiệp kinh doanh không tốt, mức sinh lời quá thấp hoặc bị thua lỗ thìkhó có khả năng bảo đảm thanh toán tiền lãi vay đúng hạn
Hệ số thanh toán lãi vay được xác định như sau:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay =
Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
Nhìn chung, để đánh giá các hệ số thanh toán, không chỉ so sánh số đầu kỳ vàcuối kỳ mà còn phải căn cứ vào hệ số trung bình ngành
Thông thường, khi các hệ số này thấp thể hiện khả năng thanh toán nợ vay củadoanh nghiệp là thấp và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tàichính mà doanh nghiệp có thể gặp phải Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các hệ sốnày thấp chưa hẳn đã không tốt và ngược lại Do vậy, để đánh giá kỹ hơn cần ngiêncứu kỹ hơn các tình hình khác của doanh nghiệp
1.3.2.2 Hệ số cơ cấu nguồn vốn:
a) Hệ Số cơ cấu nguồn vốn
Trang 18Hệ số cơ cấu nguồn vốn được thể hiện chủ yếu qua hệ số nợ và được xác địnhnhư sau: Tổng số nợ
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Cùng với việc xác định hệ số nợ ta có thể xác định hệ số vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Tổng nguồn vốn
Như vậy : Hệ số vốn chủ sở hữu = 1- hệ số nợ
b) Hệ số cơ cấu tổng tài sản:
Hệ số này phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp Hệ số
cơ cấu tài sản được tính bằng công thức sau:
Số dư hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Trong số dư hàng tồn kho bình quân trong kỳ có thể tính bằng cách lấy số dư hàng tồn kho đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ rồi chia hai Số vòng quay cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm ngành kinh doanh
b) Kỳ thu tiền trung bình:
Trang 19Chỉ tiêu này phản ánh độ dài thời gian tính từ lúc xuất giao hàng cho đến lúc doanh nghiệp thu được tiền bán hàng Chỉ tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp, Kỳ thu tiền trung bình quá dài
so với trung bình ngành thì sẽ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi
Kỳ thu tiền bình quân được tính bằng công thức sau:
Số dư các khoản phải thu
Kỳ thu tiền trung bình ngày =
DT bình quân 1ngày trong kỳ
- Số dư vốn lưu động bình quân tính bằng cách lấy số dư tài sản ngắn hạn đầu
kỳ cộng với số dư cuối kỳ rồi chia hai
d) Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác:
- Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử dụng vốn dài hạn của doanh nghiệp trong kỳ, được tính bằng công thức sau:
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng VCĐ = Vốn CĐ và vốn dài hạn khác bq trong kỳ
Chỉ tiêu này có ý nghĩa là: Một đồng vốn cố định và vốn dài hạn khác trong kỳ tham gia tạo bao nhiêu đồng doanh thuần
1.3.2.4 Hệ số khả năng sinh lời
a) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng:
Trang 20Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó cho biết khi thực hiện một đồng doanh thu thì doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lãi ròng.
Công thức xác định:
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ doanh thu =
Doanh thu thuần trong kỳ
b) Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả nảng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh mà không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Công thức xác định
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
ROAE =
Tài sản hay vốn kinh doanh BQ
c) Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh:
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải tiền lãi vay
Lợi nhuận trước thuế trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên VKD =
Vốn kinh doanh BQ sử dụng trong kỳ
d) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời ròng của tài sản(ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế
ROA =
Vốn kinh doanh (hay tài sản) bình quân trong kỳ
Trang 21e) Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp
1.4.1.2 Chất lượng nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Thông tin là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tàichính Vì vậy nếu thông tin phục vụ phân tích tài chính không đầy đủ, không chínhxác, không kịp thời…thì phân tích tài chính chỉ là hình thức mà không có ý nghĩa gì
Do đó chất lượng thông tin tốt hay không tốt là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quảphân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.1.3 Nhân sự thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp
Người thực hiện công tác tài chính nếu có trình độ chuyên môn vững vàng, nắmvững quy trình phân tích, và có khă năng nhận biết, đánh giá tinh tế thì sẽ có tác độngtích cực đến hiệu quả phân tích tài chính nói chung, hiệu quả phân tích tài chính doanhnghiệp nói riêng
1.4.1.4 Lựa chọn phương pháp phân tích
Áp dụng linh hoạt và hợp lý các phương pháp phân tích sẽ kết hợp được ưuđiểm, hạn chế được nhược điểm của từng phương pháp nếu áp dụng riêng lẻ Từ đótăng tính chính xác và toàn diện cho kết quả phân tích Mỗi một doanh nghiệp phải lựa
Trang 22chọn được phương pháp phân tích phù hợp nhất cho mình để có thể hỗ trợ tốt nhất chocông tác phân tích.
1.4.2 Các nhân tố khách quan
1.4.2.1 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
Một hệ thống trung bình ngành hoàn thiện, chính xác và cập nhật sẽ có tác dụngtích cực đến công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Hệ thống chỉ tiêu trung bìnhngành giúp các nhà phân tích có được cái nhìn khách quan về ngành và lĩnh vực hoạtđộng của doanh nghiệp từ đó giúp cho phân tích tài chính doanh nghiệp hoàn thiệnhơn
1.4.2.2 Hệ thống pháp lý
Hệ thống pháp lý có tác động nhất định đến công tác tài chính Một hệ thống pháp lý ổn định sẽ tạo điều kiện thống nhất các chỉ tiêu trong toàn ngành, giúp nâng cao chất lượng thông tin và tăng khả năng tiếp cận các thông tin của người phân tích
1.4.2.3 Nhân tố công nghệ
Thực tế cho thấy, với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại như máy tính, các phần mềm chuyên dụng, công tác phân tích tài chính đã giảm thiểu được đáng kể khối lượng, thời gian, công sức và chi phí nhưng chất lượng lại không ngừng nâng cao
Trang 23CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM HẬU LỘC 2.1 Đặc điểm tình hình, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh dược phssmr huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Trước năm 1989, Hiệu thuốc nhân dân Hậu Lộc, trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa,; với chức năng nhiệm vụ là cung ứng thuốc và pha chế một số loại thuốc trong phạm vi thẩm quyền để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân
Từ năm 1990 đến năm 2008, Hiệu thuốc Hậu Lộc trực thuộc Công ty Dược - VTYT tỉnh Thanh Hóa,
Từ năm 2009 đến nay, Hiệu thuốc Hậu lộc đã được đổi tên là Chi nhánh dược phẩm huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Mục tiêu, thời hạn hoạt động
* Mục tiêu: Đơn vị hoạt động với mục tiêu là hoạt động kinh doanh theo Luật
doanh nghiệp, không tách rời các quy định về công tác y tế cộng đồng
* Thời hạn hoạt động: Là đơn vị doanh nghiệp nhà nước, hoạt đông không thời
hạn
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ:
* Kinh doanh thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn
* Dịch vụ các sản phẩm VTYT phục vụ cho công tác khám chữa bệnh
* Thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn sức khỏe cộng đồng
Trang 24- Bộ phận kế hoạch tài chinh
Bộ phận quỹ
Bộ phận bán hàng
Đại lý
Trang 25Cán b công nhân viên c a ộ công nhân viên của đơn vị có thể khái quát như sau: ủa đơn vị có thể khái quát như sau: đơn vị có thể khái quát như sau: n v có th khái quát nh sau: ị có thể khái quát như sau: ể khái quát như sau: ư sau:
2 Nguyễn Thị Phơn Phó giám đốc Dược sỹ Đại học 25 năm
phận KHTC
Cử nhân ĐH kinh tế 13 năm
bán hàng
Cử nhân ĐH kinh tế 8 năm
Trang 26Hiện nay đơn vị luôn có chính sách thu hút các sinh viên Đại học dược vàĐại học chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp về công tác tại đơn vị.
2.1.6.2 Chính sách duy trì:
Luôn xác định việc kinh doang luôn gắn kế với: tất cả vì sức khỏe cộng đồngCông tác phúc lợi xã hội và duy trì việc chăm lo đời sông cho cán bộ nhân viên
là vấn đề then chốt
Đảm bảo chữ tín trong hoạt động kinh doanh là vấn đề cốt lõi
2.1.6.3 Chính sách đào tạo, phát triển:
Một trong những chi phí bán hàng, việc bố trí nguồn kinh phí cho cán bộtập huấn, đào tạo nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ khôngthể thiếu
Cơ quan luôn có phần thưởng đúng đắn cho cán bộ nhân viên có ý thức rènluyện trong quá trình học tập nâng cao trình độ
Luôn có chính sách ưu đãi đối với khách hàng trung thành trong kinh doanh
2.2 Phân tích tài chính của chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính
2.2.1.1 Phân tích khái quát thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 27Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong hai năm 2011-2012
-9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 1.743,058 2.142,614 399,555 22,9
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 4.258,997 4.802,581 543,548 12,76
-(Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của Bộ phận tài chính kế toán)
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên ta thấy một điều rằng tìnhhình kinh doanh tại chi nhánh dược phẩm Hậu Lộc là tốt Lợi nhuận năm sau cao hơnnăm trước Tình hình tài chính được đánh giá là khá lành mạnh Liên tục trong nhiềunăm liền quy mô hoạt động cũng như doanh thu và lợi nhuận luôn tăng trưởng
Trang 28Nền kinh tế nước ta trong năm 2012 đã có những chuyển biến khá tích cực, bướcđầu đi vào phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2011 Trong bối cảnhchung như vậy, hoạt động kinh doanh của công ty cũng đạt được những thành quả khảquan hơn năm ngoái
Kết quả HĐKD của công ty năm 2012 được phản ánh ở bảng 2.1
Nhìn vào những con số tổng kết ở trên đó ta có thể kết luận ban đầu: Chi nhánh dượcphẩm Hậu Lộc trong năm 2011, 2012 đều kinh doanh có lãi, nguồn thu nhập chủ yếuđến từ hoạt động kinh doanh thường xuyên, đồng thời mức doanh thu cũng như lợinhuận sau thuế năm sau cao hơn năm trước, đây là kết quả đáng ghi nhận Nhìn mộtcách tổng quát thì tốc độ gia tăng chi phí có phần lớn hơn tốc độ gia tăng doanh thu,điều này cũng có những ảnh hưởng đến lợi nhuận đơn vị Lợi nhuận sau thuế năm
2012 đạt 3.551,706 trđ, trong khi năm 2011 đạt 3.151,189 trđ Như vậy so sánh năm
2012 và 2011, thì lợi nhuận sau thuế đã tăng 400,517 trđ, tương ứng tốc độ tăng12,7% Nói chung thì công ty in Ba ĐÌnh là một doanh nghiệp nhà nước mà đạt đượclợi nhuận như thế đã là cao rồi Sau đây ta sẽ đi vào phân tích chi tiết các chỉ tiêu trênbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
* Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2012 đạt 6.856,408 trđ, tăng913,992 trđ so với năm 2011 Chỉ tiêu này tăng với tốc độ là 15,38 % So sánh năm
2012 với năm 2011, cả hai chỉ tiêu doanh thu thuần và giá vốn hàng bán đều tăng,doanh thu thuần tăng 12.826,187 trđ với tốc độ tăng 17,57 %, còn giá vốn hàng bántăng 11.912,915trđ với tốc độ tăng 17,76 %, như vậy tốc độ tăng của giá vốn hàng bánnhỉnh hơn một chút so với tốc độ tăng của doanh thu thuần, điều này sẽ làm lợi nhuậngộp có xu hướng giảm xuống, tuy nhiên sự tăng này là không đáng kể do đó lợi nhuậngộp cũng giảm không đáng kể Cụ thể lợi nhuận gộp năm 2012 tăng so với năm 2011
là 913,992 trđ, với tốc độ tăng 15,38%
* Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2012 tăng 399,555trđ với tốc độ tăng 22,9%,cùng với sự tăng lên của doanh thu và giá vốn hàng bán thì chi phí quản lý doanhnghiệp cũng phải tăng lên là một điều đương nhiên, tuy nhiên cũng cần xem xét mộtcách kỹ hơn trong những năm tiếp theo để đề ra biện pháp tiết kiệm chi phí doanh
Trang 29nghiệp, bởi tốc độ tăng này cũng là hơi cao, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận của doanh nghiệp.
* Lợi nhuận từ hoạt động khác:
Đây là kết quả của các hoạt động kinh doanh bất thường, không mang tính thườngxuyên và chủ yếu của đơn vị Tuy nhiên ta thấy rằng qua cả hai năm thì lợi nhuận từcác hoạt động khác này của đơn vị đều không hiệu quả và đều lỗ không mang lại lợinhuận cho doanh nghiệp Điều này là do công ty không chú trọng vào hoạt động đầu tư
mà chú trọng vào hoạt động kinh doanh, và những khoản đầu tư này là do nhằm mụcđích hoạt động công ích hơn là hoạt động với mục tiêu sinh lời
Tóm lại, năm 2012 là một năm hoạt động với những kết quả khả quan hơn so vớinăm 2011của đơn vị, điều đó là do một phần đến từ những thuận lợi do môi trườngkinh tế đem lại, nhưng chủ yếu là do sự cố gắng nỗ lực không ngừng của bản thân đơn
vị Tuy nhiên trong những năm tiếp theo đơn vị cũng cần phải cố gắng và nỗ lực hơnnữa để điều chỉnh các khoản chi tiêu sao cho phù hợp hơn để đạt được một kết quả tốthơn, hoạt động với chỉ tiêu tiết kiệm chi phí, năng cao lợi nhuận
2.2.1.2 Phân tích khái quát thông qua bảng cân đối kế toán.
a) Khái quát về tình hình tài sản của công ty
Từ số liệu trên bảng cân đối kế toán, ta có thể lập được bảng sau