MỤC ĐÍCH YÊU CẦU SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT:Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ởtrường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy h
Trang 1PHÒNG GD & ĐT HƯƠNG THỦY
TRƯỜNG THCS THỦY PHƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT
Đề nghị công nhận danh hiệu thi đua: Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh
Năm học: 2012 – 2013
I SƠ LƯỢC LÍ LỊCH
Họ và tên: CHÂU THỊ BÍCH HUYỀN Giới tính: nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 28-12-1966
Quê quán: Hương Vân, Hương Trà, Thừa Thiên Huế
Nơi thường trú: 106- Đường Minh Mạng - Thành phố Huế
Nơi công tác: Trường THCS Thuỷ Phương
Chức vụ hiện nay: Giáo viên
Trình độ chuyên môn: ĐHSP Hoá
II SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ
1 Đội ngũ CBGVNV
Đầu năm học trường có 70 CBGVNV, cuối HK I có 02 GV chuyển công tác vềThành phố Huế Hiện tại trường có 68 CBGVNV trong đó BGH 03, GV 59, NV
06 Trình độ dại học 48, cao đẳng 18 và trung cấp 02 (Y tế và bảo vệ)
Chi bộ đảng có 19 đảng viên, chi đoàn giáo viên có 22 ĐV, công đoàn cơ sởvới 70 68 ĐVCĐ, chi hội chữ thập đỏ có 68 thành viên và 02 phân hội lớp ( 9/7 và8/7)
- Trường có đôị ngũ giáo viên đủ về số lượng, có trình độ đào tạo đạt chuẩn
và trên chuẩn Hầu hết giáo viên đều có tinh thần trách nhiệm thực hiện tốt cácnhiệm vụ được giao, có năng lực chuyên môn vững Đa số giáo viên biết ứng dụngcông nghệ thông tin trong soạn giảng và khai thác hiệu quả mạng Internet Tập thểhội đồng sư phạm đoàn kết, yêu thương, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau
- Nhà trường được sự quan tâm hỗ trợ và giúp đỡ về tinh thần và vật chất củalãnh đạo các cấp, các ban ngành đoàn thể trong và ngoài địa bàn, Hội cha mẹ HS
Trang 2Hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đảm bảo đúng kế hoạch củanhà trường và đạt hiệu quả giáo dục thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng cáchoạt động giáo dục văn hóa và kĩ năng sống cho HS
- Trường đã đạt được các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia và đãđược UBND tỉnh công nhận; đây là điều kiện thuận lợi để năng cao chất lượng vàhiệu quả các hoạt động giáo dục của nhà trường trong thời gian đến
Trang 3III MỤC ĐÍCH YÊU CẦU SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT:
Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ởtrường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo
“Phương pháp dạy học tích cực”, với các kĩ thuật dạy, học tích cực nhằm giúp họcsinh phát huy huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen vàkhả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tìnhhuống khác nhau trong học tập và thực tiễn tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú tronghọc tập Làm cho học là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện,luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩmchất của con người mới tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống
“Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc
giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên Môn Hóa học lại là bộ môn khoa họcgắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con người, đặc biệt đối với môn Hóahọc, là một bộ môn khoa học có từ lâu đời, các nhà hóa học đã nghiên cứu và tìmtòi ra các chất, nghiên cứu các tính chất vật lí, các tính chất hóa học, các hiệntượng vật lí, hóa học, các hiện tượng thường xảy ra trong tự nhiên và giải thích tạisao lại như vậy?
Thật vậy phương pháp BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HSbằng các thí nghiệm hiểu biết tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lờicho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quansát, nghiên cứu tài liệu Với một vấn đề khoa học đặt ra, HS có thể đặt ra các câuhỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu
để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh,phân tích, tổng hợp kiến thức Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khácphương pháp BTNB luôn coi HS là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các
em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV Mụctiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu vàsay mê khoa học của HS Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phươngpháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngônngữ nói và viết cho HS Phương pháp BTNB cho thấy cách thức học tập của họcsinh là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình quaviệc tham gia các hoạt động nghiên cứu tìm tòi Các hoạt động nghiên cứu tìm tòigợi ý cho học sinh tìm kiếm để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự tươngtác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phương án giải thích các hiện tượng Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một vấn
đề cốt lõi, quan trọng Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớncủa bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến
Trang 4hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra banđầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phùhợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thửlàm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kếtluận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu Trong quá trình này, học sinh luônluôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạtđộng tích cực để tìm ra kiến thức Con đường tìm ra kiến thức của học sinh cũng đilại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học.
Căn cứ vào các cơ sở trên, ta có thể làm rõ tiến trình sư phạm của phươngpháp dạy học BTNB theo 5 bước cụ thể sau đây:
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Bước 2: Nêu ý kiến ban đầu của học sinh
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáoviên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phátphải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồngghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập chocâu hỏi nêu vấn đề càng dễ Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học Câu hỏinêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức vàkích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thếcho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi
mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câuhỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý
đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công Rõ ràng rằng để học sinhtìm kiếm phương án giải quyết một vấn đề hiệu quả khi và chỉ khi học sinh cảmthấy vấn đề đó có ý nghĩa, là cần thiết cho mình, và có nhu cầu tìm hiểu, giải quyết
nó Vấn đề hay câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tương thích với trình độ nhậnthức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức cho học sinh, kích thích nhu cầu tìmtòi - nghiên cứu của học sinh Vì vây để thực hiện thành công tiết dạy theo phươngpháp BTNB thì khâu quan trọng đầu tiên là tạo tình huống xuất phát cho bài dạy Như vậy, vai trò của giáo viên rất quan trọng trong việc định hướng, gợi ý,giúp đỡ các em tự khám phá, tự đặt ra các câu hỏi để học sinh hiểu rõ được câu hỏi
và vấn đề cần giải quyết của bài học, từ đó đề xuất các phương án thực nghiệm hợplí
Không chỉ trong phương pháp BTNB mà dù dạy học bằng bất cứ phương
Trang 5pháp nào, việc học sinh hiểu rõ vấn đề đặt ra, những vấn đề trọng tâm cần giảiquyết của bài học luôn là yếu tố quan trọng và quyết định sự thành công của quátrình dạy học Chính vì thế mặc dù chỉ mới bước đầu làm quen với phương pháp
BTNB, tôi vẫn mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Tạo tình huống xuất phát
trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” đối với một số bài Hóa học lớp 9 tại trường THCS Thủy Phương” nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh giúp các emyêu thích môn học và học tập tiến bộ hơn, tạo cơ sở vững chắc cho các em tiếp tụchọc tốt môn Hoá học ở các lớp trên
IV NHỮNG GIẢI PHÁP CHÍNH CỦA SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT
1 Đối với giáo viên và học sinh
a) Đối với giáo viên
Trên thực tế, phương pháp “Bàn tay nặn bột” không hoàn toàn là mới đối vớicác giáo viên Về cơ bản, đây là phương pháp tổng hợp của các phương pháp dạyhọc trước đây mà giáo viên đã từng tiếp xúc như: phương pháp giảng dạy giảiquyết vấn đề, phương pháp dạy học tích cực Trong phương pháp này, yêu cầuđặt ra đối với giáo viên là:
- Tạo tình huống để học sinh phát hiện ra vấn đề trong bài học, từ đó để các
em tự đưa ra các tình huống giải quyết vấn đề để đi đến kết quả, giúp tạo lập chohọc sinh thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo pháthiện, giải quyết vấn đề Mục tiêu này rất quan trọng bởi trong cuộc sống các emgặp phải rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết
- Giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài bài dạy Gắn kết chặt chẽ nội dung bài dạyvới những vấn đề thiết thực, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày và thực tế địaphương
- Chuẩn bị bài chu đáo, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, lô-gic, trọng tâm,
có kiến thức thực tế, sâu rộng và các giải pháp liên hệ thực tế
- Giáo viên nêu vấn đề hay câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tương thíchvới trình độ nhận thức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức cho học sinh, kíchthích nhu cầu tìm tòi - nghiên cứu của học sinh
- Giáo viên cần bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình (căn cứchuẩn của chương trình cấp THCS và đối chiếu với hướng dẫn thực hiện giảm tảicủa Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thôngtin để phục vụ cho bài dạy nhằm lôi cuốn, hấp dẫn, học sinh dễ hiểu, dễ vận dụng
- Sáng tạo, linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động lên lớp, phù hợp với với
Trang 6nội dung bài dạy, kiểu bài dạy, phù hợp với đặc thù bộ môn, tâm lí lứa tuổi họcsinh.
- Giáo viên phải là người hướng dẫn cho học sinh kĩ năng tự mình phát hiện
và giải quyết vấn đề
- Tích cực nghiên cứu học tập, cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề áp dụngphương pháp dạy học đổi mới Kết hợp các phương pháp dạy học tích cực, áp dụngphân chia nhóm hợp lí, sát đối tượng, hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh hăng háitìm tòi phát hiện kiến thức mới
- Tác phong cử chỉ, lời nói phù hợp, truyền cảm, thân thiện, khơi gợi sự hứngthú, chủ động tìm tòi, khám phá học tập của học sinh, động viên khuyến khích họcsinh tự tin trong học tập, tạo cho học sinh sự say mê hứng thú đối với môn học
- Cùng với giáo viên khác và đồng nghiệp trong tổ chuyên môn, nhà trườngtừng bước rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai giảng dạy
- Để ứng dụng “Bàn tay nặn bột” vào dạy học, điều quan trọng nhất, như mọivấn đề khác mà giáo viên thường phải giải quyết, đó là phải có đủ nhiệt huyết,quyết tâm để triển khai phương pháp mới
Như vậy, vai trò của giáo viên rất quan trọng trong việc định hướng, gợi ý,giúp đỡ các em tự khám phá, tự đặt ra các câu hỏi để học sinh hiểu rõ được câu hỏi
và vấn đề cần giải quyết của bài học, từ đó đề xuất các phương án thực nghiệm hợplí
b) Đối với học sinh
- Học sinh có thể tiếp cận thực sự với tìm tòi - nghiên cứu và cố gắng để hiểukiến thức Vì vậy điều cần thiết là học sinh phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề đặt racần giải quyết trong bài học
- Để đạt được yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hìnhthành các câu hỏi Có nghĩa là học sinh cần phải có thời gian để khám phá chủ đềcủa bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi đặt ra để từ đó có thể suy nghĩ vềnhững gì cần được nghiên cứu, phương án thực hiện việc nghiên cứu đó như thếnào?
- Học sinh cần phải có nhiều kĩ năng như: kĩ năng đặt câu hỏi, đề xuất các dựđoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ cáckết luận của mình thông qua trình bày nói hoặc viết… Một trong các kĩ năng quantrọng đó là học sinh phải biết xác định và quan sát một sự vật, hiện tượng nghiêncứu Học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các học sinh khác, biết viếtcho mình và cho người khác hiểu
- Học sinh cần thiết phải tự thực hiện các thí nghiệm của mình phù hợp vớihiện tượng, kiến thức đang quan tâm nghiên cứu, là cơ sở cho việc phát hiện và
Trang 7hiểu các khái niệm, đồng thời thông qua tự làm các thí nghiệm mà học sinh có thể
tự hình thành kiến thức Học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sựtheo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên
- Được khuyến khích đề xuất ý kiến và cùng các thầy cô giáo thực hiện cácgiải pháp để việc dạy học có hiệu quả ngày càng cao Có tinh thần tự giác say mêđối với môn học, yêu thích môn học
- Tích cực chuẩn bị bài, chuẩn bị tâm thế để lĩnh hội kiến thức bài giảng
- Tích cực rèn luyện, hứng thú say mê trong học tập, chủ động tìm hiểu kiếnthức, dưới sự dìu dắt của thầy, cô giáo Phải rèn cho bản thân năng lực tự học, tựđánh giá Không ngừng vươn lên trong học tập
- Biết rèn luyện kĩ năng và phương pháp học tập, khả năng tự tìm hiểu, khámphá sáng tạo vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm, có tinh thần hợp tác với thầy cô, bạn bè.Tập trung suy nghĩ, chủ động thoát li sách giáo khoa để trả lời câu hỏi của thầygiáo cô giáo
- Khi giáo viên tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho học sinh): học sinhhăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết.Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp vớimục tiêu dạy học và các nội dung cụ thể đã xác định
2 Một số tình huống xuất phát trong dạy học theo phương pháp“ Bàn tay nặn bột” đối với một số bài Hóa học lớp 9 tại trường THCS Thủy Phương:
Trong năm học vừa qua, tôi đã chọn được một số chủ đề trong chương trìnhhóa học lớp 9, để dạy học theo phương pháp BTNB và đã xây dựng được một sốtình huống xuất phát cho các chủ đề đó, cụ thể như sau:
2.1 Chủ đề 1: OXIT
Tình huống xuất phát
- Cho HS quan sát thí nghiệm P; S
cháy trong O2 (hoặc chiếu video)
-Sau khi HS nêu hiện tượng, viết
-HS quan sát hiện tượng,viết phươngtrình hóa học và cho biết tên sản phẩm
- PTHH: 4P + 5O2 to 2P2O5 (điphotpho pentaoxit)
S + O2 t o
SO2 (Lưu huỳnh đioxit)
Trang 8phương trình hóa học và gọi tên sản
phẩm, GV yêu cầu HS nhớ lại kiến
thức (lớp 8) cho biết P2O5, SO2 thuộc
loại hợp chất gì?
- Vậy em biết gì về oxit axit?
- HS trả lời: P2O5, SO2 là oxit axit
2.2 Chủ đề 2: MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG (CaO)
Tình huống xuất phát
- Cho HS quan sát mẫu vôi bột.
- Hỏi: Em có nhận xét gì về những
hình ảnh trên?
- GV giới thiệu một số ứng dụng của
vôi trong đời sống, liên hệ thực tế
- Giới thiệu mô hình cấu tạo phân tử
Trang 92.3 Chủ đề 3: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA AXIT
liên quan đến axit
- Vậy em biết gì về tính chất hóa học
Trang 102.4 Chủ đề 4: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA BAZƠ
- Gọi 1 HS nhắc lại tính chất hóa học
của oxit bazơ (GV nhấn mạnh tính chất
oxit bazơ tác dụng với nước tạo thành
dung dịch bazơ)
- GV yêu cầu HS nêu tên các bazơ
tương ứng với các oxit bazơ nói trên
- Cho HS quan sát hình ảnh hoặc các lọ
hóa chất đựng các bazơ có dán nhãn
như: Ba(OH)2,Cu(OH)2,Fe(OH)3, )
- GV yêu cầu HS nêu nhận xét về các
mẫu chất trên và gọi tên các chất đó
- Vậy em biết gì về tính chất hóa học
của bazơ ?
- HS quan sát nhận xét
- HS trả lời đó là những oxit bazơ
- HS nhắc lại tính chất hóa học của oxitbazơ
Trang 11
2.5 Chủ đề 5: MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG (Canxi hiđroxit)
Tình huống xuất phát
- Cho HS quan sát mẫu CaO.
- GV tiến hành thí nghiệm hòa tan một
lượng nhỏ CaO vào nước, khuấy đều,
sau đó để yên Dùng phễu và giấy lọc,
lọc sản phẩm
- Yêu cầu HS quan sát hiện tượng,viết
phương trình hóa học và cho biết tên
(Canxi hiđroxit)
-Nêu được sản phẩm thu được làCa(OH)2,là một bazơ ít tan
2.6 Chủ đề 6: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA MUỐI
Tình huống xuất phát
- Cho HS quan sát các mẫu chất muối.
(chiếu hình ảnh về các mẫu muối,
Trang 12hoặc các mẫu muối có sẳn ở PTN).
2.7 Chủ đề 7: TÍNH CHẤT VẬT LÍ CỦA KIM LOẠI
Tình huống xuất phát
- Cho HS quan sát các mẫu vật kim
loại, hoặc các mẫu kim loại có ở PTN
như: Cu, Fe, Zn, Mg, Al