Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu mô hình kiểm soát tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên", với các mục tiêu sau: 1.. Công trình nghiên cứu được thực hiện tại một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Mã số: 62.72.01.64
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Hoàng Khải Lập
2 PGS.TS Đỗ Doãn Lợi
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Đại học tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên vào hồi giờ ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
Thư viện Quốc gia
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Nguyễn Kim Kế, Hoàng Khải Lập, Đỗ Doãn Lợi (2012), “Thực trạng tăng
huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên”, Tạp chí Thông tin Y - Dược,
10, tr 30-33
2 Nguyễn Kim Kế, Hoàng Khải Lập, Đỗ Doãn Lợi (2012), “Một số yếu tố
nguy cơ tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên”, Tạp chí y học
thực hành, 12(855), tr 47-51
3 Nguyễn Kim Kế, Hoàng Khải Lập, Đỗ Doãn Lợi (2013), “Nghiên cứu mô
hình kiểm soát tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Thị xã Hưng Yên”, Tạp
chí Y học thực hành, 1(857), tr 133-136
Trang 41
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đang có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Ở người cao tuổi (NCT), THA là bệnh hay gặp nhất (41,4%), sau đó đến các bệnh khác như rối loạn xương khớp (36,8%) hay các bệnh về đường hô hấp (36,1%) THA là nguyên nhân dẫn đến bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, bệnh thận và các rối loạn về mắt Huyết áp cao không chỉ gây giảm khả năng hoạt động tư duy ở NCT và dẫn đến những thay đổi bất lợi ở não, gây giảm sút khả năng ghi nhớ và phản ứng thông tin Theo Tổ chức Y tế thế giới, THA là nguyên nhân gây tử vong 9 triệu người mỗi năm và chiếm 12,8% nguyên nhân tử vong toàn cầu Vì vậy, người ta còn gọi THA là kẻ giết người thầm lặng
Trước xu thế của bệnh, ngày 17/6/2002 Thủ Tướng Chính phủ đã ký quyết định số 77/2002/QĐ - TTG phê duyệt chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002 - 2010 trong đó có bệnh THA Theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam việc điều trị THA phải thực hiện thường xuyên, lâu dài suốt cuộc đời người bệnh Cán bộ y tế cần phải giám sát chặt chẽ và thường xuyên giáo dục sức khỏe cho người bệnh và cộng đồng để họ từ bỏ các yếu tố nguy cơ gây THA Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA liên quan đến tuổi, hút thuốc, tập thể dục, béo phì và yếu tố kinh tế - xã hội Tuy nhiên trên thực
tế, sự hiểu biết của cộng đồng về các vấn đề trên và cách dự phòng THA ở các vùng nông thôn và kể cả thành thị hiện nay còn rất hạn chế
Hưng Yên là một tỉnh đồng bằng có dân số khá đông, tỷ lệ người cao tuổi cao Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi hiện nay
ở thị xã Hưng Yên ra sao? Yếu tố nguy cơ nào dẫn đến tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên? và có thể xây dựng mô hình thích hợp nào ở thị xã Hưng Yên trong việc kiểm soát huyết áp để phòng chống bệnh? Vì vậy, chúng
tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu mô hình kiểm soát tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên", với các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên năm 2009
2 Xác định một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp ở người cao tuổi thị xã Hưng Yên
3 Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình kiểm soát THA cho NCT tại phường Quang Trung và xã Bảo Khê thị xã Hưng Yên sau 2 năm can thiệp
Trang 52
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề tài luận án đã xác định được tỷ lệ bệnh THA ở NCT tại tỉnh Hưng Yên khá cao (28,2%) Công trình nghiên cứu được thực hiện tại một tỉnh vùng đồng bằng chưa triển khai chương trình quản lý điều trị bệnh THA tại cộng đồng
Mô hình kiểm soát THA đã huy động được nguồn nhân lực tại địa phương, thu hút sự tham gia của cộng đồng, phối hợp chặt chẽ giữa trạm y tế, nhân viên y
tế thôn bản và hội NCT, các tổ chức đoàn thể khác trong xã hội để hoạt động có hiệu quả Biện pháp quản lý điều trị đã giúp cho NCT tiếp cận dễ dàng với dịch
vụ y tế Chăm sóc y tế tại nhà, theo dõi huyết áp NCT tại hộ gia đình để phát hiện bệnh THA ở NCT, phân loại bệnh THA của NCT để điều trị tại nhà, khi nặng thì chuyển lên y tế tuyến trên (bệnh viện) Mở các lớp tập huấn nâng cao năng lực thực hiện mô hình kiểm soát bệnh THA: giúp cho cán bộ y tế cơ sở, lãnh đạo cộng đồng và cán bộ hội NCT về kỹ năng quản lý, điều trị huyết áp và truyền thông phòng chống THA cho NCT Đây là cơ sở quan trọng để giúp cho việc thực hiện các giải pháp quản lý, chăm sóc sức khỏe cộng đồng có hiệu quả
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Phần chính của luận án dài 114 trang, bao gồm các phần sau:
Đặt vấn đề: 2 trang
Chương 1- Tổng quan: 30 trang
Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 21 trang
Chương 3- Kết quả nghiên cứu: 32 trang
Chương 4- Bàn luận: 26 trang
Kết luận và khuyến nghị: 3 trang
Luận án có 115 tài liệu tham khảo, trong đó có 72 tài liệu tiếng Việt và 43 tài liệu tiếng Anh Luận án có 37 bảng kết quả định lượng, 4 biểu đồ, 4 hình
và 7 hộp kết quả định tính
Phần phụ lục gồm 9 phụ lục dài 21 trang
Trang 63
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm cơ bản về THA ở NCT
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Có nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi (NCT), ngay trong đời sống xã hội cũng có một số danh từ như tuổi thọ, tuổi lão ở mỗi nơi đều có một khái niệm riêng Trong lịch sử Việt Nam tuổi 60 là hạ thọ, tuổi 70 là trung thọ, tuổi
80 là thượng thọ, tuổi 90 là đại thọ Người trên 100 được gọi là quốc lão Hiện nay quy định người từ 60 tuổi trở lên được gọi là NCT, trong đó từ 60-74 tuổi gọi là người có tuổi, từ 75-89 gọi là người già, từ 90 tuổi trở lên là người sống rất già (sống lâu, đại lão)
1.1.2 Khái niệm tăng huyết áp
- Tăng huyết áp: Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), đối với người lớn, HA động mạch là bình thường khi: HATT<120mmHg và HATTr< 80mmHg Gọi là tăng huyết áp (THA) chính thức khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg
- Phân loại THA theo chỉ số huyết áp theo WHO/JNC VII
1.2 Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về tăng huyết áp ở người cao tuổi trên thế giới
THA là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới và là một thách thức đối với y
tế công cộng bởi tỷ lệ của bệnh ngày một gia tăng và bởi các biến chứng về tim mạch và bệnh thận đi kèm Tỷ lệ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới chiếm 26,4% vào năm 2000 tương đương với 972 triệu người mắc bệnh Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng và dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên 60% tương đương với 1,56 tỷ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới vào năm 2025
1.2.2 Nghiên cứu về tăng huyết áp người cao tuổi tại Việt Nam
Ở Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ 20, tỷ lệ THA chỉ vào khoảng 3% dân số, nhưng hiện nay theo số liệu của Viện Tim Mạch tỷ lệ này là 15% Tỷ
lệ người mắc cao huyết áp đã tăng gấp 5 lần trong vòng 40 năm qua từ 3% năm
Trang 74
1960 đến 15% năm 2003 Lứa tuổi mắc bệnh này nhiều nhất là 60-75 (15-20%) Kết quả điều tra cũng cho thấy khoảng 10 triệu người mắc bệnh này, nhưng chỉ hơn 3 triệu người biết mình có bệnh và cũng chỉ có 1/3 bệnh nhân duy trì việc điều trị Theo kết quả của công trình điều tra dịch tễ học bệnh THA năm 1989-
1992 của Trần Đỗ Trinh và cộng sự cho thấy: Tỷ lệ THA là 11,7% trong đó THA chính thức là 5,1%, THA giới hạn là 6,7%, ngoài ra còn THA không bền
là 0,7% Kết quả nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2000 cho thấy:
Tỷ lệ THA tăng lên theo tuổi đời, ở nam cao hơn nữ (p<0,01), ở vùng ven biển
là 17,8%, cao hơn hẳn các vùng khác và tỷ lệ thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 10,7% Theo khảo sát gần đây của Bộ Y tế Việt Nam, tăng huyết áp đang tăng nhanh, chiếm hơn 16% người trên 25 tuổi Nó đứng hàng thứ 4 trong các nguyên nhân gây tử vong Theo Hội tim mạch Việt Nam, tỷ lệ cao huyết áp ở người trên 15 tuổi hiện là 12% Tuy nhiên tỷ lệ này sẽ cao hơn vì ngày nay huyết áp bình thường quy định dưới 102/80mmHg chứ không phải là 140/90 mmHg như trước đây Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề quản lý và điều trị THA đã được quan tâm chú ý nhưng chỉ mới được tiến hành ở một số
cơ sở, chưa được phổ biến rộng, đặc biệt là ở vùng nông thôn Công tác Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TT- GDSK), theo dõi quản lý và điều trị bệnh nhân THA còn ở mức thấp chưa được chú ý đúng mức, nên người bệnh thường tự đến các cơ sở y tế khám vì có biến chứng hoặc có triệu chứng của THA Cho nên số người THA được điều trị đúng đạt tỷ lệ rất thấp
1.3 Một số yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp ở NCT
Có nhiều yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh THA Tuy nhiên, những yếu tố chính là tình trạng dinh dưỡng, thói quen ăn uống, yếu tố tuổi tác, nhận thức của con người về bệnh THA Tình trạng sử dụng dinh dưỡng thường gặp là chế độ
ăn nhiều chất béo, ăn mặn, uống nhiều rượu Ở các nước đang phát triển các yếu
tố trên đóng vai trò quan trọng trong việc gây bệnh THA ở NCT Hậu quả của tình trạng dinh dưỡng không hợp lý đã dẫn tới chỉ số khối cơ thể vựơt quá mức bình thường dẫn tới THA Hành vi của NCT về phòng chống THA đóng một vai trò quan trọng như hút thuốc lá, uống nhiều rượu Thích sống tĩnh tại, ít vận động cũng là nhưng yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh THA Cần phải nhận thấy rằng nhận thức của người dân về bệnh THA có ý nghĩa rất quan trọng Nhiều nghiên cứu đã cho thấy ở những người ít hiểu biết về bệnh THA thì tỷ lệ mắc bệnh THA cao gấp 2 – 3 lần so với người có hiểu biết về bệnh THA Gần đây đã
Trang 85
có nhiều tài liệu đề cập đến môi trường sống, tiền sử gia đình cũng là những yếu
tố nguy cơ của bệnh THA
Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có nhiều yếu
tố nguy cơ dẫn đến bệnh THA trong cộng đồng như: hút thuốc lá, uống nhiều rượu/bia, khẩu phần ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều chất béo), ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, tiểu đường, tiền
sử gia đình có người bị THA Phần lớn những yếu tố nguy cơ này có thể kiểm soát được khi người dân có hiểu biết đúng và biết được cách phòng tránh Tuy nhiên theo điều tra dịch tễ năm 2002 của Viện tim mạch Việt Nam, 77% người dân hiểu sai về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ của bệnh, hơn 70% các trường hợp không biết cách phát hiện sớm và dự phòng bệnh THA Hiểu biết của người dân về bệnh THA ở nông thôn kém hơn hẳn ở thành thị Các biến chứng của THA là rất nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù loà Những biến chứng này có ảnh hưởng lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất của gia đình bệnh nhân và xã hội
1.3 Một số mô hình kiểm soát huyết áp hiện nay
1.3.2 Nội dung kiểm soát THA
Kiểm soát huyết áp là giải pháp kết hợp giữa truyền thông phòng chống
bệnh với việc theo dõi huyết áp thường xuyên tại cơ sở y tế Theo WHO kiểm
soát huyết áp là thực hiện các nội dung sau:
- Giảm cân và kiểm soát số đo vòng hai
- Tập thể dục thường xuyên: khoảng từ 30 đến 60 phút mỗi ngày
- Ăn uống lành mạnh: chế độ ăn giàu chất xơ, rau, quả và ít chất béo, cholesterol đem lại sức khỏe vàng cho những người THA
- Giảm muối trong chế độ ăn: người bị THA thì cần ít hơn 1500mg mỗi ngày
- Giới hạn số lượng rượu
- Cắt giảm thuốc lá và khói thuốc lá
- Cắt giảm caffeine
- Giảm căng thẳng
1.3.2 Một số mô hình kiểm soát THA
* Trên thế giới:
- Mô hình sử dụng dược sỹ trong kiểm soát tăng huyết áp tại Bồ Đào Nha
- Mô hình sử dụng bác sĩ gia đình trong kiểm soát tăng huyết áp tại Canada
Trang 9* Tại Việt Nam
- Mô hình huy động cộng đồng truyền thông phòng chống THA của Dương Minh Thu tại Thái Nguyên
- Mô hình điều trị ngoại trú bằng hình thức khám bệnh kê đơn thuốc
- Mô hình quản lý điều trị THA tại Ban bảo vệ chăm sóc sức khoẻ tỉnh Bắc Giang
- Mô hình quản lý và điều trị THA tại bệnh viện huyện ở tỉnh Bắc Giang
- Mô hình quản lý và điều trị THA ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang
- Chương trình phòng chống tăng huyết áp Quốc gia được thực hiện ở 1 số tỉnh miền núi như Bắc Kạn, Yên Bái
Qua tổng quan về các mô hình quản lý THA trong và ngoài nước cho thấy, nội dung can thiệp tập trung vào các hoạt động sau:
- Nhóm tăng cường kiểm soát điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện (tỉnh, huyện)
- Nhóm tăng cường kiểm soát điều trị THA ngoại trú bằng hình thức khám bệnh
kê đơn thuốc
- Nhóm hoạt động kiểm soát tăng huyết áp ở tuyến y tế cơ sở phường, xã
- Nhóm hoạt động kiểm soát quản lý điều trị kết hợp TT-GDSK cho cộng đồng
Ở nước ta cho đến nay, phần lớn các hoạt động phòng chống THA tập trung cho công tác điều trị bệnh tại các bệnh viện Hoạt động dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng đã được triển khai thông qua chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống THA nhưng còn hạn chế Công tác tuyên truyền bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại cơ sở còn chưa sâu rộng Ngân sách đầu tư cho công tác quản lý THA tại cộng đồng cũng còn khá khiêm tốn Điều này làm cho việc theo dõi, quản lý và điều trị bệnh nhân THA còn ở mức thấp: người bệnh thường đến các cơ sở y tế khám khi có biến chứng của THA, số người THA được điều trị đúng đạt tỷ lệ chưa cao Đó là lý do cần có mô hình kiểm soát THA tại cộng đồng
Trang 107
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng đích: Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên không có các biểu hiện suy giảm trí tuệ
- Đối tượng hỗ trợ: Cán bộ Y tế, Hội người cao tuổi, Chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: Thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
2.2.2.Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2008 đến tháng 12/2011
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp theo mô hình tiến trình giải
thích bao gồm các thiết kế sau:
- Nghiên cứu mô tả: thiết kế cắt ngang để mô tả thực trạng bệnh THA ở NCT
- Nghiên cứu bệnh chứng: để xác định một số yếu tố liên quan với THA ở NCT
- Nghiên cứu can thiệp: thiết kế can thiệp trước sau có nhóm chứng để đánh giá hiệu quả mô hình kiểm soát bệnh THA ở NCT
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả tính theo công thức sau:
2
2 /2 - 1
) 1 ( Z
1 1
2 / 2
1 ln
1 / 1 1
/ 1
Trang 118
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp: chọn toàn bộ NCT tại 2 xã, phường trong
số các xã phường đã điều tra ở giai đoạn 1 để can thiệp Kết quả bốc thăm được phường Quang Trung và xã Bảo Khê (can thiệp), phường Hiến Nam và xã Trung Nghĩa (đối chứng)
* Cỡ mẫu đánh giá hiệu quả can thiệp được tính theo công thức sau:
2 2 1
2 2 1 1
2 1 2 / 1
)(
)(
)(
p p
q p q p Z
- Để đánh giá kết quả quản lý THA, cỡ mẫu được ước tính theo tỷ lệ NCT kiểm soát được HA mục tiêu theo nghiên cứu trước là 60,5% và mong muốn sau can thiệp là 75% với α 0,05 và β 0,1 Tính được n 220 NCT có THA Những người này được chọn ngẫu nhiên từ danh sách NCT đã được xác định là THA qua điều tra sàng lọc tại các xã can thiệp và đối chứng, mỗi xã 110 người
2.2.3 Chỉ số nghiên cứu
- Nhóm các chỉ số về thực trạng bệnh THA ở NCT: Tỷ lệ bệnh, phân bố theo
giới, tuổi, nghề nghiệp…
- Nhóm các chỉ số về yếu tố nguy cơ như giới, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, sử dụng rượu bia, thuốc lá, vận động, BMI và KAP (kiến thức thái độ, thực
hành) về phòng chống THA…
- Nhóm các chỉ số về hiệu quả mô hình kiểm soát bệnh THA thay đổi KAP và thay đổi tỷ lệ bệnh THA mới phát hiện, tỷ lệ NCT bị bệnh THA được quản lý,
uống thuốc đều đặn theo qui định, tỷ lệ NCT bị THA có tai biến…
2.2.4 Xây dựng mô hình can thiệp
2.2.4.1 Các bước tiến hành Làm việc với UBND và Hội NCT xã/phường can
thiệp để dự kiến kế hoạch triển khai và rà soát danh sách NCT của phường, bước
đầu lựa chọn đối tượng nghiên cứu Soạn văn bản và thông báo cho Trung tâm y
tế (TTYT) Thị xã, UBND phường, trạm Y tế, hội NCT phường Quang Trung và
xã Bảo Khê về việc phối hợp triển khai hoạt động TT-GDSK cho NCT tại
phường can thiệp Lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động can thiệp Triển khai thực
hiện kế hoạch can thiệp cụ thể và tổ chức theo dõi, giám sát các hoạt động can
thiệp Tổ chức điều tra, đánh giá sau can thiệp
Trang 129
2.2.4.1 Nội dung can thiệp:
* Kiểm soát THA:
- TYT xã phường tiến hành khám sức khỏe cho tất cả NCT của phường NCT được đo nhân trắc, đo huyết áp và khám tim mạch tại TYT xã phường mỗi tháng
* Hoạt động truyền thông:
- Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức NCT trong cộng đồng về công tác phòng chống bệnh tăng huyết áp thông qua kênh các tổ chức quần chúng, nhất là Hội NCT ở phường/xã và Chi hội NCT ở các tổ nhân dân/thôn xóm
- Xây dựng nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe về việc phòng và chống bệnh THA dựa trên kết quả nghiên cứu đầu vào của đề tài về thực trạng THA và các yếu tố nguy cơ ở người cao tuổi tại thị xã Hưng Yên, đồng thời tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước, xin ý kiến chuyên gia truyền thông
* Trang thiết bị vật tư thực hiện mô hình
- Cung cấp máy đo huyết áp cho NVYTTB ở các tổ nhân dân/thôn xóm để theo dõi và quản lý huyết áp cho NCT tại cộng đồng
- Cung cấp các loại sổ sách để kiểm soát THA cho TYT phường/xã
- Cung cấp các loại tài liệu truyền thông phòng chống THA cho NVYTTB, các chi hội NCT và NCT (tờ rơi, sách truyền thông về phòng chống THA)
* Nhân lực thực hiện mô hình
- Thành lập ban chỉ đạo kiểm soát THA ở phường Quang Trung và xã Bảo Khê hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp của chủ tịch UBND xã phường
- Nhân lực thực hiện mô hình có sự phối hợp lồng ghép giữa chính quyền địa phương (UBND, tổ dân phố), trạm y tế (cán bộ TYT, NVYTTB) và hội người cao tuổi (hội NCT xã phường, chi hội NCT thôn tổ), trong đó nòng cốt là các chi hội NCT Tổng cộng 76 người
- Cán bộ tham gia thực hiện mô hình được tập huấn các kỹ năng TT-GDSK phòng chống THA, kỹ năng quản lý và điều trị THA tại cộng đồng
2.3 Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được xử lý bằng SPSS 18.0 với các
thuật toán thống kê y học Các kết quả so sánh trước sau và so với đối chứng về hành vi dự phòng THA, kiểm soát THA cho NCT được đánh giá bằng chỉ số hiệu quả và hiệu quả can thiệp
Trang 1310
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi ở thị xã Hưng Yên năm 2009
Điều tra 900 NCT tại thị xã Hưng Yên, phát hiện được 254 người THA chiếm tỷ lệ 28,2%
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ THA ở NCT tại các xã, phường thuộc Thị xã Hưng Yên
Nhận xét: Tỷ lệ THA người cao tuổi ở các phường cao hơn có ý nghĩa so với
Nhận xét: Tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi, từ 21,3% (nhóm tuổi 60- 69) tăng
lên 44,9% (nhóm tuổi trên 80 tuổi) (p<0,01) NCT có trình độ học vấn thấp (từ
tiểu học trở xuống) có tỷ lệ THA cao hơn có ý nghĩa so với những người có trình độ từ THCS trở lên (p<0,01)
Kết quả bảng 3.9 cho thấy: trong số 254 NCT bị THA có 65 trường hợp THA phát hiện từ trước, chiếm tỷ lệ 25,6% Số còn lại (189 trường hợp THA) được phát hiện trong đợt điều tra này chiếm tỷ lệ 74,4%