Hiện nay, việc TCHĐN đã được GV sử dụng trong dạy học lịch sử DHLS ở trường THPT.. Đồng thời luận án cũng đưa ra một số yêu cầu nhằm thực hiện tốt những dạng TCHĐN và các biện pháp đã nê
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, hơn bao giờ hết đổi mới giáo dục (GD) trở thành vấn đề cấp thiết đặt ra cho tất cả các ngành học, cấp học thuộc hệ thống GD phổ thông (PT) nước ta trong những năm đầu của thế kỉ XXI
Đổi mới GD đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học (QTDH) như: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học, môi trường dạy học, kiểm tra đánh giá Tuy nhiên, sự đổi mới nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) chỉ thực sự
có ý nghĩa và mang tính khả thi khi được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức dạy học
TCHĐN góp phần phát huy năng lực nhận thức độc lập, tạo hứng thú học tập cho HS, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử Hiện nay, việc TCHĐN đã được GV sử dụng trong dạy học lịch sử (DHLS) ở trường THPT Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của việc TCHĐN chưa cao, còn rất nhiều hạn chế chủ yếu nặng về hình thức
TCHĐN trong DHLS ở trường PT là một đề tài có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực
tiễn Đây là lý do để chúng tôi chọn đề tài TCHĐN trong dạy học lịch sử ở trường THPT (Vận dụng qua dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến thế kỉ XVI lớp 10, chương trình chuẩn) để
nghiên cứu Qua đó, chúng tôi muốn góp phần vào việc tìm ra biện pháp thích hợp để TCHĐN có hiệu quả cho HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của TCHĐN trong DHLS ở trường THPT, luận
án đề xuất các dạng TCHĐN theo hướng phát huy tính tích cực của HS Đồng thời luận án cũng đưa ra một số yêu cầu nhằm thực hiện tốt những dạng TCHĐN và các biện pháp đã nêu trong dạy học phần lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI lớp 10, nhằm góp phần nâng
cao chất lượng DHLS ở trường THPT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau :
- Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học và giáo dục lịch sử để làm rõ những vấn đề lí luận về TCHĐN trong DHLS ở THPT
- Khảo sát, điều tra thực tiễn TCHĐN trong DHLS ở trường THPT
Trang 2- Xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng phần lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI trong chương trình, sách giáo khoa (SGK) Lịch sử lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) để làm căn cứ cho việc TCHĐN
- Đề xuất các dạng TCHĐN cho HS trong DHLS ở trường THPT
- Lựa chọn các biện pháp thực hiện các dạng TCHĐN trong DHLS phần lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI
- Thiết kế kế hoạch bài học và thực nghiệm sư phạm (TNSP) toàn phần để kiểm chứng các biện pháp sư phạm, trên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp
sư phạm được tiến hành trong luận án
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình TCHĐN trong DHLS ở trường THPT 3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án không đi sâu vào tìm hiểu tất cả các dạng TCHĐN, căn cứ vào đặc trưng và tính đặc thù, sự phù hợp với bộ môn lịch sử chúng tôi chỉ tập trung vào một số dạng TCHĐN mà chúng tôi cho là có tính khả thi áp dụng được trong dạy học bộ môn
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là TCHĐN trong bài hình thành kiến thức mới Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chọn 5 trường THPT để thực nghiệm toàn phần là: Trường THPT Phù Ninh (tỉnh Phú Thọ), Trường THPT chuyên Hùng Vương (tỉnh Phú Thọ - Đại diện khối trường chuyên), Trường THPT Cầm Bá Thước (Thanh Hóa), Trường THPT Lạc Long Quân (tỉnh Hòa Bình), Trường THPT Quang Trung (Hà Đông –
Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác GD, những vấn
đề liên quan đến lí luận dạy học nói chung, dạy học môn lịch sử nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Là một công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lý luận và PPDH môn lịch sử, luận án của tôi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về phương pháp của một luận án Giáo dục học
Trang 3chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử trong đó coi trọng phương pháp nghiên cứu điều tra khảo sát và TNSP Phương pháp nghiên cứu tác động (action research) để xử lý thông tin từ đó khẳng định biện pháp luận án đưa ra có mang tính khả thi
và có áp dụng đại trà được không
5 Đóng góp của luận án
5.1 Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc TCHĐN trong dạy học nói chung môn lịch sử ở trường PT nói riêng ở trường THPT Luận án sẽ góp phần làm phong phú thêm lí luận dạy học bộ môn về vấn đề TCHĐN trong DHLS
5.2 Cung cấp thêm những số liệu điều tra, khảo sát về TCHĐN trong DHLS ở trường PT Đánh giá đúng thực trạng việc TCHĐN ở trường PT hiện nay
5.3 Thiết kế được một số dạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử ở trường THPT
5.4 Đề xuất được một số biện pháp TCHĐN trong DHLS ở trường PT Luận án giúp cho tác giả, đồng nghiệp biết cách vận dụng các dạng TCHĐN trong DHLS ở trường THPT Đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho các Nghiên cứu sinh, học viên Cao học, GV THPT, cho sinh viên các trường cao đẳng và đại học sư phạm
6 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu thực hiện một cách linh hoạt các biện pháp TCHĐN trong dạy học lịch sử ở trường THPT mà tác giả đề xuất trong luận án cộng với việc đảm bảo các yêu cầu khi TCHĐN thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu TCHĐN trên thế giới
Vấn đề TCHĐN trong dạy học là một vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà GD trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng TCHĐN là một trong những thành tựu nghiên cứu quan trọng của lí luận dạy học, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này, mỗi công trình lại nghiên cứu và đóng góp những khía cạnh khác nhau về TCHĐN Ở những góc độ khác tiếp cận khác nhau đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều những quan niệm, cách thức, biện pháp,… về TCHĐN trong DH
Những ý tưởng về việc TCHĐN của những thế kỉ XVII, XIX, XX đã được áp dụng ngày càng mạnh mẽ trong thực tiễn dạy học của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay PPDH này đã từng bước khẳng định và ngày càng thể hiện được ưu thế trong hệ thống các PPDH tích cực Tuy nhiên có thể khẳng định, thời kì đầu, những nghiên cứu của thời kì này vẫn chỉ là những thử nghiệm về mặt tổ chức chứ chưa có một mô hình và một lí thuyết nào
về hình thức và PPDH độc lập so với các PPDH khác Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Cuộc cách mạng Khoa học - kĩ thuật hiện đại đã diễn ra với quy mô rộng lớn, nội dung sâu sắc và toàn diện, nhịp độ vô cùng nhanh chóng Nó đã đưa lại nhiều thành tựu kì diệu và những đổi thay to lớn trong đời sống nhân loại Những nghiên cứu về TCHĐN đã có những thay đổi cả về lượng và chất trong thời kỳ này Có thể nói, nửa cuối thế kỉ XX và bước sang những năm đầu của thế kỉ XXI, TCHĐN đang ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của
nó trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của nhân loại Cho nên hiện nay, TCHĐN được sử dụng thường xuyên, liên tục, đặc biệt ở các nước phát triển
Hầu hết các nhà GD nổi tiếng trên thế giới đã đưa ra những khái niệm, những giải thích, hướng dẫn về quy trình, cách thức tổ chức, các kĩ thuật,… dành cho GV và HS để TCHĐN đạt hiệu quả cao Nhưng để TCHĐN thực sự được áp dụng thành công trong thực tiễn dạy học thì cần phải có thêm thời gian và những nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn, tùy vào môi trường GD và đối tượng HS khác nhau Bao gồm cả những nghiên cứu về các cách thức tổ chức học tập nhóm trong những điều kiện, môn học khác nhau, rồi các tiền đề sư phạm, xã hội thuận lợi cho tổ chức dạy học nhóm,…
1.2 Tình hình nghiên cứu TCHĐN ở Việt Nam
Cùng với công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, GD Việt Nam đã và đang tiếp tục tiến hành cải cách nhằm thích nghi với xu hướng đổi mới PPDH hiện nay của khu
Trang 5vực và thế giới, nhiều nhà nghiên cứu về lí luận và PPDH thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, đã nghiên cứu về TCHĐN nhằm tích cực hóa hoạt động của người học,
Các nhà GD lịch sử trong nước cũng đã rất quan tâm đến vấn đề TCHĐN trong bộ môn Lịch sử ở trường THPT
Sau khi nghiên cứu các công trình khoa học về TCHĐN trong dạy học lịch sử, chúng tôi nhận thấy rằng, TCHĐN trong DHLS không còn là một đề tài mới nữa vì đã có một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó chưa thực sự thuyết phục cao về tính khả thi của TCHĐN trong giảng dạy lịch sử Và chưa có một công trình nào đưa ra cách thiết kế một số dạng TCHĐN trong dạy học đồng thời đề ra được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng TCHĐN trong dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI lớp 10, chương trình chuẩn Vì vậy, mảnh đất để luận án có thể cày xới vẫn rất hoang sơ, chưa có ai khai thác triệt để
Sau khi nghiên cứu các công trình khoa học về TCHĐN trong dạy học lịch sử, chúng tôi nhận thấy rằng, TCHĐN trong DHLS không còn là một đề tài mới nữa vì đã có một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó chưa thực sự thuyết phục cao về tính khả thi của TCHĐN trong giảng dạy lịch sử Và chưa có một công trình nào đưa ra cách thiết kế một số dạng TCHĐN trong dạy học đồng thời đề ra được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng TCHĐN trong dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI lớp 10, chương trình chuẩn Vì vậy, mảnh đất để luận án có thể cày xới vẫn rất hoang sơ, chưa có ai khai thác triệt để
Ở Việt Nam, chúng tôi có thể khẳng định: TCHĐN là vấn đề đã được đề cập từ lâu trong nghiên cứu lí luận và cũng đã được áp dụng sớm trong thực tiễn tổ chức giảng dạy ở các trường học Tuy nhiên các nghiên cứu về dạy học nhóm ở nước ta mới chỉ dừng ở mức
độ lí luận chung của GD học chứ chưa có sự vận dụng một cách toàn diện, chi tiết vào từng chuyên ngành cụ thể trong đó có dạy học Lịch sử Vì vậy việc nghiên cứu quá trình TCHĐN trong DHLS vẫn còn là mảnh đất trống cho tác giả luận án nói riêng và cho các nhà nghiên cứu nói chung khai phá Và đây sẽ là nội dung chính mà luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những nghiên cứu về TCHĐN, luận án tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Luận án tiếp tục nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về TCHĐN trong DHLS ở trường PT
Trang 6- Đề xuất một số dạng TCHĐN trong dạy học lịch sử ở trường THPT
- Đề xuất các biện pháp TCHĐN trong dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI lớp 10 chương trình chuẩn
Những nhiệm vụ này sẽ được chúng tôi giải quyết trong các chương tiếp theo của luận án
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2.1 Cơ sở lí luận và xuất phát của vấn đề
2.1.1 Những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới GD PT
Yêu cầu phải đối mới, phải chấn hưng nền GD Việt Nam được nêu rất rõ trong các văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa qua Luật GD của Việt Nam
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn hiện này và yêu cầu phải cải cách toàn diện GD THPT là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu GD PT Phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu dạy học, chương trình, nội GD PT, đặc biệt là đổi mới phương pháp GD kết hợp với đổi mới hình thức tổ chức GD THPT Cuối cùng là đổi mới đánh giá kết quả GD THPT
2.1.2 Một số quan niệm về tổ chức hoạt động nhóm
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, nghiên cứu những quan niệm của các nhà giáo dục trong và ngoài nước, trong luận án chúng tôi muốn đưa ra quan niệm của mình về một số khái niệm như: tổ chức, tổ chức quá trình dạy học, tổ chức hoạt động dạy học
2.1.3 Lí luận dạy học hiện đại làm cơ sở cho TCHĐN
Trong thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI, rất nhiều lí thuyết học tập mới đã
ra đời để đáp ứng sự đổi mới của GD Các lí thuyết học tập đều tìm cách giải thích cơ chế của việc học tập, làm cơ sở để tổ chức và thực hiện tối ưu quá trình học tập của HS Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác nhau, trong đó có một số thuyết học tập làm cơ sở cho TCHĐN trong dạy học Đó là thuyết học tập mang tính xã hội; Sự giải quyết mâu thuẫn; Sự hợp tác tập thể
2.1.4 Đặc điểm tâm lí của HS THPT với việc TCHĐN
* Đặc điểm HĐHT HS lứa tuổi bậc THPT
Trang 7HS ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn, các em ý thức được vị trí, vai trò của mình Do vậy, thái độ có ý thức của các em trong HĐHT ngày càng được phát triển
* Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của HS THPT
Ở tuổi này, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt Đặc biệt, các em
đã có khả năng phân hoá trong ghi nhớ
* Hoạt động giao tiếp, đời sống tính cảm và sự phát triển tâm lý
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách của HS Ở tuổi thanh niên, đời sống giao tiếp, tình cảm của các em phát triển rất phong phú và đóng vai trò quan trọng Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp rất phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách và phát triển tâm lí các em
Giao tiếp trong nhóm bạn
Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Điều quan trọng với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, là cảm thấy mình cần cho nhóm, có vị trí nhất định trong nhóm
2.1.5 Đặc trưng của KTLS với việc TCHĐN
Không phải tất cả các nội dung KTLS GV đều có thể tùy tiện TCHĐN mà GV phải
có sự chọn lọc cho hợp lí GV Lịch sử nên TCHĐN thường xuyên đối với KTLS thuộc phần
“luận” Phần luận bao gồm sự giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận,… của người đời sau
về sự kiện lịch sử Với phần kiến thức này đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sâu, có óc phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, phân tích nhận định, Và điều này phát huy rất tốt khi sử dụng số đông, sức mạnh của trí tuệ tập thể
2.1.6 Vai trò, ý nghĩa của việc TCHĐN trong DHLS ở trường THPT
* Vai trò của việc TCHĐN trong DHLS ở trường THPT
Đối với HS, khi tham gia hoạt động nhóm, các em sẽ rèn luyện được tính kiên trì, nhẫn nại, tính trách nhiệm Đồng thời, khi tham gia hoạt động nhóm hiệu quả các em sẽ tích cực hơn, sôi nổi và hứng thú hơn Đặc biệt các em sẽ thấy gắn bó với nhau theo tinh thần đồng đội, các em sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với nhau, tính ích kỉ sẽ bị giảm đi nếu các em hòa nhập tốt với tập thể Đối với chủ trương đổi mới của Đảng, nhà nước và bộ GD và Đào tạo, TCHĐN sẽ góp phần nâng cao chất lượng đổi mới PPDH
* Ý nghĩa của dạy học nhóm
Trang 8- Về nhận thức:
Quá trình nhận thức nói chung, nhận thức lịch sử nói riêng đều tuân theo quy luật
chung của sự nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn” (V.I.Lênin) Cơ sở của sự nhận thức lịch sử là sự kiện, nhưng mục
đích dạy học lịch sử ở trường PT không dừng ở việc cung cấp cho HS hệ thống các sự kiện lịch sử, mà quan trọng hơn là trên cơ sở các sự kiện, giúp các em tạo biểu tượng, để từ đó hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử, vận dụng kiến thức đã học vào học tập và thực tiễn cuộc sống
- Về GD:
Việc TCHĐN tạo môi trường thuận lợi cho HS phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ trong việc tiếp nhận kiến thức góp phần hình thành các yếu tố của nhân cách như: sự hứng thú, niềm say mê, thái độ tự tin trong học tập
- Về phát triển:
TCHĐN sẽ có tác dụng phát triển tư duy và rèn luyện cho HS năng lực diễn đạt một vấn đề lịch sử, các kĩ năng giao tiếp cá nhân như: nghe, nói, tranh luận, lãnh đạo và khả năng hợp tác, tương hỗ giúp HS tự tin hơn trong học tập và cuộc sống Điều này càng được chứng minh qua kết quả khảo sát mà chúng tôi thu được khi khảo sát nội dung lợi ích của làm việc nhóm như sau:
Hình thành năng lực tự đánh giá, tự ý thức, phát triển kĩ năng xã hội
Như vậy, ý nghĩa lớn nhất của TCHĐN đó là góp phần phát triển HS một cách toàn diện cả về năng lực nhận thức, về thành phần nhân cách và phát triển các kĩ năng, kĩ xảo
2.2 Cơ sở thực tiễn của việc TCHĐN
Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập số liệu tại các trường THPT trong khoảng thời gian năm học 2009 – 2010
Nhìn chung, qua công tác khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc TCHĐN trong DHLS có những ưu điểm và tồn tại sau:
Ưu điểm:
TCHĐN đã được sử dụng khá phổ biến trong DHLS ở các trường THPT
GV đã nhận thức được những lợi ích của TCHĐN và bước đầu có kiến thức và kĩ năng
để tiến hành tổ TCHĐN GV bước đầu đã biết lựa chọn hình thức và cơ cấu nhóm tương đối phù hợp, nêu được các bước làm việc nhóm Khâu chuẩn bị của GV và HS cho tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử tương đối chu đáo
Trang 9HS bước đầu đã có một số kĩ năng làm việc nhóm, biết nhanh chóng gia nhập nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí, bước đầu biết bày tỏ ý tưởng, quan điểm và trình bày kết quả chung của nhóm
Nhược điểm:
Quy trình dạy học nhóm chưa được GV thực hiện một cách linh hoạt, khoa học
Nhiệm vụ GV giao cho các nhóm HS thực hiện chưa có sự lựa chọn kĩ càng từ các nội dung KTLS Phần lớn GV lịch sử hiện nay lựa chọn nhiệm vụ hoạt động nhóm một cách tự
do, cho HS học tập nhóm đối với cả những phần kiến thức không cơ bản
Trong quá trình TCHĐN, GV chưa thực sự kết hợp nhuần nhuyễn các dạng TCHĐN,
vì thế dạy học nhóm chưa phát huy hết ưu thế của nó khi phối hợp với dạng hoạt động cá nhân
và toàn lớp
Đặc biệt hiện nay còn tồn tại hiện tượng GV chưa có cách đánh giá đúng đối với HS trong hoạt động nhóm Điểm số hiện nay của nhóm là cào bằng cho tất cả thành viên nhóm, vì vậy đã không kích thích được HS trong việc tham gia học tập nhóm
Các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc TCHĐN trong DHLS hiện nay ở trường THPT
* Về phía GV:
- Nhận thức của GV về TCHĐN còn rất nhiều tồn tại
- Sự yếu kém về năng lực sư phạm của GV
* Về phía HS
- Kĩ năng làm việc nhóm của HS còn yếu
- Do HS thiếu sự gắn kết trong một nhóm học tập
- Khả năng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt của HS còn khá hạn chế
- Chưa có cách đánh giá một cách công bằng
* Các nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân khác cũng gây cản trở không nhỏ cho việc tổ chức thảo luận nhóm, đó
là cơ sở vật chất như: không gian lớp học nhỏ, bàn ghế thiếu cơ động không thuận tiện cho việc di chuyển và bố trí làm việc của các nhóm, sĩ số lớp học đông khiến cho việc chia nhóm phức tạp và khó khăn
Từ những mục đích có thể đạt được trên khi sử dụng TCHĐN trong DHLS, có thể khẳng định được rằng: đây là một cách tổ chức dạy học cần thiết và hoàn toàn phù hợp với lứa tuổi THPT và với đặc trưng riêng của bộ môn lịch sử
Trang 10Qua việc khảo sát thực tế giảng dạy ở các trường THPT, có thể thấy các GV lịch sử
đã tiến hành TCHĐN khi tiến hành các bài học lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên cũng theo kết quả điều tra thực tế thì hiện nay, tần suất và mức độ sử dụng phương pháp này của các
GV Lịch sử còn chưa nhiều, chưa phát huy được hiệu quả cũng như những ưu điểm của DHTN, đồng thời cũng chưa phát huy được tối đa tính tích cực hóa của HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 3
THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XVI LỚP 10,
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
3.1 Mục tiêu phần Lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XVI
Luận án đã xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và tư tưởng đối với một số chủ đề
lịch sử thuộc phần lịch sử thế giới
3.2 Thiết kế một số dạng TCHĐN trong DHLS thế giới từ nguồn gốc đến thế kỉ XVI lớp 10, chương trình chuẩn
3.2.1 TCHĐN theo bàn để giải quyết một nhiệm vụ học tập thống nhất
* Cơ sở hình thành dạng TCHĐN theo bàn để giải quyết một nhiệm vụ thống nhất
Khi TCHĐN, yếu tố không gian là một điều kiện rất quan trọng để TCHĐN thành công Ở Việt Nam, diện tích lớp học như vậy là chưa đảm bảo yêu cầu cho TCHĐN, bàn ghế kê hết vị trí lớp học, không gian để xoay và kê lại bàn ghế theo thiết kế bài học theo các dạng TCHĐN rất khó thực hiện Hơn nữa hiện nay, dung lượng của một bài học lịch sử khá dài trong khi đó thời lượng của một tiết học lịch sử chỉ có 45 phút, vì vậy khi lên lớp do lo
sợ thiếu thời gian, cháy giáo án GV dành thời lượng cho việc tổ chức nhóm rất ít Do đó, để tiết kiệm thời gian thì hình thức phân công các nhóm cùng thực hiện một nhiệm vụ là hình thức mà hiện nay GV PT thường xuyên sử dụng trong giờ dạy lịch sử
* Bản chất của tổ chức nhóm theo bàn để thực hiện nhiệm vụ thống nhất
Dạng TCHĐN theo bàn thực hiện chung một nhiệm vụ là một dạng TCHĐN kết hợp giữa cách phân chia, thành lập nhóm với cách phân chia nhiệm vụ học tập Đây là một dạng TCHĐN mới, vừa phù hợp với thực tiễn dạy học vừa khắc phục được tính hình thức trong TCHĐN hiện nay
TCHĐN theo bàn thực hiện một nhiệm vụ chung là một dạng của TCHĐN theo đó trước hết HS sẽ được ghép với nhau thành một nhóm, những HS này thường có vị trí ngồi
Trang 11liền kề hoặc cách nhau một khoảng cách rất nhỏ Sau đó, GV yêu cầu các nhóm thực hiện một nhiệm vụ chung Dạng TCHĐN này giúp GV dễ dàng thuận tiện hơn trong việc đánh giá, so sánh tương quan giữa các nhóm Mục đích của việc GV cho các nhóm làm cùng một nhiệm vụ là để thi đua xem nhóm nào làm tốt nhất, hay nhất và nhanh nhất Nhiệm vụ ở đây
có thể là bình luận, phân tích, giải thích,…một chủ đề lịch sử hoặc một sự kiện lịch sử nào
đó hoặc cũng có thể là nhiệm vụ vẽ sơ đồ, lập niên biểu, lập bảng thống kê,…một vấn đề lịch sử nào đó
3.2.2 Nhóm sử dụng kĩ thuật dạy học để giải quyết các nhiệm vụ học tập khác biệt
* Cơ sở hình thành dạng TCHĐN sử dụng kĩ thuật dạy học (KTDH) để giải quyết các
nhiệm vụ khác biệt
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn giảng dạy lịch sử hiện nay ở trường THPT, chúng tôi trên cơ sở tập hợp, thống kê có phân tích một số KTDH có liên quan mật thiết, có tác dụng bổ trợ cho TCHĐN hiệu quả hơn để đưa ra một dạng TCHĐN có chung một đặc điểm
là đều sử dụng các KTDH để hỗ trợ nhằm giải quyết những nhiệm vụ khác biệt Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng GV nên lựa chọn dạng nhóm có sử dụng các kĩ thuật dạy học để TCHĐN Chúng tôi nhận thấy các kĩ thuật dạy học đặc biệt bổ trợ tốt cho hoạt động nhóm giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau Trên cơ sở đó mà chúng tôi thiết kế
ra một dạng TCHĐN mới đó là dạng TCHĐN sử dụng kĩ thuật dạy học để giải quyết các nhiệm vụ khác biệt
* Bản chất của dạng TCHĐN có sử dụng KTDH để giải quyết các nhiệm vụ khác biệt
Nhóm sử dụng KTDH để giải quyết các nhiệm vụ khác biệt là một dạng TCHĐN vì thế nó vẫn tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc và quy trình TCHĐN trong DHLS Tuy nhiên dạng nhóm này có đặc trưng riêng là quá trình TCHĐN luôn gắn liền với một KTDH nhất định KTDH có tác dụng bổ trợ giúp cho quá trình TCHĐN thành công và hiệu quả Và khi TCHĐN theo dạng này GV luôn chia các nhóm với các nhiệm vụ khác nhau chứ không giống như dạng TCHĐN theo bàn
TCHĐN sử dụng kĩ thuật dạy học có thể áp dụng với cả dạng bài cung cấp kiến thức mới, cũng như kiểu bài ôn tập, sơ kết tổng kết
* Các dạng nhóm sử dụng kĩ thuật dạy học
Dạng 1: Nhóm sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn
Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong tất cả các dạng bài học lịch sử ở trường PT Đặc biệt kĩ thuật khăn trải bàn có thể khắc phục
Trang 12được những hạn chế của học theo nhóm nhất là nhóm phân hóa nhiệm vụ Trong học theo nhóm, nếu tổ chức không tốt, đôi khi chỉ có các thành viên tích cực làm việc, các thành viên thụ động thường hay ỉ nại, trông chờ, nghỉ ngơi như người ngoài cuộc
Là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân
HS cũng như phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
Sử dụng dạng nhóm có sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn nhằm giải quyết các nhiệm vụ khác biệt sẽ giúp GV đồng thời theo dõi được hoạt động của từng HS trong lớp đồng thời cũng dễ đánh giá được các nhóm HS trong quá trình hợp tác cùng giải quyết nhiệm vụ nhóm Đặc biệt, trong cùng một thời gian giới hạn, GV và HS cùng tìm hiểu được rất nhiều nội dung của bài học Lượng kiến thức HS thu được đảm bảo cả về lượng và chất
+ Các bước tiến hành
Cách tiến hành:
- Chia HS thành các nhóm và phát giấy A0 cho các nhóm
- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh Chia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm (Ví dụ nhóm 4 người) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và viết vào phần mang số của mình
- Khi hết thời gian làm việc cá nhân, các thành viên trong nhóm chia sẻ, thảo luận, thống nhất câu trả lời
- Ý kiến thống nhất của nhóm được viết vào phần chính giữa
Vòng 1 đƣợc gọi là “Nhóm chuyên gia”
- Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 - 6 người) Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau Ví dụ:
+ Nhóm 1- Nhiệm vụ A (màu vàng)
+ Nhóm 2- Nhiệm vụ B (màu xanh)