VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ---HỒ VĂN TUYÊN ĐỊNH DANH SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TÓM TẮT LUẬ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-HỒ VĂN TUYÊN
ĐỊNH DANH SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Công Đức
HÀ NỘI- 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Công Đức
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS TS Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS TS Lê Hùng Tiến
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi …… giờ……….ngày…….tháng…… năm ……….
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Định danh là một chức năng của ngôn ngữ và cũng là nhucầu của con người trước thế giới khách quan Tên gọi giúp con ngườinhận thức và phân định thế giới khách quan quanh mình
Nghiên cứu về tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùngĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không những cho thấy sự trinhận, cách phân cắt hiện thực và đặt tên sự vật này của con ngườivùng sông nước Cửu Long, mà nó còn thể hiện những nét văn hoá,ngôn ngữ rất đặc trưng của vùng đất Thế nhưng vấn đề này vẫn chưađược các nhà Việt ngữ học quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện
Đề tài “Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùngĐồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam Bộ” xuất phát từnhu cầu lí luận và thực tiễn trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận án muốn chỉ ra đặc điểm riêng về địnhdanh sự vật liên quan đến sông nước qua các tên gọi (bao gồm cả tênchung và tên riêng) ở ĐBSCL, qua đó làm rõ những nét đặc trưng vềngôn ngữ và văn hóa của vùng sông nước này
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các vấn đề về lí thuyết định danh và một số vấnđề lí thuyết khác có liên quan;
- Thu thập ngữ liệu, thống kê số liệu; mô tả và phân tích các
cứ liệu để rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát
* Đối tượng nghiên cứu của luận án là tên gọi các sự vật liênquan đến sông nước vùng ĐBSCL
Trang 4* Luận án chỉ tập trung nghiên cứu những mảng tên gọi, các
từ ngữ sau: tên riêng của sông ngòi, kênh rạch, ao đầm…; các từ ngữchỉ phương tiện di chuyển trên sông nước, từ ngữ chỉ phương tiệnđánh bắt thủy hải sản, từ ngữ chỉ dòng nước, mực nước, loại nước,loại sóng, từ ngữ chỉ địa hình tự nhiên sông nước
* Tổng số tên gọi được khảo sát là 1127 đơn vị
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu dướiđây nhằm hướng đến mục đích nghiên cứu đã xác định:
- Phương pháp điều tra điền dã;
- Phương pháp miêu tả;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp lập sơ đồ, mô hình hoá.
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lí luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ gópphần làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết về định danh, bổ sung vào
sự phát triển của một số ngành học như Phương ngữ học Việt Nam,đặc biệt là các bộ môn Danh học, Ngôn ngữ học xã hội - nhữngngành học, có thể nói, mới chỉ bước đầu phát triển ở nước ta một vàithập niên gần đây Đồng thời, qua đó cũng sẽ góp phần làm rõ thêmmối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa và tư duy được thể hiện quahoạt động định danh (ngôn ngữ) của con người,
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tàiliệu tham khảo phục vụ cho việc biên soạn giáo trình về Phương ngữhọc và Văn hóa học, biên soạn từ điển địa danh Nam Bộ
Trang 56 Tổng quan về tình hình nghiên cứu định danh
Việc nghiên cứu về lí thuyết định danh, về các loại đơn vị
định danh có thể kể đến các công trình như: Cơ sở ngữ nghĩa học từ
vựng (NXB Giáo dục, 1998) và cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
(NXB Giáo dục, 1999) của Đỗ Hữu Châu; “Từ ngữ tiếng Việt trên
đường tìm hiểu và khám phá” (trong Tuyển tập ngôn ngữ học – NXB KHXH, 2010) của Hoàng Văn Hành; hai công trình Tìm hiểu đặc
trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (trong sự so sánh với những dân tộc khác) – (NXB ĐHQG HN, 2002) và Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (NXB KHXH, 2008) của
Nguyễn Đức Tồn; luận án tiến sĩ Đặc điểm trường từ vựng – ngữ
nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga), của Nguyễn Thúy Khanh (1996); luận án tiến sĩ Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt của Phạm Tất
Thắng (1996); luận án tiến sĩ Các đơn vị định danh đa thành tố, một
cách tiếp cận từ điển học tương phản Dương Kì Đức (1993);…
Nghiên cứu về địa danh có các công trình của Nguyễn Văn Âu, LêTrung Hoa, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, TrầnVăn Dũng, v.v Nghiên cứu về định danh sự vật sông nước có:Hoàng Thị Châu (“Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á
qua một vài tên sông”, Thông báo khoa học của Đại học Tổng hợp
Hà Nội, NXB Giáo dục- 1996); Trịnh Sâm (“Miền ý niệm sông nước
trong tri nhận của người Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 12- 2011)
Nghiên cứu về tên gọi sự vật sông nước Nam Bộ còn khá
khiêm tốn Công trình Phương ngữ Nam bộ (những khác biệt về từ
vựng – ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ)
(NXB KHXH, 1995) của Trần Thị Ngọc Lang nghiên cứu về nhóm
Trang 6từ chỉ địa hình vùng đất, sự vận động của dòng nước, sự vận độngcủa con người trên sông nước và những phương tiện dùng cho hoạtđộng này nhưng không đặt vấn đề nghiên cứu về đặc điểm cấu tạocũng như phương thức định danh
Nhìn chung, định danh sự vật liên quan đến sông nướcĐBSCL cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cáchchuyên sâu, toàn diện
7 Cấu trúc của luận án: Luận án gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận;
- Chương 2: Cấu tạo và phương thức định danh tên gọi sự vật liên quan đến sông nước Đồng bằng sông Cửu Long;
- Chương 3: Nguồn gốc, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của tên gọi sự vật liên quan đến sông nước Đồng bằng sông Cửu Long.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1 Định danh
1.1.1.1 Lí thuyết về định danh
a Khái niệm định danh (nomination): Định danh hiện nay
được hiểu khác nhau Chúng tôi theo quan niệm của Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý – chủ biên): “Sự cấu
tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách cácđoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những kháiniệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu”.Luận án chỉ đi sâu nghiên cứu định danh dưới cấp độ từ vựng
b Về cơ chế định danh
Trang 7Sau khi tri giác, phân cắt hiện thực khách quan phục vụ nhu cầu nhận thức, quá trình tiếp theo là biểu hiện kết quả của quá trình
đó bằng ngôn ngữ
c Về đặc điểm và nguyên tắc định danh
- Theo V.G Gac: đặc điểm định danh có thể được xét theo
ba tiêu chí sau: 1 Cách biểu thị tên gọi theo lối hòa kết hay phântích; 2 Mức độ về tính rõ lí do của tên gọi; 3 Cách chọn đặc trưngcủa đối tượng để làm cơ sở định danh Đối với loại hình ngôn ngữđơn lập như tiếng Việt thì tiêu chí (1) là cách biểu thị theo lối phân
tích (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hoá - dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy, NXB KHXH, 2008)
- Nguyên tắc định danh: cái biểu hiện và cái được biểu hiệnphải có mối liên hệ với nhau, tên gọi của đối tượng phải có sự phânbiệt với các tên gọi khác và nếu định danh theo kiểu vay mượn thìtên gọi phải được chuyển từ loại hình ngôn ngữ được mượn sang loạihình ngôn ngữ mượn
d Các dạng định danh và phương thức định danh
G.V Consanski chia định danh thành ba dạng: định danh từvựng, định danh bằng câu, định danh bằng văn bản B.A.Serebrennikov nêu cụ thể bảy cách định danh: (1) sử dụng tổ hợp âmbiểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng; (2)
mô phỏng âm thanh (tức tượng thanh); (3) phái sinh; (4) ghép từ; (5)cấu tạo các biểu ngữ đặc ngữ; (6) can – ke (hay sao phỏng); (7) vaymượn (theo Nguyễn Đức Tồn, tài liệu đã dẫn) Phương thức địnhdanh còn tuỳ thuộc loại hình ngôn ngữ
e Quá trình tri nhận trong định danh
Đây là quá trình tinh thần của con người, liên quan mật thiết
Trang 8đến việc thu nhận, xử lí, chế biến và lưu trữ thông tin trong não một khâu quan trọng của quá trình định danh
1.1.1.2 Định danh sự vật ở cấp độ từ vựng
Từ là những đơn vị định danh sự vật, hiện tượng, quá trình…
ở cấp độ từ vựng Tuy nhiên, không phải tất cả các từ đều có chứcnăng định danh Chỉ thực từ mới có chức năng này Trong vốn từtiếng Việt, những từ đơn âm tiết là những đơn vị định danh gốc (bậcmột), những từ đa âm tiết (phần lớn là song tiết) là những đơn vịđịnh danh phái sinh (bậc hai) Những đơn vị định danh gốc trở thànhyếu tố cơ sở để tạo ra những đơn vị định danh phái sinh
Tên (name) là một từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân,
cá thể, phân biệt với cá nhân, cá thể khác cùng loại Tên gồm có tên
chung và tên riêng Nếu tên chung là những từ chỉ một lớp đối tượng cùng loại, liên hệ đến khái niệm thì tên riêng chỉ là những kí hiệu
định danh cho một đối tượng cá biệt, đơn lẻ, không có mối liên hệđến bất kì một khái niệm nào Tên chung và tên riêng đều có nghĩa.Tên chung biểu thị khái niệm Tên riêng chỉ có nghĩa khi nó xác lậpđược mối liên hệ trực tiếp với đối tượng được định danh Khi nghiêncứu về định danh sự vật, đối tượng khảo sát chính là tên gọi Khảosát tên gọi, chúng ta cần thiết phải khảo sát cả tên chung (danh từchung) và tên riêng (danh từ riêng)
1.1.1.3 Về tính võ đoán trong định danh
a Quan niệm tên gọi là võ đoán, quan niệm này xuất phát từ
lí thuyết về tín hiệu ngôn ngữ của F de Saussure: “tín hiệu ngôn ngữ
là võ đoán” (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB KHXH, Hà
Nội, 1973)
Trang 9b Quan niệm tên gọi là phi võ đoán là quan niệm của hầu
hết các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực tri nhận luận ngôn ngữ học;trong đó, ở Việt Nam, tiêu biểu là tác giả Nguyễn Đức Tồn Ông chorằng, “tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võđoán” (Tài liệu đã dẫn) Chúng tôi chấp nhận quan niệm này Có thểchia lí do trong định danh thành hai loại: lí do khách quan và lí dochủ quan
1.1.2 Phương ngữ Nam Bộ
1.1.2.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ (dialect) còn được gọi là phương ngôn/ tiếng
địa phương Quan niệm về phương ngữ cũng có sự khác nhau trongnhiều công trình nghiên cứu liên quan: 1 Nếu trừu tượng hóa,phương ngữ hoàn toàn có thể coi là một hệ thống ngôn ngữ hoànchỉnh, chứ không phải là một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân(national language); 2 Bên cạnh, cũng có quan niệm, coi phươngngữ chỉ là một biến thể địa lí/ khu vực của ngôn ngữ toàn dân
1.1.2.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ tiếng Việt và xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Hiện có nhiều quan điểm phân chia vùng phương ngữ tiếngViệt Trong các vùng phương ngữ mà các nhà Việt ngữ học chia đều
có vùng PNNB Vùng phương ngữ này cơ bản trùng với vùng địa lí
từ Bình Phước đến Cà Mau Có thể nói, tiếng Việt ở ĐBSCL làPNNB tiêu biểu
1.1.2.3 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Cũng như các phương ngữ khác, PNNB có đặc điểm riêngcủa nó Đặc biệt là đặc điểm về ngữ âm, từ vựng Về đặc điểm từvựng, chúng tôi cho rằng, hệ thống từ vựng trong PNNB gồm có hai
Trang 10lớp: lớp từ ngữ toàn dân chiếm đại đa số trong vốn từ thuộc PNNB
(ví dụ: sông, thuyền, câu, ) và lớp từ ngữ ít hơn trong PNNB gồm
các nhóm nhỏ như: nhóm đặc Nam Bộ, nhóm khác âm đồng nghĩavới từ toàn dân, nhóm đồng âm khác nghĩa với từ toàn dân, nhómchênh/ lệch nhau về nghĩa với từ toàn dân
1.1.2.4 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Đồng bằng sông Cửu Long
Ở ĐBSCL có nhiều tộc người sinh sống nói những thứ tiếngNam Á, Nam Đảo, Hán - Tạng, khác nhau, với khung cảnh ngônngữ như vậy, tất yếu sẽ diễn ra sự tiếp xúc ngôn ngữ Trong quá trìnhtiếp xúc, có hiện tượng giao thoa, vay mượn giữa các ngôn ngữ trên
địa bàn
1.2 Cơ sở văn hoá học
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) xác định từ văn hóa
có đến năm nghĩa Chúng tôi quan tâm đến nghĩa thứ nhất mà từ điểnnày đưa ra: “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”
ĐBSCL là một vùng đất mới, kênh rạch chằng chịt Đây làvùng đất nằm ở phía tây Nam Bộ nên có thể gọi đây là một tiểu vùngvăn hóa Nam Bộ Vùng đất này có những đặc trưng văn hoá vật chất
và tinh thần riêng Nơi đây cũng diễn ra sự biến đổi và giao thoa vềvăn hoá
Chúng tôi xuất phát từ cơ sở khoa học nêu trên để triển khaivấn đề ở chương 2 và chương 3
1.3 Tiểu kết
Luận án tiến hành trình bày cái nhìn tổng quan về nghiêncứu định danh, nêu ra một số vấn đề về lí thuyết định danh và nhữngvấn đề lí thuyết liên quan khác để định hướng cho việc mô tả, phân
Trang 11tích, nhận xét những đặc điểm về định danh sự vật liên quan đếnsông nước vùng ĐBSCL
Chương 2 CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH
SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2.1 Cấu tạo của tên gọi
2.1.1 Thành tố và mô hình cấu tạo của tên gọi
2.1.1.1 Tên chung
a Thành tố cấu tạo của tên chung
Tên chung chỉ sự vật liên quan đến sông nước ĐBSCL cóhai dạng cấu tạo: dạng 1 là dạng có cấu tạo bằng một từ đơn, thường
có một âm tiết hoặc từ có nguồn gốc vay mượn, dạng này khó tìmđược lí do đặt tên; dạng 2 thường là từ ghép phân nghĩa, gồm haithành tố: thành tố về chủng loại sự vật (gọi tắt là thành tố A) vàthành tố phân biệt, cá thể hóa sự vật (gọi tắt là thành tố B) Thành tố
A là bộ phận chỉ chủng loại, đứng trước thành tố B trong tên chung
Các thành tố A thường gặp là: nước, câu, xuồng, ghe, kênh, bưng,…
Thành tố B có một hoặc hai yếu tố phân biệt, cá thể hóa Mỗi yếu tố
ở thành tố B có thể được cấu tạo bởi một hoặc nhiều âm tiết
b Cấu tạo đơn và phức của tên chung
Cấu tạo đơn của tên chung không có thành tố phân biệt, cá
thể hóa đối tượng, chiếm 19% Ví dụ: ghe, xiệc, xịp,… Cấu tạo phức
của tên chung có thành tố phân biệt, cá thể hóa đối tượng và thường
có nhiều âm tiết, chiếm 81% Ví dụ: ghe bản lồng,…
2.1.1.2 Tên riêng
a Thành tố cấu tạo của tên riêng: Phức thể tên riêng có một
Trang 12dạng cấu tạo gồm hai thành tố: thành tố loại hình địa danh - danh từchung (A) và thành tố khu biệt đối tượng - danh từ riêng (B)
b Cấu tạo đơn và cấu tạo phức của tên riêng
Cấu tạo đơn của tên riêng, trong thành tố B chỉ có một yếu tốbằng số, bằng một chữ cái, bằng cụm từ đẳng lập hoặc mượn tiếngnước ngoài, tỉ lệ 97% Cấu tạo phức của tên riêng, ở thành tố B cóhai yếu tố khu biệt, cá thể hóa đối tượng (B1 và B2), chiếm 3%
2.1.2 Hình thức ghép yếu tố trong cấu tạo tên gọi
Tên gọi sự vật sông nước ĐBSCL được cấu tạo bằng hìnhthức ghép yếu tố ngôn ngữ là chủ yếu: tên chung 133 đơn vị, tênriêng 970 đơn vị, tổng số 1103 đơn vị, chiếm tỉ lệ 98,3 % Yếu tố
ghép nhiều nhất là nước, yếu tố chỉ sự vật, hoạt động (trong tên chung); yếu tố chỉ loại chung cái, vàm, sông, rạch, yếu tố chỉ người
ông, bà, thị, yếu tố chỉ đặc trưng tân, mĩ, yếu tố chỉ phương vị thượng, hạ… (trong tên riêng) Cơ chế ghép theo chiều tuyến tính
theo mô thức: A B => AB, ví dụ: nước (A) rong (B) => nước
rong, kênh (A) Tàu Hủ (B) => kênh Tàu Hủ,… Một số tên riêng
Hán Việt, vị trí các yếu tố ghép ngược lại: BA (có thể gọi là chiều
tuyến tính ngược), ví dụ: Cường Oai giang, Trúc giang,…
2.2 Phương thức định danh sự vật liên quan đến sông nước
2.2.1 Phương thức cơ sở
2.2.1.1 Sử dụng từ ngữ biểu thị đặc trưng đối tượng hoặc biểu thị sự vật, yếu tố có quan hệ gần gũi với đối tượng
a Tên chung
* Tên phương tiện di chuyển trên sông nước, những đặc
trưng được chủ thể chọn để đặt tên bao gồm: về cấu tạo (16/ 59 đơn
vị), ví dụ: ghe chạy buồm…; chức năng (12 đơn vị), ví dụ: đò khách,
Trang 13ghe cá,…; hình dạng (8 đơn vị), ví dụ: ghe bầu, vỏ lải,…; kích cỡ (2
đơn vị): ghe cui,…; tốc độ (2 đơn vị): tàu cao tốc, vỏ vọt; màu sắc (1 đơn vị): ghe son; nguồn gốc (3 đơn vị): xuồng xà no,…; vật liệu (3 đơn vị): ghe nóc gia,…; vùng hoạt động (2 đơn vị): ghe cửa,… Khi
định danh sự vật sông nước, người Việt ở ĐBSCL còn dùng nhữngyếu tố ngôn ngữ biểu thị cảm thức chủ quan của mình về đối tượngđịnh danh (hay đồng hoá trạng thái cảm xúc của chủ thể với đặc
điểm của đối tượng): ghe bất mãn, ghe điệu,…
* Tên công cụ, phương tiện đánh bắt thủy sản, những đặc
trưng được chọn để đặt tên cho sự vật này gồm: hoạt động (6/20 đơn
vị), ví dụ: kéo cào, câu giăng…; vị trí (4 đơn vị), ví dụ: đăng áp…;
âm thanh (1 đơn vị): xịp; cấu tạo (3 đơn vị): câu dây; vật liệu (1 đơn vị): chà
* Tên dòng nước, mực nước, loại nước, loại sóng, những đặc
trưng lựa chọn để đặt tên loại này khá phong phú: hoạt động của
dòng nước (26/54 đơn vị), ví dụ: nước chạy,…; mực nước (11 đơn vị), ví dụ: nước lớn hai phần mà…; hình dạng (5 đơn vị), ví dụ: sóng
lưỡi búa…; lượng nước (4 đơn vị), ví dụ: nước kém…; chiều hướng
chảy (2 đơn vị): nước xuôi, nước ngược; thời gian (2 đơn vị): con
nước mười lăm,…; số lần (2 đơn vị): nước hai con,…; độ sạch (1 đơn
vị): nước cỏ; màu sắc (1 đơn vị): nước bạc
* Tên địa hình sông nước, những đặc trưng đối tượng chọn
là: hình dạng (4 đơn vị), ví dụ: kinh đòn dông, gãy…; tính chất lớn nhỏ, dài ngắn (3 đơn vị), ví dụ: xép, cái…; nguồn gốc (1 đơn vị):
kinh trời sanh; chức năng (1 đơn vị): búng tàu Đa số tên chung sự
vật sông nước ĐBSCL đều rõ lí do và tập trung ở các tên có cấu tạophức, thường đa tiết (126/157, chiếm 80,25 %) Tuy nhiên vẫn còn