1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,

27 515 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 431,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hướng tới sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, an toàn, bền vững trên địa bàn huyện cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diện về tiềm năng lợi thế, đồng thời xác định những điểm yếu đan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐÀO ĐỨC MẪN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG

MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

TẠI HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 62 85 01 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Công trình hoàn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Người hướng dẫn: 1 PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh

2 PGS.TS Hà Thị Thanh Bình

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thanh Trà,

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Phản biện 2: PGS.TS Trần Văn Tuấn,

Trường Đại học Khoa học tự nhiên

Phản biện 3: PGS.TS Hồ Quang Đức,

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

Luận án được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Vào hồi giờ, ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trong điểm tập trung nhiều các viện nghiên cứu, trường đại học, nông dân có truyền thống canh tác lâu đời nhưng hiệu quả sử dụng đất canh tác chưa cao, đồng thời lực lượng lao động dư thừa quá lớn Mặc dù có sự chuyển dịch về thành phố và khu công nghiệp nhưng tỷ lệ dân cư nông thôn vẫn chiếm 75,5% (năm 2004) so với 84,2% (năm 1990) Do vậy, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả khai thác lợi thế về thị trường, điều kiện tự nhiên

và lao động là yêu cầu cấp thiết (Nguyễn Văn Bộ và Nguyễn Trọng Khanh, 2010)

Tứ Kỳ là một trong 12 đơn vị hành chính của tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích đất tự nhiên là 17.019,01 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 11.212,06 ha (đất trồng cây hàng năm 8.497,79 ha) Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vẫn chiếm 45% tổng giá trị sản xuất toàn huyện (năm 2010) Tứ Kỳ có nhiều lợi thế cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên, nhiều tiềm năng vẫn chưa được phát huy, khai thác một cách đầy đủ; các nguồn lực chưa được khai thác, thể hiện như: đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân còn manh mún, phân tán, chưa hình thành được các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa nhằm đẩy mạnh sản xuất phát triển, việc tổ chức kinh doanh dịch vụ, chế biến nông sản chưa gắn với việc sản xuất hàng hóa, chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn gắn quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển nông nghiệp, đặc biệt đối với các loại cây trồng, loại hình sử dụng đất là thế mạnh của huyện

Để hướng tới sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, an toàn, bền vững trên địa bàn huyện cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diện về tiềm năng lợi thế, đồng thời xác định những điểm yếu đang hạn chế sự phát triển nông nghiệp làm cơ sở cho các nhà quản

lý, quy hoạch sử dụng đất theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, phù hợp

với điều kiện cụ thể của huyện Đề tài “Nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số

loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” được thực hiện nhằm góp phần bổ sung cơ

sở lý luận và thực tiễn cho định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững ở huyện Tứ Kỳ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tiềm năng, hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu

từ đó đề xuất bố trí sử dụng bền vững phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu, các kiểu sử dụng đất và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi đất trồng cây hàng năm với các loại hình, các kiểu sử dụng đất chủ yếu, gồm các loại hình sử dụng đất chuyên lúa, lúa

- màu và chuyên rau màu trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các cây trồng, loại hình sử dụng đất với chất lượng đất và làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội đối với các cây trồng, loại hình sử dụng đất, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc bố trí hợp lý

hệ thống sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn cấp huyện

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp vừa đạt hiệu quả cao vừa đảm bảo sử dụng đất và phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các huyện khác trong tỉnh và những vùng có điều kiện tương tự

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã vận dụng thành công mô hình toán học GAMS, kết hợp với kết quả đánh giá chất lượng đất, hiệu quả các loại hình sử dụng đất để giải bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu liên quan đến hiệu quả sử dụng đất để đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho một huyện điển hình của vùng đồng bằng sông Hồng, đất chật người đông, làm cơ sở cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra lợi thế để phát triển sản xuất trồng trọt

là lực lượng lao động dồi dào và trở ngại trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội trong sử dụng đất canh tác ở huyện Tứ Kỳ là thiếu vốn đầu tư cho sản xuất trồng trọt

6 Bố cục của luận án

Luận án gồm 150 trang không kể tài liệu tham khảo gồm các phần: Mở đầu 3 trang; tổng quan tài liệu 45 trang; đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 8 trang; kết quả nghiên cứu và thảo luận 92 trang; kết luận và đề nghị 2 trang 38 bảng

số liệu, 11 hình, 59 phụ lục Trong luận án đã tham khảo 110 tài liệu trong đó: 90 tài liệu tiếng Việt và 20 tài liệu tiếng Anh

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp bền vững

1.1.1 Đất và sử dụng đất nông nghiệp

Theo Vi-li-am (dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình, 2007) thì đất là một lớp vật thể

Trang 5

tơi xốp trên bề mặt của hành tinh chúng ta, mà thực vật có thể sinh trưởng được, được hình thành lâu đời, do các kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian (tuổi) Là môi trường giữ năng lượng ánh sáng mặt trời, giữ nước mưa; cung cấp và dự trữ chất dinh dưỡng, nước cho cây, là nơi để các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển, địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải hữu cơ và khoáng, nơi cư trú cho các động vật, thực vật, vi sinh vật, nấm (Nguyễn Tất Cảnh, 2008)

Trên thế giới, ước tính có đến 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra, diện tích đất có khả năng canh tác khoảng 3.190 triệu ha, tập trung nhiều ở Châu Phi 734 triệu ha, Nam Mỹ 681 triệu ha, Châu Á 627 triệu ha Ở khu vực Đông Nam Á, với tổng diện tích tự nhiên là 347 triệu ha, đến năm

1997 diện tích đất trồng trọt được là 133 triệu ha, đã sử dụng vào trồng trọt 66 triệu ha, còn có khả năng trồng trọt 67 triệu ha chiếm 50,3% (Nguyễn Quang Học, 2000)

Theo Chính phủ (2011), diện tích đất trồng lúa cả nước có khoảng 4,1 triệu ha, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của 70% dân số cả nước Đến năm 2020 sẽ có khoảng 300 nghìn ha đất trồng lúa sẽ chuyển sang các mục đích khác; sau năm 2020

và xa hơn, đất lúa sẽ tiếp tục bị giảm trước áp lực gia tăng dân số, phát triển kinh tế -

xã hội, tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nhiều nguyên nhân khác

1.1.2 Cơ sở khoa học của sử dụng đất bền vững

Theo FAO (1990), quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững là: Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động, để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh Điều hòa giữa áp lực tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững

Theo Smyth and Dumanski (1993), sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc: Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất) Giảm mức độ rủi

ro đối với sản xuất (an toàn) Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước (bảo vệ) Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi) Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận) Theo FAO (1990), đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”

1.1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Theo FAO (1990), hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định và các yếu tố đầu vào khác Dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là: H = K – C; H = K/C; H = (K – C)/C; H = (K1 – K0)/(C1 – C0)

Trang 6

Trong đó: H: hiệu quả; K: kết quả; C: chi phí; 1 và 0 là chỉ số về thời gian: 0 là chỉ số đầu vào nghiên cứu, 1 là thời điểm kết thúc nghiên cứu

Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Phạm Quang Khánh và Vũ Cao Thái, 1994)

Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường (Tôn Thất Chiểu và cs.,1992)

1.2 Các nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới cũng đã đưa

ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn trước (Nguyễn Duy Tính, 1995)

1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Thực tế những năm qua cho thấy, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề

về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995), việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: chuyển đổi ruộng đất, quy hoạch sử dụng đất các vùng, đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất, lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất…Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện cụ thể Việt Nam

1.3 Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững

1.3.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới

Mỗi nước có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau, có thể chia thành 2 hướng: Nông nghiệp công nghiệp hoá: hướng này đặt trọng tâm dựa chủ yếu vào các yếu tố vật tư, kỹ thuật, hoá chất và các sản phẩm khác của công nghiệp Nông nghiệp sinh thái: hướng này nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự nhiên, làm nổi bật lên đối tượng sản xuất trong nông nghiệp là các loài sinh vật, đồng thời có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên

Trang 7

1.3.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam

Phát triển sản xuất nông nghiệp phải theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp Phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới chủ yếu dựa vào sức dân nhưng nhất thiết phải

có sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước thông qua việc điều chỉnh hệ thống chính sách định hướng, điều tiết và tài trợ cho sản xuất (Nguyễn Văn Bộ, 2012)

Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, áp dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân (Thủ tướng Chính phủ, 2012)

1.4 Đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp bền vững

1.4.1 Đánh giá đất thích hợp theo FAO

Đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian và thời gian, tự nhiên và kinh tế - xã hội Các yếu tố dùng trong đánh giá đất đai của FAO là những tính chất đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng được (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)

1.4.2 Đánh giá đất đai ở Việt Nam

Từ những năm 1960 trở lại đây, công tác đánh giá đất đai được tiến hành có hệ thống toàn diện và có cơ sở khoa học hơn Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về đánh giá khả năng sử dụng đất đai đã được triển khai ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai ở phạm vi các cấp đã góp phần định hướng cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, bố trí hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp, một số công trình sau đây đã đóng góp rất lớn trong công tác đánh giá tài nguyên đất đai (Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt, 1993)

Trên phạm vi toàn quốc, nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu (1994), thực hiện ở tỉ

lệ bản đồ 1/500.000, đã xác định 7 nhóm đất đai được phân lập, trong đó: 4 nhóm đầu

có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, 2 nhóm kế tiếp có khả năng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, nhóm cuối cùng có thể sử dụng vào mục đích khác Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1995), đã xác định 372 đơn vị bản đồ đất, 90 loại hình sử dụng đất chính và phân chia 41 loại đất thích hợp cho 9 vùng sinh thái khác nhau trên phạm vi toàn quốc

Trên phạm vi vùng và cấp tỉnh, Nguyễn Công Pho (1995), đã tiến hành đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng, đã xây dựng hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền, phục vụ cho công tác quy hoạch tổng thể của vùng Nghiên cứu của Trần An Phong (1996), đã vận dụng phương pháp đánh giá khả năng thích hợp đất đai định lượng

Trang 8

của FAO, bao gồm đánh giá điều kiện tự nhiên và yếu tố kinh tế xã hội của việc sử dụng đất trên phạm vi cấp tỉnh Nghiên cứu của Nguyễn Đình Bồng (1995), đã đánh giá tiềm năng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho đất trống, đồi núi trọc ở tỉnh Tuyên Quang dựa trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 Nghiên cứu của Phạm Quang Khánh (2000), thực hiện nghiên cứu điều tra, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1:100.000

Trên phạm vi huyện, xã, nghiên cứu của Vũ Thị Bình (1995), đánh giá đất đai của huyện Gia lâm vùng đồng bằng sông Hồng Đỗ Nguyên Hải (2000), đánh giá khả năng sử dụng đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Quang Học (2000), đánh giá và định hướng

sử dụng tài nguyên đất, nước phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững huyện Đông Anh, Hà Nội Đoàn Công Quỳ (2001), đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Lê Quang Trí và Phạm Đăng Trí (2003), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác kết hợp với các kỹ thuật đánh giá đất mục tiêu làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất đai ở xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Hoàng Văn Mùa và Nguyễn Hữu Thành (2006), nghiên cứu phân loại đất xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn

1.5 Ứng dụng toán tuyến tính đa mục tiêu trong công tác quy hoạch sử dụng đất

1.5.1 Bản chất, đặc điểm của bài toán quy hoạch tuyến tính

Trong một bài toán quy hoạch tuyến tính, hệ giới hạn thường được trình bày dưới dạng các phương trình hoặc bất phương trình Một bài toán quy hoạch tuyến tính thường có vô số nghiệm và được chia thành các loại nghiệm như: Nghiệm chấp nhận được; nghiệm cơ sở; nghiệm tối ưu (Puchukov, 1991)

1.5.2 Khả năng ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu

Bài toán này phải giải với đồng thời 3 mục tiêu là: Tổng thu nhập lớn nhất Mức lợi nhuận thu được là cao nhất Sử dụng được nhiều lao động nhất (Smyth and Dumanski, 1993)

1.5.3 Ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu trong quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

Trong thời gian dài, công tác quy hoạch sử dụng đất còn mang tính chủ quan, trong phương pháp quy hoạch chưa thiết lập được nhiều phương án để lựa chọn Công tác quy hoạch thiếu công cụ hỗ trợ để giúp các nhà quản lý đưa ra các phương

án quy hoạch sử dụng đất hiệu quả hơn Mô hình toán học GAMS là công cụ hỗ trợ ra quyết định trong việc sử dụng đất trên cơ sở có nhiều định hướng (lựa chọn), các yếu

tố hạn chế của thực tế sản xuất Giúp phân tích được những tồn tại (hạn chế) của sản xuất (yếu tố nào quyết định là chủ yếu) như: về vốn đầu tư, đất đai, lao động, kỹ thuật, lương thực và quan trọng hơn cả là xác định được khả năng sản xuất, mức độ thích hợp, giá trị thu nhập… tối đa của vùng dựa trên điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu) và các điều kiện kinh tế-xã hội khác của vùng nghiên cứu.Ở nước ta, trong thời gian qua,

Trang 9

đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng các mô hình toán học vào việc quản lý đất đai, xác định cơ cấu cây trồng, điển hình như nghiên cứu của Đoàn Công Quỳ về xây dựng phần mền quy trình công nghệ lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã; nghiên cứu của Nguyễn Thị Vòng, Nguyễn Hải Thanh và cộng sự về ứng dụng mô hình toán xây dựng cơ cấu cây trồng sử dụng đất tối ưu; nghiên cứu của Nguyễn Văn Bỉ, Đại học Lâm nghiệp về ứng dụng bài toán tối ưu đa mục tiêu trong công nghiệp rừng …

* Nhận xét chung phần tổng quan và hướng nghiên cứu của đề tài

Nhận định chung của các tài liệu nghiên cứu là: Tài nguyên đất đai có hạn và ngày càng bị thu hẹp dần dưới tác động của con người, trước sự gia tăng dân số thì sức ép về đất đai là rất lớn; đặc biệt liên quan đến vấn đề an ninh lương thực toàn cầu; đánh giá hiệu quả sử dụng đất và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp bền vững được đặt ra ở tất cả các nước trên thế giới nhằm giải quyết vấn đề an ninh lương thực, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; các nghiên cứu về sử dụng đất bền vững ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã khá đầy đủ và chi tiết, đó là cơ sở xác định và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả và bền vững Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn mang tính riêng lẻ, chủ yếu đi sâu nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể; việc đề xuất các loại hình sử dụng đất còn nặng về hiệu quả kinh tế Việc đánh giá tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và ứng dụng công nghệ thông tin trong đề xuất sử dụng hợp lý, bền vững đất đai ở phạm vi cấp huyện còn hạn chế, nhất là trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cụ thể sau: Phương pháp đánh giá đất theo FAO/UNESCO và kết quả ứng dụng để đánh giá đất đai ở Việt Nam của các công trình nghiên cứu trước đây là cơ sở quan trọng để xác định tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Tứ Kỳ nhằm sử dụng và quản lý đất có hiệu quả cao nhất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp của huyện Tứ Kỳ theo quan điểm bền vững trên cơ sở các yếu tố tự nhiên; hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường; từ đó ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu để đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất, nhất là quy hoạch diện tích đất trồng lúa, cây rau màu và cây vụ đông để đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực; mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu của luận án gồm: (1) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sử dụng đất (điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế, xã hội; thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện Tứ Kỳ; định hướng phát triển của huyện Tứ Kỳ đến năm

Trang 10

2020); (2) Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện (hiện trạng sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu; hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chủ yếu); (3) Đánh giá hiện trạng môi trường đất của các loại hình sử dụng đất chủ yếu; (4) Đánh giá thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất (xây dựng bản đồ đơn vị đất đai; đánh giá thích hợp đất đai); (5) Ứng dụng mô hình toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu phục vụ quy hoạch sử dụng đất (xác định các mục tiêu và hạn chế trong bài toán tối ưu; xác định các yếu tố đầu vào của bài toán; kết quả chạy bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu; đề xuất loại hình sử

dụng đất bền vững đến năm 2020; giải pháp thực hiện các phương án đề xuất)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận án gồm: (1) Phương pháp chọn điểm (6 xã đại diện được chọn làm điểm điều tra là Nguyên Giáp, Hưng Đạo, Ngọc Kỳ, Tứ Xuyên, Tái Sơn và Cộng Lạc); (2) Phương pháp điều tra thu thập thông tin (điều tra, thu thập số liệu, văn bản tại các đơn vị chức năng của huyện; điều tra, thu thập các số liệu sơ cấp bằng phương pháp điều tra nông hộ có sự tham gia của người dân theo mẫu câu hỏi phỏng vấn được soạn sẵn trước khi điều tra; tổng số hộ điều tra là 400 hộ); (3) Phương pháp thống kê tổng hợp; (4) Phương pháp đánh giá thích hợp theo FAO (chọn 6 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bao gồm: loại đất, thành phần cơ giới, độ sâu xuất hiện tầng glây, chế độ tiêu nước, địa hình tương đối, độ phì nhiêu của đất; phân hạng thích hợp đất đai theo FAO (thích hợp - S, không thích hợp - N); (5) Phương pháp tính hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội sử dụng đất (sử dụng các chỉ tiêu: Giá trị sản xuất (GTSX), Giá trị gia tăng (GTGT), Chi phí trung gian (CPTG), hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ); các chỉ tiêu hiệu quả xã hội gồm: khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ; giá trị sản xuất và giá trị gia tăng trên công lao động; khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất; mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư cho sản xuất); (6) Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm (các chỉ tiêu phân tích: pHH2O, pHKCL, OC, N, P2O5, K2O, Na, Ca, Mg, CEC, BS, Cu, Zn,

Pb, Cd, thành phần cơ giới đất; các chỉ tiêu này được phân tích tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa); (7) Phương pháp chuyên gia; (8) Phương pháp mô hình toán (ứng dụng

mô hình toán học tối ưu đa mục tiêu GAMS để giải bài toán quy hoạch tuyến tính tối

ưu với các tham số đa mục tiêu cho huyện Tứ Kỳ, nhóm các yếu tố đầu vào của bài toán, gồm: nhóm các yếu tố về đất đai và tiềm năng đất đai; nhóm các yếu tố về hiệu quả kinh tế, xã hội và nhóm các yếu tố về định hướng phát triển của huyện Kết quả chạy bài toán tối ưu đa mục tiêu sẽ chỉ ra được (đầu ra) những lợi thế lớn nhất của

Trang 11

huyện, đồng thời cũng phát hiện những hạn chế có tính quyết định cản trở đến việc đạt được các mục tiêu đã đề ra; từ đó cho phép so sánh, đánh giá và lựa chọn phương

án tối ưu nhất, định hướng cho việc sử dụng đất bền vững; (9) Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ, sử dụng trên nền bản đồ tỷ lệ 1: 25.000

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, thuộc phía Đông của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ, gồm 26 xã và 1 thị trấn với diện tích đất tự nhiên là 17.019,01 ha, có địa hình không đồng đều, cao thấp xen kẽ nhau giữa vùng cao và bãi thấp, đất đai của huyện mang tính chất của phù sa được bồi đắp lâu ngày Trên địa bàn huyện có 02 sông lớn chảy qua là sông Thái Bình (đoạn qua Tứ Kỳ là 28,5 km), sông Luộc (đoạn qua Tứ Kỳ là 20 km), ngoài ra, huyện còn có trên 57,5 km sông thuộc hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải Hệ thống kênh mương của huyện bảo đảm tưới, tiêu cho 70% diện tích gieo trồng Nhiệt độ trung bình khoảng 230C Tổng lượng nhiệt cả năm là 8.5000C Độ ẩm trung bình hàng năm là 80 - 85% Số giờ nắng trung bình hàng năm

là 1.341 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 1.650 mm Là huyện

có điều kiện tự nhiên thích hợp với nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Diện tích gieo trồng cây lương thực là 15.754 ha, diện tích gieo trồng cây thực phẩm là 2.822 ha Giá trị sản xuất ngành trồng trọt cũng được tăng lên qua từng năm, năm 2005 là 505.642 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 961.974 triệu đồng Giá trị gia tăng đạt 626.430 triệu đồng Giá trị sản xuất ngành công nghiệp của huyện đạt 456.320 triệu đồng (năm 2009), tăng 304.320 triệu đồng so với năm 2005 Trong

đó công nghiệp khai thác 10.734 triệu đồng, công nghiệp chế biến 440.710 triệu đồng, công nghiệp sản xuất 4.876 triệu đồng

Dân số là 158.190 người, trong đó nam giới chiếm 48,59%, nữ giới chiếm 51,35% Tỷ lệ tăng dân số của huyện năm 2010 là 0,7% Toàn huyện có 101.592 lao động (chiếm 64,22% dân số), trong đó lao động nông nghiệp là 65.266 người (lao động trực tiếp cho trồng trọt là 11.543 người, cho chăn nuôi là 5.707 người)

Toàn huyện có 5.542 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ; hệ thống chợ trên địa bàn huyện ngày một phát triển cả về số lượng lẫn quy mô, đã đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu trao đổi hàng hoá của nhân dân, đồng thời góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương

3.1.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện Tứ Kỳ

Nông nghiệp trong những năm qua vẫn là ngành sản xuất chính, tỉ trọng ngành trồng trọt chiếm 69,8%, chăn nuôi thuỷ sản chiếm 30,2% Đã có sự chuyển dịch tích

Trang 12

cực trong trồng trọt và chăn nuôi, sản xuất hàng hóa cung cấp cho thị trường

3.1.4 Định hướng phát triển của huyện Tứ Kỳ đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 15% năm; tăng nhanh mức GDP/người đến năm 2020 đạt 18,5 triệu đồng/người/năm Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân khoảng 0,7%; giảm tỷ lệ người sinh con thứ 3 xuống dưới 2% Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao hiệu quả khai thác đất nông nghiệp gắn với thị trường tiêu thụ Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng và gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến nhằm tăng giá trị và giá trị sử dụng của nông sản hàng hoá Phấn đấu đến năm 2020 sản lượng lương thực đạt 82.000 - 90.000 tấn Hình thành một số cụm công nghiệp tập trung quy mô nhỏ dành cho các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ như các cụm công nghiệp Kỳ Sơn (39 ha), cụm công nghiệp Nguyên Giáp (110,3 ha) Hình thành mạng lưới thương mại, dịch vụ sản xuất với 3 chức năng cơ bản như cung cấp vật tư nông nghiệp và hàng tiêu dùng, tiêu thụ các sản phẩm hàng công nghiệp, nông nghiệp và thủy sản Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba, giảm tỷ lệ sinh hàng năm từ 0,01% - 0,02%/năm Đến năm 2020 phấn đấu giảm tỷ lệ sinh xuống còn khoảng 0,7%/năm Tạo sự cân đối giữa các vùng nhằm tạo ra sự hài hòa đi đôi với xây dựng đồng bộ cơ

sở hạ tầng kỹ thuật đảm bảo tính bền vững và sử dụng lao động hợp lý

3.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tiềm năng đất đai hiện có cho thấy: huyện Tứ

Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, rất thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh và đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt có khả năng phát triển các loại rau ôn đới phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, có thị trường tiêu thụ rộng Tuy nhiên, do khí hậu phân thành 4 mùa, vào mùa Đông nhiệt độ có ngày xuống dưới 100C, khô hạn; mùa Hè thường xảy ra nắng nóng kéo dài, gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp Cơ cấu kinh tế của huyện có xu hướng tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm dần và chiếm tỷ lệ thấp Cơ cấu ngành nông nghiệp, lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp nhất và giảm dần, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp chậm Số lao động ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ

lệ lớn, đây là nguyên nhân tạo ra sức ép lớn về lao động, việc làm, thu nhập và mức sống của người nông dân ở khu vực nông thôn

3.2 Hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu

Tứ Kỳ có tổng diện tích đất tự nhiên là 17.019,01 ha, trong đó đất nông nghiệp 11.212,06 ha; đất phi nông nghiệp 5.768,69 ha; đất chưa sử dụng 38,26 ha Diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm tới 75,79% diện tích đất nông nghiệp, trong số đó chủ yếu là đất trồng lúa chiếm 74,47%, đất trồng cây hàng năm khác chiếm 1,32% Đất

Trang 13

trồng cây lâu năm chiếm 12,16% Đất nuôi trồng thủy sản chiếm 11,92%, còn lại là đất

nông nghiệp khác chiếm 0,13% tổng diện tích đất nông nghiệp

Với 17 loại cây trồng chính được luân canh trên các kiểu sử dụng đất thuộc các loại hình sử dụng chủ yếu, biến động về diện tích, sản lượng và giá trị của các loại cây trồng phụ thuộc vào nhu cầu, giá cả thị trường và một phần có xu hướng thay đổi theo lao động của địa phương Với 3 loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính và 30 kiểu sử dụng đất: loại hình chuyên lúa với 2 kiểu sử dụng đất là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa xuân, loại hình sử dụng này có diện tích là 6.284,88 ha, chiếm 73,96% tổng diện tích trồng trọt Loại hình lúa - màu với 19 kiểu sử dụng đất, diện tích là 2.067,55 ha, chiếm 24,30% tổng diện tích trồng trọt Loại hình chuyên màu có 9 kiểu sử dụng đất với 148,36 ha, chiếm 1,74% tổng số diện tích đất trồng trọt

Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu

3.2.2 Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chủ yếu

* Hiệu quả kinh tế

Tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính và các loại hình chủ yếu trong các năm 2008, 2009 và 2010 để so sánh, đối chiếu tìm ra lợi thế của các loại hình sử dụng đất và lựa chọn để làm cơ sở cho việc thiết lập yếu tố đầu vào cho mô hình toán học (GAMS) phục vụ cho đề xuất sử dụng bền vững các loại hình sử dụng đến năm 2020, kết quả như sau:

Hiệu quả kinh tế tính trung bình của các cây trồng tăng qua các năm, cụ thể như sau: GTSX/ha trung bình của năm 2010 tăng 1,09 lần so với năm 2009 và tăng 1,17 lần sơ với năm 2008 GTGT/ha trung bình năm 2010 tăng 1,08 lần so với năm

2009 và tăng 1,18 lần so với năm 2008 GTSX/LĐ năm 2010 tăng 1,09 lần so với năm 2009 và tăng 1,21 lần so với năm 2008

Đối với loại hình chuyên canh lúa, GTSX/ha năm 2010 tăng 1,08 lần so với năm 2009 và tăng 1,5 lần so với năm 2008, GTGT/ha năm 2010 tăng lần lượt là 1,08 so với năm 2009 và 1,16 lần so với năm 2008 GTSX/LĐ năm 2010 tăng so với các năm 2009 và 2008 lần lượt là 1,09 và 1,66 lần; GTGT/LĐ năm 2010 tăng

so với các năm 2009 và 2008 lần lượt là 1,09 và 1,68 lần

Đối với loại hình sử dụng đất lúa - màu, các chỉ số tính toán về hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất cũng tăng dần qua các năm, nếu năm 2008 GTSX/ha tính

Ngày đăng: 06/10/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu (Trang 13)
Hình 3.2. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Hình 3.2. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 (Trang 14)
Hình 3.3. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Hình 3.3. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 (Trang 15)
Bảng 3.1. Kịch bản sử dụng đất theo điều kiện tự nhiên, lao động và khả năng đầu tư của huyện Tứ Kỳ - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Bảng 3.1. Kịch bản sử dụng đất theo điều kiện tự nhiên, lao động và khả năng đầu tư của huyện Tứ Kỳ (Trang 20)
Bảng 3.3. Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 01 - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Bảng 3.3. Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 01 (Trang 23)
Bảng 3.4. Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 02  Loại hình - tóm tắt luận án  nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện tứ kỳ,
Bảng 3.4. Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 02 Loại hình (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w