DANH MỤC VIẾT TẮTTNHH: Trách nhiệm hữu hạnTSCĐ: Tài sản cố địnhTNDN: Thu nhập doanh nghiệpLN : Lợi nhuậnTSNH: Tài sản ngắn hạnTSDH: Tài sản dài hạnSXKD: Sản xuất kinh doanhTS : Tài sảnHTK: Hàng tồn khoCP: Chi phíCHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩaTC: Tài chínhNN: Nhà nướcLỜI CAM ĐOANEm xin cam đoan rằng đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập kết quả phân tích trong đề tài là trung thực.Nếu sai sự thật em xin chịu trách nhiệm và moi hình phạt. Là một sinh viên lần đầu tiếp cận với môi trường thực tập mặc dù đã cố gắng hết sức xong bài viết của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của thầy giáo, cô giáo, các cô chú trong phòng tài cính công ty để bài viết của em ngày một hoàn thiện hơn, đồng thời nâng cao được kiến thức chuyên môn cho bản thân và phục vụ tốt cho công tác sau này.Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn TH.Sỹ Nguyễn Thị Phương và sự giúp đỡ của các cán bộ nhân viên phòng ban của công ty TNHH Hoàng Tân đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt bài báo cáo này.Em xin chân thành cảm ơn MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP31.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp31.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp31.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp31.1.2.1 Đối với người quản lý doanh nghiệp41.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp61.1.2.3 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp71.1.2.4 Đối với người lao động trong doanh nghiệp71.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước81.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính81.2. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính91.2.1. Thông tin chung91.2.2. Thông tin theo ngành kinh tế91.2.3. Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp101.2.3.1. Bảng cân đối kế toán101.2.3.2. Báo cáo kết quả kinh doanh111.2.3.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ131.2.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính131.3. Các bước tiến hành phân tích tài chính141.3.1. Thu thập thông tin141.3.2. Xử lý thông tin141.3.3. Dự đoán và quyết định141.4 . Phương pháp và chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp141.4.1.Phương pháp phân tích tài chính141.4.1.1. Phương pháp so sánh.151.4.1.2. Phương pháp loại trừ.161.4.1.3..Phương pháp tỷ số161.4.1.4. Phương pháp DUPONT171.4.2. Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp191.4.2.1. Chỉ tiêu tình hình công nợ191.4.2.2. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán20Nợ ngắn hạn201.4.2.3.Chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng211.4.2.4. Chỉ số về hiệu quả221.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính231.5.1 Chất lượng thông tin sử dụng231.5.2 Trình độ cán bộ phân tích231.5.3 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành24CHƯƠNG 2 . PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA25CÔNG TY TNHH HOÀNG TÂN252.1 Giới thiệu tổng quát về công ty TNHH Hoàng Tân252.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của công ty252.1.2 Chức năng và nhiệm vụ252.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán262.2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty262.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán282.2.3 Đặc điểm sản phẩm và quy trình công nghệ sản xuất292.3 Phân tích tình hình tài chính của Công ty322.3.1 Phân tích bảng cân đối kế toán.322.3.1.1. Phân tích cơ cấu tài sản322.3.1.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn362.3.2. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trong công ty372.3.2.1. Phân tích tình hình khoản nợ phải thu và phải trả của công ty37c. Mối quan hệ giữa khoản phải thu và phải trả402.3.2.2 Phân tích khả năng thanh toán402.3.3. Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời.442.3.3.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty.442.3.3.2 Phân tích khả năng sinh lời của công ty.462.4. Đánh giá tình hình tài chính của công ty482.4.1 Những mặt đã đạt được482.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân49CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY503.1.Mục tiêu và định hướng phát triển công ty.503.2. Giải pháp về hoạt động tài chính của công ty51KẾT LUẬN53TÀI LIỆU THAM KHẢO54PHỤ LỤC55 DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒSơ đồ 1.1: Sơ đồ bộ máy quản lý27Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bộ máy kế toán29Sơ đồ 1.3: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm31Bảng 1:Bảng phân tích cơ cấu tài sản qua năm 3 năm 2010 201233Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn36Bảng 3: Bảng phân tích tình hình nợ phải thu của công ty từ năm 2010 – 201237Bảng 4: Bảng phân tích tình hình nợ phải trả của công ty từ năm 2010 – 201239Bảng 5: Bảng quan hệ giữa khoản phải thu và phải trả40Bảng 6: Bảng phân tích khả năng thanh toán của công ty41Bảng 7: Bảng hệ số thanh toán tổng quát42Bảng 8: Bảng hệ số thanh toán hiện hành43Bảng 9: Bảng hệ số thanh toán nhanh44Bảng 10: Bảng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn45Bảng 11: Bảng chỉ tiêu lợi nhuận47 LỜI MỞ ĐẦU Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất. Hoạt động sản xuất là hoạt động tự giác có ý thức của con người nhằm biến các vật thể tự nhiên thành các vật phẩm có ích phục vụ cho mình. Con người khi tiến hành làm bất cứ việc gì cũng luôn mong muốn đạt hiệu quả cao với những chi phí tối thiểu nhưng đem lại lợi ích tối đa cho mình. Một trong những hoạt động quan trọng và được con người tiến hành thường xuyên là hoạt động sản xuất kinh doanh. Để hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành đạt được kết quả như mong muốn thì điều tất yếu là phải thực hiện chức năng quản lý và để có thể thực hiện tốt chức năng quản lý thì không thể thiếu thông tin. Thông tin cung cấp cho quản lý được thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có các thông tin về hoạt động tài chính. Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu tạo vốn trong doanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.Nhiệm vụ của hoạt động tài chính là phải huy động đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ quy định về tài chính tín dụng của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm nhất là những người quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính là một việc làm vô cùng cần thiết. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giá được đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ khả năng tiềm tàng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Thông qua việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu quả để khai thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh.Tài liệu dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các số liệu trên báo cáo tài chính được lập theo định kỳ trong đó bảng cân đối kế toán được sử dụng nhiều nhất trong việc phân tích vì nó phản ánh khá đâỳ đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kết quả của việc phân tích tình hình tài chính cho ta biết thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích. Vì vậy em chọn đề tài tốt nghiệp là: “Phân tích tình hình tài chính Công ty TNHH HOÀNG TÂN”. Ngoài mở đầu và kết luận báo cáo gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH Hoàng Tân Chương 3 : Giải pháp tài chính của Công ty TNHH Hoàng Tân
Trang 1KHOA KINH TẾ -CƠ SỞ THANH HÓA
BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH HOÀNG TÂN
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Thanh Hóa, ngày tháng năm
Giảng viên hướng dẫn
( ký tên, ghi rõ họ tên )
Trang 4Em xin cam đoan rằng đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập kết quả phân tích trong đề tài là trung thực.Nếu sai sự thật em xin chịu tráchnhiệm và moi hình phạt.
Là một sinh viên lần đầu tiếp cận với môi trường thực tập mặc dù đã cố gắnghết sức xong bài viết của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của thầy giáo, cô giáo, các cô chútrong phòng tài cính công ty để bài viết của em ngày một hoàn thiện hơn, đồng thờinâng cao được kiến thức chuyên môn cho bản thân và phục vụ tốt cho công tác saunày
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn TH.Sỹ NguyễnThị Phương và sự giúp đỡ của các cán bộ nhân viên phòng ban của công ty TNHHHoàng Tân đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt bài báo cáo này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
N ng n h n ợ ắ ạ 20
c M i quan h gi a kho n ph i thu v ph i tr ố ệ ữ ả ả à ả ả 40
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU- SƠ ĐỒ
N ng n h n ợ ắ ạ 20
c M i quan h gi a kho n ph i thu v ph i tr ố ệ ữ ả ả à ả ả 40
B ng 5: B ng quan h gi a kho n ph i thu v ph i tr ả ả ệ ữ ả ả à ả ả 40
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất Hoạtđộng sản xuất là hoạt động tự giác có ý thức của con người nhằm biến các vật thể tựnhiên thành các vật phẩm có ích phục vụ cho mình Con người khi tiến hành làm bất
cứ việc gì cũng luôn mong muốn đạt hiệu quả cao với những chi phí tối thiểu nhưngđem lại lợi ích tối đa cho mình Một trong những hoạt động quan trọng và được conngười tiến hành thường xuyên là hoạt động sản xuất kinh doanh Để hoạt động sảnxuất kinh doanh tiến hành đạt được kết quả như mong muốn thì điều tất yếu là phảithực hiện chức năng quản lý và để có thể thực hiện tốt chức năng quản lý thì không thểthiếu thông tin Thông tin cung cấp cho quản lý được thu thập từ rất nhiều nguồn khácnhau và bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có các thông tin về hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó cómặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu tạo vốn trongdoanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh
Nhiệm vụ của hoạt động tài chính là phải huy động đủ vốn đáp ứng cho nhu cầusản xuất kinh doanh, đồng thời phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả trên cơ sởchấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ quy định về tài chính tín dụngcủa Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là một vấn
đề được rất nhiều người quan tâm nhất là những người quan tâm đến hoạt động củadoanh nghiệp Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính là một việc làm vô cùng cầnthiết Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giá được đầy đủ, chínhxác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn củadoanh nghiệp, vạch rõ khả năng tiềm tàng và xu hướng phát triển của doanh nghiệptrong tương lai Thông qua việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn, đề xuất các biện phápcần
thiết và có hiệu quả để khai thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng đểnâng cao hiệu quả sử dụng vốn phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh
Tài liệu dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các
số liệu trên báo cáo tài chính được lập theo định kỳ trong đó bảng cân đối kế toánđược sử dụng nhiều nhất trong việc phân tích vì nó phản ánh khá đâỳ đủ tình hình tài
Trang 8chính của doanh nghiệp Kết quả của việc phân tích tình hình tài chính cho ta biết thựctrạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích
Vì vậy em chọn đề tài tốt nghiệp là: “Phân tích tình hình tài chính Công ty
TNHH HOÀNG TÂN” Ngoài mở đầu và kết luận báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH Hoàng Tân Chương 3 : Giải pháp tài chính của Công ty TNHH Hoàng Tân
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 9Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụcho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằmđánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chấtlượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanhnghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản
lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phásản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những
dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệptrong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - mộttrong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theonhiều hướng khác nhau : với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), vớimục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệphoặc ngoàidoanh nghiệp )
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tíchcác báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các sốliệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giátiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Báo cáo tàichính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng nhưtình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chínhrất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủyếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo tài chính
là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, cácnhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơquan chính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tinkhác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tàichính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng
Trang 10trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ cónhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanhnghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước và ngườilàm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên cácgóc độ khác nhau.
1.1.2.1 Đối với người quản lý doanh nghiệp
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếmlợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồnlực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động Để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản
xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải cótiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phảnánh bên phải củabảng cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dàihạn, ngắn hạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm còn nợ dài hạn có thời hạn trênmột năm Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tài sản và nợ củadoanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơcấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp cónên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay
và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanhnghiệp
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đến vấn
đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền vớicác dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha củacác dòng tiền Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanhnghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp là
cơ sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó
Trang 11Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính vàdựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi íchcủa cổ đông của doanh nghiệp Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chínhđều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp : đó là sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnhtranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đahoá lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc Doanh nghiệp chỉ có thểhoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản
lý được đưa ra là đúng đắn
Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phântích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế để thực hiện phântích tài chính một cách tốt nhất Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu làphân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng nhưkhả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung
và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể địnhhướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư,tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tíchtài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn,mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hìnhhoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp Trongdoanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp và họ
có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổ phiếu trênthị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của
họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạt được Vì thế, mốiquan tâm hàng đầu của các cổ đông là khả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối
đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanh nghiệp Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu
tư và nguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kếtquả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển
Trang 12vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Các nhàđầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trịhiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiềncần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiềnvượtquá đó mang lại sự giàu có cho những người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chínhsách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề đượccác nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biếtrằng thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trịtăng thêm của cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ
sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tưvừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơn nữa các cổ đôngchỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không
bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng đểtrả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếutrên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệuquả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phântích tài chính
1.1.2.3 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiệnnhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phântích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại chodoanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xemxét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn,người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp,nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu
là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khảnăng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năngsinh lời này Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâmcủa họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệtđến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với
Trang 13số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh
đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn củachủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanhnghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thờihạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người chovay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp
đi vay
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họcần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời giansắp tới
1.1.2.4 Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, ngườiđược hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chínhcủa doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp cótác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ratrong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổphần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
1.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nướcthực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinhdoanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách,chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hìnhthực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tíchcác báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống cácphương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cáchchi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu vềhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo vàđưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
Trang 141.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính
là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanh nghiệp,bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốn chosản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kếtquả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnhhưởng đếntình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệu quả đểkhắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng của doanhnghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc raquyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanhnghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm vinghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực :
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh
tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tốđầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kếtquả kinh doanh trong năm là khả quan Tuy nhiên khi những biến động của tình hìnhkinh tế là bất lợi, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Chính vì vậy để có được sự đánh giá khách quan và chính xác về tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp, chúng ta phải xem xét cả thông tin kinh tế bên ngoài có liên quan
Trang 151.2.2 Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự phát triển củadoanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới:
-Tính chất của các sản phẩm
- Quy trình kỹ thuật áp dụng
- Cơ cấu sản xuất : công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơ cấu sảnxuất này có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ
- Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và cácthông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉtiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luậnchính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêucủa dự đoán tài chính Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài,thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra nhậnxét, kết luận sát thực Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cầnthiết Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán của doanh nghiệp Phân tíchtài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông quaviệc xử lý các báo cáo kế toán
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của mộtdoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáo tài chính phảnánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dướihình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bản chất, bảngcân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công
nợ phải trả( nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bản cânđối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình
Trang 16hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triểnvọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần nguồnvốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới làphần nguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn bằngnhau
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
Phần tài sản: Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyềnquản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát vềquy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn củadoanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu,phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chấtcủa doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn( Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, cácbên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiệntrách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sảnhình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ ( với người lao động, với nhàcung cấp, với Nhà nước )
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có,căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồnvốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua cácchỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
Trang 17+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài sản lưuđộng, tài sản cố định.
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các khoảnphải trả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.2.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tàichính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sựdịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó chophép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp trong tương lai Báo cáo kết quảsản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và sốtiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thựcxuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sảnxuất kinh doanh : lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánhkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanhnghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tìnhhình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lýsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên cơ sởcác tài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tài khoản 333
“Thuế GTGT phải nộp”
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợinhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp Do
Trang 18đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quáttình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãihay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độtăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai Ngoài
ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biết đượcdoanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế còn phải nộp lớnchứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan Như vậy,việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận địnhsâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin củadoanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) vànguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập vàchi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưuchuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trongdoanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra củatiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từhoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyểntiền tệ từ hoạt động bất thường
1.2.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tìnhhình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giảithích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằmgiúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụthể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kếtquả hoạt động kinh doanh
“Thuyết minh báo cáo tài chính” được lập căn cứ vào những số liệu và nhữngtài liệu sau:
+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo
+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo
Trang 19+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước.
Trang 201.3 Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tàichính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, nhữngthông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giátrị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chínhdoanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tàichính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thuthập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứngdụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phântích đã đặt ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêunhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của cáckết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.3.3 Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính Cóthể nói mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đối với chủdoanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên quan đến mụctiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối
đa hoá giá trị doanh nghiệp
1.4 Phương pháp và chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1.Phương pháp phân tích tài chính
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụngtài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hìnhbiến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tàichính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp:phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính Phântích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả về số
Trang 21tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn phân tíchdọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉtiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau để rút ra kếtluận.
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
1.4.1.1 Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếutrong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉtiêu phân tích Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc
vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định mức.Đây là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch,định mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đề ra
+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sựbiến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanhnghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanhkhác nhau của doanh nghiệp
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánhđược của các chỉ tiêu:
+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơcấu của các chỉ tiêu
+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằngnhững đơn vị tính đổi nhất định
+ Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằngcác chỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp, việc sosánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mang một ý nghĩakinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thì hoàn toàn cho phép
và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu
Trang 22Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tươngđối.
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triểnkhông đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, số bìnhquân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Số bình quân có thể biểuthị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷ suất) Khi so sánh bằng sốbình quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành,xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khốilượng, quy mô của hiện tượng kinh tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng mộtnội dung phản
ánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường Sử dụng sốtương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu của hiện tượng kinh tế,đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giống nhau để phân tích so sánh Tuy nhiên
số tương đối không phản ánh được thực chất bên trong cũng như quy mô của hiện kinh
tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối và
số tương đối
1.4.1.2 Phương pháp loại trừ.
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích Khi phân tích, để nghiên cứu ảnhhưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác
Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới 2dạng là: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch
1.4.1.3 Phương pháp tỷ số
Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ thông nhất, một tỉ số là mối quan hệ tỷ
lệ giữa hai dòng hoặc hai nhóm của bảng cân đối tài sản phương pháp phân tích tỷ sốdựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính.sựbiến đổi các tỷ số là sự biến đổi các đại lượng tài chính.về nguyên tắc , phương phápphân tích tỷ số yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức để nhận xét , đánh giátình hình tài chính của doanh nghiệp với giá trị các số lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính dooanh nghiệp, các tỷ số doanh nghiệp, các tỷ số tàichính được phân thành nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theocác mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.đó là các nhóm tỷ số về khả năng thanh
Trang 23toán,nhóm tỷ số cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ số về năng lực hoạt động kinhdoanh, nhóm tỷ số về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phảnánh riêng biệt từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau.Tùy theo góc độ phân tích,người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau đểphục vụ mục tiêu phân tích của mình.
Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng,chắc chắn ta sẽ phát hiệnđược tình hình tài chính.phân tích tỷ số cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vìmột số dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng nghiêncứu riêng lẽ
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỉ số sinh lời vố chủ sởhữu(ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế
ROA = × = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tỷ số ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai nhân tố: Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp(ROE): Lợi nhuận sau thuế
ROE=
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hửu(ROE) phản ành khả năng sinh lời của vốnchủ sở hữu
Trang 24Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được sự tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thìdoanh lợi vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó Tổng tài sản =Tổng nguồn vốn.
Lợi nhuận sau thuế lợi nhuận sau thuế
Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
1.4.2 Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 251.4.2.1 Chỉ tiêu tình hình công nợ
Hệ số khái quát: Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến các khoảnphải thu và phải trả của doanh nghiệp Đây là nhóm chỉ tiêu được quan tâm của cácnhà quản trị, chủ sở hữu và đặc biệt là các nhà cho vay
Tổng các khoản phải thu
Hệ số khái quát =
Tổng các khoản phải trả
Vòng luân chuyển các khoản phải thu: Vòng luân chuyển các khoản phảithu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp,được xác định bằng mối quan hệ tỉ lệ giữa doanh thu bán hàng và số dư bìnhquân các khoản phải thu
Vòng luân chuyển các khoản phải
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu(vòng)
Kỳ thu tiền bình quân: Kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời gian của mộtvòng luân chuyển các khoản nợ cần phải thu, nghĩa là để thu được các khoản nợ cầnmột khoản thời gian là bao lâu Nó được xác định bằng tỷ số giữa thời gian của kỳphân tích (thường là 360 ngày) và vòng quay các khoản phải thu Công thức tính :
Kỳ thu tiền bình quân =
Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay các khoản phải thu(ngày)
1.4.2.2 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán tức thời : Hệ số thanh toán tức thời thấp chứng tỏ khảnăng thanh toán của vốn ngắn hạn thấp, tuy nhiên quá cao lại biểu hiện tình trạng ứđọng vốn, kém hiệu quả
Hệ số thanh toán vốn =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Trang 26 Tỉ số thanh toán hiện hành: Là mức độ trang trải của tài sản lưu động đối
với nợ ngắn hạn mà không cần đến một khoản vay mượn nào thêm Tỉ số này biểu thị
sự cân bằng giữa tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn, hay nói cách khác là hiệntrạng tài sản lưu động trong kỳ kinh doanh hiện tại – thường là một niên độ
Tỉ số thanh toán nhanh (Q/R): Tỉ số này đo lường mức độ đáp ứng nhanhcủa tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền trước các khoản nợngắn hạn Các tài sản lưu động được xếp vào loại chuyển nhanh thành tiền bao gồm tàisản lưu động trừ đi hàng tồn kho và các khoản ứng trước
Tài sản lưu động – Hàng tồn khoQ/R =
Nợ ngắn hạn
Tỉ số càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao Thông thường tỉ
số này 1:1 được xem là thích hợp
Tỉ số thanh toán bằng tiền: Khả năng thanh toán bằng tiền mặt là so sánhmối quan hệ giữa vốn bằng tiền và các khoản nợ ngắn hạn Đây là chỉ tiêu phản ánhkhả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ ra sao nếu doanh nghiệp không sử dụngkhoản phải thu và hàng tồn kho Nó là thước đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn,không dựa vào việc bán vật tư, hàng hóa, sản phẩm và các khoản phải thu của doanhnghiệp khi chưa thể chuyển đổi thành tiền mặt
Vốn bằng tiền
Trang 27Tỉ số thanh toán bằng tiền =
Nợ ngắn hạn
Tỉ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao Tuy nhiên, tỉ
số này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của tài sản lưu động tập trung quá nhiềuvào vốn bằng tiền có thể không hiệu quả Thông thường tỉ số này được chấp nhận là0,5:1
1.4.2.3.Chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng
Tỉ số luân chuyển tài sản cố định: Tỉ số này đánh giá hiệu quả sử dụng tàisản cố định, được tính bằng quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và tài sản cố địnhtrong kỳ Nó thể hiện một đồng tài sản cố định sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Doanh thu thuần
Tỉ số luân chuyển tài sản cố định =
Doanh thu thuần
Tỉ số luân chuyển tài sản =
Tỉ số luân chuyển hàng tồn kho:
Hàng tồn kho lớn hay nhỏ tùy thuộc vào loại hình kinh doanh và thời gian hoạtđộng trong năm Vì thế, mỗi doanh nghiệp cần có một mức tồn kho hợp lý Hàng tồnkho quay vòng càng nhiều thì hiệu quả sử dụng hàng tồn kho càng cao
Giá vốn hàng bán
Tỉ số luân chuyển hàng tồn kho =
Hàng tồn kho
1.4.2.4 Chỉ số về hiệu quả
Trang 28 Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này cho biết trong mộtđồng doanh thu thì lợi nhuận ròng chiếm bao nhiêu phần trăm
Lợi nhuận ròngROS =
Doanh thu thuần
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này cho thấy khả
năng sinh lời của một đồng vốn bỏ ra đầu tư vào doanh nghiệp.
Lợi nhuận ròngROE =
Vốn chủ sở hữu
Tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản
có tham gia sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Lợi nhuận ròngROA =
Tổng tài sản
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnhhưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sựphát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính doanhnghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành Muốn vậy,thông tin sử dụng trong phân tích phải chính xác, có độ tin cậy cao, cán bộ phân tích
có trình độ chuyên môn giỏi Ngoài ra, sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bìnhngành cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính
1.5.1 Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính,bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phântích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vì vậy, có thể nói thông tin
sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đếnnhững thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp,người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiệntại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai
Trang 29Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tác độnghàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lạicó giá trị theothời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiền trong tương lai Do đó,tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin.Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếuảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
1.5.2 Trình độ cán bộ phân tích
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đónhư thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều khôngđơn giản Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích Từ cácthông tin thu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉ tiêu, thiết lập cácbảng biểu Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng
sẽ không nói lên điều gì Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mốiliên hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể củadoanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểmyếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên Hay nói cách khác, cán bộ phântích là người làm cho các con số “biết nói” Chính tầm quan trọng và sự phức tạp củaphân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao
1.5.3 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệthống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hànhphân tích Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao haythấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác cóđặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trungbình ngành Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lýtài chính biết được vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tàichính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
Trang 31CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TNHH HOÀNG TÂN
2.1 Giới thiệu tổng quát về công ty TNHH Hoàng Tân
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty được thành lập và đi vào hoạt động ngày 1/12/2004 căn cứ luật doanhnghiệp số 06/1999 QĐ 11 được Quốc hội nước CHXHCN thông qua ngày 21/6/1999
có hiệu lực ngày 20/12/1999 về đăng ký kinh doanh
Trụ sở chính:Khu 2 thị trấn Thọ Xuân Huyện Thọ Xuân.Tỉnh Thanh Hóa
Tên giao dịch: Công ty TNHH Hoàng Tân.
Giấy phép kinh doanh số 2602001394 do tỉnh Thanh Hóa cấp ngày1/12/2004
Để mở rông thị trường, ngành nghề sản xuất cũng như nâng cao đội ngũ cán bộ,công nhân kỹ thuật các nghề, công ty có khả năng hợp tác liên doanh với nhiều công tytrong nước để chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nước
và khu vực
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Ngành nghề kinh doanh chính :Đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạtầng, kỹ thuật xây lắp mặt bằng
Ngoài ra công ty còn kinh doanh các ngành nghề
- Công ty bán buôn, bán lẻ: xi măng, sắt thép, gạch ngói …
- Dịch vụ vận tải hàng hóa đường bộ ,cho thuê máy móc thiết bị công trình vàmột số mặt hàng khác mà công ty đăng ký kinh doanh
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Xây dựng các công trình dân dụng