Vấn đề nghiên cứu của đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng hiện nay của thịtrường bảo hiểm Việt Nam, các cơ hội và thách thức, các nhân tố ảnh hưởng từquốc tế để từ đó đưa ra được các công cụ
Trang 1NGUYỄN HẢI NAM
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS TRẦN HÙNG
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo PhóGiáo sư, Tiến sỹ Trần Hùng người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôithực hiện luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Tổng Giám đốc và các anh chị, các bạnđồng nghiệp tại các Ban thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm BIDV và nhiều bạn bè, đồngnghiệp tại các Công ty bảo hiểm trên thị trường, các cơ quan quản lý nhà nước đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tìm kiếm tài liệu, phân tích và cónhững góp ý, phản biện quý báu để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Gia đình luôn là nguồn động viên lớn đối với tôi Vợ và con tôi luôn bêncạnh, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này Cảm ơn vợ, contôi rất nhiều vì những đóng góp thầm lặng của họ trong luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN… i
MỤC LỤC……… ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài 2
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2
1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.5 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu 7
1.6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
1.7 Phương pháp nghiên cứu 8
1.8 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 8
1.9 Kết cầu của đề tài nghiên cứu 8
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC………… 10
2.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 10
2.2 Đặc điểm của thị trường bảo hiểm 11
2.3 Các chủ thể tham gia vào thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 13
2.4 Phân loại các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ 17
2.5 Nội dung của quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm 20
2.6 Vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 21 2.7 Mục tiêu của nhà nước đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003-2010 22
2.8 Xu hướng phát triển thị trường bảo hiểm của một số quốc gia trên thế giới 23
2.8.1 Thị trường bảo hiểm Châu Á – Thái Bình Dương 24
Trang 42.8.2 Thị trường bảo hiểm Trung Quốc 25
2.8.3 Thị trường bảo hiểm Thái Lan 26
2.8.4 Thị trường bảo hiểm Philipine 26
2.8.5 Thị trường bảo hiểm Đài Loan 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIÊM VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 29
3.1 Phương pháp nghiên cứu 29
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
3.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 33
3.2 Đánh giá tổng quan thực trạng phát triển và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 33
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 33
3.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 36
3.2.3 Thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 39
3.2.4 Thực trạng cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ tại Việt Nam 43
3.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 49
3.3.1 Các mặt tích cực 49
3.3.2 Các mặt hạn chế 57
3.4 Kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia (kết quả phỏng vấn và gửi phiếu điều tra các chuyên gia) 60
3.5 Kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia (kết quả thu thập các bài viết, bình luận của các chuyên gia thông qua các phương tiện thông tin đại chúng) 61
Trang 53.6 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường
bảo hiểm Việt Nam 62
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC………… 72
4.1 Các dự báo về triển vọng phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 724.2 Những căn cứ để xác định phương hướng phát triển thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ Việt Nam 744.3 Định hướng phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 784.3.1 Định hướng về xây dựng cơ chế chính sách 784.3.2 Hoàn thiện một số yếu tố về môi trường KDBH trong điều kiện hội nhập 794.3.3 Định hướng nâng cao năng lực cho các DNBH phi nhân thọ 804.3.4 Xác lập vị trí, vai trò của các DNBH PNT trong thị trường tài chính 804.4 Các đề xuất, kiến nghị phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt
Nam dưới góc độ quản lý nhà nước 814.4.1 Có những văn bản pháp luật sửa đổi bổ sung về việc hướng dẫn, quy định,
xử phạt đối với các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm 814.4.2 Khuyến khích các Tập đoàn tài chính thành lập các Công ty bảo hiểm 844.4.3 Tuyên truyền quảng bá nhằm nâng cao trình độ dân trí, thay đổi nhận thức
về bảo hiểm của toàn dân 844.4.4 Nâng cao năng lực tài chính của DNBH bằng cách nâng mức quy định về
vốn pháp định đối với các DNBH 854.4.5 Quy định biểu phí tối thiểu đối với một số loại hình bảo hiểm bắt buộc 854.4.6 Đẩy nhanh tiến độ thực hiện tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo hiểm 864.4.7 Tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 874.5 Những hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong tương lai
884.5.1 Những hạn chế nghiên cứu 884.5.2 Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 89
Trang 6KẾT LUẬN…… 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC……… 94 DANH MỤC BẢNG BIỂU
3.1 Doanh thu phí BH gốc và tốc độ tăng trưởng năm 2010 so
với năm 2009 của các DNBH Phi nhân thọ 553.2 Thị phần các DNBH Phi nhân thọ 563.3 Tỷ trọng doanh thu trong ngành của các DNBH chuyên
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTBH Thị trường bảo hiểm
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường Bảo hiểm Việt Nam hiệnnay đang phát triển mạnh mẽ ở cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ Tuy nhiên,
so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới thì bảo hiểm ở Việt Nam vẫn
là một ngành kinh tế non trẻ và còn nhiều tiềm năng
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là ngành dịch vụ tài chính mang tính quốc tếsâu sắc Điều đó xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm theonguyên tắc phân bổ rủi ro và trong điều kiện rủi ro luôn vận động, không chỉ giớihạn trong một quốc gia mà có thể “di chuyển” đến một nước hoặc nhiều nước khác,
có liên quan đến quyền lợi của các tổ chức và cá nhân thuộc nhiều quốc tịch, sựphát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam không thể tách rời vàđứng ngoài xu thế hội nhập quốc tế
Trước sự phát triển không ngừng của ngành tài chính nói chung, ngành bảohiểm ở Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ Điều đó thể hiện ở số lượng các Công
ty bảo hiểm đang hoạt động tại thị trường Việt Nam và sự tăng trưởng doanh thuphí bảo hiểm Hiện nay, tại Việt Nam có 29 Công ty bảo hiểm phi nhân thọ và 15Công ty bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động và tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảohiểm bình quân hàng năm toàn thị trường khoảng 30% Sự phát triển mạnh mẽ củathị trường bảo hiểm đặt ra cho các nhà quản lý vĩ mô bài toán làm sao để quản lý,kiểm soát và thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh Bên cạnh đó, tính đến thờiđiểm này, Việt Nam đã thực hiện mở cửa và hội nhập một cách đầy đủ đối với thếgiới trong lĩnh vực bảo hiểm Do vậy, các nhà quản lý vĩ mô cũng cần có những kếhoạch, chính sách kiểm soát, hành lang pháp lý và điều chỉnh phù hợp để ngành bảohiểm Việt Nam tiếp tục phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh để các doanhnghiệp bảo hiểm Việt Nam có thể đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt từ cácCông ty bảo hiểm nước ngoài
Trang 9Ngoài ra, như trên đã đề cập, việc phát triển nhiều công ty bảo hiểm như vậytrong thời gian ngắn (thời điểm ra đời nhiều công ty bảo hiểm bắt đầu nở rộ từ năm1998) việc đảm bảo yếu tố chất lượng dịch vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của kháchhàng là vấn đề còn cần được kiểm chứng Việc các doanh nhân đua nhau thành lậpCông ty Bảo hiểm có thể tạo nên sự phát triển bong bóng nếu như không có các cơchế chính sách vĩ mô điều chỉnh kịp thời.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài
Việc phát triển thị trường bảo hiểm “nóng” như hiện nay, tình trạng cạnhtranh gay gắt thiếu lành mạnh ắt phải đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước bàitoán quản lý để đảm bảo yếu tố hiệu quả và giúp thị trường phát triển lành mạnh
Vấn đề nghiên cứu của đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng hiện nay của thịtrường bảo hiểm Việt Nam, các cơ hội và thách thức, các nhân tố ảnh hưởng từquốc tế để từ đó đưa ra được các công cụ, cơ chế, chính sách quản lý hữu hiệu nhằmđưa thị trường Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam dưới góc độ quản lý nhà nước” được chọn để thực hiện luận văn thạc sĩ.
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, TTBH phi nhân thọ mới được hình thành từ năm 1994 Ngànhbảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng còn rất non trẻ,nhìn chung còn là lĩnh vực mới mẻ Do đó, chưa có nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về vấn đề này, mới chỉ dừng lại ở một số chuyên đề, hội thảo ở một lĩnhvực nhất định của TTBH phi nhân thọ Một vài luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu vềthị trường bảo hiểm Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ nghiên cứu trên lĩnh vựcMaketing, lịch sử kinh tế, cạnh tranh… và cũng chỉ trong một vài lĩnh vực cụ thể.Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể đặc biệt lànghiên cứu trên góc độ quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm
Luận văn Thạc sỹ với đề tài: Giải pháp để phát triển thị trường bảo hiểm ViệtNam của tác giả Trần Trung Tính (2002), nghiên cứu trong lĩnh vực maketing củaTTBH nói chung Luận văn Thạc sỹ với đề tài: Quá trình phát triển thị trường bảohiểm phi nhân thọ tại Việt Nam giai đoạn 1995-2004 - thực trạng và giải pháp, của
Trang 10tác giả Trịnh Thị Xuân Dung (2005), nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử kinh tế vàcũng chỉ tập trung nghiên cứu những DNBH lớn trong điều kiện thực tế của thờigian nghiên cứu Nguyễn Minh Dũng (2004), “Kinh nghiệm hội nhập thị trường bảohiểm Quốc tế và bài học đối với Việt Nam”, thông tin tài chính số 4 – tháng 2/2004cũng chỉ hạn chế trong việc đưa ra những cơ hội và thách thức của các DNBH ViệtNam trước ngưỡng cửa mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam Nhìn chung cácnghiên cứu này chỉ nghiên cứu đến một khía cạnh nhỏ của thị trường bảo hiểm ViệtNam chưa nghiên cứu đến tổng thể toàn bộ thị trường bảo hiểm và xem xét dướigóc độ quản lý nhà nước.
Điểm khác biệt của luận văn là nghiên cứu toàn diện, tổng thể TTBH phinhân thọ dưới góc độ quản lý nhà nước và đặt nó trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế
1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng hiện nay của thị trường bảo hiểm (cạnh tranh, chất
lượng, yếu tố nước ngoài…): tác giả sẽ nghiên cứu kỹ thực trạng thị trường bảohiểm Việt Nam hiện nay về tình hình cạnh tranh, chất lượng dịch vụ, các yếu tố ảnhhưởng từ nước ngoài, cơ hội và thách thức khi Việt Nam mở cửa thị trường bảohiểm theo lộ trình cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý của nhà nước đối với thị trường
bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam: thị trường bảo hiểm có phát triển đúng hướng,theo kịp các nước trong khu vực và thể giới hay không phụ thuộc rất nhiều vào côngtác quản lý của nhà nước Vì vậy, tác giả đi sâu nghiên cứu các cơ chế chính sách,công cụ quản lý mà nhà nước đang áp dụng đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam.Ngoài ra, khi Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn đối với thế giới trong lĩnh vực bảohiểm, hội nhập sâu rộng vào thị trường bảo hiểm thế giới thì nhà nước đã có các cơchế, chính sách như thế nào và định hướng phát triển thị trường ra sao đó là mụctiêu mà tác giả cần nghiên cứu
- Nghiên cứu sự cần thiết khách quan phải phát triển thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ: Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định cuộc sống và sảnxuất cho những người tham gia bảo hiểm và kiến tạo nguồn vốn để phát triển kinh
Trang 11tế và xã hội Các DNBH bồi thường những tổn thất, thiệt hại cho người tham giabảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, giúp họ ổn định tài chính và đời sống khikhông may gặp rủi ro Từ đó góp phần ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh,thúc đẩy kinh tế phát triển Cũng cần thấy rằng, sự phát triển kinh tế xã hội có tácđộng tích cực đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm nói chung và thị trườngBHPNT nói riêng Giữa phát triển thị trường bảo hiểm và phát triển kinh tế xã hội
có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy nhau phát triển, bởi lẽ:
Kinh tế - xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của ngườidân càng cao thì nhu cầu về bảo hiểm càng lớn Điều đó đã trở thành quy luật, vànhư vậy sự phát triển của thị trường bảo hiểm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xãhội
Kinh tế phát triển, thu nhập của người lao động được nâng cao, mọi nhucầu của con người càng phát triển, trong đó có nhu cầu đảm bảo cho cuộc sống, sứckhỏe, tài sản Hay nói cách khác khả năng và điều kiện để tham gia các loại hìnhbảo hiểm càng nhiều
Kinh tế phát triển, chính trị ổn định thì hệ thống pháp lý pháp lý đượchoàn thiện, tạo nên môi trường kinh doanh tốt Đó cũng là điều kiện làm cho bảohiểm thương mại nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng kinh doanh có hiệuquả và phát triển
Kinh tế - xã hội phát triển thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, các hoạtđộng trong đời sống văn hóa, nghệ thuật phong phú… thúc đẩy các nghiệp vụ bảohiểm mới ra đời, làm phong phú, đa dạng thêm hoạt động bảo hiểm
Kinh tế phát triển, cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế làm cho thịtrường BHPNT cũng mở rộng thị trường không chỉ trong nước mà cả quốc tế
- Nghiên cứu vai trò của TTBH phi nhân thọ trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế: BH PNT là một dịch vụ tài chính, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ làmột bộ phận cấu thành không thể thiếu của thị trường tài chính Vì vậy, TTBH nóichung và TTBH phi nhân thọ nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc hoànthiện và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong đó có thị trường tài chính Đây
là điều kiện và cơ sở để thúc đẩy nhanh hơn quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Thị
Trang 12trường BH phi nhân thọ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư nướcngoài Một mặt nó là một trong những yếu tố quan trọng của môi trường đầu tưnước ngoài nói chung Mặt khác, cơ sở hạ tầng và các yếu tố của TTBH phi nhânthọ phát triển sẽ thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vựcKDBH phi nhân thọ Từ đó, thúc đẩy KTXH phát triển.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tếcũng góp phần tích cực trong việc nâng cao năng lực về mọi mặt của các DNBH.Đồng thời tạo cho các DNBH trong nước có điều kiện và nhiều cơ hội để mở rộngphạm vi hoạt động ra nước ngoài
Trong quá trình hội nhập, TTBH phi nhân thọ đóng vai trò quan trọng trongviệc tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội, tạo thêm nguồn thu cho ngân sáchnhà nước Đồng thời nó tạo ra cơ sở và điều kiện để các DNBH PNT nước ngoàiđầu tư tích cực và hiệu quả vào nền kinh tế
Tự do hóa thương mại dịch vụ, trong đó có dịch vụ bảo hiểm là xu thế chungcủa thế giới mà Việt Nam không phải là một ngoại lệ Mặt khác trong quá trình hộinhập quốc tế, tất yếu sẽ diễn ra phân công lao động quốc tế, sự giao lưu về mọi mặtkinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…quá trình này đòi hỏi phải có hệ thống dịch vụtài chính đi kèm, trong đó không thể thiếu dịch vụ về bảo hiểm Vì vậy, phát triểnTTBH phi nhân thọ là yêu cầu và xu thế chung của thế giới
Để đẩy nhanh quá trình hội nhập và thực hiện phân công lao động quốc tếmột cách có hiệu quả Một trong những yêu cầu cấp thiết là phải hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường, trong đó nội dung quan trọng là xây dựng và phát triển đồng bộcác loại thị trường TTBH phi nhân thọ là một bộ phận của thị trường tài chính Do
đó, phát triển TTBH phi nhân thọ là do đòi hỏi của sự phát triển đồng bộ các loại thịtrường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quá trình hội nhập, phát triển TTBH phi nhân thọ góp phần thu hútvốn đầu tư nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực KDBH phi nhân thọ nói riêng
Nó không chỉ tạo nên một xã hội an toàn, ổn định, tạo thêm nhiều việc làm cho xãhội mà còn tạo cho nền kinh tế một nguồn vốn đầu tư phát triển không nhỏ Từ đó
Trang 13tạo ra thu nhập cho nền kinh tế, hay nói cách khác nó góp phần làm tăng trưởngkinh tế quốc dân.
Quá trình toàn cầu hoá và quốc tế hóa đã tạo ra cho toàn thế giới trở thànhmột ngôi nhà chung mà biên giới sẽ chỉ là “đường biên giới mềm” Mặt khác khikinh tế xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về đảm bảo đời sống, tài sản, tínhmạng ngày càng cao, việc xây dựng một thế giới an toàn, ổn định theo một chuẩnmực quốc tế là nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong điều kiện hội nhập Hơn thếnữa, bảo hiểm phi nhân thọ là một ngành dịch vụ tài chính mang tính toàn cầu, rủi
ro bảo hiểm không giới hạn trong phạm vi một nước, các DNBH phải thực hiện liênkết đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm để phân tán rủi ro và cùng nhau gánh chịu tổn thấtxảy ra Do vậy TTBH các nước chịu tác động lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranhvới nhau Vì vậy phát triển TTBH phi nhân thọ là đòi hỏi khách quan của quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
Bảo hiểm là một trong những nội dung quan trọng trong đàm phán và thựchiện các cam kết hội nhập quốc tế trong quá trình tự do hoá thương mại nói chung
và dịch vụ tài chính, bảo hiểm nói riêng (ở Việt Nam đó là những cam kết trongquan hệ thương mại song phương và đa phương của Việt Nam với các nước trongkhối ASEAN, hiệp định thương mại Việt Mỹ, các cam kết về dịch vụ tài chính của
Tổ chức thương mại quốc tế WTO ) Vì vậy, rất cần thiết phải phát triển TTBHcho phù hợp với thông lệ, các cam kết và tiêu chuẩn quốc tế
Bảo hiểm phi nhân thọ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo toàn vốn đầu
tư, đảm bảo tính mạng và tài sản khác, cũng như nghĩa vụ trước pháp luật cho cácnhà đầu tư nước ngoài Do đó, nó là yếu tố không thể thiếu trong môi trường đầu tưnước ngoài Vì vậy, muốn tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và hoàn thiện cần thiếtphải phát triển TTBH, trong đó có TTBH phi nhân thọ
Tóm lại: TTBH phi nhân thọ và sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhaucùng phát triển Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tếquốc tế, cần thiết phải phát triển TTBH một cách toàn diện, vững chắc và phù hợpvới các chuẩn mực quốc tế Có như vậy, bảo hiểm phi nhân thọ mới thực sự là “tấm
Trang 14lá chắn” hữu hiệu cho mọi cá nhân tổ chức, đồng thời là một kênh huy động vốnđáng kể cho nền kinh tế và là một yếu tố quan trọng trong môi trường đầu tư nướcngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
- Nghiên cứu vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm phi
1.5 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Tại sao thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam luôn được coi là tiềmnăng nhưng sự phát triển của thị trường vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đó?
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam tính đến cuối năm 2010 cóphát triển theo đúng chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm của nhà nước không?
Các cơ chế, chính sách và công cụ quản lý của nhà nước đã thể hiện đượcvai trò điều tiết, kiểm soát và thúc đẩy thị trường bảo hiểm phi nhân thọ phát triểnchưa? Đã tạo ra được môi trường kinh doanh lành mạnh cho các DNBH hoạt độngchưa?
Về góc độ quản lý, Nhà nước cần phải có những biện pháp gì để đưa thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển bền vững và theo kịp các nướctrong khu vực?
Việt Nam đã cam kết mở cửa hoàn toàn thị trường bảo hiểm, vậy nhànước đã có những sự chuẩn bị và chính sách gì để định hướng thị trường bảo hiểmgiúp các DNBH nắm bắt cơ hội và đương đầu với thách thức?
1.6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung, tác giả chỉ dừng lại nghiên cứu thị trường bảo hiểm Việt Namdưới góc độ quản lý nhà nước và chỉ nghiên cứu trong lĩnh vực bảo hiểm thương
Trang 15mại phi nhân thọ, không nghiên cứu bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xãhội, bảo hiểm tiền gửi
Về không gian, tác giả chỉ nghiên cứu trên khía cạnh quản lý nhà nước tức làchỉ nghiên cứu về tác động của các biện pháp, công cụ quản lý của nhà nước hiệnnay đang được áp dụng, các điểm đã thực hiện được và những vấn đề còn tồn tạicần sửa đổi bổ sung
Về thời gian, tác giả tìm kiếm sử dụng và phân tích số liệu chủ yếu từ giaiđoạn 2005-2012 và đề xuất một số các giải pháp để phát triển thị trường bảo hiểmđến năm 2020 dưới góc độ quản lý nhà nước
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp thu thập các tài liệu, văn bản, những nghiêncứu đã có (dự liệu thứ cấp) và khảo sát thực tế bằng các hình thức phỏng vấn và gửiphiếu điều tra (dự liệu sơ cấp) để có những đánh giá phân tích cho đề tài luận văn
mà tác giả nghiên cứu
1.8 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận: Nghiên cứu nhằm làm rõ một số cơ sở lý luận về pháttriển thị trường bảo hiểm Việt Nam dưới góc độ quản lý nhà nước
Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng tìm ra những vấn đề cần phải giảiquyết để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, định hướng sự phát triển của thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Đưa ra được các biện pháp, công cụ quản
lý thị trường hiệu quả
1.9 Kết cầu của đề tài nghiên cứu
Nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Một số vấn lý luận về phát triển thị trường bảo hiểm Việt Namdưới góc độ quản lý nhà nước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạngphát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam dưới góc độ quản lý nhànước
Trang 16Chương 4: Đề xuất một số giải pháp về quản lý nhà nước để phát triển thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
2.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản
a) Khái niệm về bảo hiểm
Mặc dù ra đời từ khá sớm, song cho đến này vẫn chưa có một khái niệmthống nhất về bảo hiểm, bởi vì người ta đã đưa ra khái niệm ở nhiều góc độ khácnhau Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin trích ra một số khái niệm về bảohiểm được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau trong Giáo trình bảo hiểm củaTrường đại học kinh tế Quốc dân năm 2008 do PGS, TS Nguyễn Văn Định làmchủ biên
Dưới góc độ tài chính: Bảo hiểm là một hoạt động tài chính nahwmfphân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi
Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hermard đư ra khái niệm: “Bảo hiểm làmột nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả mộtkhoản tiền cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp
có rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là ngườibảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hạitheo Luật thống kê”
Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, tập đoàn bảo hiểmthương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơchế này một người, doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro chocông ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổnthất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả nhữngngười được bảo hiểm”
Có thể nói, các khái niệm trên ít nhiều đã lột tả được bản chất của bảohiểm trên các khía cạnh về rủi ro, sự chuyển giao rủi ro giữa người được bảohiểm và người bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm, số tiền bồi thường hoặc chi trảkhi người được bảo hiểm gặp phải rủi ro tổn thất Cũng trên cơ sở các khía cạnh
Trang 18đó, khái niệm về bảo hiểm có thể được hiểu như sau: “Bảo hiểm là một hoạtđộng dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay tổ chức có quyền đượchưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi hay sự kiện bảo hiểm xảy ranhờ vào khoản tiền đóng góp phí abor hiểm cho mình hay cho người thứ ba.Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhận, tổ chức này cótrách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luậtthống kê”.
b) Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm thì:
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp ngườiđược bảo hiểm sống hoặc chết
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệmdân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ
c) Khái niệm về thị trường bảo hiểm
Theo thuật ngữ bảo hiểm, thị trường bảo hiểm là nơi mua và bán các sảnphẩm bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là loại sảnphẩm vô hình không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu săc… Sảnphẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền; là sản phẩm màngười mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồithường hay trả tiền bảo hiểm (trừ bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm nhân thọ)
2.2 Đặc điểm của thị trường bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm có đối tượng khách hàng rất rộng, đối tượng bảohiểm rất đa dạng, bao gồm tài sản, trách nhiệm, con người, công trình, sức khỏe, tíndụng…
Thị trường bảo hiểm là thị trường dịch vụ tài chính: cũng như thịtrường chứng khoán, thị trường tiền tệ… thị trường bảo hiểm cũng chịu sự kiêm tra,kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước có thể can thiệp khá sâu vào hoạt độngcủa các DNBH Nhà nước không những xét duyệt biểu phí, xác định mức tráchnhiệm phải bồi thường của một số loại hình bảo hiểm mà còn quyết định hình thức
Trang 19triển khai các loại hình bắt buộc hay tự nguyện Chỉ có bảo hiểm mới có hình thứcbắt buộc đối với người tham gia.
Thị trường bảo hiểm ra đời muộn hơn so với các thị trường khác nhưthị trường hàng hóa, lao động…Sự ra đời thị trường bảo hiểm lại phụ thuộc vàonhiều điều kiện như: điều kiện kinh tế - xã hội phát triển đến một mức độ nhất định;thu nhập của người dân được nâng cao; trình độ học vấn nhận thức được cải thiện;môi trường pháp lý tương đối phát triển và quan trọng là các thị trường khác đã hìnhthành (thị trường tài chính, đầu tư, bất động sản…)
Thị trường bảo hiểm là thị trường cung cấp sản phẩm liên quan đến rủi
ro, đến sự bấp bênh Nguồn gốc của bảo hiểm là sự tồn tại của những rủi ro bất ngờkhông thế dự đoán được Những rủi ro bất ngờ có thể gây ra những thiệt hại về tàisản, con người Trước thực tế đó, bảo hiểm cung cấp những sản phẩm nhằm bồithường về tài chính cho những tổn thất do tai nạn, rủi ro bất ngờ
Thị trường bảo hiểm mang tính toàn cầu hóa sâu rộng Điều này bắtnguồn từ vấn đề chia sẻ rủi ro, tái bảo hiểm Một DNBH dù lớn đến đâu cũng khôngthể gánh chịu được những tổn thất lớn đặc biệt là những tổn thất mang tính chấtthảm họa, do vậy, họ phải tìm cách chia sẻ bớt rủi ro Và việc phân tán rủi ro khôngchỉ diễn ra ở thị trường trong nước mà còn phải chia sẻ với các Công ty tái bảo hiểmnước ngoài Hiện nay, tất cả các DNBH trên thế giới đều thực hiện chia sẻ rủi ro vớicác nhà tái bảo hiểm quốc tế
Quy luật số đông: Qui luật “số đông bù số ít” là qui luật đặc thù củaTTBH phi nhân thọ Qui luật này mang tính tương trợ, cùng nhau san sẻ rủi rocủa những người tham gia BH Bởi lẽ, bảo hiểm phi nhân thọ là một hệ thốngqua đó một số người đồng ý góp vào một quỹ chung (với số phí tương đối nhỏ),được dùng được chia sẻ các chi phí tổn thất của số ít người gặp rủi ro (có thể rấtlớn) Đây cũng là biểu hiện của qui luật “phân tán rủi ro” trong hoạt động BH.Hai qui luật này phải được tận dụng triệt để trong KDBH Nếu các qui luật nàykhông phát huy tác dụng thì hoạt động bảo hiểm không tồn tại, hay nói cáchkhác, các DNBH sẽ phá sản Ngược lại, nếu các qui luật này được vận hành tốt,
là điều kiện để các DNBH phi nhân thọ giảm giá (phí bảo hiểm), mở rộng quyền
Trang 20lợi cho người mua BH Đây là điều kiện tiên quyết để chiếm lĩnh thị trường cóhiệu quả nhất.
2.3 Các chủ thể tham gia vào thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Chủ thể tham gia trao đổi trên thị trường bảo hiểm bao gồm nhiều loại tổchức và cá nhân, trước hết là những chủ thể bán bảo hiểm; chủ thể mua bảo hiểm vàcác trung gian bảo hiểm
Chủ thể mua bảo hiểm: là cá nhân hay tổ chức kinh tế - xã hội có nhu
cầu được đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro Họ mua sản phẩm bảo hiểm bằngquan hệ trực tiếp với tổ chức bán bảo hiểm hoặc thông qua trung gian bảo hiểm.Bản thân doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể coi là một loại chủ thể mua bảo hiểmtrong các giao dịch tái bảo hiểm
Chủ thể bán bảo hiểm: là các tổ chức, doanh nghiệp bảo hiểm được
phép hoạt động trên cơ sở luật pháp của Nhà nước sở tại Có một số loại tổ chức bánbảo hiểm, đó là:
Doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp: Doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp bán
sản phẩm bảo hiểm trực tiếp với các tổ chức cá nhân mua bảo hiểm Trong quan hệhợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc giao kếthợp đồng bảo hiểm, cấp cho bên mua bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm hoặc bằngchứng về hợp đồng bảo hiểm, có những nghĩa vụ và quyền theo thoả thuận của hợpđồng bảo hiểm
Doanh nghiệp tái bảo hiểm: là bên bán bảo hiểm của các giao dịch tái
bảo hiểm - cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm có nhucầu nhượng tái bảo hiểm Bên cạnh các doanh nghiệp bảo hiểm thông thường kinhdoanh cả bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm (bao gồm nhượng và nhận tái bảo hiểm)cùng các hoạt động khác, trên thị trường bảo hiểm còn có những doanh nghiệpchuyên kinh doanh tái bảo hiểm, đó là các doanh nghiệp tái bảo hiểm
Công ty bảo hiểm (hoặc tái bảo hiểm) nội bộ: là dạng công ty con thuộc
quyền sở hữu của tập đoàn, nhóm công ty không kinh doanh bảo hiểm, được thànhlập với mục đích chuyên biệt và trước hết là nhằm bảo hiểm cho các rủi ro của chủ
sở hữu Công ty bảo hiểm nội bộ hiện đã phát triền thành nhiều dạng như: công ty
Trang 21bảo hiểm của một tập đoàn, hiệp hội được sở hữu bởi một tập đoàn công nghiệp,thương mại hoặc dịch vụ phục vụ lợi ích của các thành viên tập đoàn, hiệp hội; công
ty bảo hiểm nội bộ thuộc quyền đồng sở hữu của nhiều công ty, được thành lập đểđáp ứng các nhu cầu bảo hiểm chung; công ty bảo hiểm nội bộ đại lý thuộc quyền
sở hữu của một tổ chức đại lý bảo hiểm hoặc môi giới bảo hiểm - thông qua công ty
đó có thể tái bảo hiểm một phần rủi ro của khách hàng; công ty bảo hiểm nội bộ chothuê - công ty bảo hiểm nội bộ có cung cấp các phương tiện chuyển giao rủi ro kiểu
“bảo hiểm nội bộ” với mục đích thu phí dịch vụ
Hình thức thể chế pháp lý của công ty bảo hiểm nội bộ được luật pháp nhiềunước thừa nhận và điểm đáng chú ý trong giám sát bảo hiểm là có những nguyênnhân đặc thù của việc hình thành và phát triển của công ty bảo hiểm nội bộ như làbên cạnh các lợi ích như: khoản tiền phí được giữ lại trong phạm vi tổ chức vàmang lại lợi ích kinh tế cho tổ chức, giá vốn sẽ thấp hơn việc sử dụng nguồn tàichính từ bên ngoài thì lý do thuế và tài chính cũng đã giữ một vai trò quan trọngtrong sự gia tăng bột phát các công ty bảo hiểm nội bộ - khoản phí bảo hiểm chuyểncho công ty bảo hiểm nội bộ được khấu trừ trong cơ sơ tính thuế đối với tập đoàn,công ty mẹ Hơn nữa, thu nhập đầu tư từ nguồn vốn đó có thể được miễn thuế đốivới một số công ty bảo hiểm nội bộ có trụ sở ở nước ngoài Đó thường là những nơi
có các chính sách có lợi cho hoạt động của công ty bảo hiểm nội bộ Chính vì thế
mà hàng nghìn công ty bảo hiểm nội bộ của nhiều nước trên thế giới được đặt tại thịtrường Bermuđa, sau đó là các địa điểm khác như Cayman, Luxembourg…
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là loại tổ chức bảo hiểm do một số thành
viên cùng nhau thành lập để bảo hiểm cho chính họ So với các loại hình doanhnghiệp bảo hiểm thông thường, tổ chức bảo hiểm tương hỗ có nhiều điểm khácbiệt Mục đích của các tổ chức bảo hiểm tương hỗ là cung cấp sản phẩm bảo hiểmvới giá thấp cho các thành viên, chứ không phải là thực hiện lợi nhuận Mỗi thànhviên của tổ chức có tư cách vừa là người bảo hiểm, lại vừa là người được bảo hiểm.Mỗi thành viên ngoài nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, trong trường hợp tổ chức mấtkhả năng thanh toán, người được bảo hiểm với tư cách thành viên phải chịu tráchnhiệm đối với các khoản nợ của tổ chức Ngoài quyền theo hợp đồng bảo hiểm (ví
Trang 22dụ: yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm), thành viên của tổ chức bảo hiểm tương
hỗ còn có những quyền đặc biệt khác mà người được bảo hiểm của các loại hìnhdoanh nghiệp bảo hiểm khác không có, đó là quyền quyền sở hữu tổ chức, quyềnkiểm soát, quyền tham dự, quyền đối với tài sản của tổ chức trong trường hợp tổchức bị giải thể
Các tổ chức trung gian bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm là các cá nhân hay tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợicho khách hàng (bên mua bảo hiểm) Một môi giới bảo hiểm không có trách nhiệmđối với công ty bảo hiểm mà nhà môi giới bảo hiểm đã thay mặt khách hàng củamình liên hệ để thu xếp mua bảo hiểm
Ở các thị trường bảo hiểm phát triển, có một ngoại lệ đối với nguyên tắcchung nêu trên (nhà môi giới bảo hiểm hoạt động thay mặt khách hàng, chứ khôngthay mặt công ty bảo hiểm) là trường hợp nhà môi giới hoạt động theo thỏa thuận
về giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời mà công ty bảo hiểm đó cho phép môi giới.Các nhà môi giới bảo hiểm có thể đạt được một thẩm quyền chứng nhận bảo hiểmtạm thời với một công ty bảo hiểm nào đó mà theo đó nhà môi giới được công tybảo hiểm trao quyền ký nhận hợp đồng bảo hiểm thay mặt công ty bảo hiểm
Các dịch vụ môi giới có thể cung cấp cho khách hàng rất đa dạng như: thuxếp hợp đồng bảo hiểm; tư vấn thường xuyên cho khách hàng; quản lý khiếu nại bồithường, trả tiền bảo hiểm; tư vấn quản lý rủi ro; tư vấn kiểm soát tổn thất; tư vấn hỗtrợ kỹ thuật (phạm vi bảo hiểm/luật pháp ); tư vấn thiết kế chương trình bảo hiểmcho khách hàng;
Có thể chia hoạt động môi giới bảo hiểm thành hai loại là môi giới bảo hiểmgốc và môi giới tái bảo hiểm Môi giới bảo hiểm gốc là hoạt động mà người môigiới đứng ra đàm phán, thu xếp các vấn đề về bảo hiểm giữa các tổ chức, cá nhânmua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm gốc Môi giới tái bảo hiểm là hoạt độngcủa người môi giới đứng ra đàm phán, thu xếp các vấn đề về nhượng và nhận táibảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 23Nhìn chung, luật pháp các nước đều có những quy định pháp luật để điềuchỉnh hoạt động của môi giới như các quy định về: cấp giấy phép hoạt động; quyền
và nghĩa vụ của môi giới bảo hiểm
Để bảo vệ khách hàng bảo hiểm trong trường hợp có những thiệt hại do lỗicủa người môi giới gây ra, luật pháp ở nhiều quốc gia đã có các quy định như: các
cá nhân hành nghề môi giới phải có chứng chỉ hành nghề thích hợp; môi giới bảohiểm bắt buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; nghiêm cấm môi giớibảo hiểm thực hiện những hành vi như; khuyến mại khách hàng dưới hình thức hứahẹn cung cấp các quyền lợi bất hợp pháp để xúi giục khách hàng giao kết hợp đồngbảo hiểm, xúi giục bên mua bảo hiểm hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm hiện có để muahợp đồng bảo hiểm mới ,
Đại lý bảo hiểm
Thông thường, đại lý bảo hiểm là đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm, làmviệc cho doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi ủy quyền trong hợp đồng đại lý
Đại lý bảo hiểm thông thường là cá nhân nhưng cũng có thể là tổ chức - một
tổ chức độc lập như một ngân hàng, văn phòng luật sư, một tổ chức ngành nghề, thực hiện các giao dịch về bảo hiểm như là một dịch vụ bổ sung cho khách hàng của
họ hoặc một đơn vị hoạt động đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp Dù đại lý là tổ chứchay cá nhân thì hoạt động đại lý trực tiếp cũng thuộc về những cá nhân
Ở các thị trường bảo hiểm phát triển, luật pháp chấp nhận nhiều loại đại lýkhác nhau như: đại lý độc quyền - những đại lý làm việc cho một công ty bảo hiểmduy nhất; đại lý với quyền lựa chọn ưu tiên - đại lý độc quyền nhưng có thể đượcbán một số sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm khác; đại lý phi độc quyền -những đại lý có thể bán sản phẩm bảo hiểm cho nhiều công ty khác nhau; đại lý con
- đại lý làm việc bán thời gian với những đại lý chính của công ty bảo hiểm và đôikhi họ cũng làm việc như những người giới thiệu các khách hàng tiềm năng; đại lýxét nhận bảo hiểm
Nội dung hoạt động của đại lý bao gồm giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thuxếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, thu xếp giải quyết bồi
Trang 24thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và thực hiện các hoạt độngkhác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Trong quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm quyền vànghĩa vụ của đại lý bảo hiểm được xác định theo hợp đồng đại lý và quy định chungcủa pháp luật Đại lý đại diện cho công ty bảo hiểm và công ty bảo hiểm phải chịutrách nhiệm pháp lý đối với những hoạt động của các đại lý Quyền chủ yếu của đại
lý bảo hiểm được tham dự các lớp đào tạo, được cung cấp thông tin cần thiết và cácđiều kiện khác để hoạt động, hưởng hoa hồng và các lợi ích hợp pháp khác, Cácnghĩa vụ như: ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thỏathuận, thực hiện các cam kết trong hợp đồng đại lý
Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm luôn có các quy định quản lý, giám sáthoạt động đại lý như quy định: các điều kiện áp dụng đối với cá nhân hoạt động đại
lý bảo hiểm; nghiêm cấm đại lý bảo hiểm thông tin quảng cáo sai sự thật, tranhgiành khách hàng, khuyến mại bất hợp pháp, ; quy định trách nhiệm bồi hoàn chodoanh nghiệp bảo hiểm các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thườngcho người được bảo hiểm trong trường hợp đại lý gây thiệt hại đến quyền, lợi íchhợp pháp của người được bảo hiểm
Mạng lưới trung gian bảo hiểm – môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm là bộphận không thể thiếu trong cấu trúc của thị trường bảo hiểm Giám sát bảo hiểm đốivới hoạt động của môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm cũng rất cần thiết và phức tạp
vì nhiều rủi ro đặc thù và sự tác động đến sự ổn định kinh doanh của doanh nghiệpbảo hiểm liên quan cũng như toàn thị trường bảo hiểm
Bên cạnh những loại chủ thể cơ bản nói trên, tham gia trên thị trường bảohiểm còn có những tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh bảo hiểmnhư các tổ chức giám định tổn thất hoặc trên các thị trường bảo hiểm phát triển có
cả các quỹ đầu tư, ngân hàng, loại định chế tài chính chuyên dụng SPV (tiếng Anh:special purpose vehicle) tham gia vào quá trình giao dịch các sản phẩm tàichính/bảo hiểm phức tạp như: trái phiếu thiên tai, vốn cam kết, hoán chuyển rủi rotín dụng
2.4 Phân loại các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 25Có rất nhiều tiêu thức để phân loại các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, dovậy, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà có những cách phân loại khác nhau.Sau đây tác giả xin giới thiệu một số cách phân loại phổ biến hiện nay.
Căn cứ theo hình thức tham gia bảo hiểm
Căn cứ theo tiêu chí này thì bảo hiểm phi nhân thọ có hai loại hình là: bảohiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện Phần lớn các sản phẩm bảo hiểm phi nhânthọ là bảo hiểm tự nguyện, các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc đa phần là các sảnphẩm bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm Bảo hiểm tự nguyện là loại hình bảohiểm tùy thuộc vào nhận thức và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp mà họ quyếtđịnh có nên mua hay không Các DNBH đáp ứng được nhu cầu mua bảo hiểm haykhông cũng tùy thuộc vào khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của doanhnghiệp đó Trong khi đó, bảo hiểm bắt buộc bao gồm các sản phẩm bảo hiểm màpháp luật qui định các tổ chức cá nhân phải tham gia bảo hiểm và tất cả các DNBHhoạt động tại thị trường Việt Nam không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc khingười dân hoặc tổ chức yêu cầu DNBH cung cấp dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam cómột số loại bảo hiểm bắt buộc như: Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba và hành khách trên xe, Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạtđộng tư vấn pháp luật, bác sĩ, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm, chứng khoán, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm TNDS chủtàu…
Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm
Nếu căn cứ theo đối tượng được bảo hiểm thì sản bảo hiểm phi nhân thọđược chia thành:
- Bảo hiểm tài sản:
Là sản phẩm bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là các loại tài sản Hiện nay, ởViệt nam có rất nhiều các sản phẩm bảo hiểm tài sản, xin liệt kê dưới đây một sốsản phẩm bảo hiểm phổ biển ở Việt Nam:
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu; BH hàng hóa vận chuyển nội địa
BH thân tàu (tàu biển, tàu hoạt động nội thủy)
Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới
Trang 26 Bảo hiểm thân máy bay
Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng; Bảo hiểm lắp đặt
Bảo hiểm tài sản trong vận chuyển dầu, thăm dò khai thác dầu khí
Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng vật nuôi)
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản
Một số nghiệp vụ khác: bảo hiểm tiền trong két, nhà tư nhân,trộm cắp, tíndụng …
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự sản phẩm bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm làtrách nhiệm pháp lý, trách nhiệm dân sự, nó phát sinh do Người được bảo hiểm vôtình vi phạm nghĩa vụ dân sự Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự có hai loại: Trách
nhiệm dân sự theo hợp đồng và Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Dưới đây là
một số sản phẩm bảo hiểm Trách nhiệm dân sự phổ biến ở Việt Nam:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 vàhành khách trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hóa vận chuyểntrên xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ hãng hàng không
Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thầu đối với người thứ ba trong xâylắp
Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm trách nhiệm dân sự: đối tượng bảo hiểmtrong Bảo hiểm trách nhiệm dân sự mang tính trìu tượng, khi thiết lập hợp đồng thìđối tượng bảo hiểm chưa xuất hiện Nó chỉ biểu hiện cụ thể khi có sự cố xảy ra làmphát sinh nghĩa vụ bồi thường
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ:
Trang 27Đây là các sản phẩm bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến sức khỏe của conngười như ốm đau, bệnh tạt, tai nạn Nhóm sản phẩm này lại được chi tiết thành bảohiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật; bảo hiểm học sinh, bảo hiểm khách du lịch, bảohiểm tai nạn con người…
Đặc trưng của BH con người PNT: đối tượng của bảo hiểm con người phinhân thọ là tính mạng, sức khỏe của người tham gia bảo hiểm Số tiền bảo hiểmđược ấn định trước trên hợp đồng bảo hiểm Khi có sự kiện bảo hiểm, các khoảntiền bảo hiểm được thanh toán mang tính chất khoán chứ không phải là bồi thườngthiệt hại
Ngoài ra, còn rất nhiều cách phân loại các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọkhác như: phân loại sản phẩm bảo hiểm theo kênh phân phối, theo nhóm kháchhàng, theo kết cấu sản phẩm Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ không
đi sâu vào các hình thức phân loại này Việc phân loại như trên sẽ thuận lợi hơn chocông tác nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bảo hiểm khác nhau Mặt khác, nógiúp các DNBH quản lý tốt nghiệp vụ và tiến hành tổ chức kinh doanh khoa học và
có hiệu quả cao hơn, giúp các cơ quan quản lý nhà nước quản lý thị trường rễ dàng
và hiệu quả hơn
2.5 Nội dung của quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Theo điều 120, chương VII, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Quốchội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định rất rõ
“Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
1 Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
2 Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; giấy phép đặt văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
3 Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm;
Trang 284 Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;
5 Tổ chức thông tin và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm;
6 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
7 Chấp thuận việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài;
8 Quản lý hoạt động của văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
9 Tổ chức việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm;
10 Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”.
2.6 Vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Nhà nước bao quát toàn bộ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đóng vai quantrọng, quyết định sự phát triển của TTBH Thông qua các công cụ quản lý vĩ mô(luật pháp, cơ chế hoạt động) nhà nước quản lý và kiểm soát TTBH để đảm bảo thịtrường bảo hiểm phát triển đúng định hướng mà nhà nước đã đề ra
*) Nhà nước tạo lập môi trường pháp lý:
Nhà nước ban hành hệ thống chính sách pháp luật, cơ chế hoạt động về hoạtđộng KDBH Xây dựng chiến lược và qui hoạch phát triển TTBH Thanh tra, kiểmtra việc chấp hành pháp luật của các DNBH, Công ty môi giới bảo hiểm Áp dụngcác biện pháp cần thiết để DNBH đảm bảo các yêu cầu về tài chính và thực hiện cáccam kết với người được bảo hiểm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh góp phầnthúc đẩy TTBH phát triển
*) Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế xã hội:
Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sựphát triển của TTBH bởi kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu về bảo hiểm càngtăng
Trang 29Nhà nước có vai trò tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin và dự báotình hình TTBH trong và ngoài nước giúp các DNBH chủ động trong hoạt độngkinh doanh
Nhà nước tạo điều kiện và cơ chế để các DNBH nâng cao năng lực về mọimặt (tài chính, năng lực kinh doanh, công nghệ, trình độ cán bộ…)
Nhà nước tổ chức nghiên cứu khoa học, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ bảohiểm
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống và nhận thứccủa người dân về bảo hiểm, đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để pháttriển TTBH
*) Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế quốc tế cho hoạt động KDBH
Nhà nước ban hành chính sách đầu tư nước ngoài về lĩnh vực bảo hiểm.Tham gia ký kết các điều ước quốc tế, tham gia các tổ chức quốc tế về bảo hiểm,đồng thời quản lý hoạt động của các tổ chức bảo hiểm ở nước ngoài, nhằm tạo điềukiện cho việc giao lưu, hợp tác, chuyển giao công nghệ về bảo hiểm, thúc đẩyTTBH phát triển có hiệu quả trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
*) Nhà nước đóng vai trò là người định hướng thị trường bảo hiểm
Nhà nước căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình đề ra chiến lược pháttriển thị trường nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Từ các chiến lược đãvạch ra nhà nước sẽ có những chính sách, cơ chế phù hợp để hướng thị trường bảohiểm phát triển theo định hướng mà nhà nước đặt ra
2.7 Mục tiêu của nhà nước đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn
2003-2010
Ngày 29/8/2003 Thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải đã ký Quyết định số175/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểmViệt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” Theo quyết định này Chính phủ đã quy địnhrất rõ mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm và các chỉ tiêu chủ yếu mà thị trườngbảo hiểm phấn đấu đạt được trong giai đoạn 2003-2010, cụ thể:
- Về mục tiêu: Quyết định nêu rõ: “Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế
Trang 30và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.”
- Về chỉ tiêu cụ thể: Quyết định nêu rõ:
“a) Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong
đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010 Đến năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm 2002
b) Tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010 Nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2003 - 2010 tăng bình quân 20%/năm.”
2.8 Xu hướng phát triển thị trường bảo hiểm của một số quốc gia trên thế
giới
Nhìn chung, các nước đều thành lập cơ quan quản lý nhà nước về hoạt độngKDBH Hầu hết các cơ quan này đều nằm trong Bộ Tài Chính (người đứng đầu doThủ tướng (hoặcTổng thống) bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài Chính).Nhưng các cơ quan này hoạt động độc lập, không chịu sự quản lý trực tiếp của BộTài Chính Ở một số nước Châu Á (Singapore, Philippine…) cơ quan quản lý nhànước về hoạt động KDBH có tên là Ủy ban giám sát bảo hiểm (InsuranceCommisoner) Các nước như Anh, Nhật Bản, cơ quan này trực thuộc vụ quản lýngành (thường thì trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng)
Ở Việt Nam hiện nay Bộ Tài Chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động KDBH (Ngày 15/05/1992, Bộ Tài
Chính đã ra quyết định số 233/TC/QĐ/TCCB, thành lập phòng quản lý BH, trực thuộc Vụ tài chính các Ngân hàng và Tổ chức tài chính Đến 20/8/2003, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 134/2003/QĐ-BTC, thành lập Vụ Bảo hiểm, Nghị định số
Trang 31118/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính đó nêu rõ chức năng Quản lý nhà nước về bảo hiểm và để thực hiện chức năng trên, Vụ Bảo hiểm được chuyển thành thành Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm…)
Xu thế hiện nay là tự do hoá thương mại dịch vụ trong đó có dịch vụ bảohiểm Tuy nhiên, quá trình này được tiến hành theo các bước đi và mức độ khácnhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Dưới đây làkinh nghiệm và xu hướng phát triển TTBH PNT ở một số nước trong khu vực
2.8.1 Thị trường bảo hiểm Châu Á – Thái Bình Dương
Tiến trình tự do hoá và hội nhập sẽ ảnh hưởng tích cực tới TTBH PNT khuvực Châu Á–Thái Bình Dương, một phần là do có sự chuyển giao các nguồn tàichính Các kỹ năng và bí quyết công nghệ cuả các công ty đa quốc gia Các sảnphẩm bảo hiểm phức tạp hơn sẽ xuất hiện, thúc đẩy nhanh sự phát triển của TTBH
Xu thế chung của TTBH Châu Á – Thái Bình Dương là giảm dần các sốlượng DNBH PNT có 100% vốn của Nhà nước (như ở Singappore, Thái Lan, TrungQuốc đã cổ phần hóa công ty bảo hiểm Nhân dân Trung Quốc vào 2003)
Để tăng cường năng lực tài chính: các DNBH PNT có thể phát hành cổ phiếuniêm yết trên thị trường chứng khoán, hoặc các doanh nghiệp ở những thị trườngkém phát triển có thể liên kết, sát nhập để đối phó với áp lực cạnh tranh trong điềukiện hội nhập, tự do hóa (ở Hồng Kông có 110 công ty bảo hiểm PNT, song chỉ 10công ty hàng đầu đã chiếm thị phần 37%-40% vào năm 2003, ở Thái Lan có 70Công ty bảo hiểm PNT, nhưng chỉ 10 công ty hàng đầu đã chiếm trên 50% thị phần,các công ty còn lại chỉ chiếm trung bình mỗi công ty 2% thị phần) Vì vậy, dưới áplực cạnh tranh khốc liệt, nếu không muốn dời bỏ thị trường thì các công ty nhỏ tấtyếu phải liên kết, sát nhập lại với nhau để tồn tại
Về kinh nghiệm trong cơ chế quản lý vốn: Thay vì cơ chế quản lý vốn dựatrên khả năng thanh toán, một số nước như Úc, Nhật Bản, Singappore, Đài Loan đã
và đang chuyển sang cơ chế quản lý vốn dựa trên phân tích rủi ro, nhằm xã định tốtyêu cầu tối thiểu về vốn sao cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh và cơ cấu rủi rocủa DN đó, tạo ra thế chủ động và từ đó sẽ hoạt động có hiệu quả hơn
Trang 322.8.2 Thị trường bảo hiểm Trung Quốc
Trong suốt 50 năm kể từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập (1949),trên TTBH Trung Quốc chỉ có duy nhất công ty bảo hiểm PNT - Công ty bảo hiểmnhân dân Trung Quốc (PICC) Từ năm 1992, Trung Quốc đã từng bước thực hiệnchính sách mở cửa trong lĩnh vực bảo hiểm PNT như là một phần của toàn bộ chiếnlược hội nhập kinh tế của nước này sau khi gia nhập "Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại" (GATT) Kế hoạch phát triển và mở cửa TTBH PNT Trung Quốcđược tiến hành dựa trên các nguyên tắc sau:
Một là, ưu tiên cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm PNT nội địa Việccấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm PNT nước ngoài được tiến hành "từngbước"
Hai là, khuyến khích thành lập công ty bảo hiểm PNT dưới hình thức công ty
cổ phần để phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng huy động vốn
Ba là, phát triển ngành bảo hiểm phi nhân thọ một cách tích cực và vữngchắc
Để đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động KDBH trong điềukiện có sự tham gia của các công ty bảo hiểm nước ngoài, Chính phủ đã đặt ranhững hạn chế khi cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm nước ngoài Cụ thể là:
+ Hạn chế về lãnh thổ: Nhà nước Trung Quốc qui định các DNBH có vốnđầu tư nước ngoài chỉ được phép hoạt động trong phạm vi lãnh thổ hạn chế tạiThượng Hải và Quảng Châu
+ Điều kiện cấp giấy phép: Để được cấp giấy phép KDBH tại Trung Quốc,công ty BH nước ngoài phải tham gia hoạt động KDBH trên 30 năm tính đến ngàyxin cấp giấy phép, có tổng tài sản trên 5 tỷ USD vào năm trước của năm xin cấpgiấy phép và đã mở cửa văn phòng đại diện ở Trung Quốc trên 3 năm
Căn cứ theo các nguyên tắc nêu trên, cho đến nay, TTBH Trung Quốc đã cónhững bước phát triển vững chắc.Trên toàn quốc đã có nhiều thành phần kinh tếhoạt độnh KDBH PNT (doanh nghiệp Nhà nước,công ty cổ phần, công ty liêndoanh và công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài) Bên cạnh đó còn có sự góp mặtcủa hơn 80 văn phòng đại diện công ty bảo hiểm nước ngoài
Trang 332.8.3 Thị trường bảo hiểm Thái Lan
Kế hoạch tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ tài chính trong đó có ngành bảohiểm PNT và được chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tăng số lượng các công ty bảo hiểm PNT trong nước.
- Giai đoạn 2: Cho nước ngoài nắm giữ từ 25 - 49% cổ phần trong một công
ty bảo hiểm trong nước, theo các điều kiện và tiêu chuẩn do Bộ Thương Mại - cơquan quản lý Nhà nước về hoạt động KDBH tại nước này quy định
- Giai đoạn 3: Cho phép các công ty nước ngoài mở chi nhánh ở Thái Lan.
Đến năm 1999, về cơ bản giai đoạn 1 và giai đoạn 2 đã hoàn thành, giai đoạn
3 đã được triển khai bước đầu Tuy nhiên, việc tự do hoá không đồng nghĩa với việcgiảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, điều quan trọng là phải luôn giữ cân bằng giữahai vấn đề tự do hoá và yêu cầu bảo hộ
Sau một thời gian thực hiện kế hoạch tự do hoá, ngành bảo hiểm Thái Lan đãđạt được kết quả: Sau giai đoạn 1 và 2 doanh thu phí bảo hiểm tăng 208,1% từ 1,97
tỷ USD lên 4,1 tỷ USD, trong khi GDP chỉ tăng 49% trong giai đoạn này Bồithường BH phi nhân thọ cũng tăng 308% từ 400 triệu USD lên 1.232 triệu USDtrong cùng thời kỳ Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành bảo hiểm trong thời kỳnày là 14% - 16%/năm Về phần mình, các công ty bảo hiểm nước ngoài đã chuyểngiao kiến thức, công nghệ, kinh nghiệm và sản phẩm mới đặc biệt là vấn đề đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực cho TTBH nội địa
2.8.4 Thị trường bảo hiểm Philipine
Chính sách tự do hoá nền kinh tế của Chính phủ Philipine đã cho phép ngành
BH PNT mở cửa sau 26 năm ngừng cấp giấy phép hoạt động KDBH Từ năm 1990,tổng thống Corazon Aquino đã xoá bỏ lệnh cấm cấp giấy hoạt động cho các công tybảo hiểm nội địa mới và sau đó, tháng 10 năm 1994, TTBH nội địa đã được mở cửacho các công ty bảo hiểm nước ngoài Chính sách mở cửa TTBH đã được tiến hànhtừng bước, với nội dung như sau:
Hình thức doanh nghiệp: cho phép KDBH PNT dưới một trong ba hình thứcpháp lý: Công ty bảo hiểm liên doanh, công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài và
Trang 34chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài (riêng hình thức chi nhánh không áp dụngđối với hoạt động trung gian bảo hiểm).
Cơ sở lựa chọn; công ty được cấp giấy phép phải là công ty thuộc khu vựcđịa lý phù hợp, có đăng ký thành lập tại nước có quan hệ thương mại và đầu tư vớiPhilipine, có năng lực tài chính lớn, có uy tín và vững vàng trong hoạt động cạnhtranh, đảm bảo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và
kỹ thuật bảo hiểm với thị trường trong nước
Tiêu chuẩn xem xét công ty: công ty được xét cấp giấy phép phải là mộttrong số 200 công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm hàng đầu thế giớihoặc một trong số 10 công ty đứng đầu tại nước nguyên xứ và đã có thời gian hoạtđộng ít nhất 10 năm tính đến ngày xin cấp giấy phép, đối với hình thức chi nhánhhay công ty 100% vốn nước ngoài, công ty xin cấp phép phải có số lượng cổ đônglớn (mỗi cổ đông không được phép sở hữu quá 20% số cổ phiếu) hoặc cổ phần củacông ty phải được niêm yết công khai trên thị trường chứng khoán (trừ các công ty
do Chính phủ nắm giữa phần lớn vốn)
Tiến độ và số lượng công ty được cấp giấy phép: Trong hai năm đầu mở cửa,mỗi năm Philipine dự kiến cấp giấy phép cho 5 công ty dưới hình thức chi nhánh vàcông ty liên doanh với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài lớn hơn 40% Sau hai năm,
số lượng các công ty này có thể lên 10 công ty mỗi năm
Sau một thời gian thực hiện kế hoạch tự do hoá, trong lĩnh vực bảo hiểm phinhân thọ đã thu được kết quả như sau: Phí bảo hiểm phi nhân thọ năm 1994 so vớinăm 1993 tăng 145% (từ 213 triệu USD lên 309 triệu USD) trong đó 86 công ty bảohiểm Nhà nước chiếm 88%, 5 công ty không thuộc Nhà nước chiếm 6% và 10 công
ty nước ngoài chiếm 6% thị phần 1994 Đến 2004 doanh thu phí bảo hiểm phi nhânthọ đã đạt gần 1tỷ USD
2.8.5 Thị trường bảo hiểm Đài Loan
Trước 1987, toàn bộ TTBH phi nhân thọ Đài Loan nằm dưới sự độc quyềncủa một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ Nhà nước Từ năm 1987, trước sức épcủa Mỹ, một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ Mỹ được phép mở chi nhánh Từnăm 1994, Đài Loan đã xoá bỏ hạn chế trong việc cho phép các công ty bảo hiểm
Trang 35phi nhân thọ nước ngoài KDBH tại lãnh thổ này dưới hình thức chi nhánh và công
ty 100% vốn nước ngoài Do đó đã thúc đẩy quá trình tự do hoá TTBH PNT ĐàiLoan
Tính đến năm 2001, số lượng công ty bảo hiểm nước ngoài là 21 công ty,chiếm gần 40% tổng số công ty hoạt động (21/53 công ty) Doanh thu phí bảo hiểmphi nhân thọ tăng 181,8 % trong giai đoạn 1991 - 1995 từ 1,54 tỷ đô la Mỹ lên 2,8
tỷ đô la Mỹ
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIÊM VIỆT NAM DƯỚI GÓC
ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Lập kế hoạch nghiên cứu là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việcnghiên cứu bất cứ vấn đề hay lĩnh vực nào Việc đưa ra được một kế hoạch nghiêncứu rõ ràng, hợp lý bao gồm các công việc cần làm, thời gian dự kiến và phươngpháp thực hiện các công việc đó giúp quá trình nghiên cứu được định hình một cáchtổng quan Từ đó, mọi công việc sẽ được tiến hành khoa học, đúng mục đích, tiếtkiện thời gian, chi phí và đạt được hiệu quả cao nhất
Để thực hiện đề tài tác giả đã lập ra kế hoạch nghiên cứu chi tiết gồm nămbước chính như sau:
Bước 1: Xác định tài liệu nghiên cứu
Liệt kê được tất cả các tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài là nhiệm
vụ chính của bước này Trong đề tài của mình, tác giả xác định các tài liệu cần thiếtbao gồm:
- Sách, giáo trình, tài liệu học tập trước đây của tác giả phục vụ việc nghiên
cứu và nghiên cứu lại các vấn đề cơ bản về Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phinhân thọ nói riêng, Quản lý bảo hiểm;
- Hệ thống văn bản pháp luật về Bảo hiểm như: Luật kinh doanh bảo hiểm,
Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, các Thông tư hướng dẫn thi hành;
- Cam kết gia nhập WTO: về lộ trình cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm
Việt Nam
- Các văn bản pháp luật khác: Luật Doanh nghiệp, Luật đấu thầu, Luật dân
sự, kinh tế, thương mại…;
- Các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả;
- Các tài liệu về Bảo hiểm và công tác Quản lý giám sát thị trường Bảo
hiểm;
Trang 37- Hệ thống các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, bản cáo bạch của
các Công ty Bảo hiểm, Công ty Tái bảo hiểm; Hiệp hội bảo hiểm; Bộ tài chính…
- Các bài viết, phân tích của báo chí nước ngoài, các Công ty Tái bảo hiểm
nước ngoài và các tổ chức tín dụng nước ngoài;
- Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bước 2: Phân nhóm tài liệu và định hướng nguồn tìm tài liệu
Để quá trình thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu được tiến hành nhanhchóng, hiệu quả, các tài liệu cần được phân loại thành từng nhóm theo các tiêu chíkhác nhau Hệ thống tài liệu mà tác giả sử dụng để nghiên cứu đề tài này được phânnhóm vào định hướng nguồn tìm kiếm như sau:
- Nhóm 1: Tài liệu sơ cấp là những thông tin, tài liệu không có sẵn, đòi hỏi
người nghiên cứu phải tự thu thập, thống kê
- Nhóm 2: Tài liệu thứ cấp
Nhóm sách, giáo trình: tìm kiếm tại các hiệu sách và thư viện;
Nhóm văn bản pháp luật: tra cứu tại các trang web, tại thư việnTrường Đại học Thương Mại, Đại học Kinh tế Quốc Dân, Cục giám sát bảo hiểm,Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, Ban Quản lý rủi ro – Tổng Công ty Bảo hiểmBIDV…;
Nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan: tìm kiếm tại các trangweb và thư viện ;
Nhóm hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp: tra cứu trên cácphương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, các trang web
Bước 3: Tiến hành thu thập tài liệu
Các phương pháp tiến hành thu thập tài liệu được nêu chi tiết ở phần 3.1.1
Bước 4: Phân tích dữ liệu.
Các phương pháp phân tích dữ liệu được nêu chi tiết ở phần 3.1.2
Bước 5: Đánh giá, kết luận
Ở bước này, tác giả căn cứ vào cơ sở lý luận và các dữ liệu sơ cấp, thứ cấp
đã được thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh để đưa ra những kết luận, đánh giá,
Trang 38đồng thời căn cứ vào đó đề xuất có thể đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiệncông tác quản lý của nhà nước về thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
a) Dữ liệu sơ cấp
Để thu thập các dữ liệu sơ cấp, tác giả sử dụng hai công cụ là: phiếu điều tra
và phỏng vấn trực tiếp Đây là hai công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong cácnghiên cứu kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả thu thập dữ liệu của các công trình nghiêncứu là rất khác nhau Người nghiên cứu chỉ có thể đạt được kết quả mong muốn vớiphương pháp này khi làm tốt các bước sau:
- Xác định căn cứ chọn mẫu: Dù là sử dụng phiếu điều tra hay phỏng vấn
trực tiếp, người nghiên cứu cũng cần xác định căn cứ chọn mẫu sao cho phù hợp vớinội dung, phạm vi của chủ đề nghiên cứu Với đề tài này, căn cứ chọn mẫu mà tácgiả đưa ra là các doanh nghiệp Bảo hiểm có uy tín trên thị trường, Cục Quản lýgiám sát bảo hiểm là cơ quan giám sát và tư vấn chỉnh phủ đưa ra các chính sáchquản lý thị trường; Hiệp hội bảo hiểm, Công ty Môi giới bảo hiểm, Công ty Tái bảohiểm, người tiêu dùng Các CTBH mà tác giả điều tra là: Tổng Công ty Bảo hiểmBảo Việt – Công ty Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam, Tổng Công ty CP Bảo hiểm
TP Hồ Chí Minh, Tổng Công ty CP Bảo hiểm PVI, Công ty Bảo hiểm PJICO lànhóm Công ty Bảo hiểm lớn, có thời gian hoạt động lâu nhất; Tổng Công ty Bảohiểm BIDV, Tổng Công ty CP Bảo hiểm Bưu điện, Công ty Bảo hiểm Hàng không– đại diện cho nhóm Công ty bảo hiểm có tốc độ phát triển nhanh nhất và một sốCông ty bảo hiểm khác
- Xác định đối tượng người điều tra: Tác giả xác định đối tượng người điều
tra để thu thập thông tin cần thiết cho đề tài của mình là lãnh đạo các CTBH, lãnh đạocác phòng ban trong CTBH; Lãnh đạo các phòng ban của Cục giám sát bảo hiểm;Hiệp hội bảo hiểm; Lãnh đạo các Công ty Môi giới bảo hiểm; lãnh đạo các Công tyTái bảo hiểm
- Xác định quy mô điều tra: Trong phạm vi thời gian dành cho công tác thu
thập thông tin sơ cấp phục vụ việc nghiên cứu đề tài, tác giả chỉ xác định điều travới quy mô nhỏ, trong phạm vi sáu CTBH trên địa bàn Hà Nội, Cục giám sát bảo
Trang 39hiểm; Hiệp hội bảo hiểm Số lượng phiếu điều tra phát ra: 25 phiếu, số lượng ngườiphỏng vấn trực tiếp: 50 người Phụ lục 2 và Phụ lục 3 (đính kèm cuối luận văn) làdanh sách người nhận phiều điều tra và danh sách người phỏng vấn trực tiếp.
- Thiết kế mẫu phiếu điều tra và bảng câu hỏi phỏng vấn:
Việc thu thập dữ liệu sơ cấp có đạt được hiệu quả như mong đợi hay khôngphụ thuộc rất nhiều vào bước thiết kế mẫu phiếu điều tra và bảng câu hỏi phỏngvấn Nhận thức được vấn đề đó, căn cứ vào mục đích nghiên cứu và các nội dung cơbản của đề tài, tác giả đã thiết kế một mẫu phiếu điều tra (Phụ lục số 01) Kết quảthu được là những thông tin rất hữu ích cho việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá cácchính sách quản lý hiện nay Từ đó, những kết quả này cũng giúp tác giả đưa ra một
số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý để phát triển thị trườngbảo hiểm Việt Nam
- Tiến hành điều tra: Đây là bước quan trọng nhất của quá trình
thu thập dữ liệu sơ cấp Trong quá trình thực hiện điều tra, tác giả đặc biệt chú trọngphương pháp quan sát Có thể nói đây là phương pháp không thể thiếu trong cáccuộc phỏng vấn hay khảo sát thực tế và mang lại hiệu quả lớn cho việc nghiên cứu
b) Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là những thông tin được thu thập, nghiên cứu, phân tích từLuật kinh doanh bảo hiểm, các nghị định, thông tư của Chính phủ, Bộ tài chính, cáckhuyến cáo của cục giám sát bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm, Cam kết gia nhập WTO,báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, sách báo, ấn phẩm, các trang web có liênquan đến vấn đề nghiên cứu Công việc thu thập dữ liệu thứ cấp cũng mất không ítthời gian, đòi hỏi người nghiên cứu phải có kỹ năng tìm kiếm, chắt lọc thông tin, tậptrung vào các đầu mối thông tin có giá trị Hiện nay, khi công nghệ thông tin ngàycàng phát triển, internet càng chứng tỏ vai trò to lớn trong đời sống con người, nhất
là công cụ tìm kiếm đối với người nghiên cứu Vì thế, tác giả luôn cố gắng vận dụngtối đa các thông tin thu thập từ các trang web có uy tín của Bộ Tài chính, Hiệp hộibảo hiểm Việt Nam, Công thông tin bảo hiểm Việt Nam, Trung tâm Dữ liệu-thôngtin chuyên ngành bảo hiểm của Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, các trangweb của các Công ty bảo hiểm…
Trang 403.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Tổng hợp, phân tích, đánh giá là công đoạn tiếp theo sau khi các dữ liệu
sơ cấp và thứ cấp được thu thập Để tiến hành giai đoạn này, tác giả đã sử dụng phốihợp nhiều phương pháp, cụ thể như sau:
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng khi tập
hợp dữ liệu về các văn bản pháp luật, các thông tư hướng dẫn và các chính sách củanhà nước về quản lý thị trường bảo hiểm, các ý kiến đánh giá của Lãnh đạo cácCTBH về chính sách của nhà nước, các công cụ quản lý của nhà nước đối với thịtrường bảo hiểm Việt Nam
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh các
chính sách và biện pháp quản lý của Việt Nam so với mô hình quản lý của các nướctrong khu vực và trên thế giới Ngoài ra, tác giả còn tiến hành so sánh mô hình quản
lý của các Quốc gia có xuất phát điểm hoặc có các đặc điểm tương đồng với thịtrường Bảo hiểm Việt Nam
- Phương pháp mô hình hóa: Việc sử dụng mô hình tổng quan bộ
máy tổ chức của các Công ty bảo hiểm, mô hình hoạt động của Cục giám sát bảohiểm, Hiệp hội bảo hiểm là kết quả của việc sử dụng phương pháp mô hình hóa.Phương pháp này không chỉ giúp người xem quan sát sự vật, hiện tượng một cáchtrực quan, sinh động, dễ hiểu hơn, mà còn có khả năng khái quát hóa – một chứcnăng vô cùng quan trọng mà nhiều phương pháp khác không đạt được
3.2 Đánh giá tổng quan thực trạng phát triển và phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Việt Nam
Cột mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành của thị trường bảo hiểm Việt Nam
đó là việc Công ty Bảo hiểm Việt Nam (sau này là Tổng Công ty Bảo hiểm BảoViệt) chính thức đi vào hoạt động kể từ tháng 1 năm 1965 sau khi Công ty Bảohiểm miền Nam và Tái bảo hiểm miền Nam được sáp nhập với Công ty Bảo hiểmViệt Nam