- Có thể nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH thông qua một số biệnpháp tác động tích cực như đổi mới phương pháp giảng dạy, nhận thức, thái độ, động cơ học tập của sinh viên và trang bị đi
Trang 1GIÁO DỤC THỂ CHẤT TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Giáo viên hướng dẫn (Trung Quốc) : Giáo sư Lương Lợi Dân
Giáo viên hướng dẫn (Việt Nam) : Giáo sư Nguyễn Đại Dương
Tháng 5 năm 2010
Trang 2for Master Degree
Methods of Improving Physical Education
Quality in Banking Institute
Master Candidate: Ruan Qing-nan Chinese Supervisor: Liang Li-min Viet Nam Supervisor: Ruan Dai-yang
May, 2010
Trang 3Học viện Thể dục thể thao Quảng Châu- Trung Quốc
Tôi hoàn toàn hiểu rõ những quy định có liên quan đến việc sử dụng vàlưu giữ luận văn của Học viện như sau:
Các tài liệu kiến thức được nghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình làmluận văn tại Học viện thuộc quyền sở hữu của Học viện Thể dục Thể thaoQuảng Châu Trong phạm vi quy định của pháp quyền, Học viện Thể dục Thểthao Quảng Châu có quyền sử dụng luận đó văn như sau:
1 Các nghiên cứu sinh sau khi nhận được học hàm thạc sỹ bắt buộc phảinộp luận văn theo quy định của Học viện Học viện có thể dùng các biện phápnhư: in màu, in thu nhỏ hoặc các hình thức phô tô khác để lưu trữ luận văn màcác nghiên cứu sinh đã nộp
2 Vì mục đích giảng dạy và nghiên cứu, Học viện có thể công khai trưngbày luận văn của nghiên cứu sinh tại thư viện, phòng tài liệu, v.v hoặc đượcđưa lên trang web của nhà trường để giáo viên và học sinh cùng nghiên cứu,tham khảo
3.Học viện có quyền gửi tặng bản luận văn điện tử hoặc bản luận văngiấy cho các đơn vị chủ quản nhà nước hoặc các cơ quan được nhà nước chỉđịnh, cho phép luận văn bị kiểm tố, kiểm tra và mượn đọc
Tôi đảm bảo tuân thủ các quy định trên
(Tuân thủ quy định này sau khi luận văn được công khai)
Người tuyên thệ ký tên: Giáo viên hướng dẫn ký tên:
Ngày tháng năm: Ngày tháng năm:
Trang 4Học viện Thể dục Thể thao Quảng Châu- Trung Quốc
Tôi long trọng tuyên thệ: Bản luận văn “Phương pháp nâng cao chấtlượng giáo dục thể chất trong Học viện Ngân hàng” là kết quả đạt được bằngcông tác nghiên cứu độc lập dưới sự chỉ dẫn của Giáo viên hướng dẫn Ngoàicác phần nội dung được thêm vào với mục đích chú thích, bản luận văn nàykhông mượn nội dung của tác phẩm hoặc bài diễn văn của bất kỳ một cá nhânhay tập thể nào Các nội dung được mượn của tập thể hay cá nhân khác có ýnghĩa quan trọng đối với bản luận văn này đều đã được chú thích rất rõ và cókèm lời cảm ơn Tôi hoàn toàn ý thức được tính nghiêm trọng của tuyên thệ
và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật với lời tuyên thệ của mình
Người tuyên thệ ký tên: Giáo viên hướng dẫn ký tên:
Ngày tháng năm: Ngày tháng năm:
Trang 5Đầu tiên xin cảm tạ Học viện TDTT Quảng Châu- Trung Quốc, ĐHTDTT Bắc Ninh- Việt Nam đã bồi dưỡng giáo dục tôi Bày tỏ lòng cảm ơnsâu sắc tới thầy chỉ đạo, GS Lương Lợi Dân (Lieng Li Min)
Giáo sư Lieng Li Min có thái độ làm việc nghiêm khắc, tác phong côngviệc nghiêm túc đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn thậtkhông giám phụ công thầy Gần 2 năm qua GS Lương Lợi Dân (Lieng LiMin) đã dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ đạo tôi học tập và nghiên cứu,không chỉ nâng cao điều kiện học tập nghiên cứu mà quan trọng hơn là họcđược nhưng tư duy trong khoa học kiến tôi phải khắc cốt ghi tâm
Với lòng nhiệt tình và đạo đức nghề nghiệp Giáo sư Lương Lợi Dân(Lieng Li Min) đã chỉ đạo dạy bảo tôi trong suốt quá trình học tập, quan tâm
và giúp đỡ tôi trong cuộc sống giúp cho tôi đạt được rất nhiều điều bổ ích.Tác phong nghiên cứu và chỉ đạo của hai thầy tôi sẽ không bao giờ quên.Nhân đây tôi muốn được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sức tới hai thầy
Tôi rất biết ơn các thầy cô ở Học viện TDTT Quảng Châu- Trung Quốc,
ĐH TDTT Bắc Ninh- Việt Nam cùng toàn thể các quý thầy cô, bạn học đãgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi cảm ơn gia đình, bạn bè người thân đã luôn bên cạnh độngviên quan tâm tôi trong thời gian qua
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU 4
1.1 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề 4
1.1.1 Sơ lược nghiờn cứu chất lượng giỏo dục thể chất ở nước ngoài 4
1.1.2 Nghiờn cứu chất lượng giỏo dục thể chất ở trong nước 4
1.2 Một số khỏi niệm liờn quan đến vấn đề nghiờn cứu 9
1.2.1 Khỏi niệm chất lượng 9
1.2.2 Khỏi niệm giỏo dục 11
1.2.3 Khỏi niệm giỏo dục thể chất 12
1.2.4 Chất lượng giỏo dục thể chất 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về đỏnh giỏ chất lượng giỏo dục thể chất trong trường học 15
1.3.1 Quan điểm về đỏnh giỏ chất lượng giỏo dục thể chất 15
1.3.2 Mục đớch của đỏnh giỏ chất lượng giỏo dục thể chất 17
1.3.3 Nguyờn tắc và phương phỏp đỏnh giỏ chất lượng giỏo dục thể chất 18
1.4 Hoạt động giảng dạy giỏo dục thể chất tại Học viện Ngõn hàng 19
1.4.1 Mục tiờu giỏo dục thể chất tại Học viện Ngõn hàng 19
1.4.2 Nội dung chương trỡnh giảng dạy giỏo dục thể chất tại Học viện Ngõn hàng 20
1.4.3 Hỡnh thức tổ chức giảng dạy giỏo dục thể chất tại Học viện Ngõn hàng 21 1.4.4 Đặc điểm hoạt động giảng dạy giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng 24
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nõng cao chất lượng giỏo dục thể chất tại Học viện Ngõn hàng 25
1.5.1 Yếu tố khỏch quan 26
1.5.2 Yếu tố chủ quan 27
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIấN CỨU 30
2.1 Phương phỏp nghiờn cứu 30
2.1.1 Phương phỏp phõn tớch và tổng hợp tài liệu 30
2.1.2 Phương phỏp xin ý kiến chuyờn gia 30
Trang 72.1.5 Phương pháp quan sát (phụ lục 5) 33
2.1.6 Phương pháp kiểm tra sư phạm 33
2.1.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 35
2.1.8 Ph¬ng ph¸p xö lý sè liÖu nghiªn cøu 36
2.2 Tổ chức nghiên cứu 37
Tiểu kết chương 2 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thực trạng chất lượng giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng 38 3.1.1 Về đội ngũ giảng viên giảng dạy GDTC 38
3.1.2 Nội dung chương trình, thời gian, lịch giảng các môn GDTC 40
3.1.3 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên đại học chính quy khóa 8, 9 và 10 42
3.1.4 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, sân bãi, dụng cụ học tập các môn GDTC 42
3.1.5 Nhận thức của sinh viên về việc học tập các môn GDTC 44
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng 51
3.2.1 Yếu tố chủ quan 51
3.2.2 Yếu tố khách quan 54
3.3 Tác động thực nghiệm 56
3.3.1 Cơ sở tiến hành tác động thực nghiệm 56
3.3.2 Thực nghiệm các giải pháp đã lựa chọn 57
3.3.3 Kết quả thực nghiệm các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC 58
3.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng 63
3.4.1 Cải tiến nội dung, chương trình, sắp xếp lịch học giáo dục thể chất 64
3.4.2 Đổi mới khâu chuẩn bị bài giảng Giáo dục thể chất 64
3.4.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy trên cơ sở lấy người học làm trung tâm 64 3.4.4 Tích cực, tự giác trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 65 Tiểu kết chương 3 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Trang 10Bảng 1 Nội dung chương trình các môn học GDTC tại Học viện Ngân hàng 20
Bảng 1 Thực trạng đội ngũ giảng viên GDTC tại Học viện Ngân hàng 38
Bảng.2 Số sinh viên chính quy hệ cao đẳng và đại học học các môn GDTC 39
Bảng 3 Chương trình giảng dạy các môn GDTC tại Học viện Ngân hàng 40
Bảng 4 Đánh giá của giáo viên và sinh viên về nội dung chương trình, thời gian, lịch giảng các môn GDTC 41
Bảng 5 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên các khóa 8, 9 và 10 42
Bảng 6 Thực trạng cơ sở vật chất, kỹ thuật, sân bãi, dụng cụ học tập các môn GDTC 43
Bảng 7 Đánh giá của giáo viên và sinh viên về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, sân bãi, dụng cụ học tập 44
Bảng 8 Đánh giá của sinh viên về sự cần thiết học tập các môn GDTC trong trường học(N = 272) 45
Bảng.9 Đánh giá của sinh viên về thái độ, động cơ học tập các môn GDTC trong trường học(N = 272) 46
Bảng 10 Đánh giá của sinh viên về giờ học TDTT chính khóa 49
Bảng 11 Đánh giá của sinh viên về phương pháp giảng dạy của giáo viên 49
Bảng 12 Khảo sát kết quả học tập các môn GDTC của sinh viên 50
Bảng 13 Đánh giá của sinh viên về luyện tập TDTT ngoại khóa 50
Bảng 14 Đánh giá mức độ ảnh hưởng các yếu tố chủ quan đến chất lượng GDTC của sinh viên Học viện Ngân hàng 52
Bảng 15 Đánh giá mức độ ảnh hưởng các yếu tố khách quan đến chất lượng GDTC của sinh viên Học viện Ngân hàng 55
Bảng 16 So sánh sự thay đổi trong nhận thức của sinh viên về môn học của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 58
Bảng17 So sánh sự thay đổi trong thái độ, đông cơ học tập thể dục của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 59
Bảng 18 Kết quả học tập của sinh viên sau thực nghiệm tác động 60
Bảng 19 Kết quả tự học tập giờ ngoại khóa của sinh viên NTN và NĐC 61
Bảng 20 Kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên nữ trước và sau khi thực nghiệm 62
Bảng 21 Kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên nam trước thực nghiệm và sau thực nghiệm 63
Biểu đồ 1 Đánh giá của giáo viên và sinh viên về các yếu tố chủ quan tác động đến chất lượng GDTC của sinh viên Học viện Ngân hàng .53
Biểu đồ 2 Đánh giá của giáo viên và sinh viên về các yếu tố khách quan tác động đến chất lượng GDTC của sinh viên Học viện Ngân hàng 56
Trang 12Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng công tácGDTC và hoạt động TDTT trong trường học các cấp Hiến pháp nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 quy định: "Việc dạy và học thể dục làbắt buộc trong nhà trường".Chỉ thị 36 CT của Ban bí thư Trung ương Đảng vềcông tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu: "Thực hiện giáo dục thể chấttrong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thànhnếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên"."Thực hiện các nhiệm vụxây dựng con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, có trình độ làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại,
có tư duy sáng tạo và có sức khoẻ" "Cần coi trọng nâng cao chất lượng giáodục thể chất trong trường học"
Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, lực lượng tri thức
và cán bộ khoa học kỹ thuật có vai trò là động lực thúc đẩy Để đảm đươngđược vai trò to lớn đó, đòi hỏi người cán bộ kỹ thuật không những có trình độgiác ngộ chính trị cao, trình độ chuyên môn vững vàng, mà phải có thể chấtphát triển GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển thể chấtcho học sinh, sinh viên góp phần vào việc đào tạo con người phát triển toàndiện
Song, thực trạng GDTC trong các trường Đại học còn bộc lộ nhiều khókhăn và tồn tại Mặc dù GDTC từ lâu đã trở thành môn học chính thức, bắtbuộc trong chương trình các cấp học, ngành học, nhưng cho đến nay vẫn còn
bị coi nhẹ Nội dung, chương trình môn học chưa hợp lý, chưa phù hợp vàđáp ứng yêu cầu của tuổi trẻ học đường, cơ sở vật chất, dụng cụ và sân bãicòn nghèo nàn và thiếu thốn, đội ngũ cán bộ giáo viên còn thiếu về số lượng
và yếu về chất lượng
Nâng cao chất lượng GDTC trong trường học là một trong những hoạtđộng đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩmchất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho sinh viên góp phần đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TDTT trường học là môi trườngthuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao chođất nước Phát triển giáo dục TDTT trường học theo hướng đổi mới và nângcao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động
Trang 13ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thânthể đối với người học.
Học viện Ngân hàng tiền thân là trường Cao đẳng Ngân hàng, sau đóchuyển thành trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng chuyên đào tạo nghiệp vụcho các cán bộ đang công tác trong ngành ngân hàng Bộ môn Giáo dục thểchất truớc đây đã giải thể, sân bãi dụng cụ bỏ hoang, không sử dụng được.Năm 1998 Bộ giáo dục và Đào tạo kí quyết định trở thành Học viện Ngânhàng, tuyển sinh và đào tạo từ hệ trung cấp đến cao học trên toàn quốc Từ đóđến nay quy mô tuyển sinh và đào tạo không ngừng đuợc nâng cao, trong khi
cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên không phát triển kịp Vì vậy, công tác giảngdạy các môn học nói chung và môn GDTC nói riêng tại HVNH gặp rất nhiềukhó khăn về điều kiện phục vụ cho việc giảng dạy - học tập Các điều kiệnnày thực sự chưa đảm bảo đáp ứng được quy mô đào tạo hiện nay của nhàtrường cũng như mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện và đảmbảo chất lượng cao
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phương pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất
tại Học viện Ngân hàng”.
Mong muốn qua đó đánh giá thực trạng của công tác GDTC trongHVNH, đưa ra và áp dụng những biện pháp nhằm góp phần nâng cao chấtlượng giảng dạy GDTC trong trường học, thúc đẩy sự phát triển hoạt độngTDTT tại HVNH nói riêng và phong trào TDTT nói chung, góp phần đẩy lùicác hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác GDTC tại HVNH và nguyên nhân của
thực trạng đó Trên cơ sở kết quả thu được, đề xuất và tiến hành thực nghiệmmột số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên HVNH
3 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH
4 Khách thể nghiên cứu
- Khách thể điều tra:
+ 300 sinh viên khóa 9 và khóa 10 tại HVNH
+ Toàn bộ giáo viên Bộ môn Giáo dục thể chất và Quốc phòng đangtrực tiếp giảng dạy tại HVNH
+ Giáo viên và sinh viên đang giảng dạy, học tập tại HVNH
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 14- Công tác GDTC tại Học viện Ngân hàng còn nhiều hạn chế là do một
số nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại
- Có thể nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH thông qua một số biệnpháp tác động tích cực như đổi mới phương pháp giảng dạy, nhận thức, thái
độ, động cơ học tập của sinh viên và trang bị điều kiện giảng dạy, tập luyệnphù hợp
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận, xác định những khái niệm công cụ liên quanđến vấn đề nghiên cứu như: chất lượng, giáo dục, GDTC, chất lượng GDTC
- Xác định thực trạng GDTC tại HVNH
- Đề xuất và làm rõ tính khả thi của một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng GDTC cho sinh viên HVNH
7 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài tập chung làm rõ một số nội dung
cơ bản sau:
+ Khảo sát thực trạng công tác GDTC tại HVNH trên các mặt: Phương
pháp giảng dạy của giảng viên; nhận thức, thái độ, động cơ học tập của sinhviên và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho môn học TDTT
+ Xác định nguyên nhân của thực trạng trên
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC tạiHVNH trong thời gian tới
- Về địa bàn nghiên cứu
+ Nghiên cứu công tác GDTC tại HVNH
- Về khách thể nghiên cứu
+ 272 sinh viên đang học GDTC tại HVNH
+ Toàn thể giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại Bộ môn giáo dục thểchất - HVNH
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
8.2 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
8.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
8.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
8.5 Phương pháp quan sát
8.6 Phương pháp kiểm tra sư phạm
8.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
8.8 Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứukhác nhau nhằm thu thập các số liệu khách quan về vấn đề nghiên cứu Tuynhiên, chúng tôi sử dụng chủ yếu 2 phương pháp sau: Phương pháp điều trabằng bảng hỏi và phương pháp tác động thực nghiệm
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược nghiên cứu chất lượng giáo dục thể chất ở nước ngoài
- 1873: Thuật ngữ GDTC xuất hiện ở Nhật bản, họ nhận thức được sự cầnthiết cho sức khỏe thể chất, và tập thể dục cho thư giãn và vệ sinh [29, tr 421]
- 1876 đại diện là Park Younghyo, nhà khoa học tại Hàn Quốc chứng
minh được tầm quan trọng của việc rèn luyện sức khỏe trong cuộc sống vàthuật ngữ GDTC bắt đầu được thừa nhận[29, tr 421]
- 1879 khái niệm đầu tiên của ngành GDTC tại Hàn Quốc đã được coi
là giáo dục đào tạo vật lý thông qua tập thể dục [29, tr.424]
- Từ 1960-1963 tại Mỹ các tác giả: Duncan, Watson (1960), Shepard(1960) và Cowell và Pháp (l963) có nhiều công trình nghiên cứu về chấtlượng GDTC và chỉ ra ý nghĩa của sức khỏe thể chất cũng như mối quan hệcủa nó với kết quả hoạt động của mỗi cá nhân [30, tr.67]
- Trong giai đoạn 1964-1970, một số tác giả đưa ra khái niệm mới vềGDTC như là “nghệ thuật và khoa học của các chuyển động của con người” đãđược đề xuất bởi các học giả như: Felshin (1967) và Zeigler (1968) [30, tr.69]
- Trong những năm 70 của các học được đại diện bởi: Felshin (1972),Seidel và Resick (1972), Siedentop (1972), Vanderzwaag (1972), Nixon vàJewett (1974), Zeigler (1975) nghiên cứu GDTC và coi đó như hoạt độngchuyển động của con người Thực tế là “chuyển động của con người” là mộtcụm từ quan trọng trong định nghĩa của GDTC có thể được giải thích bởi cáctrường hợp cụ thể, trong đó GDTC đã có để xác nhận tình trạng của nó như
là một ngành học quan trọng ở Mỹ[30,tr 68]
- Những năm 80 trở lại đây, việc nghiên cứu GDTC ở nước ngoài chủyếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng GDTC trong trường học và cácnhà khoa học cố gắng tìm các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp giảng dạycác môn học này cũng như xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng GDTCcho phù hợp với hoạt động giảng dạy GDTC trong các trường Đại học như:Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp
1.1.2 Nghiên cứu chất lượng giáo dục thể chất ở trong nước
Trong nền kinh tế hội nhập, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao, phát triển toàn diện đáp ứng đòi hỏi của xã hội được rất nhiều nhà khoahọc giáo dục quan tâm, nghiên cứu Vĩ lẽ đó, nghiên cứu và đưa ra các giảipháp nâng cao chất lượng GDTC ở Việt Nam cũng thu hút được rất nhiều nhàkhoa học, nhà giáo dục học nghiên cứu Tuy nhiên, mỗi tác giả nghiên cứu vàđưa ra giải pháp nâng cao chất lượng GDTC trên những bình diện khác nhau
và khác nhau về khách thể nghiên cứu
Với đặc thù rất khác biệt của môn học GDTC, cho nên, mỗi giải phápcủa một nhà nghiên cứu chỉ phù hợp với đặc điểm của khách thể nghiên cứu
Trang 16mà thôi Vì thế, đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng GDTC tạiHVNH không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các đề tài trước Hiện nay,cũng chưa có công trình nào nghiên cứu và đưa ra giải pháp nhằm nâng caochất lượng GDTC tại HVNH
1.1.2.1.Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục- Đào tạo về công tác giáo dục thể chất trong trường học
Nhận thấy rõ tác dụng của việc rèn luyện và tập thể dục, Bác Hồ ra lời
kêu gọi toàn dân tập thể dục: "giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây dựngđời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công, mỗi một ngườidân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân mạnh khoẻtức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ vậy, rèn luyện tập thể dục, bồi bổsức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước" [26] Bác rất quan tâmđến sự nghiệp phát triển TDTT, Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên rèn luyệnthân thể nhằm giữ gìn sức khoẻ, nâng cao thể lực cho mọi người Bác Hồ rấttin yêu thế hệ trẻ, Người quan tâm và săn sóc đến sự phát triển thể chất củathế hệ trẻ ngày về thăm trường Đại học TDTT Bắc Ninh Bác đã căn dặn:
"các cháu học TDTT ở đây không phải để đạt ông kiện tướng này, bà kiệntướng nọ cái chính là, là người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đemhiểu biết của mình ra hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sứckhoẻ đẩy lùi bệnh tật" [34] Bác cũng căn dặn:"công tác TDTT cần coi trọng,nâng cao chất lượng giáo dục trong trường học, tổ chức hướng dẫn và vậnđộng đông đảo nhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày" [34]
Trong chỉ thị 36 CT/TƯ của Ban Bí thư trung ương Đảng đã nêu: "mụctiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển vàtiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinhthần của nhân dân thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm choviệc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinhviên" để GDTC và thể thao học đường thực sự có vị trí quan trọng trong việcgóp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trítuệ và thể chất sức khoẻ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng đồng thời xây dựng nhàtrường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinhviên quán triệt sâu sắc nội dung của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng hiếnpháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 và các văn bảnpháp lệnh của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới đồng thời, đểkhắc phục thực trạng giảm sút sức khoẻ thể lực của học sinh, sinh viên hiệnnay, hai ngành GD-ĐT và TDTT đã thống nhất những nội dung, biện pháp vàhợp đồng trách nhiệm chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTCcủa học sinh, sinh viên: "hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu,cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ, bồi dưỡng năng khiếu thể thao
Trang 17học sinh, sinh viên kiến nghị với nhà nước phê duyệt thành chương trìnhquốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng".[49]
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất
Nâng cao chất luợng GDTC trong trường học là một trong những vấn
đề được nhiều tác giả trong nước quan tâm Dưới đây, chúng tôi xin trình bàytheo các hướng nghiên cứu sau:
* Hướng nghiên cứu nhằm xây dựng nội dung, chương trình, giáo trình tài liệu giảng dạy và nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng việc giảng dạy GDTC trongtrường học như: Lê văn Lẫm (1997), Ngô văn Tôn (2000), Nguyễn TrọngVượng (2001), Phan Sinh (2003), Hồ Thị Thái (2005) Các tác giả cũng chỉ
rõ, muốn nâng cao chất lượng GDTC trong trường học đòi hỏi được sự quantâm của các cấp liên quan, từ việc kiện toàn tổ chức bộ máy thực hiện đếnviệc hoàn thiện nội dung chương trình giảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất chosinh viện học tập và luyện tập các giờ ngoại khóa
* Hướng nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giáo dục
thể chất
Nghị quyết của hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương Đảng đãchỉ rõ: “Để đảm bảo chất lượng của GD-ĐT, phải giải quyết tốt vấn đề thầygiáo, kế thừa và phát triển truyền thống sư phạm, đào tạo và đào tạo mới mộtđội ngũ giáo viên giỏi, có trách nhiệm, lương tâm, có lòng tự hào về nghềnghiệp Đó là điều quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục” [18]
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng xác định: “Khâu thenchốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo, đào tạo,bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như các cán bộ quản lý giáodục cả về chính trị tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ [19]
Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn Quốc lần thứ X cũng chỉ rõ: “Ưu tiênhàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nộidung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên [ 21,tr.207]
Có thể nhận thấy, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi giáo viên lànhân tố quan trọng, quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục nói chung vàGDTC nói riêng Theo đó, chính phủ cũng đề xuất các biện pháp khuyếnkhích, động viên kịp thời đội ngũ người thầy Hiện nay, đội ngũ cán bộ giáoviên, huấn luyện viên TDTT đang được hưởng chế độ bồi dưỡng và phụ cấptrang phục thể thao theo quy định tại Thông tư liên bộ 01/TT - LB (Giáo dục -tài chính - Lao động và thương binh xã hội) ngày 10/1/1990 Điều này chothấy Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng và đánh giá đúng vai trò, công sức củađội ngũ cán bộ giáo viên, huấn luyện viên đối với sự nghiệp rèn luyện sứckhỏe và phát triển sự nghiệp TDTT nước nhà
Trang 18Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT của Bộ GD0- ĐT đi đếnkết luận: “Trong các trường Đại học, Cao đẳng có 450 giáo viên chiếm tỷ lệ1gv/304 sinh viên (Quy định của Bộ GD- ĐT là 1gv/200sv) Trong đó có 75%giáo viên TDTT đạt trình độ Đại học, 15% trình độ Cao đẳng và 10 % là đàotạo ngắn hạn về TDTT, 5% có trình độ sau đại học Các bộ môn TDTT là môn
có trình độ đào tạo thấp nhất so với các bộ môn khác” Kết quả nghiên cứu nàycho thấy thực trạng cần thiết phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chođội ngũ giáo viên TDTT trong trường học [56]
Hiện nay, ngành GD- ĐT cùng với ngành TDTT rất coi trọng công tácnghiên cứu, đánh giá thực trạng chất lượng GDTC và các đề xuất, kiến nghịnâng cao chất lượng GDTC trong trường học nhằm nhanh chóng đưa chủtrương, đường lối của Đảng vào thực tiễn giáo dục, từng bước nâng cao chấtlượng GDTC ở các cấp học Các tác giả Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu và cáccộng sự (1993) đã tiến hành nghiên cứu “Cải tiến công tác GDTC trong nhàtrường các cấp đến năm 2000”[39, tr 4- 7] Các tác giả đã xác định được cơ
sở lý luận, quan điểm chỉ đạo và mục tiêu chủ yếu của công tác GDTC trongnhà trường các cấp cũng như chỉ ra mục tiêu quan trọng cần nâng cao chấtlượng đội ngũ nhà giáo trong các trường học ở các cấp học
Các tác giả: Đặng Đức Thao, Nguyễn Trương Tuấn, Phan Đức Phúnghiên cứu “Một số nét về công tác đào tạo giáo viên thể dục ngành giáo dục
từ 1956 đến nay” Công trình nghiên cứu khá quy mô, tổng kết, đánh giá quátrình đào tạo giáo viên của ngành TDTT cũng như dự báo nhu cầu đào tạo và
sử dụng giáo viên TDTT từ 1993 - 2000[23]
Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu “Nghiên cứu xác định cơ chế chính sách
và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch công tác TDTT ngành giáodục và đào tạo từ năm 1998 - 2000 và định hướng đến năm 2005”[39] Cáctác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp củng cố và phát triển các tổchức sự nghiệp về GDTC, biện pháp nâng cao trình độ quản lý, trình độchuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, ý chí của đội ngũ cán bộ giáoviên TDTT trong trường học
Vũ Đức Thu và cộng sự “Nghiên cứu định hướng và giải pháp đào tạobồi dường đội ngũ cán bô, giáo viên TDTT trường học” Đây là đề tài có quy
mô rất lớn khảo sát thực trạng nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng giáo viên TDTTtại 21.000 trường phổ thông các cấp, 53 Sở GD- ĐT các tỉnh thành, 532/596trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước Kết quảnghiên cứu đã chỉ ra một số nguyên nhân yếu kém của đội ngũ giáo viênTDTT Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm xâydựng định biên, định chuẩn giáo viên, quy hoạch hệ thống các cơ sở đào tạogiáo viên TDTT, nghiên cứu công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viênTDTT trong nhà trường các cấp[39]
Trang 19Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên giảng dạy TDTT còn có rất nhiều tác giảnhư: Nguyễn Đình Cường (1998), Nguyễn Văn Quảng (1998), Trần Bá Hoành(2001), Ngô Đăng Duyên (1998), Vũ Đức Văn (2001), Nguyễn Kim Pha (2004)…
Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá thực trạng và chỉ ra các nguyênnhân dẫn đến hạn chế trong chất lượng giảng dạy GDTC của đội ngũ giáoviên và đưa ra một số giải pháp phù hợp với khách thể nghiên cứu
* Hướng nghiên cứu nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho quá trình giảng dạy GDTC trong trường học:
Cùng với việc đưa ra các giải pháp trong quá trình thiết kế, xây dựngnội dung, chương trình phù hợp, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảngdạy TDTT thì nghiên cứu nâng cao chất lượng điều kiện cơ sở vật chất, kỹthuật phục vụ công tác giảng dạy GDTC trong trường học cũng được một sốtác giả quan tâm nghiên cứu
Các tác giả Phùng Thị Hòa, Vũ Đức Thu (1998) “Nghiên cứu thựctrạng và quy hoạch phát triển cơ sở vật chất TDTT trường học đến năm 2000
và định hướng đến 2025” Đây là công trình nghiên cứu có quy mô lớn đượctiến hành trên phạm vi cả nước, từ các cấp học phổ thông đến đại học Kếtquả nghiên cứu cho thấy, diện tích đất dành cho hoạt động học tập TDTT củahọc sinh, sinh viên rất thấp, trung bình chỉ có 0,6m/học sinh, trong khi chuẩnquy định từ 3,5 - 4m/1 học sinh [54, tr.74-80]
Nhìn chung, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việcgiảng dạy và học tập của sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng,trung học chuyên nghiệp còn rất nhiều hạn chế Nhất là các trường đại học,cao đẳng hay trung học chuyên nghiệp được xây dựng ở các thành phố lớnnhư Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng cho thấy, tình trạng cáctrường đại học Dân lập chưa được cấp đất xây dựng trường học, phải đi thuêmướn địa điểm học cho sinh viên thì tình trạng không xây dựng sân bãi luyệntập TDTT cho sinh viên là điều tất yếu, đó là chưa kể đến những lớp học liênkết giữa các trường
* Hướng nghiên cứu đổi mới tài liệu tham khảo các môn GDTC
Các tác giả Dương Nghiệp Chí (1991); Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn(2006); Nguyễn Hạc Thúy (1997); Nguyễn Hạc Thúy, Nguyễn Qúy Bình(2000); Nguyễn Toán (2002); Trần Văn Vinh (2002); Quang Hưng(2004) tập trung nghiên cứu các giáo trình về đo lường thể thao; Lý luận vàphương pháp TDTT; Huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật Cầu lông hiện đại; Cẩmnang tư vấn tâm lý thể thao; Phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài cầu lông;Bài tập chuyên môn trong điền kinh Hầu hết các tác giả đều cố gắng đưa ra cácphương pháp luyện tập các môn TDTT với mục đích giúp người dạy và ngườihọc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn GDTC
* Hướng nghiên cứu đánh giá chung thực trạng công tác GDTC trong trường học và đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng GDTC
Trang 20Các tác giả: Nguyễn Thị Đào (2002), Nguyễn Thị Thu Phương (2006),Nguyễn Văn Thảo (2006), Đỗ Hải Phong (2007), Vũ Văn Đức (2007), TrầnMinh Hằng (2009) nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng GDTC trong trường học ở các địa bàn nghiên cứu khác nhau như: PhúThọ, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội Các công trình nghiên cứu
kể trên đều nghiên cứu thực trạng từ các cơ sở đào tạo và đánh giá thực trạnghoạt động giảng dạy GDTC của các trường cũng như chỉ ra một số yếu tố ảnhhưởng đến thực trạng trên Phần lớn các tác giả chỉ ra các hạn chế rất dễ nhậnthấy đó là: Tính bất cập của nội dung, chương trình GDTC; Điều kiện cơ sởvật chất chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo; số lượng và trình độ giáo viên chuyêntrách giảng dạy GDTC; tính bất hợp lý của hoạt động luyện tập thể thao ngoạikhóa Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp phù hợp vớikhách thể nghiên cứu
Đặc biệt phải kể đến công trình nghiên cứu “Thực trạng thể chất ngườiViệt Nam từ 6 đến 20 tuổi” do Viện Khoa học TDTT chủ trì Đây cũng là mộttrong những công trình có quy mô lớn tiến hành điều tra thể chất người ViệtNam từ 6 đến 20 tuổi Mẫu nghiên cứu được thực hiện ở 16 tỉnh thành với44,400 người tham dự điều tra Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng thểchất người Việt Nam độ tuổi từ 6 đến 20 trong thời điểm đề tài nghiên cứu.Đây là những kết luận khoa học rất có ý nghĩa phục vụ cho công tác xây dựngchương trình, nội dung, phương pháp GDTC trong trường học phù hợp với
sự phát triển thể chất của người Việt
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kể trên chưa đề cập đến nội dungquan trọng liên quan đến chất lượng GDTC trong trường học đó là việc nângcao nhận thức của người học về ý nghĩa quan trọng của GDTC trong khiGDTC ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp khối không chuyên chỉ làmôn học “phụ” (theo quan niệm và cách hiểu của phần lớn sinh viên và một
bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý) Trên cơ sở đó, tìm hiểu thực trạng họctập các môn GDTC của sinh viên cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chấtlượng học tập TDTT trong trường đại học
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm chất lượng
“Chất lượng” là thuật ngữ được nhắc đến rất nhiều, nhưng có thể thấykhó có thể đưa ra một định nghĩa phù hợp với tất cả các lĩnh vực bởi mỗi nhàkhoa học nghiên cứu “chất lượng” trên những bình diện khác nhau
* Quan điểm coi chất lượng là thuộc tính bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng, là cái để phân biệt nó với sự vật hiện tượng khác.
Theo từ điển Tiếng Việt, “chất lượng” được hiểu là “cái làm nên phẩmchất, giá trị của sự vật” và là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật nàykhác sự vật kia”[40, tr.196] Như vậy, với quan điểm này, chất lượng chính là
cơ sở, nền tảng để tạo nên bản chất của sự vật và tạo ra sự khác biệt giữa sự
Trang 21vật này với sự vật khác trong thế giới khách quan.
*Quan điểm coi chất lượng như là giá trị, mức độ thể hiện của sản phẩm với
những chỉ tiêu, quy chuẩn đã định, là sự thỏa mãn nhu cầu người sử dụng
Theo Oxford Pocket Dictionary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặctrưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, cácthông số cơ bản”[33, tr.14]
Theo tiêu chuẩn Pháp NFX 50 - 109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”[33, tr.14].
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được
phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó[35] Quan niệm này
đã đồng nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích củasản phẩm Tuy nhiên, sản phẩm có nhiều thuộc tính hữu ích chưa chắc đãđược người tiêu dùng đánh giá cao (ví dụ quạt tích điện của Trung Quốc có 3chức năng quạt, đèn, rađio )
Quan niệm của các nhà sản xuất thì: “Chất lượng sản phẩm là tổng
hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn cácyêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”[35] Nhưvậy, theo quan niệm này thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của mộtsản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó với một tập hợp các yêu cầu, tiêu chuẩn,quy cách đã được xác định trước
Theo tính cạnh tranh của sản phẩm: là thuộc tính mang lại lợi thế
cạnh tranh của sản phẩm đó, giúp phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩmcùng loại khác[35]
Như vậy, có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sảnphẩm tuỳ theo góc độ tiếp cận, chính vì vậy để giúp cho hoạt động quản lýchất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức quốc tế
về tiêu chuẩn hoá (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra khái niệmchất lượng:
“ Chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc tính (đặc tính) đối với các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” Theo cỏch hiểu này, một sản phẩm (dịch vụ) có chất lượng khi sản phẩm (dịch vụ) đó có các thuộc tính thoả mãn được các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan
* Quan điểm coi chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu
Theo International Network for Quanlity Assurance Agencies: “Chấtlượng là sự phù hợp với mục đích” (Quality as Fitness for Purpose)[33, tr.15].Quan điểm này đã chỉ rõ, bất cứ một sản phẩm, dịch vụ nào được coi là cóchất lượng khi sản phẩm, dịch vụ đó làm thỏa mãn mục tiêu, mục đích củanhà sản xuất Trong giáo dục, “sản phẩm” của giáo dục muốn đạt chất lượngbuộc “nhà sản xuất” cần xác định rõ mục đích của giáo dục và xây dựng cáctiêu chí cụ thể để “kiểm định” “chất lượng” của ‘sản phẩm” sau đào tạo
Trang 22Tác giả Nguyễn Văn Đản lại khẳng định rằng: “Mức độ kết quả học tậpđạt được so với mục tiêu cá nhân (do Bộ GD- ĐT ban hành) được gọi là chấtlượng giáo dục ở cấp độ nhân cách Nguồn nhân lực được đào tạo bao gồmcác cá nhân được đào tạo Mức độ kết quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứngcác yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục là chất lượng giáo dục ở cấp độ xãhội” Quan điểm này chia chất lượng giáo dục thành các cấp độ khác nhau.Tuy nhiên xem xét chất lượng giáo dục dù ở cấp độ nào chăng nữa cũng rấtcần xác định các chuẩn để biết “chất” thực của “sản phẩm” đào tạo [44].
Như vậy, có thể thấy các quan niệm về chất lượng như đã trình bày ở
trên tuy có khác nhau nhưng đều có chúng một ý tưởng: Chất lượng chính là
sự thỏa mãn một yêu cầu nào đó Thực vậy, chúng tôi cho rằng: Nếu trong
sản xuất và kinh doanh “chất lượng” của một sản phẩm được đánh giá quamức độ đạt các tiêu chuẩn, chất lượng đã đề ra của sản phẩm đó thì “chấtlượng” trong GD- ĐT được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo
đã đề ra đối với một chương trình đào tạo nhất định trong một giai đoạn pháttriển của lịch sử xã hội
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đồng ý với quan điểm
cho rằng “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” và theo đó “chất lượng
giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục” Chúng tôi lấy quan điểm này
làm cơ cở trong quá trình nghiên cứu
1.2.2 Khái niệm giáo dục
“Giáo dục” tiếng Anh - “Education” - vốn có gốc từ tiếng La tinh
“Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra” Có thể hiểu "giáo dục là quá trình,cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục".Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợihoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và ngườihọc theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách ngườihọc bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhucầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại Giáo dụcbao gồm việc dạy và học , và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trìnhtruyền thụ, phổ biến tri thức , truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sựhiểu biết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế
hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận rakhả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ củamỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục , một phương pháp nghiêncứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần,làm chủ được các mặt như: Ngôn ngữ , tâm lý , tình cảm , tâm thần , cách ứng
xử trong xã hội
Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho
sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh Quá trình dạy học nóiriêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố có liên hệ mang
Trang 23tính hệ thống với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương phápgiáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổ chức và chỉ tiêu đánh giá Sựgiáo dục của mỗi con người bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộcđời Trong thực tế, quá trình đấu tranh giành giật sự sống, giành giật sự thắnglợi trong cuộc sống cung cấp kiến thức nhiều hơn cả sự truyền thụ kiến thức ởcác trường học Các cá nhân trong gia đình có ảnh hưởng lớn đến hiệu quảgiáo dục, thường có ảnh hưởng nhiều hơn, mặc dù việc dạy dỗ trong gia đình
có thể không mang tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thôngthường Giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗicon người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy
và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triểntrong xã hội loài người đương đại
Từ nhận định trên cho thấy, khái niệm giáo dục thể hiện ở:
Bản chất của giáo dục là quá trình người thầy khơi gợi (giúp người họcphát hiện, đánh thức các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người và là quá trìnhlàm thay đổi (hoặc biến đổi) các phẩm chất ấy
Giác dục, ngay tự thân nó đã có tác động đến cả 2 đối tượng: thầy vàtrò Chính trong quá trình lao động nghiêm túc, người thầy cũng "học hỏi"được rất nhiều điều từ học trò của mình Do đó mới có thành ngữ "Dạy - tức
là học hai lần"! Tác dụng và vai trò của “giáo dục” đối với con người (cả thầy
và trò), khi tiếp cận đến những quá trình lao động dạy và học ấy
Từ những phân tích trên, chúng tôi xin đề xuất khái niệm “giáo dục” như sau:
Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích nhằm khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển.
1.2.3 Khái niệm giáo dục thể chất
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: GDTC là việc hướng dẫnthực hành các động tác nhằm phát triển và duy trì sức khỏe thể chất và sứckhỏe toàn diện Điều này có được nhờ việc rèn luyện các động tác thể dục.Tập luyện thường xuyên là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa bệnh tật,ngăn ngừa các "bệnh người giàu" như ung thư, bệnh tim, bệnh mạch vành,tiểu đường…
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xãhội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dùthuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế -
xã hội nào Sức khỏe bao gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Để cósức khỏe thể chất cần tập luyện và chế độ dinh dưỡng tốt
Một số quan điểm cho rằng GDTC chính là giáo dục sức khỏe (Health
Education): Giáo dục sức khỏe cũng giống như GDTC đó là quá trình tác
động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển
Trang 24những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể đượccho con người.
Như vậy, theo cách hiểu này GDTC là cung cấp các kiến thức mới làmcho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ
đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, giađình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, nhằm hay đổi tích cực giải quyết cácvấn đề bệnh tật sức khỏe Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnhđến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:
Kiến thức của con người về sức khỏeThái độ của con người về sức khỏeThực hành của con người về sức khỏeCũng từ định nghĩa trên cho thấy GDTC là một quá trình nên cần tiến hànhthường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, đểthực hiện công tác GDTC chúng ta phải có sự đầu tư thích đáng, hết sức kiêntrì thì mới đem lại hiệu quả cao
GDTC là “thuật ngữ” được đặt ra trong thế kỷ XIX và khái niệm chungcủa GDTC thành lập chính ở Mỹ từ cuối thế kỷ này khi nó được định nghĩa
là “thông qua GDTC” Nhưng khi kết quả của việc mở rộng của thuật ngữGDTC, cùng với thời gian, định nghĩa trên bị chỉ trích là quá trừu tượng.GDTC không chỉ nhằm mục đích phát triển cơ thể, nhưng cũng có liên quanvới giáo dục con người toàn bộ thông qua các hoạt động thể chất
Barrow lại khẳng định: GDTC được định nghĩa như là một nền giáo
dục của con người và thông qua các phong trào mà nhiều người trong mụctiêu giáo dục được thực hiện bằng phương tiện cơ bắp liên quan đến các hoạtđộng thể dục thể thao, (trò chơi, khiêu vũ và tập thể dục)[60]
Theo giáo dục thể chất điển: Webster's là một phần của GDTC, trong
sự phát triển và chăm sóc của các cơ quan từ bài tập đơn giản đến một khóahọc cung cấp đào tạo về vệ sinh, thể dục dụng cụ, hiệu suất và quản lý cáchoạt động vận động [60]
Jackson R Sharman chỉ ra rằng: GDTC là một phần của giáo dục trong
đó diễn ra thông qua các hoạt động, mà liên quan đến cơ chế hoạt động cơ bắpcủa cơ thể con người mà kết quả của một cá nhân xây dựng mô hình ứngxử[60]
Charles A Bucher định nghĩa: GDTC - một phần của quá trình giáo
dục tổng thể, là một lĩnh vực mà đã là nỗ lực nhằm mục đích của nó phát triển
về thể chất, tinh thần, tình cảm và xã hội phù hợp với người dân thông quacác phương tiện của các hoạt động thể chất đã được chọn với một mục đichnhằm đạt được các kết quả [60]
Trung ương Hội đồng Tư vấn Giáo dục thể chất và tâm trí định nghĩa:GDTC như là một nền giáo dục thông qua các hoạt động thể chất cho sự pháttriển con người và hoàn thiện cơ thể, tâm trí và tinh thần [60]
Trang 25Từ những phân tích trên, chúng tôi xác định khái niệm GDTC như sau:
Giáo dục thể chất là quá trình tổ chức có ý thức nhằm biến đổi nhận thức, năng lực thể chất, tình cảm, thái độ, nhân cách của người học theo hướng tích cực, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển.
1.2.4 Chất lượng giáo dục thể chất
Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học trên thế giới thểhiện qua hệ thống quốc tế của các cơ quan bảo đảm chất lượng giáo dục đạihọc (INQAAHE) được thành lập năm 1991 đồng ý rằng một trường đại họcchỉ có chất lượng khi mọi hoạt động trong trường đều đạt tiêu chuẩn, nghĩa là
từ mọi cấp quản lý trong trường, mọi hệ đào tạo (chính quy, tại chức, chuyêntu ), mọi chương trình đào tạo (ngoại ngữ, các lớp ngắn hạn, cao đẳng, đạihọc, trên đại học), mọi loại thu chi, mọi chương trình nghiên cứu và phát triển(cấp trường, cấp bộ, cấp quốc gia, cấp quốc tế), đến các dịch vụ sinh viên,dịch vụ cộng đồng, các hợp đồng tư vấn…đều đạt tiêu chuẩn về chất lượng.Nếu hiểu về chất lượng như thế thì Việt Nam chưa có trường đại học nào cóthể nói là đã đạt được chất lượng
Chất lượng GDTC không nằm ngoài quy luật trên, luôn là một trongnhững vấn đề quan trọng được xã hội quan tâm bởi lẽ nó phản ánh giá trị thựccủa một nền giáo dục toàn diện Khi nước ta bước vào đổi mới, Đảng đã đề ramục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Như vậy, cùng với thế giới, chúng ta đang từng bước xây dựng một nền kinh
tế tri thức tuân theo sự điều tiết bởi cơ chế thị trường Đào tạo đại học trởthành một ngành sản xuất đặc biệt - “sản xuất nguồn nhân lực” và cũng phảituân theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường Do đó giáo dục đại họckhông chỉ cần có chất lượng cao, cung cấp kiến thức nghiệp vụ mà còn phải
có hiệu quả và hiệu suất cao trên mọi mặt, GDTC không nằm ngoài quy luậtcạnh tranh đó Giáo dục đại học là một loại hình sản xuất đặc biệt vì sản xuất
ra tri thức mới và nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao “Sản phẩm” của giáodục là “sản phẩm” đặc biệt vì phẩm chất của sản phẩm không cố định sau đàotạo mà tiếp tục phát triển tùy theo môi trường, sức khỏe và động cơ phát triểncủa “sản phẩm” Điều này cho thấy, nếu có môi trường thuận lợi cộng vớiđộng lực phát triển cũng chưa đủ để “sản phẩm” của giáo dục phát triển mộtcách toàn diện mà “sản phẩm” ấy rất cần có thể lực, sức khỏe tốt đủ để tạo đàcho việc thay đổi “chất” của “sản phẩm” sau đào tạo[57] Vì thế, “sản phẩm”chính của giáo dục đại học là sinh viên tốt nghiệp với trình độ chuyên môncao Đây cũng là những tiêu chuẩn khó định lượng chính xác vì các chuyêngia vẫn chưa thống nhất được cách đánh giá Tuy nhiên, người ta ghi nhậnrằng danh tiếng (phản ánh gián tiếp chất lượng giáo dục) của một trường đạihọc thường gắn liền sự sự thành đạt của sinh tốt nghiệp từ trường đó Các đạihọc như Harvard, Yale, Princeton, v.v… sở dĩ có tiếng trên thế giới là vìnhững sinh viên tốt nghiệp từ các trường này thường giữ những chức vụ quan
Trang 26trọng trong guồng máy kinh tế hay Nhà nước Do đó, các tiêu chuẩn trongphần “đầu ra” cụ thể là tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp, có việc làm, sự hài lòng củadoanh nghiệp hay cơ quan tuyển dụng, sinh viên quay lại theo học tiếp cấpthạc sĩ hay tiến sĩ, v.v…
Chất lượng GDTC được thể hiện qua năng lực của sinh viên được đàotạo sau khi hoàn thành chương trình khóa học Căn cứ vào quá trình nghiêncứu đề tài này, chúng tôi xin đề xuất khái niệm chất lượng GDTC như sau:
Chất lượng giáo dục thể chất là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục thể chất đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển
Trong khái niệm này, bao hàm các đặc trưng cơ bản sau:
+ Khối lượng kiến thức về GDTC phù hợp mục tiêu đào tạo
+ Chương trình phù hợp với trình độ nhận thức và thể lực của sinh viên+ Năng lực nhận thức, năng lực tự rèn luyện của sinh viên được tăng lên+ Phẩm chất nhân văn được đào tạo
1.3 Một số vấn đề lý luận về đánh giá chất lượng giáo dục thể chất trong trường học
1.3.1 Quan điểm về đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Theo Đặng Bá Lẫm và cộng sự: "Đánh giá chất lượng giáo dục là mộtcông việc được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của ngườihọc đối với các mục tiêu dạy học hay đào tạo đã đặt ra Nó có thể bao gồm sự
mô tả liệt kê định lượng hay định tính các kết quả đó kèm theo nhận xét khiđem đối chiếu, so sánh chúng với mong muốn đã đặt ra"[16]
Các tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (1995) cũng chỉ rarằng: “Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lýthông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chươngtrình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của trường
và của ngành giáo dục” Quan điểm này nghiêng về ý nghĩa của quá trìnhđánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thiệnchương trình, phương pháp của trường và của ngành Trong quá trình nghiêncứu, các tác giả cũng phân biệt hai khái niệm “đánh giá chất lượng và hiệuquả dạy học” và “đánh giá kết quả học tập” Theo đó, “đánh giá kết quả họctập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiệnmục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đónhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường,cho bản thân học sinh để học tập ngày một tiến bộ hơn” [28, tr.14]
GDTC đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục sinh viên pháttriển toàn diện Giống như các môn học khác, đánh giá GDTC là dựa trênnhững tiêu chuẩn khắt khe, xác định kết quả của sự tham gia tích cực tronghoạt động học của sinh viên GDTC là chương trình duy nhất cung cấp chosinh viên có cơ hội để tìm hiểu kỹ năng vận động, phát triển thể lực và đạtđược sự hiểu biết về tầm quan trọng của hoạt động thể chất Sinh viên sẽ được
Trang 27cung cấp một chương trình giảng dạy với kiến thức các môn học phù hợp vớiđặc điểm tâm sinh lý và sức khỏe lứa tuổi Bên cạnh đó, các em sẽ tự tin hơn,
có kỹ năng và động lực cần thiết để có lối sống lành mạnh GDTC cũng có thểảnh hưởng đến kết quả học tập kiến thức chuyên ngành của mỗi sinh viên.Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Tập thể dục thường xuyên sẽ sản sinh ra một
số chất dịch trong các mao mạch của não làm cho sự trao đổi chất dinh dưỡng
và các sản phẩm chất thải diễn ra tốt hơn Điều này sẽ tối ưu hóa oxy và vậnchuyển đến não có thể giúp cải thiện hiệu suất làm việc của não Mục tiêucuối cùng của GDTC sẽ giúp cá nhân có sức khỏe, tăng cường hoạt động thểchất cho cuộc sống của họ
Ở một số nước phát triển, việc đánh giá chất lượng GDTC phải căn cứvào tiêu chuẩn quốc gia về GDTC Tại Maryland, GDTC với nội dung tiêuchuẩn đã được thiết kế để phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia NASPE cho ngànhGDTC, ở đó, yêu cầu học sinh sử dụng những kỹ năng và kiến thức trong hoạtđộng, học tập kinh nghiệm tập trung vào giải quyết vấn đề, quyết định, vàđiều tra các vấn đề về sức khỏe, năng lực thể chất Các chuyên gia tiểu bangMaryland đã xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về GDTC bao gồm:
Tiêu chuẩn 1: có năng lực kỹ năng vận động và các kỹ thuật cơ bản để
thực hiện các hoạt động thể chất
Tiêu chuẩn 2: có sự hiểu biết về các khái niệm vận động, nguyên tắc,
chiến lược, và chiến thuật khi họ áp dụng cho việc luyện tập các hoạt động thểchất
Tiêu chuẩn 3: tham gia thường xuyên trong hoạt động thể chất
Tiêu chuẩn 4: có một sức khỏe nhất định, duy trì và tăng cường sức khỏe Tiêu chuẩn 5: Exhibits chịu trách nhiệm với cá nhân và xã hội, hành vi
của mình và tôn trọng những người khác trong các hoạt động thể chất
Tiêu chuẩn 6: Giá trị hoạt động thể chất cho y tế, hưởng thụ, thách
thức, tự biểu hiện và tương tác xã hội
Ở Trung Quốc, biện pháp đánh giá thành tích môn học theo phươngpháp cho điểm tổng hợp, trên cơ sở cho điểm bốn mặt sau:
- Tính chuyên cần và tính tích cực ở trên lớp với nội dung là xem xét sựchuyên cần lên lớp, thái độ học tập, tính kỷ luật và tác phong lên lớp
- Hiểu biết về TDTT
- Tố chất thể lực và năng lực vận động
- Kiểm tra bằng kỹ năng vận động và nhào lộn[57]
Căn cứ vào những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục và mụcđích, yêu cầu của chương trình GDTC theo quyết định 203/QĐ TDTT ngày23/1/1989 của Bộ giáo dục và Đào tạo, việc đánh giá chất lượng GDTC củasinh viên được tiến hành theo các nội dung sau:
- Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình
- Kỹ năng thực hiện kỹ thuật các môn thể thao
Trang 28- Thực hiện các chỉ tiêu thể dục theo nội dung, tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể.
- Tính chuyên cần và hứng thú tập luyện, thi đấu thể thao [14]
Tóm lại, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cho rằng:Đánh giá chất lượng GDTC là một quá trình được tiến hành trên cácmặt của hoạt động dạy - học và điều kiện học tập Trên cơ sở kết quả học tậpcủa sinh viên, tìm ra những nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất các giảipháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH trong thời giantới
1.3.2 Mục đích của đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Đánh giá chất lượng GDTC luôn gắn liền với mục tiêu GDTC là hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của sinh viên, góp phầnđào tạo người lao động chất lượng cao, phát triển toàn diện, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, có sức khỏe học vấn
và nghề nghiệp, có ý thức cộng đồng, năng động, sáng tạo, có ý thức giữ gìn,phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thời kỳ hộinhập kinh tế Quốc tế
Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các cơ sở
giáo dục đại học và trường trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành
kèm theo Quyết định số 60 /2007/QĐ-BGDĐT ngày16 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã chỉ rõ mục đích việc đánh giá kết
quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường nhằm: “Góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạođức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Đưa ra được những định hướng, nội dung rènluyện cụ thể, phù hợp với từng trường, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên
có môi trường rèn luyện”
Rõ ràng là, đánh giá chất lượng đào tạo sinh viên trong giai đoạn hiệnnay không phải chỉ căn cứ vào chất lượng đào tạo kiến thức chuyên mônnghiệp vụ mà cần phải đánh giá sinh viên một cách toàn diện cả về sức khỏe,thẩm mỹ, phẩm chất đạo đức, lối sống…Đánh giá chất lượng GDTC là mộtquá trình khoa học diễn ra dưới nhiều hình thức và bằng nhiều cách thức khácnhau và đi kèm với nó là các quy trình đánh giá khác nhau Tùy theo mụcđích đánh giá để xây dựng quy trình đánh giá cụ thể và phù hợp với mục tiêunghiên cứu Tuy nhiên, dù thiết kế hay dựa trên tiêu chuẩn đánh giá nào chăngnữa thì việc đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên là việc làmthường xuyên và quá trình đánh giá phải đảm bảo chính xác, công bằng, côngkhai và dân chủ
Có thể nhận thấy, đánh giá chất lượng GDTC tại HVNH nhằm:
- Phát triển các tố chất thể lực và kỹ năng vận động của sinh viên
- Nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của môn học
Trang 29GDTC trong trường học.
- Thái độ, tính tích cực rèn luyện các môn TDTT
- Kết quả học tập môn học GDTC
1.3.3 Nguyên tắc và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
1.3.3.1 Nguyên tắc đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã nêu các nguyên tắcchung nhất về đánh giá chất lượng GDTC như sau:
“Nguyên tắc tiếp cận hoạt động - nhân cách
Nguyên tắc đảm bảo tính xã hội, lịch sử
Nguyên tắc bảo đảm mối quan hệ giữa đánh giá và phát triển, giữa chẩnđoán và dự báo
Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy và độ ứng nghiệm củaphương pháp đánh giá
Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá [27, tr.43]Chúng tôi đồng ý với tất cả các nguyên tắc nêu trên, tuy nhiên đánh giáchất lượng GDTC tại HVNH hàng cần đưa ra những nguyên tắc cụ thể phùhợp với mục tiêu đào tạo của HVNH Theo đó, đánh giá chất lượng GDTC tạiHVNH cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính khách quan khoa học
- Đảm bảo tính vừa sức
- Thực hiện đánh giá trực tiếp sinh viên trước khi kết thúc một môn học GDTC
- Dựa trên quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinhviên (Số: 53/2008/QĐ-BGDĐT)
- Phù hợp với điều kiện thực tế của HVNH
1.3.3.2 Phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
Việc tiến hành đánh giá chất lượng sinh viên tham gia học tập các mônGDTC tại HVNH theo quy chế do Bộ GD- ĐT quy định được thực hiện bằnghình thức đánh giá trực tiếp kết quả học tập của sinh viên sau khi kết thúc mộtnội dung học GDTC
Kiểm tra cho điểm môn thể dục:
Thang điểm kiểm tra kết thúc học phần: 10 điểm
Hình thức kiểm tra: Viết (đối với phần lý thuyết) và thực hành
Nội dung kiểm tra: về lý thuyết sinh viên nắm được cơ bản về lịch sửphát triển TDTT, cơ chế vận động TDTT và phương pháp vệ sinh trong tậpluyện; Về thực hành sinh viên có được một nền tảng thể lực nhất định (thểdục, điền kinh ), nắm được một số kỹ thuật và luật thi đấu cơ bản của một sốmôn thể thao (cầ lông, bóng chuyền, dance sport ) Cụ thể:
Điểm 9, 10: Sinh viên nắm vững kiến thức, thực hiện thành thạo cácđộng tác kỹ thuật và luật thi đấu
Trang 30Điểm 7, 8: Sinh viên nắm vững kiến thức môn học nhưng chưa thựchiện thành thạo các động tác kỹ thuật
Điểm 5,6: Sinh viên bước đầu nắm được kiến thức môn học nhưng thựchiện các động tác kỹ thuật của môn học còn lúng túng hoặc sai sót
Điểm 3,4: Sinh viên chưa nắm được kiến thức cơ bản của môn học vàthực hiện các động tác kỹ thuật có nhiều sai sót
Điểm 1,2: Sinh viên không hiểu bài, không nắm được kiến thức cơ bản
về môn học, không thực hiện được các động tác kỹ thuật của môn học
1.4 Hoạt động giảng dạy giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
1.4.1 Mục tiêu giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, việc nâng cao chất lượng giáo dục là một yêu cầu đặc biệt quantrọng nhằm “nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài” Vì lẽ
đó, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa VII, khóa VIII vàkết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX đềukhẳng định “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục làđầu tư cho phát triển, đồng thời đề ra các yêu cầu ngày càng cao cho giáo dục
và đào tạo…” và HVNH không nằm ngoài định hướng trên
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 cũng đã chỉ rõ: “Giáo dụccon người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe vàthẩm mỹ, phát triển được các năng lực cá nhân, đào tạo những người lao động
có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ýthức công dân góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” [15]
Mục tiêu GDTC tại HVNH không nằm ngoài mục tiêu GDTC trong cáctrường Đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Thông tư liên tịch -Hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác TDTT trường học giai đoạn
2006 - 2010 đã chỉ rõ: “Thể dục thể thao trường học là bộ phận đặc biệt quantrọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức,
ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TDTT trường học là môi trườngthuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao chođất nước” Mục đích chính của GDTC là để trang bị cho học sinh kiến thức,
kỹ năng, năng lực, và các giá trị cùng với sự nhiệt tình để duy trì một lối sốnglành mạnh vào tuổi trưởng thành
Như vậy, có thể thấy ở tất cả các ban ngành đều coi trọng giáo dục thế
hệ trẻ một cách toàn diện Vấn đề đặt ra là, từ mục tiêu, yêu cầu của Đảng, từchiến lược phát triển giáo dục của Bộ GD- ĐT…cần phải xây dựng mục tiêu
cụ thể cho từng lĩnh vực, từng ngành nghề đào tạo, từng cấp học, từng trườngđại học sao cho thực hiện tốt nhất yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao “chất” của
Trang 31sản phẩm đào tạo Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam cũng quy định: “GDTC trong trường học nói chung ở nước ta là một nộidung bắt buộc”[48] Nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên Học việnNgân hàng chính là góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện,phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nâng cao chấtlượng GDTC cho sinh viên Học viện Ngân hàng cần thực hiện tốt một số mụctiêu cụ thể sau:
- Trang bị cho sinh viên tri thức cơ bản về các kỹ năng vận động, chiến thuật và luật thi đấu một số môn thể thao
kỹ Giúp sinh viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc rènluyện TDTT bên cạnh việc nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ
- Giúp các em hình thành nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, cótính kỷ luật, tự giác luyện tập TDTT thường xuyên trong cuộc sống
- Củng cố và tăng cường sức khỏe cho sinh viên, giúp các em pháttriển toàn diện các tố chất thể lực
- Rèn luyện cho sinh viên có kỹ năng thực hành một số môn thể thao
cơ bản, phù hợp với lứa tuổi, nghề nghiệp
1.4.2 Nội dung chương trình giảng dạy giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
Nội dung chương trình giảng dạy của bất cứ môn học nào đó là yếu tốquan trọng của hoạt động dạy - học, là sự thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy -học cụ thể Theo đó, nội dung chương trình giảng dạy GDTC tại HVNH phảiđược xây dựng theo mục tiêu đào tạo của trường của nghành, dựa trên quyđịnh và hướng dẫn của Bộ GD- ĐT Nội dung giảng dạy GDTC nhằm giúpsinh viên nắm được kiến thức môn học và biết vận dụng (thực hiện) nhằmnâng cao năng lực, thể chất bản thân Nội dung giảng dạy GDTC trong cáctrường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp được cụ thể hóa tronggiáo trình các môn học
Bảng 1 Nội dung chương trình các môn học GDTC tại HVNH
Trang 32Về nội dung, chương trình gồm có hai phần:
Phần học bắt buộc gồm có: lý thuyết chung; thể dục; chạy 100m; chạy
cự ly trung bình và nhảy xa Phần học bắt buộc tương đương với 60 tiết
Phần tự chọn gồm có: bóng chuyền; cầu lông và dance sport Phần tự
chọn tương đương với 90 tiết
1.4.3 Hình thức tổ chức giảng dạy giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
GDTC là một hoạt động giáo dục không thể thiếu được trong trườnghọc, nên nó mang tính hướng đích, có tổ chức, có kế hoạch, qua đó giáo viêntruyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…cho người học nhằm đạt mục tiêuđặt ra GDTC chia thành hai mặt tương đối độc lập, đó là “dạy học động tác”còn gọi là “giáo dưỡng thể chất” và “giáo dục tố chất thể lực” Đặc trưng củaGDTC gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.Chương trình GDTC trong các trường đại học nhằm giải quyết các nhiệm vụgiáo dục: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực của sinh viên” [3]
Hình thức tổ chức giảng dạy GDTC tại HVNH gồm có:
Giờ học thể dục thể thao chính khoá
Quyết định của Bộ GD- ĐT ban hành năm 2001 đã chỉ rõ: “Học sinh,sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập môn thể dục vàmôn sức khỏe Sinh viên các trường Cao đẳng và Đại học phải có chứng chỉgiáo dục thể chất mới đủ điều kiện thi tốt nghiệp” Như vậy, căn cứ theoquyết định này, để có chứng chỉ GDTC, sinh viên các trường Cao đẳng và Đạihọc trong cả nước phải tham dự đầy đủ các tiết học chính khóa theo yêu cầu
và quy định về quy chế học sinh, sinh viên của từng trường học cụ thể thì mớiđược cấp chứng chỉ GDTC Vì lẽ đó, giờ học chính khoá TDTT mang tínhquy định bắt buộc đối với sinh viên các trường và có quy chế lên lớp cụ thểđối với các giảng viên trực tiếp giảng dạy môn học này Nói cách khác, giờhọc chính khóa phải được thực hiện theo chương trình quy định của Bộ GD-
ĐT có quy định thời gian và cách thức đánh giá chất lượng học tập GDTC củasinh viên các trường Đại học
Như vậy, có thể nói giờ học thể thao chính khóa là hình thức học tập cơbản nhất của GDTC được tiến hành trong chương trình, kế hoạch đào tạo củanhà trường Đào tạo cơ bản về TDTT cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ cầnthiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực
và phối hợp vận động cho học sinh, sinh viên Đồng thời, giúp các em có trình
độ nhất định để tiếp thu được các động tác kỹ thuật TDTT, từ đó từng bướcthực hiện mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về TDTT trong trường họclà: "Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thểthao của học sinh, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo
ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính và lòng nhânđạo cho học sinh"[46]
Hơn thế nữa, giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng đối với việc quản lý
Trang 33và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹthuật động tác là điều kiện cần thiết để sinh viên phát triển cơ thể một cáchhài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyênmôn, hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản của một số môn thểthao Giờ học chính khóa còn trang bị cho sinh viên những tri thức cần thiết
về phương pháp rèn luyện một số môn thể thao để sinh viên tự tập luyện trongthời gian rảnh rỗi Mặt khác, trong giờ học TDTT, những phẩm chất ý chí củacon người như: lòng dũng cảm, tính độc lập, quyết đoán, tính kiên trì, bền bỉ
và khả năng tự kiềm chế được hình thành và hoàn thiện Các giờ học còn cóvai trò rất lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tập thể, sự thẳngthắn, trung thực, ý thức tổ chức, kỷ luật, năng động, sáng tạo trong học tập vàlao động, xây dựng lối sống lành mạnh nhằm từng bước giúp sinh viên hoànthiện và phát triển nhân cách
Giờ học TDTT chính khóa có đặc điểm chung giống như các giờ họccủa các môn học khác Chủ thể tham gia trong hoạt động dạy là giáo viên, chủthể tham gia hoạt động học là sinh viên cùng những công cụ hỗ trợ, điều kiệnhọc tập cho môn học Trong giờ học chính khóa, giáo viên TDTT luôn giữ vaitrò chủ đạo, điều khiển và trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học Trong hoạtđộng này, sinh viên giữ vai trò chiếm lĩnh tri thức môn học cả về lý thuyết lẫnhọc các động tác kỹ thuật, quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo
Giờ học TDTT chính khóa tại HVNH được tiến hành theo kế hoạch họctập với nội dung, chương trình theo quy định của Bộ GD- ĐT, phù hợp điềukiện của nhà trường với thời khóa biểu cố định, số lượng sinh viên trong lớptương đồng nhau về độ tuổi, trình độ học vấn, điều kiện, trang thiết bị, cơ sởvật chất kỹ thuật…phục vụ cho học tập TDTT là như nhau…
Thông thường, căn cứ vào đặc điểm của hoạt động dạy học GDTC, giờhọc chính khóa tại HVNH được chia thành các nội dung cụ thể tương ứng vớicác nội dung đó là lượng thời gian bố trí phù hợp như: học nội dung mới;củng cố ôn tập và kiểm tra đánh giá Trong quá trình học nội dung mới yêucầu sinh viên có lượng vận động tương đối thấp, chủ yếu các em nghe giáoviên phân tích kỹ thuật động tác của môn học, quan sát giáo viên thị phạm cácđộng tác mẫu cũng như chỉ ra các lỗi mà các em thường gặp phải khi mớithực hiện động tác kỹ thuật Giờ học củng cố, sinh viên được chủ động thựchiện các động tác kỹ thuật nhiều hơn dưới sự hướng dẫn và quản lý của giáoviên Giờ kiểm tra thường được tiền hành dưới hình thức thi đấu thể thao,kiểm tra giữa học kỳ và cuối học kỳ Trong giờ học này, giáo viên phải đảmbảo tổ chức một cách nghiêm túc chặt chẽ, yêu cầu sinh viên tuân thủ đúngluật, quy định và quy chế để đánh giá chất lượng GDTC của các em một cáchchính xác
Giờ học TDTT ngoại khóa
Giờ học thể thao ngoại khóa là giờ học không bắt buộc sinh viên phải
Trang 34tham gia theo một khung chương trình giảng dạy theo quy định của Bộ
GD-ĐT Rèn luyện thể thao ngoại khóa là do sinh viên tự nguyện học tập và thamgia trong thời gian rảnh rỗi (ngoài thời gian học chính khóa) Điều này chothấy, giờ học TDTT ngoại khóa phụ thuộc rất lớn vào quỹ thời gian của sinhviên cũng như nhu cầu, sở thích, hứng thú, mục đích của mỗi sinh viên.Mặc dù học thể thao ngoại khóa không có khâu kiểm tra đánh giá nhưng vớimục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàndiện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của học sinh, sinh viên.Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá vàđược tiến hành vào giờ tự học của học sinh, sinh viên dưới sự hướng dẫn củagiáo viên thể dục thể thao hay hướng dẫn viên (phụ thuộc vào nhu cầu củasinh viên)
Ngoài ra, còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học baogồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ TDTT, các đội tuyển của từng môn thểthao do huấn luyện viên là các thầy cô giáo trực tiếp đảm nhận, các bài tập thểdục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của học sinhsinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khoávới chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các mônthể thao yêu thích, rèn luyện thân thể tham gia cổ vũ phong trào rèn luyện vìngày mai lập nghiệp
Tác dụng của GDTC trong các trường đại học là toàn diện bởi nú làphương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn vànâng cao năng lực hoạt động, học tập của sinh viên trong suốt thời kỳ học tậptrong nhà trường, cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thểlực chuyên môn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp trong tươnglai
Hoạt động ngoại khoá là nội dung quan trọng của công tác GDTC trongnhà trường Hàng năm, bằng văn bản hướng dẫn công tác GDTC sức khoẻ, y
tế trường học của mình, Bộ GD-ĐT đã xác định nhiệm vụ cụ thể là: "Tích cựcđẩy mạnh các hoạt động ngoại khoá ngoài trời, khuyến khích sinh viên tậpluyện vào thời gian rỗi, các trường cần tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sởvật chất, giáo viên hướng dẫn để sinh viên được tập luyện thường xuyên, nềnếp"[31] "Hướng dẫn, khuyến khích học sinh sinh viên tập luyện vào thờigian rỗi, duy trì nề nếp tập luyện thể dục buổi sáng, tập luyện và kiểm tra tiêuchuẩn rèn luyện thân thể hàng năm"[32]
Tuy vậy, việc rèn luyện thể chất và tập luyện TDTT của sinh viên còngặp nhiều hạn chế cả trong nhận thức về vị trí, công tác chỉ đạo và đầu tư cácđiều kiện đảm bảo cho các hình thức và nội dung hoạt động ngoại khoá củasinh viên còn quá ít Do đó, “ cả quy mô và chất lượng người tập nâng caothành tích thể thao trong học sinh sinh viên còn chưa đáp ứng yêu cầu pháttriển thể thao học đường"[55]
Trang 351.4.4 Đặc điểm hoạt động giảng dạy giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
GDTC tại HVNH nói riêng và trong các trường đại học, cao đẳng, trunghọc chuyên nghiệp nói chung thực chất là một quá trình giáo dục có hướngđích, có kết hợp với phương pháp, phương tiện phù hợp và rất “đặc biệt” nhằmgóp phần phát triển năng lực thể chất của sinh viên theo mục tiêu đã được xácđịnh phù hợp với chiến lược đào tạo con người trong giai đoạn mới Vì lẽ đó,
“GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động
và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” [43, tr.24] Vớiquan niệm trên, có thể nói rèn luyện, nâng cao thể chất cho sinh viên là mộtviệc làm hết sức cần thiết, là nội dung trọng tâm và là yếu tố quyết định chấtlượng trong quá trình dạy học môn thể dục trong nhà trường
Hoạt động giảng dạy GDTC tại HVNH gồm có các đặc trưng chủ yếusau:
Thứ nhất, dạy học đại học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật DạyGDTC trong các trường đại học đòi hỏi tính khoa học và nghệ thuật cao hơn,bởi lẽ trong nhận thức của sinh viên, đó không phải là các môn học chuyênngành Làm thế nào để các em say mê học tập và rèn luyện các môn thể dụcthực sự, không học kiểu đối phó vì sợ không tốt nghiệp, đây quả là một vấn
đề cần được lưu ý trong quá trình dạy học GDTC trong các trường đại họckhông chuyên về TDTT Tính nghệ thuật trong giảng dạy GDTC thể hiện ởnăng lực truyền đạt của mỗi giảng viên làm sao khơi dậy được tiềm năng,hứng thú học tập để thường xuyên rèn luyện, phát triển năng lực thể chất bổtrợ cho hoạt động trí não sáng tạo trong nghề nghiệp của sinh viên Giảngviên càng tinh thông về nghiệp vụ bao nhiêu sẽ là điều kiện tiên quyết để dạyGDTC đạt chất lượng cao bấy nhiêu
Thứ hai, đối tượng của hoạt động học là tri thức và kỹ năng, kỹ xảo tươngứng với nó Mục tiêu của việc học các môn thể dục tại HVNH là giúp sinh viênnâng cao nhận thức về ý nghĩa khoa học của môn học, nắm được kiến thức cơbản về GDTC nhằm từng bước vận dụng tri thức đó vào rèn luyện kỹ năng, hìnhthành các kỹ xảo vận động phát triển các tố chất thể lực cũng như hình thànhthói quen luyện tập thể dục thường xuyên trong cuộc sống
Thứ ba, hoạt động giảng dạy GDTC là một quá trình bao gồm hoạtđộng dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên diễn ra trong hoạtđộng chung, trong đó, giảng viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức điều khiểnhoạt động nhận thức và rèn luệyn kỹ năng, kỹ xảo trong vận động của sinhviên Trong hoạt động này, sinh viên đóng vai trò tích cực, chủ động, tự giácchiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo để vận dụng và thực hiệnthành thạo các thao tác mang tính kỹ thuật của môn học thể chất nhằm pháttriển các tố chất thể lực của bản thân
Thứ tư, hoạt động dạy học GDTC tại HVNH là hoạt động diễn ra giữachủ thể với chủ thể nhằm giúp sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của môn
Trang 36học trong quá trình duy trì và tăng cường sức khỏe để phát triển tâm lý, ýthức, nhân cách toàn diện Bản chất của hoạt động dạy - học là làm thế nào đểtạo ra được tính tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên, làm cho các
em vừa có nhận thức đúng đắn về môn học, vừa biết cách để lĩnh hội tri thức
và vận dụng thực hành các động tác kỹ thuật chuẩn xác trong từng mônGDTC Tính tích cực của sinh viên trong hoạt động học tập quyết định chấtlượng học tập Tuy nhiên, tính tích cực của sinh viên bị chi phối bởi khả năng
tổ chức, điều khiển, cách thức, nội dung chương trình của người thầy và củanhà trường
Thứ năm, hoạt động giảng dạy GDTC khác với hoạt động giảng dạycác môn khoa học khác bởi tính đặc trưng của môn học Sự khác biệt đó đượcthể hiện ở nội dung, chương trình, cách thức tổ chức giảng dạy như đã trìnhbày ở trên và cách thi, kiểm tra đánh giá đội ngũ các giảng viên, cách học củasinh viên và các điều kiện học tập khác
Đối với giảng viên giảng dạy GDTC ngoài việc am hiểu sâu sắc lýthuyết về môn mình đảm nhiệm còn biết vận dụng lý thuyết một cách thuầnthục vào trong các “động tác mẫu”, biết phân tích các động tác kỹ thuật (haycòn gọi là phân tích thị phạm động tác), hướng dẫn sinh viên làm theo, quansát, chỉnh sửa các động tác cho các em sao cho đúng với động tác kỹ thuật củamôn học
Đối với sinh viên: giờ học thể dục chủ yếu là thực hành các động tác
kỹ thuật của môn học nên ngoài việc nắm được kiến thúc cơ bản cũng nhưcác luật thi đấu của từng môn, sinh viên cần phải tập trung, chú ý cao độkhi các giảng viên hướng dẫn thực hành các động tác kỹ thuật đó Ngoàigiờ học chính khóa, các em cần bố trí thời gian phù hợp để tập luyệnthường xuyên thì mới đảm bảo thực hiện tốt các động tác kỹ thuật của mônhọc Ngoài ra các em còn phải trang phục theo đúng quy định nhằm đảmbảo sự thuận tiện, an tòan, cũng như tạo nên sự hưng phấn trong quá trìnhluyện tập thể dục thể thao
Điều kiện học tập GDTC cũng khác biệt so với các môn học khác Nếucác môn học khác các em được học tại giảng đường thì học các môn GDTC,ngoài nội dung lý thuyết chung được học trên giảng đường, các em thực hành,luyện tập chủ yếu là ngoài trời hoặc ở sân tập theo sự sắp xếp của nhà trường
Như vậy, có thể nói để nâng cao chất lượng GDTC tại HVNH nói riêng
và trong các trường đại học nói chung phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố màtrong đó phải kể đến phương pháp giảng dạy của người thầy cùng với cáchthức, ý thức tự học, tự rèn luyện của sinh viên
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại Học viện Ngân hàng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả công tác giáodục thể chất tại HVNH Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu một
Trang 37số yếu tố mà theo quan sát và điều tra thử cho thấy đây là các yếu tố chủ quan
và khách quan có tác động nhiều nhất hiệu quả GDTC tại HVNH Nhóm các
yếu tố chủ quan gồm: nhận thức tầm quan trọng về môn học GDTC; nhu cầu
học tập TDTT; động cơ học tập TDTc; ý thức rèn luyện nâng cao kỹ thuật các môn học GDTC Nhóm các yếu tố khách quan bao gồm: Phương pháp giảng dạy của giáo viên; Cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ học tập GDTC; tài liệu, giáo trình môn học; nội dung chương trình giảng dạy,
1.5.1 Yếu tố khách quan
1.5.1.1 Nhận thức tầm quan trọng về giáo dục thể chất
Nhận thức tầm quan trọng về môn học GDTC trong học tập có ảnh
hưởng lớn đến định hướng, chỉ đạo thái độ, hành động, ý thức rèn luyện của mỗi sinh viên Khi nào sinh viên nhận thấy GDTC có ý nghĩa với nghề nghiệp và mang lại ích lợi đối với bản thân, khi đó họ sẽ có động lực thôi thúc để rèn luyện, chiếm lĩnh nó Nhận thức tầm quan trọng về môn học DGTC tác động lớn đến kết quả học tập môn học này của các em Thực trạng cho thấy, có một số lượng tương đối lớn sinh viên cho rằng đây chỉ
là môn học phụ, không phải môn học chuyên ngành nên ít đầu tư, chú trọng trong quá trình học tập các môn học GDTC.
1.5.1.2 Nhu cầu học tập thể dục thể thao
Các nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng, nhu cầu là cơ chế bên trongcủa sự tồn tại và phát triển, là sự thỏa mãn cái thiếu trong mỗi cá nhân Nhucầu học tập TDTT là mong muốn, khát vọng tiếp thu tri thức từ những bài học
lý thuyết đến học các tư thế, kỹ thuật, động tác và rèn luyện thực hiện mộtcách thuần thục trong từng môn học Để chứng minh sự cần thiết của nhu cầu,Sandra và Kleiner (1991) nhận xét: “Con người cần thức ăn và nơi ở, cần tìnhyêu và tình bạn, cần sự kính trọng và sẻ chia nhu cầu là như vậy Để conngười thực hiện có kết quả trong hoạt động nào đó, chỉ khi con người có nhucầu chiếm lĩnh nó” [51, tr.24] Nhu cầu học tập TDTT của sinh viên khơi dậytính tích cực trong học tập và nâng cao tinh thần, ý thức rèn luyện thân thểkhỏe mạnh để ngày mai lập nghiệp Muốn làm được điều đó phải bắt nguồn
từ sự say mê, yêu thích môn học của sinh viên Từ đó, các em sẽ có hứng thú,luôn biết tạo ra những cảm xúc tích cực, tìm tòi, sáng tạo trong học tập vàđam mê rèn luyện trong thời gian học ngoại khóa để thỏa mãn nhu cầu
Từ những phân tích trên, chúng tôi xem xét nhu cầu như một yếu tố ảnhhưởng đến kết quả công tác GDTC tại HVNH
1.5.1.3 Động cơ học tập thể dục thể thao
Trong hoạt động, gắn với từng lĩnh vực khác nhau, mỗi cá nhân có động
cơ khác nhau Các nghiên cứu Tâm lý học về động cơ đã chỉ ra rằng, “Động
cơ là các duyên cớ, các động lực thúc đẩy (motif, motifvation) thường đượcdùng để chỉ các hiện tượng hoàn toàn khác nhau Một số tác giả cho rằng,động cơ được hiểu là động lực thúc đẩy con người nhằm thực hiện hoạt động
Trang 38để đạt mục đích và làm nảy sinh tính tích cực, quy định xu hướng nhân cách.Động cơ học tập TDTT của sinh viên thường gắn liền với nhu cầu học tập mônhọc này và quy định tích chất, chiều hướng của hoạt động học tập TDTT Tronghoạt động cụ thể, con người có những động lực thôi thúc khiến họ ý thức vànhận thức rất rõ mục tiêu để vươn tới Trong một chừng mực nào đó, nếu sinhviên không có động lực thôi thúc để thỏa mãn nhu cầu thì các em chưa ý thứcđược bản thân phải làm gì để nắm được kiến thức lý thuyết cũng như học cácđộng tác kỹ thuật về từng môn học trong chương trình GDTC mà nhà trườngquy định Khi các em có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, vai trò và mức độ ảnhhưởng của GDTC đối với kết quả học tập và rèn luyện sức khỏe cho bản thâncác em sẽ có động lực thôi thúc, cố gắng học hỏi, tích lũy kiến thức để thực hiệnthành thạo các động tác kỹ thuật về từng môn học và nâng cao ý thức rèn luyệnthân thể ngay cả khi môn học này kết thúc.
1.5.1.4 Ý thức rèn luyện nâng cao kỹ thuật các môn học giáo dục thể chất
Các nhà khoa học căn cứ vào cơ sở phương pháp luận khác nhau khinghiên cứu vấn để ý thức Vận dụng sáng tạo các nguyên lý của triết họcMácxít, các nhà Tâm lý học Liên Xô trước đây đã xây dựng phương pháp luậncho Tâm lý học với các nguyên tắc cơ bản: Coi tâm lý là hoạt động và là cơ sởthay đổi cách tiếp cận vấn đề ý thức và tự ý thức K.K.Platonốp cho rằng: “ýthức là sự thống nhất của mọi hình thức nhận thức, trải nghiệm của con người
và thái độ của họ đối với cái mà họ phản ánh; là sự thống nhất của tất cả cácquá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của con người như là một nhân cách”[51, tr.25] Như vậy, ý thức đảm bảo cho hoạt động của con người có mục đích
và thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi con người nhằm đạt mụcđích đề ra ý thức còn là sự tích lũy và sử dụng thông tin xung quanh về bảnthân con người để giải quyết các vấn đề của cuộc sống Trước hết, mỗi sinhviên cần tự hình thành thói quen tích lũy kiến thức về GDTC Trên cơ sở đó,các em tự nhận thức, đánh giá bản thân thấy thực sự cần thiết, có mong muốn,nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, động cơ thôi thúc bù đắp những thiếu hụt về kiếnthức GDTC với mục tiêu khỏe để học tập, để cống hiến cho xã hội ý thức, rènluyện nâng cao kỹ thuật các môn học GDTC có ở sinh viên khi các em nhậnthấy các môn học trong chương trình GDTC đã phần nào mang lại kết quả tốt
trong học tập và trong quá trình rèn luyện sức khỏe học đường
1.5.2 Yếu tố chủ quan
1.5.2.1 Phương pháp giảng dạy của giảng viên
Phương pháp giảng dạy các môn học ở bậc đại học nói chung vàphương pháp giảng dạy các môn học GDTC nói riêng vừa là khoa học vừa lànghệ thuật cao Tính khoa học của phương pháp giảng dạy đại học đòi hỏiphải nắm vững bản chất của quá trình đào tạo đại học Vì thế cho nên, dạy đạihọc là dạy nhận thức (Cognitive), dạy kỹ năng (Psychomotor) và dạy cảmnhận (Affective) các kiến thức khoa học và tùy theo mục tiêu đào tạo của
Trang 39trường, tùy theo mục tiêu của từng môn học mà chọn trong tâm đo tạo nhậnthức, kỹ năng hay cảm nhận cho phù hợp.
Tính nghệ thuật của việc giảng dạy đại học thể hiện ở năng lực truyềnđạt của giảng viên làm sao khơi dậy được hứng thú học tập từ sinh viên, pháttriển, kích thích sự sáng tạo của các em giúp các em có nhận thức, có cảmnhận, có kỹ năng về môn học
Đối với đặc trưng của môn GDTC, mỗi giảng viên bên cạnh việc nắmvững chuyên môn rất cần biết vận dụng khéo léo, linh hoạt và kết hợp nhiềuphương pháp giảng dạy khác nhau Các giảng viên thường tuân thủ các quytrình: Dạy lý thuyết về nội dung, ý nghĩa của môn học, diễn giải các động tác
kỹ thuật, hướng dẫn các động tác kỹ thuật (phân tích thị phạm động tác) chosinh viên và quan sát sinh viên luyện tập
Việc giảng dạy các môn học GDTC có sự khác biệt lớn đối với cácmôn học khác đòi hỏi các giảng viên cần nắm vững lý thuyết môn học, thuầnthục các động tác kỹ thuật, cập nhật các thông tin liên quan đến môn học(thành tích của các vận động viên trong nước và trên thế giới) để hướng dẫn,giới thiệu tạo hứng thú cho sinh viên luyện tập Bên cạnh đó, việc giảng vàhọc các môn học GDTC còn có một số yêu cầu bắt buộc đối với các giảngviên và sinh viên như: trang phục, điều kiện học tập (có dụng cụ, sân bãi tậpluyện và thi đấu phù hợp với môn học), thể lực của sinh viên
1.5.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ học tập GDTC
Cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ học tập môn GDTC là những điều kiện
không thể thiếu được trong hoạt động giảng dạy tại HVNH Trong chiến lượcPhát triền Giáo dục 2001 - 2010 đề ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong
đó nhấn mạnh: “Tăng cường nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy độngmọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý tàichính, chuẩn hóa và hiện đại hóa trường sở, trang thiết bị giảng dạy, nghiêncứu và học tập” [15]
Đổi mới chương trình, nội dung giảng dạy GDTC luôn gắn liền vớinhững yêu cầu về trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật Yêu cầu về trang thiết
bị dạy học các môn TDTT không phải chỉ đơn thuần là các phương tiện minhhọa “trực quan hóa” mà nó còn là công cụ, phương tiện để giúp sinh viênluyện tập các động tác kỹ thuật của môn học Với mỗi môn học GDTC, trongcác giáo trình giảng dạy đã chỉ rõ nội dung và các yêu cầu đối với ngườigiảng và người học Trên cơ sở đó, cũng chỉ rõ việc chuẩn bị cơ sở vật chất,
kỹ thuật, đồ dùng học tập cho từng môn học như: sân bãi, quy định về trangphục, dụng cụ học tập
Mặc dù số lượng trang thiết bị, đồ dùng học tập và cơ sở vật chất phục
vụ cho việc giảng dạy GDTC tại HVNH đã được Ban giám đốc HVNH và cáccấp quản lý trang bị nhưng chất lượng thiết bị, dụng cụ, đồ dùng học tập chưacao, đặc biệt sân bãi dành riêng cho giảng dạy và học tập các môn GDTC còn
Trang 40hạn chế Thực tế, các giáo viên thường tận dụng “đường đi” hoặc “sântrường” làm nơi giảng dạy các môn học GDTC Điều này dẫn đến những tácđộng không nhỏ từ thời tiết và cảnh quan môi trường xung quanh đến chấtlượng GDTC tại HVNH.
1.5.2.3 Tài liệu, giáo trình môn học
Vấn đề giáo trình môn học TDTT là một trong những công cụ quantrọng phục vụ hữu ích cho hoạt động giảng dạy của bất cứ môn khoa học nào.Tuy nhiên, giáo trình các môn học GDTC hiện nay còn rất thiếu, các tài liệuhiện có thường chỉ dùng làm tài liệu tham khảo Sinh viên thường “trông chờ”vào các bài giảng lý thuyết mà các giảng viên cung cấp trên lớp Việc khuyếnkhích các em đến thư viện tìm đọc hay mua tài liệu học tập các môn GDTCthường trở nên hết sức khó khăn
1.5.2.4 Nội dung, chương trình giảng dạy
Nội dung chương trình giảng dạy các môn GDTC gồm có hai phần bắtbuộc theo quy định của Bộ DG- ĐT và tự chọn do trường quyết định Tuynhiên, thời gian bố trí học tập các môn GDTC còn ít nên không đủ kích thích
sự say mê của các em để các em có thể phát huy kiến thức môn học trong cácgiờ tự học với mục đích khỏe để học tập và cống hiến cho đất nước
Các môn tự chọn là do Bộ môn Giáo dục thể chất và Quốc phòng xâydựng căn cứ vào chuyên môn, nghiệp vụ hiện có của các giáo viên đang giảngdạy và điều kiện thực tế của nhà trường do Ban giám đốc HVNH quyết địnhdựa trên sự tham mưu của Bộ môn GDTC và QP Đây có thể cũng là nguyênnhân tác động đến chất lượng học tập thể dục của sinh viên bởi các môn tựchọn đó chưa chắc các em đã yêu thích hoặc chưa phù hợp với sức khỏe thể lựccủa các em Đây cũng là một trong những vấn đề cần cân nhắc rất thận trongkhi xây dựng nội dung, chương trình giảng dạy sao cho phù hợp với mục tiêuđào tạo
Tiểu kết chương 1
- Kết quả nghiên cứu lý luận chỉ ra rằng, hiện nay có rất nhiều côngtrình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về chấtlượng GDTC trong trường học các cấp Các tác giả chứng minh được lợi íchcủa việc học tập và rèn luyện GDTC trong trường học và trong cuộc sống
- Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục Từ các kháiniệm công cụ, chúng tôi xác định: Chất lượng giáo dục thể chất là sự phù hợpvới mục tiêu giáo dục thể chất đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển
- Chất lượng GDTC của HVNH chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó
có các yếu tố chủ quan như: Nhận thức tầm quan trọng về môn học GDTC;
nhu cầu học tập TDTT; động cơ học tập TDTT; ý thức rèn luyện nâng cao kỹ thuật các môn học GDTC và các yếu tố khách quan bao gồm: Phương pháp giảng dạy của giáo viên; cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ học tập GDTC; tài liệu, giáo trình môn học; nội dung chương trình giảng dạy