Tiên Yên là một huyện miền núi khó khăn của tỉnh Quảng Ninh, làm thế nào để xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học nhằm duy trì và phát huy được chất lượng dạy và h
Trang 1- -
VŨ NHẬT QUANG
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN TIÊN YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁODỤC
THÁI NGUYÊN – 2010
Trang 2- -
VŨ NHẬT QUANG
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN TIÊN YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM VIẾT VƯỢNG
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường ĐHSP Thái Nguyên,
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Tâm lý Giáo dục, các thầy giáo, cô giáo đã
giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Viết Vượng
người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, chuyên viên Phòng Giáo
dục Tiểu học của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho
tác giả trong quá trình nghiên cứu
Cảm ơn các thành viên trong Ban điều hành của Tổ chức cứu trợ Trẻ
em tại Việt Nam (SCiV), Ban điều hành dự án SCiV huyện Tiên Yên
Cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, Chính quyền, các Đoàn thể của
12 xã và thị trấn trên địa bàn huyện Tiên Yên và cán bộ, giáo viên, học sinh,
cha mẹ học sinh của 14 đơn vị trường mà tác giả điều tra khảo sát, cảm ơn các
đồng nghiệp, các bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tác
giả hoàn thành bản luận văn này
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 8 năm 2010
Vũ Nhật Quang
Trang 4CBQL : Cán bộ quản lý
CNTT : Công nghệ thông tin
CSVC : Cơ sở vật chất
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
SCiV : Tổ chức cứu trợ trẻ em Việt Nam
SCUK : Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh
TH : Tiểu học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
UNESCO : Tổ chức văn hoá thế giới
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5Trang
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp chỉ đạo xây dựng MTHTTT
ở các trường tiểu học 6
1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
Trên thế giới 6
Ở Việt Nam 8
1.2 Khái niệm công cụ 10
1.2.1 Khái niệm thân thiện 10
1.2.2 Khái niệm môi trường học tập 11
1.2.3 Khái niệm môi trường học tập thân thiện 13
1.2.4 Khái niệm trường học thân thiện, học sinh tích cực 21
1.2.5 Khái niệm biện pháp chỉ đạo 24
1.2.6 Khái niệm xây dựng 25
1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về việc xây dựng MTHTTT ở cấp tiểu học 26
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh cấp tiểu học 26
1.3.2 Đặc điểm hoạt động và môi trường sống của học sinh tiểu học 31
1.3.3 Mục tiêu của xây dựng MTHTTT ở trường tiểu học 32
1.3.4 Ý nghĩa của xây dựng MTHTTT ở trường tiểu học 33
Chương 2 Thực trạng xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 36
2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tiên Yên 36
2.2 Tình hình phát triển giáo dục huyện Tiên Yên 37
2.3 Thực trạng chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 58
Trang 6các trường tiểu học huyện Tiên Yên 62
2.3.2.1 Thực trạng về nhận thức và nguyên nhân 62
2.3.2.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện và nguyên nhân 75
Chương 3: Biện pháp chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 96
3.1 Nguyên tắc chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở cấp tiểu học 96
3.1.1 Đảm bảo hiệu quả giáo dục 96
3.1.2 Đảm bảo sự phối hợp thống nhất các lực lượng giáo dục 96
3.1.3 Đảm bảo tính tự nguyện, tự giác của các trường, các địa phương 97 3.1.4 Đảm bảo đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn xây dựng 97
3.2 Các biện pháp chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên – Tỉnh Quảng Ninh 97
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về phong trào xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học 97
Biện pháp 2: Tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể địa phương về xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học 101
Biện pháp 3: Nâng cao năng lực chỉ đạo xây dựng MTHTTT cho đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 105
Biện pháp 4: Nâng cao năng lực xây dựng MTHTTT cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học 111
Biện pháp 5: Tổ chức giáo dục ý thức, thái độ và hành vi thân thiện cho học sinh các trường tiểu học 117
Biện pháp 6 Xây dựng cơ sở vật chất, không gian, trường lớp thân thiện ở trường tiểu học 121
Biện pháp 7: Xây dựng môi trường thân thiện ngoài nhà trường 126
Trang 7dựng MTHTTT 137
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 140
3.5 Khảo nghiệm các biện pháp 141
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 141
3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 141
3.5.3 Phương pháp khảo nghiệm 141
3.5.4 Phân tích kết quả khảo nghiệm 141
Kết luận và khuyến nghị 146
Kết luận 146
Khuyến nghị 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 154
Trang 8Bảng 2.1 Tổng hợp cán bộ, giáo viên, nhân viên năm 2010 40 Bảng 2.2 Thống kê số lớp, học sinh (từ năm học 2005 – 2006 đến năm
học 2009 – 2010) 42 Bảng 2.3 Thống kê các điểm trường đi lại thuận lợi và khó khăn 43 Bảng 2.4 Thông tin về cán bộ quản lý cấp tiểu học 47 Bảng 2.5 Đánh giá viên chức là CBQL hàng năm từ năm học 2005 –
2006 đến nay 48 Bảng 2.6 Thông tin về đội ngũ GV tiểu học của huyện Tiên Yên năm 2010 49 Bảng 2.7 Đánh giá viên chức giáo viên hàng năm từ năm 2005 đến nay 50 Bảng 2.8 Đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học 50 Bảng 2.9 Thống kê kết quả thanh tra hoạt động sư phạm GV của
Phòng GD&ĐT với các trường tiểu học (từ năm học 2005 –
2006 đến 2009 – 2010) 51 Bảng 2.10 Thống kê số lượng giáo viên giỏi tiểu học các cấp (từ năm học 2005
– 2006 đến năm học 2009 – 2010) 52 Bảng 2.11 Thống kê công tác xã hội hóa của các trường tiểu học trong
huyện từ năm học 2005 – 2006 đến năm học 2009 – 2010 55 Bảng 2.12 Thống kê công tác giải phóng mặt bằng từ đất rừng, đất
canh tác của dân để xây dựng các điểm trưòng dự án giáo
dục tiểu học vùng khó (PEDC) từ 2005 đến nay 55 Bảng 2.13 Chất lượng 2 mặt giáo dục (từ năm học 2005 - 2006 đến
2009 – 2010) 57 Bảng 2.14 Quy mô trường lớp, đội ngũ và học sinh năm học 2009 – 2010 60 Bảng 2.15 Đối tượng khảo sát 61 Bảng 2.16 Nhận thức của Ban giám hiệu, Tổng phụ trách Đội và Giáo viên
chủ nhiệm về vai trò của nội dung xây dựng MTHTTT 63
Trang 9Bảng 2.18 Nhận thức của học sinh về nội dung và hình thức tổ chức xây dựng
MTHTTT ở nhà trường (câu hỏi 3 mẫu phiếu số 3 phần phụ lục) 70 Bảng 2.19 Nhận thức về nội dung và mục đích vai trò xây dựng MTHTTT
của lãnh đạo đảng ủy, chính quyền đoàn thể xã (thị trấn): 71 Bảng 2.20 Nhận thức về nội dung và mục đích vai trò xây dựng
MTHTTT của cộng đồng: 73 Bảng 2.21 Nhận thức của cộng đồng đóng vai trò về nội dung xây dựng
MTHTTT 73 Bảng 2.22 Nhận thức của Cha mẹ học sinh về nội dung và mục đích của xây
dựng MTHTTT 74 Bảng 2.23 Thành phần trong Ban chỉ đạo phong trào “xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở các nhà trường 76 Bảng 2.24 Đánh giá của các điều kiện tác động vào việc tổ chức thực
hiện xây dựng MTHTTT trong các nhà trường Tiểu học 77 Bảng 2.25 Đánh giá mức độ tổ chức thực hiện MTHTTT của nhà
trường (câu hỏi 2, mẫu phiếu số 2 phần phụ lục) 79 Bảng 2.26 Đánh giá mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá về công tác
xây dựng MTHTTT của Phòng GD&ĐT 81 Bảng 2.27 Đánh giá mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá về công tác
xây dựng MTHTTT của nhà trường 82 Bảng 2.28 Đánh giá mức độ thực hiện xây dựng MTHTTT của
nhà trường 84 Bảng 2.29 Đánh giá của học sinh về mức độ thực hiện MTHTTT của
nhà trường, của điểm trường đang sinh sống và học tập 85 Bảng 2.30 Đánh giá về sự tham gia của học sinh vào việc xây dựng
MTHTTT ở nhà trường và gia đình 87
Trang 10Bảng 2.32 Đánh giá về sự tham gia của cộng đồng vào việc xây dựng
MTHTTT 89 Bảng 2.33 Đánh giá về sự tham gia của Cha mẹ học sinh vào việc xây
dựng MTHTTT 91 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở cấp tiểu học (nhóm đối
tượng ngoài nhà trường) 142 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp chỉ đạo xây dựng MTHTTT ở cấp tiểu học (nhóm đối
tượng trong nhà trường) 143
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 25 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu loại hình trường học, cấp học huyện Tiên Yên
năm học 2009 - 2010 39 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu cao tầng hóa trường học huyện Tiên Yên năm 2010 39 Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ trên chuẩn của giáo viên các cấp học 41
Trang 11và 4 trụ cột giáo dục: học để biết (nắm được công cụ của sự nhận thức), học
để làm (tác động lên môi trường sống một cách chủ động), học để cùng chung sống (hòa nhập tham gia vào các mối quan hệ xã hội) và học để tự khẳng định mình (để tồn tại và phát triển) Triết lý học suốt đời vuợt qua quan niệm truyền thống, tạo ra một xã hội học tập, ở đó tất cả mọi người đều có cơ hội học tập và phát huy tiềm năng của mỗi người
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Đảng ta đặc biệt coi trọng vị trí con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Nghị
quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Đảng ta đã khẳng định:“Muốn tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”
Trong nền kinh tế mở cửa, có nhiều luồng tư tưởng, văn hoá tràn vào nước ta với những diễn biến rất phức tạp Học sinh mọi lứa tuổi trong đó có học sinh tiểu học, lứa tuổi nhạy cảm với những tác động ngoại cảnh, có thể lây nhiễm nhanh các thói hư tật xấu, đi lệch chuẩn mực đạo đức, những thuần phong mỹ tục làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình tu dưỡng đạo đức và học tập của học sinh Đây chính là những băn khoăn, trăn trở không chỉ đặt ra cho ngành giáo dục mà là vấn đề của toàn xã hội
Thực trạng này đòi hỏi ngành giáo dục phải nghiên cứu để có những giải pháp tối ưu nhất góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách cho học sinh, đặc biệt với những học sinh vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 12Trong việc thực hiện sứ mệnh nặng nề và cao cả đó, mỗi trường học phải là một tập thể đoàn kết, tâm huyết và có trách nhiệm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân có văn hóa, có trình độ kiến thức, kỹ năng, có ý chí, có hoài bão vươn lên làm giàu cho đất nước, cho bản thân
Mỗi trường học phải xây dựng thành một môi trường tích cực, thân thiện giữa thầy với thầy, thầy với trò, giữa trò với trò, thân thiện giữa nhà trường
với cộng đồng, với chính quyền và với xã hội theo nguyên lý “Giáo dục nhà
trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
Năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị số BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua
40/CT-“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ
thông giai đoạn 2008 - 2013
Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện phong trào này gặp không
ít khó khăn do sự khác nhau về trình độ nhận thức của các cán bộ quản lý ở cấp Sở - Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng như đặc điểm và điều kiện, biện pháp và cách thức tổ chức thực hiện của mỗi nhà trường, trình độ dân trí mỗi khu vực trên địa bàn
Tiên Yên là một huyện miền núi khó khăn của tỉnh Quảng Ninh, làm thế nào để xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học nhằm duy trì và phát huy được chất lượng dạy và học là câu hỏi đặt ra cho người quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trên địa bàn huyện
Với nhiệm vụ là cán bộ quản lý phòng giáo dục và đào tạo của huyện,
chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân
thiện ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên - Tỉnh Quảng Ninh” làm luận
văn cao học với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường
Trang 133 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý chỉ đạo các phong trào giáo dục ở
các trường tiểu học trong một huyện
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học
tập thân thiện ở các trường tiểu học
4 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Đề tài giới hạn nghiên cứu vấn đề tổ chức chỉ đạo thực hiện việc xây dựng môi trường học tập thân thiện ở 14 trường tiểu học thuộc huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh
- Môi trường học tập thân thiện nêu trong đề tài giới hạn chủ yếu trong nhà trường
5 Giả thuyết khoa học
Năng lực chỉ đạo của cán bộ quản lý, sự hiểu biết của giáo viên, nhận thức của chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, cha mẹ học sinh các trường tiểu học ở chuyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh chưa đáp ứng được phong trào xây dựng môi trường học tập thân thiện nên chất lượng phong trào còn nhiều hạn chế, nếu có các biện pháp chỉ đạo phù hợp, nếu có mối liên kết giữa các lực lượng giáo dục chặt chẽ thì chất lượng phong trào sẽ được nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Xác định cơ sở khoa học của các biện pháp xây dựng môi trường học
tập thân thiện trong nhà trường
Trang 14+ Khảo sát, phân tích thực trạng xây dựng môi trường học tập thân thiện tại các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
+ Đề xuất biện pháp xây dựng môi trường học tập thân thiện tại các trường tiểu học huyện Tiên Yên - Tỉnh Quảng Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng các nhóm phương pháp sau đây:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, hệ thống hoá các tài liệu, các công trình khoa học, tạp chí có liên quan, làm rõ những biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân thiện
- Sử dụng phương pháp dự báo khoa học để dự báo về phong trào xây dựng môi trường học tập trong thời gian tới
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các chỉ thị, qui định của Ngành giáo dục; Luật giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, Nhiệm vụ năm học của Bộ, của Sở Giáo dục và Đào tạo
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Theo dõi quan sát phong trào xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học của huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Tổng kết kinh nghiệm xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học trong các năm học
- Thu thập và xử lý các báo cáo, các kết quả nghiên cứu về biệp pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân thiện của các trường tiểu học
- Điều tra bằng phiếu các tiêu chí liên quan đến phạm vi của đề tài nghiên cứu
- Phỏng vấn lấy ý kiến của các cán bộ quản lý trường học, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương
Trang 157.3 Nhóm các phương pháp hỗ trợ
- Sử dụng toán thống kê để tổng hợp kết quả điều tra và xử lý tài liệu
- Lập các biểu bảng, các sơ đồ…để so sánh, đối chiếu số liệu nhằm mục đích rút ra những nhận xét phục vụ cho đề tài nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Gồm 3 phần chính:
Phần mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu
Phần nội dung: Gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học
tập thân thiện ở các trường Tiểu học
Chương II: Thực trạng về công tác chỉ đạo xây dựng môi trường học tập
thân thiện ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương III: Biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân thiện
ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Phần III: Kết luận và khuyến nghị
Danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới:
Môi trường là hoàn cảnh sống xung quanh, luôn có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển mọi mặt đời sống của con người Vì vậy môi trường đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Nhận thức được môi trường có ảnh hưởng đến năng suất lao động, các nhà tâm lý học lao động tập trung nghiên cứu môi trường vi mô, những điều kiện như: nhiệt độ, mầu sắc, âm thanh, khung cảnh, mối quan hệ liên nhân cách của nhóm nhỏ; những yếu tố, điều kiện, hoàn cảnh tác động mạnh đến chất lượng công việc
Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng môi trường một con khỉ 10 tháng tuổi và cậu con trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh hưởng của môi trường đến con khỉ và con người Đã có nhiều ví dụ để chúng ta hiểu về vai trò của môi trường sống đối với con vật hoặc con người, không thể
làm thay đổi bản năng của con vật Ngược lai, môi trường của loài vật có thể tác động mạnh vào bản chất người của con người Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác-
cơ đã nói:“Người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình
giáo dục” Điều này khẳng định vai trò của yếu tố môi trường văn hóa, môi
trường giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người Cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện phương pháp xác định trẻ sinh đôi cùng trứng, đã xuất hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường và di truyền đối với sự hình thành nhân cách cá nhân Ở Liên Xô (cũ) có công trình của I.I
Canaev (1959), kết quả nghiên cứu đó được công bố trong tác phẩm Trẻ sinh
đôi Sau đó vấn đề được tiếp tục bởi Đ.B.Enconhin
Trang 17Nhiều nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành nhân cách cá nhân Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lý học mới: Tâm lý học môi trường và thường được khái quát trong các tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học Quan điểm chung của Khoa học giáo dục (bao gồm cả Tâm lý học) đều khẳng định vai trò quyết định của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người Tiếp đó là vấn đề nghiên cứu, xây dựng môi trường với mục đích để có ảnh hưởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ
Về môi trường dạy - học, trước hết phải kể đến những nghiên cứu của
I.V Pavlov và B.F Skinnơ I.V Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có
điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn
toàn thụ động B.F Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác động
môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu, ) chủ động trong
hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi Đây là cơ sở lý thuyết
để xây dựng kiểu dạy học chương trình hóa, dạy học bằng máy Từ nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà giáo dục đã nhận thức được một vấn đề rất
quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết
định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn
là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại [34]
Nghiên cứu về môi trường dạy học phải kể đến công trình của Jean Marc Denomme và Madeleine Roy về phương pháp sư phạm tương tác [9] Trong
đó, mô hình quen thuộc: Người dạy - Người học - Tri thức được chuyển thành: Người dạy - Người học - Môi trường Tác giả coi môi trường là yếu tố
Trang 18tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn
ra các hoạt động học Đặc biệt, tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc học, các yếu tố môi trường của việc dạy Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh đến một qui luật quan trọng: môi trường ảnh hưởng đến người
dạy, người học; người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh
hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác
liên quan đến môi trường
Từ đầu thế kỷ XX, Dimitri Glinos đã viết:“ Giáo dục phải thích ứng
với những hoàn cảnh luôn thay đổi, đối phó với những vấn đề mới, những nhu cầu mới và thường xuyên đòi hỏi những kỹ năng mới Trong một thời gian dài, nền giáo dục đã không thể thích ứng được với các hoàn cảnh mới và gắn với các nhu cầu thực tế Khoảng cách giữa giáo dục và cuộc sống ngày càng lớn và bây giờ, điều chúng ta cần không chỉ là một cuộc cách mạng để tái lập lại mối tương quan giữa giáo dục và cuộc sống” [4; tr.206]
Emile DurKheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học
và việc tổ chức lớp học, như một sự liên kết có phạm vi rộng hơn gia đình và không trừu tượng như xã hội Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ Trong lớp học, học sinh suy nghĩ, hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách rời nhau Những quan niệm trên đây đã có trước hàng thế kỷ, hiện nay đang trở thành vấn đề thời sự của khoa học giáo dục
Ở Việt Nam:
Câu chuyện “Mạnh mẫu giáo tử” tìm đến nơi ở tốt để định cư nhằm cho
con mình được hưởng một môi trường giáo dục thuận lợi Nhiều người Việt
Nam biết đến và vận dụng câu tục ngữ: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
cũng muốn nói đến một mặt mối quan hệ với con người trong một môi trường giáo dục trẻ Giá trị của câu chuyện và câu tục ngữ trên ở chỗ đã đề cao môi
Trang 19trường sống trong quá trình phát triển của trẻ Với trẻ em ba môi trường: nhà trường - gia đình - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình học tập, trưởng thành và hoàn thiện nhân cách
Trường học thân thiện là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ GD&ĐT đã làm thí điểm nhiều năm ở 50 trường tiểu học và THCS Từ kết quả thí điểm, Bộ chủ trương tiến hành đại trà trong năm học
2008 - 2009 ở tất cả các trường tiểu học và THCS trong toàn quốc, rồi “lan
ra” tất cả các trường ở các cấp học cho tới năm 2013
Mô hình này không hoàn toàn mới đối với Việt Nam Từ những thập
niên 60, 70, với triết lý “đời sống học đường là cuộc sống thực của trẻ em
ngay ngày hôm nay, lúc này; chứ không chỉ chuẩn bị cho tương lai”, nên
phương châm “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” đã được phổ biến và áp
dụng ngay từ những ngày đó Đặc biệt phương châm này đã được bền bỉ thực hiện rất có kết quả tại Trung tâm Công nghệ giáo dục (do GS TS Hồ Ngọc Đại làm Giám đốc), và sau đó, được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh trong cả
nước từ năm học 1992 - 1993, khi đề tài khoa học cấp nhà nước “Mô hình
nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” được nghiệm thu với kết quả đánh giá tốt
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc xây dựng được một MTHTTT ở các trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đường lối, chính sách của Đảng thực sự là những định hướng quan trọng ở tầm vĩ mô, chỉ đạo toàn diện công tác nâng cao chất lượng giáo dục Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT đã có Chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT ngày
22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013
Trang 20Nhiều hội thảo khoa học và công trình nghiên cứu khoa học về xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế, của Chính phủ đã hỗ trợ tích cực cho nhiệm vụ này
Tác giả Phạm Hồng Quang đã viết cuốn sách Môi trường giáo dục, từ đó làm rõ thực trạng và khuyến nghị những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng một MTHTTT Tác giả Vũ Thị Sơn cũng đề cập tới môi trường học tập trong lớp học đăng trên tạp chí Giáo dục số 102/2004 [40] Dự án Việt - Bỉ - Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu học các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (VIE 04 019 11) Dự án SCUK xây dựng MTHTTT thực hiện từ năm học 2002 - 2003 ở các trường mầm non, tiểu học của huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh và huyện Simacai tỉnh Lào Cai [1] cũng tiếp tục thực hiện theo hướng nghiên cứu đó
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm thân thiện
Thân thiện là khái niệm nói về tình cảm thân ái, gần gũi, sự đùm bọc giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội, về cách sống, cách đối
xử bình đẳng, dân chủ giữa mọi người
Thân thiện còn được mở rộng để diễn đạt mối quan hệ của con người với môi trường sống, trong đó có môi trường tự nhiên Con người sống thân thiện với môi trường, con người sẽ sống tốt hơn và môi trường được bảo vệ và phát triển tốt hơn
Thân thiện bắt nguồn từ yêu cầu cuộc sống của mỗi con người, của cả cộng đồng dân cư Xã hội càng phát triển con người càng phải thân thiện hơn với nhau, thân thiện với đồng bào trong nước và với cộng đồng quốc tế
Giáo dục phẩm chất thân thiện cho thế hệ trẻ, cho toàn xã hội là sứ mệnh cao cả của nhà trường
Trang 211.2.2 Khái niệm môi trường học tập
Môi trường học tập là các yếu tố có tác động đến quá trình học tập của học sinh, bao gồm:
- Môi trường vật chất: Là không gian diễn ra quá trình dạy học gồm có
đồ dùng dạy học như bảng, bàn ghế, sách vở, nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, không khí
- Môi trường tinh thần: Là mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh, giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng
Môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian, thời gian, tình cảm và tinh thần - nơi học sinh đang sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến sự hình thành nhân cách của học sinh phù hợp với mục đích giáo dục
Môi trường học tập rất đa dạng, cần được tạo ra ở nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội Môi trường sư phạm là tập hợp những con người, phương tiện đảm bảo cho việc học tập đạt kết quả tốt Môi trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường nhà trường
Trong phạm vi nhà trường, thường đề cập tới các yếu tố môi trường học tập, môi trường khoa học Trong đó khái niệm môi trường học tập được xem xét cụ thể hơn Trong tài liệu “Curriculum Development a Guide to Practice” [49] đã quan niệm môi trường học tập gồm:
- Môi trường học tập theo truyền thống: Nhà trường là môi trường đơn độc, tĩnh lặng và trật tự Bầu không khí này là kết quả của áp lực theo định nghĩa hẹp của nền giáo dục chính quy, cửa vào giới hạn cho một số người, và theo phong cách giáo huấn, mô phạm (nói, nghe) đối với việc học tập
- Trường học đổi mới đã có cơ cấu tổ chức hoàn toàn trái ngược với phong cách truyền thống Chúng thường được mở rộng hơn, ồn ào hơn và đôi khi như những trung tâm với các hoạt động Các trường học như thế là kết
Trang 22quả của cả hai sự thay đổi: Định nghĩa trường học và cách hiểu mới về điều kiện môi trường để củng cố việc học
Có ba tiêu chuẩn để đánh giá môi trường học tập của nhà trường: Mối liên hệ giữa nhà trường với cộng đồng xung quanh, cấu trúc và cách sử dụng các tòa nhà và sân bãi, cách tổ chức không gian học tập trong các tòa nhà
- Nhà trường mong muốn mở rộng các phản hồi của học sinh về quá trình học tập thường khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động của nhà trường, trong mối quan hệ này biểu thị ở những hoạt động có liên quan đến nhà trường, cộng đồng có sự hỗ trợ lẫn nhau
- Cuộc cách mạng trong xây dựng trường học: Một tòa nhà sinh động, năng nổ có thể thể hiện một trung tâm học tập chủ động sáng tạo Khi xem xét khuôn viên, các khoảng không gian ưu tiên có thể đoán ra được triết lý giáo dục của nhà trường Không gian hấp dẫn vui vẻ, đầy màu sắc, sân trường được sử dụng rộng rãi cho nhiều hoạt động
- Không gian lớp học: Cách truyền thống là sắp xếp phòng học để cho tất
cả cái nhìn và sự chú ý đầu tập trung vào người thầy, các hoạt động trùng khớp với cách sắp xếp của đồ đạc Khả năng khác là sắp xếp lớp học tạo ra những khoảng không gian nhiều mục đích, tạo ra sự di chuyển có thể có trong
sự kiểm soát của giáo viên
Sự khác nhau trong không gian lớp học được phát triển từ cơ cấu phức tạp đến cơ cấu linh hoạt
Lớp học: Sự sắp xếp chỗ ngồi đồng nhất trong phòng đến bàn ghế lớp học cùng kiểu như cân đối đến bàn ghế được sắp xếp cho mỗi hoạt động do vậy không gian lớp học được sử dụng cho nhiều mục đích đến không gian bên ngoài được sử dụng để học tập
Sự di chuyển trong lớp học: Di chuyển bị giới hạn trong phòng do giáo viên kiểm soát hoàn toàn đến sự di chuyển của học sinh tùy thuộc tình huống được tự do di chuyển trong giới hạn và học sinh di chuyển tùy ý
Trang 23Sở hữu lớp học: Không gian lớp học được quản lý bởi giáo viên, giáo viên quản lý vùng không gian của học sinh đến lớp học có vùng không gian cho sự tiếp cận qua lại và chỉ có khu vực quy định - mở cho tất cả, toàn bộ không gian lớp học có thể tiếp cận với nhiều người [49, tr 68 - 79]
Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường giáo dục trong trường học phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy
- trò, quan hệ với nhà quản lý, mà bản chất của các mối quan hệ là dựa trên quan hệ pháp luật, nhân văn, đạo đức Thực tế dạy học đã chứng minh rằng nếu quan hệ giữa người dạy và người học được đặt trong điều kiện tốt đẹp,
quan hệ ảnh hưởng sư phạm, dân chủ thì sẽ tạo ra các “dung môi” tích cực
cho môi trường dạy học, học tập Ví dụ khi giáo viên say mê, tích cực với nghề, có trách nhiệm cao với học sinh, gợi mở và dẫn đường cho người học thì thái độ tích cực tự học, khả năng sáng tạo của học sinh được nâng cao
1.2.3 Khái niệm môi trường học tập thân thiện
Môi trường học tập thân thiện (MTHTTT) là môi trường học tập mà ở đó học sinh học tập có kết quả, được an toàn trong sự bảo vệ, được phát triển sức khỏe thể chất và tinh thần MTHTTT là môi trường học tập tích cực cho nên phải tạo điều kiện cho tất cả học sinh cùng tham gia và có cơ hội trình bày, trao đổi, nhận xét lẫn nhau, giáo viên khuyến khích học sinh học tập và giúp học sinh tự khám phá kiến thức
MTHTTT là ở đó nhà trường được xây dựng theo cách tiếp cận tôn trọng quyền trẻ em nhằm làm cho HS khoẻ mạnh, hài lòng với việc học tập trên cơ
sở giáo viên nhiệt tình dạy dỗ cùng với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng
để các em có thể phát triển hết tiềm năng của mình trong một môi trường an toàn và đầy đủ dinh dưỡng
Học sinh cần được khuyến khích tự tạo ra môi trường học tập trong lớp theo sở thích của các em Hãy để các em trang trí lớp học bằng tranh ảnh hay
Trang 24các vật trang trí khác để lớp học thật gần gũi và ấm cúng như là góc học tập của các em ở nhà để tạo thêm hứng thú học tập cho các em Hãy để các em tự nêu ra khẩu hiệu học tập và rèn luyện cho các em
Việc trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại phục vụ cho việc dạy học là cần thiết vì nó hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhưng nó không là yếu
tố quyết định giúp tạo ra môi trường học tập thân thiện Kiến trúc của trường học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý học sinh Cảnh quan và môi trường trong trường cũng cần được quan tâm khi thiết kế để tạo một môi trường thân thiện và an toàn cho học sinh khi ra chơi và các hoạt động ngoài trời Các cơ sở phục vụ cho học tập như thư viện, phòng thực hành - thí nghiệm, căng - tin, khu giáo dục thể chất, các loại hình câu lạc bộ theo sở thích cũng cần được đầu tư trang bị hiện đại, đầy đủ và phù hợp để học sinh có thể thường xuyên đến vui chơi, học tập ngoài giờ
Một trường học tập thân thiện cần có nhà vệ sinh hợp vệ sinh mà cần hệ thống nhà tắm, phòng để đồ dùng cá nhân và nơi thay quần áo an toàn, kín đáo, tiện lợi cho học sinh Khi học môn thể dục và chơi thể thao ngoài giờ, học sinh rất cần nơi thay trang phục và đồ dùng riêng Sau khi chơi thể thao hay các hoạt động vận động nhiều em đã bị lấm bẩn và ra mồ hôi nhiều nhưng các em vẫn phải mặc nguyên quần áo bẩn về nhà để tắm giặt thì thật khó chịu
và mất vệ sinh Do đó, cần được tắm và thay quần áo sạch trước khi về nhà Xây dựng môi trường học tập thân thiện:
1) Xây dựng không gian thân thiện trong nhà trường:
- Không gian vật lý thân thiện: trường lớp xanh, sạch, đẹp và thân thiện (luôn đảm bảo vệ sinh, chăm sóc các bồn hoa cây cảnh Chú ý trang trí không gian lớp học: góc thiên nhiên, góc học tập Tăng cường các khẩu hiệu, pa nô vừa có tính thẩm mĩ lại vừa có tính tuyên truyền giáo dục)
Trang 25- Không gian tinh thần thân thiện:
+ Giáo viên thân thiện mà ở đó cô giáo được ví như người mẹ hiền + Bè bạn thân thiện: không có sự kỳ thị giữa giầu nghèo, khuyết tật,
+ Môn học thân thiện: Biến những kiến thức xa lạ thành gần gũi, thân
quen, biến gần gũi thân quen trở nên thích học
+ Phương pháp dạy học thân thiện:
Phương pháp giảng dạy (PPDH) phổ biến ở phổ thông hiện nay vẫn theo
hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher - centered) với quan niệm giáo
viên là người truyền đạt kiến thức và học sinh là người tiếp thu kiến thức Kiến thức từ sách giáo khoa được giáo viên “độc quyền” truyền đạt cho học sinh, kiến thức của các em phụ thuộc vào kiến thức của thầy và học sinh luôn
là người lĩnh hội tri thức thụ động PPDH này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc -
trò chép” và lối học “thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép” Đây là PPDH
tạo nên thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức, sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (Learner-centered) thực sự là PPDH “thân thiện” với người học vì giáo viên ở đây chỉ là người
tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến thức cho học sinh Giáo viên chỉ đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều học sinh chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi Học sinh thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học, các em có thể lựa chọn kiến thức và phương pháp học phù hợp với mình Giáo viên là người nêu vấn đề và cùng học sinh tranh luận cho tới khi học hiểu thấu đáo vấn đề đó Học sinh có thể được giáo viên giao cho các bài tập làm chung theo nhóm để các em có cơ hội cùng nhau chia sẻ và đóng góp kiến thức của cá nhân mình cho nhóm Giáo viên cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học sinh về nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó học sinh thảo luận và
Trang 26tranh luận với nhau theo cặp và nhóm Tranh luận sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn vì các em được tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái PPDH này đã tạo nên nhu cầu tự học, tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói quen đào sâu suy nghĩ về vấn đề nào đó Dần dần học sinh sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác
+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá thân thiện: phải phản ánh đúng năng lực học tập của học sinh, phát huy được năng khiếu trong các lĩnh vực học tập
mà học sinh ưa thích Bên cạnh đó, phải đánh giá được chiều hướng tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập, không nặng nề về điểm số qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ, đặc biệt là đối với những học sinh yếu kém
từ đó sẽ tạo tâm lý mặc cảm, xấu hổ với kết quả kém và có thái độ ganh ghét,
đố kị với những học sinh có điểm kiểm tra cao hơn Điều này đã làm xấu đi mối quan hệ giữa nhiều học sinh trong lớp
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và khuyến khích học sinh tự vươn lên trong học tập, cần phân biệt hai loại hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học tập Các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ chỉ mang tính chất đánh giá sự tiến bộ của học sinh Kết quả các bài kiểm tra đó là điều kiện để học sinh kiểm tra học kỳ và cuối năm Điểm số và những nhận xét chi tiết, cụ thể về sự tiến bộ học sinh, những phần kiến thức còn yếu và cách thức khắc phục cần thông báo riêng tới từng học sinh thông qua thư riêng hay qua thư điện tử cho phụ huynh và học sinh biết để tránh sự mặc cảm, xấu hổ cho học sinh với các học sinh khác Chỉ một mình học sinh đó biết mình nắm được cái gì, còn thiếu cái gì để có hướng phấn đấu và tự ganh đua với …chính mình để kết quả cuối năm tốt hơn Loại hình kiểm tra thứ hai là kiểm tra đánh giá kết quả học tập được thực hiện cuối kỳ và cuối năm để đánh giá kết quả sau quá trình học tập
Trang 27sau một học kỳ, một năm hay cả khoá học Kết quả cần được thông báo riêng cho học sinh và ghi vào học bạ học sinh và chỉ nên công khai khi học sinh đó kết thúc khoá học Tuy nhiên, phải đánh giá sát với năng lực học tập của học sinh qua theo dõi hàng ngày Khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động nhóm trong và ngoài lớp học, cần có phần chấm điểm cho hoạt động nhóm của từng học sinh
+ Các mối quan hệ thân thiện:
Sự thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học
sinh Với phương châm: “Tất cả vì học sinh thân yêu”, nêu cao tinh thần
“càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu” Sự thân thiện của các
thầy, cô với các em là “khâu then chốt”, và được thể hiện ở các mặt sau:
- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em
- Công tâm trong quan hệ, ứng xử
- Trách nhiệm với chất lượng giáo dục của mình
Với phương pháp dạy theo hướng “lấy người dạy là trung tâm” đã ảnh
hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò Nhiều giáo viên vẫn duy trì quan niệm
rằng thầy là “người trên” và học sinh là “người dưới” nên dẫn đến sự xa
cách trong quan hệ thầy trò Học sinh rất ít khi dám tranh luận với giáo viên
vì sợ giáo viên phật ý, ngược lại các giáo viên cũng ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn vì sợ học sinh đánh giá Do đó, họ thường có thái độ
áp đặt và chủ quan với học sinh Các giáo viên hiện nay rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để học sinh có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và học sinh luôn có khoảng cách về tuổi tác và tri thức
Việc thay đổi PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” giúp
giáo viên có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì học sinh được xem
là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục; các em được tôn trọng và được
tự do bày tỏ ý kiến cá nhân; mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi, thoải mái hơn
Trang 28Giáo viên cần học cách lắng nghe ý kiến của học sinh, biết chấp nhận những ý
kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với
học sinh Giáo viên có thể lấy ý kiến đánh giá của học sinh thông qua các phiếu điều tra không ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” nhấn mạnh vào việc
tự học của cá nhân với các hoạt động học tập theo nhóm trong và ngoài giờ học Mối quan hệ giữa các học sinh không chỉ là sự kết bạn cùng sở thích riêng như hiện nay mà còn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức trong nhóm khi thảo luận trên lớp và các hoạt động nhóm ngoài lớp học, khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ ngoài lớp học Mối quan hệ giữa học sinh sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động không chỉ vui chơi giải trí mà còn học tập, chia sẻ công việc và tri thức cùng với nhau Ngoài ra, các mối quan hệ giữa học sinh với các nhân viên phục vụ trong trường cũng cần phải thân thiện Họ cần phải biết cách tôn trọng học sinh và chất lượng phục vụ cần được thường xuyên đánh giá thông qua các phiếu điều tra định kỳ phát cho học sinh
Bên cạnh đó, để có một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như chỉ
chú trọng đưa vào các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khoá khác thì chưa đầy đủ
Vì đó mới là những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập Vấn đề quan trọng nhất mà các em cần là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và PPDH thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và sự phục vụ thân thiện của nhà trường Có như vậy, các em mới thấy thật sự thoải mái và yêu mến trường như ngôi nhà của mình Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ mong chóng trở lại trường, các em sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày đến trường mới thực sự là một ngày vui của các em
Trang 29+ Tổ chức các hoạt động thân thiện trong nhà trường:
Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh; tổ chức các trò chơi dân gian, rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, sinh hoạt, ứng xử văn hóa, loại bỏ bạo lực và tệ nạn xã hội trong học đường
Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động, được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè Tổ chức những hoạt động như hội thảo về phương pháp học tập, các buổi văn nghệ, trò chơi… để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộc sống như thuyết trình, xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp làm việc nhóm…Tạo mọi cơ hội để học sinh tự tìm hiểu, khám phá và sáng tạo
2) Xây dựng môi trường thân thiện ngoài nhà trường:
- Sự vào cuộc của chính quyền, các ban ngành, đoàn thể địa phương, của cộng đồng dân cư đối với các hoạt động giáo dục của nhà trường
- Công tác chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ của địa phương Chú trọng đầu
tư các điểm vui chơi, các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao, các câu lạc
bộ, tổ chức sinh hoạt Đoàn - Đội khu dân cư
- Phong tục tập quán, nếp sinh hoạt khu dân cư và hương ước làng, bản
- Sự phối kết hợp thường xuyên, hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và
xã hội Trong đó đặc biệt đề cao vai trò gia đình, là môi trường học tập quan trọng của học sinh
Hồ Chủ tịch đã nói: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần
có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [32]
Trang 30Khi nói đến vấn đề gia đình, chúng ta thường chỉ nghĩ đến vai trò của nó đối với trẻ em Thực tế giáo dục gia đình có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của nó Giáo dục gia đình đặt cơ sở hết sức quan trọng cho sự hình thành nhân cách gốc của trẻ
em, thúc đẩy sự phát triển nhân cách ở tuổi vị thành niên, củng cố giữ gìn nhân cách con người ở tuổi trưởng thành và khi về già Giáo dục gia đình vì vậy là thường xuyên, suốt đời và có hệ thống
Giáo dục gia đình có những đặc điểm ưu thế so với giáo dục của xã hội
và nhà trường Trước hết vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm,
có khi không cần lời nói mà qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình v.v Giáo dục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú ý đến những nét cá biệt của từng đứa trẻ Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ em, theo sự thay đổi cuộc sống của gia đình và xã hội Bởi vậy, giáo dục gia đình có tính thực tiễn, qua thực tế để giáo dục và rất chú trọng đến kết quả thực tế của việc giáo dục Chỗ mạnh của gia đình là kinh nghiệm xã hội, kiến thức đa dạng về đời sống, nó là một tập thể không thuần nhất, khác nhau về giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác, tính tình, bao gồm cha mẹ, anh em, ông bà, do đó việc giáo dục mang tính phối hợp nhiều mặt về kiến thức và các mối quan hệ xã hội Phương pháp giáo dục của gia đình là thuyết phục, giảng giải và làm gương
Nói chung, cha mẹ là những người thầy dạy không tiếc công sức, thời gian để hướng dẫn con cái, nhưng đáng tiếc có nhiều gia đình bố mẹ lại bị thiếu những kiến thức cần thiết, đặc biệt ở những khu vực vùng cao, dân tộc Điều đáng chú ý là có sự giảm sút vai trò của giáo dục gia đình, giảm sút trách nhiệm của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái Nhiều gia đình mải lo công việc làm ăn kinh doanh, họ có quá ít thời gian và cũng không coi trọng dành thời gian giáo dục con cái, hướng dẫn kiểm tra việc học tập, giao lưu bạn
bè của chúng, uốn nắn cách ứng xử xã hội v.v Họ phó mặc việc giáo dục cho
Trang 31hệ thống nhà trường cùng các đoàn thể xã hội với ý nghĩ đơn giản chỉ cần cung cấp đủ cơm no, áo đẹp, có tiền đóng học v.v Ở vùng cao dân tộc thiểu số, họ thường không quan tâm đến học hành của con cái, chỉ quan tâm đến cái ăn, cái mặc, nhiều đứa trẻ sớm đã trở thành nguồn lao động chính của gia đình
Ở một số gia đình, chính sự thiếu gương mẫu của cha mẹ trong cách làm
ăn sinh sống, ứng xử xã hội đã tác động tiêu cực đến con cái Mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm giữa bố, mẹ, ông bà, anh em trong gia đình cũng là nguyên nhân dẫn trẻ đến chỗ chán nản, thất vọng và hư hỏng
Xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới Văn hoá gia đình cũng đang chuyển đổi từ văn hoá truyền thống sang văn hoá hiện đại Ở đây đang
có sự lúng túng, những hẫng hụt, những ý kiến khác nhau về nội dung và phương pháp giáo dục con cái Gia đình trước đây trong việc giáo dục con cái nêu cao quyền uy của cha mẹ và sự phục tùng của con cái Ngày nay người ta nhấn mạnh đến tình cảm, sự bình đẳng dân chủ trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nhiều gia đình do quá nuông chiều con cái đã bị thất vọng khi thấy chúng trở nên hỗn láo, hư hỏng Vì vậy, cần xây dựng những quan niệm đúng đắn, linh hoạt, phương pháp giáo dục từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại Sự cần thiết có một nghệ thuật kết hợp đúng đắn giữa quyền uy và tình thương, sự rộng lượng, khoan dung và bình đẳng trong giáo dục gia đình
- đặc biệt cần gìn giữ những mặt tốt đẹp của giáo dục truyền thống mà ông bà
chúng ta đã sàng lọc, lựa chọn, kết hợp với sự tiếp nhận các giá trị mới
1.2.4 Khái niệm trường học thân thiện, học sinh tích cực
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực” là phong trào được Bộ
GD&ĐT triển khai trong năm học 2008 - 2009 ở các nhà trường tiểu học và THCS trong toàn quốc, nay đã lan tỏa đến tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân
“Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thân thiện” với địa phương
- địa bàn hoạt động của nhà trường; phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm
Trang 32với nhau; giữa tập thể sư phạm với học sinh; “Trường học thân thiện” phải
đảm bảo cơ sở vật chất phù hợp với yêu cầu giáo dục và thỏa mãn tâm lý người thụ hưởng Như vậy nội dung cơ bản hàm chứa trong khái niệm
“trường học thân thiện” bao gồm:
1) Trước hết, trường học phải thân thiện với địa bàn hoạt động, mà nội
dung chủ yếu của sự thân thiện là:
- Thu hút 100% trẻ em đến tuổi học thuộc địa bàn phục vụ của trường được đi học và học đến nơi đến chốn (nghĩa là thực hiện tốt phổ cập giáo dục cấp tiểu học và THCS) Trường phải bảo đảm cho mọi học sinh đều bình đẳng
về quyền lợi (đồng thời là nghĩa vụ) học tập, không phân biệt giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc, vùng miền, tình trạng thể chất (kể
cả các em không may bị khuyết tật nhưng trí tuệ phát triển bình thường)
- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương Phải gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và xã hội ở địa phương Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên
- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương mà
Bộ đề ra: mỗi trường học là địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử
ở địa phương, và tích cực chăm lo xây dựng các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ
2) Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau Điều này rất quan trọng,
vì nó là “cái lõi” để thân thiện với mọi đối tượng khác Tại đây, vai trò của
hiệu trưởng, của tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng Muốn vậy, trong quan hệ quản lý, phải thực thi và thực hiện bằng được quy chế dân chủ ở cơ sở Trong quan hệ tài chính, phải trong sáng, công khai, minh bạch đối với mọi thành viên trong nhà trường Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn trọng lẫn nhau, từ chú bảo vệ, chị lao công đến hiệu trưởng Không thể có
Trang 33thân thiện, nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu thiếu tôn trọng lẫn nhau, hiệu trưởng hống hách, quát nạt nhân viên dưới quyền Cũng không
thể có thân thiện, nếu mọi khoản thu chi trong nhà trường cứ “mờ mờ nhân
ảnh như người đi đêm”
3) Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh Thầy cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo
phương châm:“Tất cả vì học sinh thân yêu” Từ đó, trò sẽ quý mến, kính trọng thầy cô chứ không là “kính nhi viễn chi” Sự thân thiện của các thầy, cô với các em là “khâu then chốt”, và phải thể hiện:
- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em Muốn vậy, hãy mạnh dạn
chuyển lối dạy cũ thụ động “thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy “thầy tổ chức, trò hoạt động”, “thầy chủ đạo, trò chủ động”, “thầy
trò tương tác” với quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “dạy học cá thể” Có vậy mới phát huy được tính tự giác, tích cực học tập của các
em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng em học sinh, nhất là đối với
các em có hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh “cá biệt”
- Công tâm trong quan hệ ứng xử Điều này cực kỳ khó, bởi người ta có
thể chia đều tiền bạc, chứ khó “chia đều” tình cảm Tuy vậy, “đã mang lấy
nghiệp vào thân” thì không có cách nào khác là thầy, cô giáo phải rèn bằng
được cho mình sự công tâm trong quan hệ ứng xử, công tâm trong chăm sóc các em (em có hoàn cảnh khó khăn hơn, chăm sóc nhiều hơn, chứ không phải công tâm là cào bằng sự chăm sóc), công tâm trong việc đánh giá, cho điểm (nghĩa là phải công bằng, khách quan với lương tâm và thiên chức nhà giáo)
- Phải coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các học sinh nam, nữ biết quý trọng nhau, sống hòa đồng với nhau Phải rèn kỹ năng sống cho học sinh thích ứng với xã hội, bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, ngay ngày hôm nay, bây giờ, chứ không chỉ chuẩn bị cho tương lai Đừng để trò
phải “ngơ ngác” trước cuộc sống xã hội đang từng ngày thay đổi
Trang 344) Nhà trường thân thiện phải đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng không chỉ yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, mà còn cho cuộc sống an toàn, văn minh, phù hợp với tâm lý của đối tượng thụ hưởng Trường học thân thiện thì không thể
thiếu sân chơi, bãi tập đối với lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học”; không thể
để lớp học “xếp cá mòi”, ánh sáng như đom đóm, bàn ghế không đúng quy
cách, nhà vệ sinh buộc trẻ phải bịt mũi, bặm môi mà vào Ngược lại, trường học phải được xây dựng khang trang, xanh, sạch, đẹp, đúng yêu cầu sư phạm
1.2.5 Khái niệm biện pháp chỉ đạo
Theo định nghĩa triết học thì biện pháp là cách thức, con đường chuyển tải nội dung Có nghĩa là căn cứ vào nội dung mà tìm cách thức, con đường phù hợp nhất có hiệu quả nhất để chuyển nội dung đến đích cuối cùng
Theo từ điển trong tiếng Việt thì biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Như vậy biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định
Chỉ đạo là điều hành cá nhân hoặc tập thể thực hiện một nhiệm vụ nào
đó theo kế hoạch, mục tiêu đã định Chỉ đạo thực hiện là công việc thường xuyên của người quản lý, phải đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm quan sát và xử lý, ứng xử kịp thời đảm bảo cho người bị quản lý luôn luôn phát huy tính tự giác và tính kỷ luật Nói một cách khái quát nhất đây là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định
Cùng với kế hoạch, tổ chức, kiểm tra thì chỉ đạo là một trong bốn chức năng của quản lý
Trang 35Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Chức năng chỉ đạo là điều khiển thực hiện theo kế hoạch, điều chỉnh tốc
độ, biên độ hướng tới đích, xác định ưu tiên và tập trung nguồn lực cho thực hiện kế hoạch, lôi cuốn các tập thể sư phạm và các lực lượng giáo dục, phối hợp các nỗ lực của cả hệ thống, quá trình sử dụng hợp lý các biện pháp hành chính, kinh tế và giáo dục
Ý nghĩa của chức năng chỉ đạo:
- Huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi
- Biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực
- Tổ chức một cách khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó
để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu
Biện pháp chỉ đạo là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
1.2.6 Khái niệm xây dựng
Theo Từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản KHXH - Hà Nội 1994 thì:
"Xây dựng" (động từ) được hiểu theo 2 nghĩa:
Kế hoạch hoá
Quản lý
Kiểm tra
Trang 36Một là: "làm nên, gây dựng nên"
Hai là: "tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần theo một phương
hướng nhất định" 44, 1105
Xây dựng MTHTTT được hiểu là đang được tạo ra, đang hình thành, hoàn thiện một môi trường thân thiện cho học sinh được phát triển toàn diện
1.3 Những vấn đề cơ bản về việc xây dựng MTHTTT ở cấp tiểu học
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh cấp Tiểu học
Để tạo dựng được MTHTTT có hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục Tiểu học, rất cần các nhà giáo dục, cộng đồng, xã hội và gia đình có kiến thức am hiểu về tâm lý học sinh Tiểu học: 1) Các em luôn có sự mặc cảm:
Cần phải biết khéo hướng dẫn để giúp các em từ từ nhận ra sự cần thiết phải có đủ các tính cách giáo dục qua cả bố lẫn mẹ, anh và chị trong gia đình,
cả thầy lẫn cô ở trường, ở lớp
Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng thiếu quan tâm, có thể sẽ gây ra ở các em những ấn tượng lệch lạc, di hại suốt đời về mặt nhân cách tâm lý và ứng xử Ngược lại, cần bắc một nhịp cầu hết sức tế nhị để gặp gỡ chính tâm hồn bé bỏng non nớt của các em, biết mở chuyện hỏi han các em bằng ngôn ngữ và cung cách của chính các em Khi đó, các em mới dễ bộc lộ
một cách hồn nhiên những tâm sự, những "bí mật" có khi rất ngô nghê mà
không hề e dè, giấu giếm, sợ người lớn la rầy, kết tội hoặc chế giễu
Ở điểm này, các em cần có người yêu thương, chăm sóc, ân cần tận tụy
và tinh tế nhạy cảm, nắm bắt cho được mọi biểu hiện tích cực lẫn tiêu cực nơi các em
2) Các em tin tưởng người lớn tuyệt đối:
Các em đã dần dần không còn muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà góc bếp, nhưng bắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác Vì
Trang 37vậy, nếu các em nhận ra nơi các người lớn như thầy cô giáo, anh chị một sự bảo bọc chở che, nhất là sự quan tâm, cảm thông thật sự, các em sẽ dần dần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối
Hãy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các em mắc lừa cho vui Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tưởng bị người lớn
áp đặt, ăn hiếp, lấn lướt, sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chính người lớn chưa chắc đã tuân thủ đàng hoàng
Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vui chơi, người lớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lý, hòa mình trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi
ý tổ chức cùng chơi, cùng làm với các em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy
dỗ các em một cách đầy đủ và kịp thời
3) Các em ôm ấp nhiều giấc mơ:
Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được
kể trong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ
Sau này, lớn hơn một chút, tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóa một cách đơn giản Khi các em được tiếp xúc thân tình với một người lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy (VD: Lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô )
Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viễn vông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em
Trang 38âm thầm hình thành trong tiềm thức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát, thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngược lại, sự mủi lòng ủy mị, mau nước mắt vì quá sức đa sầu đa cảm Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, thích sờ tận tay nhìn tận mắt, nên các em rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông suông vậy thôi Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ý khích lệ hơn là phê bình chê trách hay nổi cáu lên quát tháo
om sòm
Chúng ta thấy, nhà trường đã từng áp dụng những cách khen thưởng khá
cụ thể như các bông hoa điểm 10 cho từng môn học, sách truyện làm phần thưởng cuối năm Bản thân chúng ta khi còn bé, hẳn ai cũng đã từng ao ước hoặc hãnh diện khi thấy tên mình được ghi trên Bảng Danh Dự treo tại một nơi trang trọng và dễ thấy ở trường Còn Sổ Học Bạ hoặc Sổ Liên Lạc thì không ai muốn cha mẹ mình lại phải đọc thấy những dòng chữ thầy cô chủ
Trang 39nhiệm phê xấu và yếu kém Do vậy, đây là những cách khen thưởng có vẻ vật chất nhưng lại hàm ý về chiều sâu tinh thần nhiều lắm
5) Các em rất hiếu động:
Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào Bên cạnh
đó, các em cũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, còn gọi là khủng hoảng về ý thức cử động (idée motrice)
Về mặt sinh hoạt thể lý, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phá một trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình Riêng bên nam, các em rất thích các trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến
và đua tranh giữa hai phe (ví dụ: kéo co, cướp cờ, đánh trận giả ) Các em sẵn sàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ
lý luận cao xa gì lắm về bản thân Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các em đặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng
là chuyện luân phiên thi đua giành phần thắng cho mình (ví dụ: nhảy cò cò, đánh chuyền, nhảy lèo, chơi ô ăn quan )
Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các
ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc Một khi nơi các em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng như thế dần dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng
đặt vấn đề "vì vậy", "cho nên", "do đó" như người lớn Nhưng mặt khác, các
em đã không còn thỏa mãn với dạng câu hỏi "tại sao?" mà đã chuyển dần sang câu hỏi khó hơn nhiều: "làm thế nào ?" tức là có khuynh hướng khách
quan hơn, sâu xa hơn
Dù vậy, các em chưa thể tập trung tư tưởng lâu để kịp phân tích vấn đề
và quan sát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học
Trang 40hỏi sao cho đúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng "học
mà chơi" đầy hấp dẫn
Ở điểm này, người sống với các em phải là một thầy giáo, một cô giáo vừa có kiến thức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức, gợi mở sáng kiến và nhất là vun đắp cho các em những tâm tình nhân ái vị tha, vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em
6) Các em có thể trung tín đến cùng:
Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếu các em được người lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc, cảm thấy vinh dự và hãnh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các em suốt cuộc đời, hình thành một nhân cách khó gì có thể làm biến dạng
Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy các phong trào giáo dục đúng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rất long trọng như đội mũ, trao cờ, tuyên hứa, thắt khăn quàng, gắn sao
Như vậy, ở điểm này, người sống với các em phải là một Người Lãnh Đạo (leader) đúng nghĩa, biết cách huấn luyện, chỉ dẫn cho các em thành thạo, tháo vát trong các việc nhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọng không thua gì việc của người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng trao phó công việc đó để các em tự chơi, tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em
Nhìn chung đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển những đặc điểm cơ bản của về nhân cách, về tất cả các mặt nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ và thể chất Tuy nhiên:
- Mỗi học sinh là một nhân cách riêng, một chủ thể, một cá thể riêng không ai giống ai