1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái

212 953 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 4,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống khoai môn trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái .... Vì vậy, vấn đề nghiên cứu khả năng sinh tr

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LÊ VIẾT BẢO

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG KHOAI MÔN VÀ BIỆN PHÁP

KỸ THUẬT CHO GIỐNG CÓ TRIỂN VỌNG

TẠI TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số: 62.62.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC NÔNG

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Lê Viết Bảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận án này, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo - Nhà giáo ưu tú PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn tới Ban Giám hiệu - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tập thể khoa Nông học, phòng Quản lý đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Đào tạo Sau đại học - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án Tôi xin được cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Giám hiệu, toàn thể cán bộ và giáo viên trường Trung cấp Kinh tế

- Kỹ thuật Yên Bái, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện quá trình học tập và hoàn thành luận án

Để hoàn thành luận án tôi xin được cảm ơn các cơ quan: Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái, sở Khoa học và Công nghệ Yên Bái, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái, Cục thống kê các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn, Sơn

La, Hòa Bình; Thư viện Quốc gia, thư viện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thư viện Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên, Cục Trồng trọt, Báo Nhân dân, Báo Yên Bái, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tạp chí Đại học Thái Nguyên, cùng đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014

Lê Viết Bảo

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của luận án 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 6

1.2 Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây khoai môn - sọ (colocasia esculenta (L.) Schott) 7

1.2.1 Nguồn gốc và phân bố 7

1.2.2 Phân loại thực vật khoai môn - sọ (Colocasia esculenta (L.) Schott) 8

1.3 Một số đặc tính sinh vật học của cây khoai môn - sọ 11

1.3.1 Đặc tính thực vật học 11

1.3.2 Sinh trưởng, phát triển của khoai môn - sọ 15

1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của khoai môn - sọ 16

1.4.1 Nhiệt độ 16

1.4.2 Nước 17

1.4.3 Ánh sáng 17

1.4.4 Yêu cầu về đất và dinh dưỡng 18

1.5 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ trên thế giới và Việt Nam 18

1.5.1 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ trên thế giới 18

1.5.2 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ ở Việt Nam 19

Trang 5

1.6 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ trên thế giới và Việt Nam 22

1.6.1 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ trên thế giới 22

1.6.2 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ ở Việt Nam 25

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Vật liệu nghiên cứu 40

2.1.1 Các giống khoai môn trong thí nghiệm 40

2.1.2 Các loại phân bón dùng trong thí nghiệm nghiên cứu 40

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 41

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 41

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 41

2.3 Nội dung nghiên cứu 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu (nội dung 1) 42

2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu khoa học 42

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích một số chỉ tiêu về đất, phân tích mẫu phân hữu cơ (phân chuồng) 54

2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 54

2.4.5 Phương pháp tính lượng phân bón tối đa về kỹ thuật và tối thích về kinh tế; hiệu suất phân bón và hệ số VCR của các loại phân bón trong nghiên cứu 55

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Điều kiện khí hậu, đất đai ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất cây khoai môn - sọ tại Yên Bái 56

3.1.1 Điều kiện khí hậu, thời tiết 56

3.1.2 Điều kiện đất đai 57

3.1.3 Tình hình phát triển sản xuất cây khoai môn - sọ tại Yên Bái 60

3.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống khoai môn trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 62

3.2.1 Một số đặc điểm nông sinh học của các giống khoai môn trên 2 loại đất tại tỉnh Yên Bái 62

3.2.2 Khả năng mọc mầm của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 63

Trang 6

3.2.3 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống khoai môn trên đất

ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 64

3.2.4 Chiều cao, số lá và độ đồng đều của các giống khoai môn trên đất

ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 65

3.2.5 Thành phần, tỷ lệ sâu bệnh hại các giống khoai môn trên đất ruộng

một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 67

3.2.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn

Yên, năm 2011 71

3.2.7 Kích thước củ cái của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại

huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 74

3.2.8 Chất lượng củ các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện

Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 76

3.2.9 Hiệu quả kinh tế của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 79 3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống có triển vọng (KMYB 1) tại Yên Bái, năm 2012 80 3.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh

Yên Bái 80

3.3.2 Ảnh hưởng của phân lân đến năng suất của giống KMYB 1 trên đất

ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 87

3.3.3 Ảnh hưởng của phân kali đến năng suất của giống KMYB 1 trên đất

ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 93

3.3.4 Ảnh hưởng của phân chuồng đến năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên

Bái, năm 2012 100

3.3.5 Ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và

đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2012 106

Trang 7

3.4 Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bảo quản củ giống giống KMYB 1 tại huyện Trấn Yên và huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 112 3.5 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn giống KMYB 1 trên đất ruộng một

vụ tại huyện Lục Yên và trên đất bãi tại huyện Trấn Yên 115 3.6 Đề xuất, hoàn thiện quy trình trồng giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 117

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 119

1 Kết luận 119 1.1 Điều kiện khí hậu, đất đai ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất khoai môn tại tỉnh Yên Bái 119 1.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống khoai môn trên đất ruộng

1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 119 1.3 Kết quả về các biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng (KMYB 1) trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh

Yên Bái 119 1.4 Kết quả về các phương pháp bảo quản củ giống 120

1.5 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn giống KMYB 1 tại Yên Bái trên 2

loại đất 120

2 Đề nghị 121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VCR (Value Cost Ratio) : Hệ số lãi khi bón phân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần các chất trong củ khoai môn - sọ (khối lượng tươi) 13

Bảng 1.2 Thành phần hóa học trung bình của củ khoai môn - sọ tính theo khối lượng vật chất khô 13

Bảng 1.3 Hàm lượng một số chất trong củ khoai môn nghiên cứu trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên - Yên Bái, năm 2006 (% chất tươi) 14

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai môn tại một số châu lục trên thế giới giai đoạn 2008- 2012 19

Bảng 1.5 Diện tích các loại cây có củ của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 20

Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai sọ, cây chất bột khác từ năm 2010 đến năm 2012 tại Việt Nam 21

Bảng 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai môn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2010 đến năm 2012 21

Bảng 1.8 Lượng phân bón, kỹ thuật bón cho cây khoai môn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, năm 2012 34

Bảng 2.1 Thang đánh giá chất lượng củ khoai môn qua cảm quan 45

Bảng 2.2 Lượng phân bón, kỹ thuật bón tính cho 1 ha khoai môn 46

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Yên Bái, năm 2013 59

Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai môn - sọ tỉnh Yên Bái từ 2011-2013 61

Bảng 3.3 Một số đặc điểm hình thái và nông học của các giống khoai môn trong thí nghiệm tại tỉnh Yên Bái, năm 2011 62

Bảng 3.4 Khả năng mọc mầm của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 63

Bảng 3.5 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống khoai môn trên đất ruộng 1 vụ tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 64

Bảng 3.6 Chiều cao, số lá và độ đồng đều của các giống khoai môn trên đất ruộng 1 vụ tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 65

Trang 10

Bảng 3.7 Tỷ lệ sâu hại các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện

Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 68 Bảng 3.8 Tỷ lệ và cấp bệnh sương mai của các giống khoai môn trên đất ruộng

một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 70 Bảng 3.9a Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai

môn trên đất ruộng một vụ tại Lục Yên, năm 2011 72 Bảng 3.9b Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai

môn trên đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 73 Bảng 3.10 Kích thước củ cái của các giống khoai môn trên đất ruộng 1 vụ

tại LụcYên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 75 Bảng 3.11 Chất lượng củ của các các giống khoai môn trên 2 loại đất tại huyện

Lục Yên và huyện Trấn Yên, năm 2011 qua đánh giá cảm quan 76

Bảng 3.12 Chất lượng củ của các giống khoai môn trên 2 loại đất tại huyện

Lục Yên và huyện Trấn Yên, năm 2011 (% hàm lượng chất tươi) 78 Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế của các giống khoai môn trên đất ruộng một vụ

tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2011 80 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2012 82 Bảng 3.15 Hiệu suất phân đạm và hệ số lợi nhuận khi bón các mức đạm

khác nhau cho giống KMYB 1 trên đất ruộng tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2012 86 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của liều lượng lân đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2012 89 Bảng 3.17 Hiệu suất phân lân và hệ số lợi nhuận khi bón các mức phân lân

cho giống KMYB 1 trên 2 loại đất 93 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của liều lượng kali đến các yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2012 94

Trang 11

Bảng 3.19 Hiệu suất phân kali và hệ số lợi nhuận khi bón các mức kali khác

nhau cho giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ tại Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2012 99 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2012 101 Bảng 3.21 Hiệu suất phân chuồng và hệ số lợi nhuận khi bón các mức phân

chuồng khác nhau cho giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ tại Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, năm 2012 105 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất của giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ tại Lục Yên, năm 2012 108 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất của giống KMYB 1 trên đất bãi tại Trấn Yên, năm 2012 110 Bảng 3.24 Số củ giống bị thối hỏng sau thời gian bảo quản từ 1 đến 4 tháng tại

huyện Trấn Yên, huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái, năm 2012 112 Bảng 3.25 Số kg khoai bị hao hụt trong quá trình bảo quản và tỷ lệ hao hụt

sau thời gian bảo quản 4 tháng tại Lục Yên và Trấn Yên, năm 2012 115 Bảng 3.26 Một số chỉ tiêu về năng suất giống KMYB 1 trên đất ruộng một

vụ tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2013 116 Bảng 3.27 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế mô hình thâm canh giống

KMYB 1 trên đất ruộng tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2013 116

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh năng suất thực thu các giống khoai môn trong thí

nghiệm trên đất ruộng tại Lục Yên và đất bãi tại Trấn Yên, năm 2011 74 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón đạm khác nhau

đến năng suất thực thu của giống KMYB 1 trên 2 loại đất 84 Hình 3.3 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón đạm khác nhau đến năng suất

giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ 85 Hình 3.4 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón đạm khác nhau đến năng suất

giống KMYB 1 trên đất bãi 85 Hình 3.5 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón lân khác nhau đến

năng suất giống KMYB 1 trên 2 loại đất 90 Hình 3.6 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón lân khác nhau đến năng suất

giống KMYB 1 trên đất ruộng một vụ 91 Hình 3.7 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón lân khác nhau đến năng suất

giống KMYB 1 trên đất bãi 92 Hình 3.8 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón kali khác nhau đến

năng suất giống KMYB 1 trên 2 loại đất 97 Hình 3.9 Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón kali khác nhau đến năng suất giống

KMYB 1 trên đất ruộng một vụ 97 Hình 3.10 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón kali khác nhau đến năng suất

giống khoai môn Yên Bái 1 trên đất bãi 98 Hình 3.11 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức phân chuồng khác nhau

đến năng suất giống KMYB 1 trên 2 loại đất 103 Hình 3.12 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón phân chuồng kh ác nhau đến

năng suất giống khoai môn Yên Bái 1 trên đất ruộng một vụ 104 Hình 3.13 Đồ thị ảnh h ưởng của các m ức bón phân chuồng khác nhau đến

năng suất giống khoai môn Yên Bái 1 trên đất bãi 104

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây khoai môn - sọ có tên khoa học là Colocasia esculeuta L Schott, là cây một lá mầm thuộc chi Colocasia, họ ráy Araceae là loài cây đã được trồng từ lâu đời

trên thế giới (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2005 [39]) Dựa vào hình thái của củ cái

và củ con khoai môn - sọ có thể được chia ra làm 2 nhóm: Nhóm Colocasia esculenta

var esculenta bao gồm các giống khoai môn và khoai nước; nhóm Colocasia esculenta var antiquorum gồm hầu hết các giống khoai sọ (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và

cs, 2004 [38]) Theo nhiều tài liệu loài cây này được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng ôn đới ấm áp

Ở Việt Nam, cây khoai môn có mặt ở nhiều tiểu vùng sinh thái trong cả nước như Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Đà Lạt, Trà Vinh, ; nó được trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất ruộng vườn ở đồng bằng đến đất đồi núi dốc (đất nương rẫy) ở miền núi Sản phẩm của cây khoai môn vừa làm lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao được nhiều người ưa dùng Phương thức sử dụng củ khoai môn cũng rất phong phú về chế biến và sử dụng như: Nấu canh xương, làm bánh, làm rau, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến…

Đề án phát triển rau, quả và hoa cây cảnh giai đoạn 1994 - 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa cây khoai môn vào một trong mười loại cây trồng chính trong chương trình phát triển sản xuất và xuất khẩu Tuy nhiên, những nghiên cứu của các nhà khoa học về cây khoai môn chưa nhiều, diện tích còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa tạo được sự bứt phá về giống, năng suất và sản lượng Kỹ thuật canh tác khoai môn tại các địa phương do chưa có nhiều tài liệu

về loài cây này nên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cổ truyền Vì vậy, nghiên cứu,

áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong trồng trọt, thâm canh; nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt của các giống theo từng địa phương và chọn tạo những giống tốt phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái ở những nơi đã sản xuất khoai môn truyền thống để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, tiếp tục duy trì diện tích hiện có, đồng thời

mở rộng diện tích tại những vùng phù hợp tạo ra những vùng chuyên canh đem lại hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân, đặc biệt là bà con nông dân ở những vùng

xa xôi, hẻo lánh, thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

ta hiện nay là việc làm cần thiết

Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên gần 700.000 ha (Cục thống kê Yên Bái, 2013 [11]), nền kinh tế của tỉnh chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Ngoài thế mạnh một số loại cây trồng chủ lực như chè, quế,

Trang 14

một số loại cây ăn quả như hồng Lục Yên, bưởi Đại Minh…còn có một số loại cây trồng bản địa có thương hiệu được nhiều người biết đến đó là cây khoai tím (khoai môn) được trồng từ lâu tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái và sản phẩm củ khoai môn Lục Yên đã trở thành đặc sản của vùng này

Chủ trương của tỉnh Yên Bái và huyện Lục Yên muốn phát triển cây khoai môn theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả, chính vì vậy việc nghiên cứu về cây khoai môn là rất cần thiết Để có bộ giống thích hợp, phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa phương, năm 2006 trên địa bàn tỉnh đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, năng suất và phẩm chất một số giống khoai môn tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn đề nghị bổ sung thêm 2 giống khoai môn: Khoai môn Bắc Kạn, khoai môn Hà Giang vào cơ cấu giống của địa phương và đã chứng minh được việc trồng cây khoai trên đất ruộng một vụ là

có hiệu quả, chất lượng không thua kém khoai được trồng trên đất nương rẫy Mặt khác đất bãi và đất ruộng một vụ tại tỉnh Yên Bái có số lượng lớn , nếu chuyển đổi diện tích 2 loại đất này sang trồng cây khoai môn sẽ tăng được hiệu quả kinh tế trong sản xuất cho người dân

Vì vậy, vấn đề nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn địa phương trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, nơi có khí hậu đất đai tương đồng với một số huyện thị trong tỉnh như: Yên Bình, thành phố Yên Bái, Văn Yên, Văn Chấn và cũng chính là vùng nằm trong quy hoạch phát triển khoai môn của tỉnh Yên Bái trong những năm tiếp theo là cần thiết Kết quả nghiên cứu ban đầu sẽ lựa chọn được giống có triển vọng tại địa phương trên 2 loại đất để tiếp tục nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật về phân bón, mật độ - thời vụ và kỹ thuật bảo quản củ giống trở nên rất cấp thiết để mở rộng diện tích, phát triển khoai môn theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung để tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh, là cơ sở cho việc mở rộng diện tích ra một số huyện trên địa bàn tỉnh nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân

Từ những cơ sở trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh Yên Bái”

2 Mục đích của đề tài

- Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của một

số giống khoai môn trên đất ruộng một vụ và trên đất bãi tại tỉnh Yên Bái, xác định được giống có triển vọng phù hợp với địa phương

Trang 15

- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp về liều lượng phân bón (đạm, lân, kali và phân chuồng), mật độ - thời vụ và kỹ thuật bảo quản củ giống cho giống có triển vọng tại Yên Bái trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên làm cơ sở cho việc mở rộng diện tích, phát triển cây khoai môn theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung nhằm nâng cao thu nhập cho người dân

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định việc trồng cây khoai môn trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

là có cơ sở khoa học và thực tiễn

- Là cơ sở cho việc áp dụng hiệu quả các biện pháp kỹ thuật về phân bón, mật độ, thời vụ và cách bảo quản củ giống trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên

và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung được 1 giống khoai môn Bắc Kạn vào cơ cấu giống khoai môn trên địa bàn tỉnh Yên Bái ngoài các giống đã có tại địa phương và giống có triển vọng; định hướng được việc xây dựng vùng chuyên canh trồng cây khoai môn của tỉnh trên đất ruộng một vụ và đất bãi nhằm đáp ứng vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến khoai môn trong tương lai

- Giúp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Qua kết quả xây dựng mô hình trình diễn và kết quả nghiên cứu về cây khoai môn đã chứng minh được việc trồng khoai môn trên đất ruộng 1 vụ và đất bãi là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn, có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất tại địa phương

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- 5 giống khoai môn địa phương được thu thập tại tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Yên Bái (3 giống) có đặc điểm nông sinh học khác nhau

- Các loại phân bón vô cơ (đạm, lân, kali), hữu cơ (phân chuồng tại địa phương), phương pháp bảo quản củ giống theo người dân và phương pháp khác đã được một số tác giả Nguyễn Ngọc Nông (2006), Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2004) nghiên cứu và đề cập

Trang 16

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các thí nghiệm được nghiên cứu trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên, và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2011đến năm 2013

5 Những đóng góp mới của luận án

- Đề tài đã đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của 5 giống khoai môn thu thập tại một số tỉnh miền núi phía Bắc (Bắc Kạn, Hà Giang, Yên Bái) được trồng trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Từ 5 giống khoai môn đã lựa chọn được giống khoai môn Yên Bái 1 là giống có triển vọng cho địa phương

- Đã nghiên cứu và xác định được các biện pháp kỹ thuật về lượng phân bón (đạm, lân, kali, phân chuồng), mật độ - thời vụ và kỹ thuật bảo quản củ giống cho giống có triển vọng (khoai môn Yên Bái 1) trên đất ruộng một vụ tại huyện Lục Yên và đất bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận

Trong đời sống hàng ngày, nguồn lương thực chính mà con người sử dụng để cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của mình là từ lúa, ngô, mỳ .Trong những năm vừa qua, sự tăng dân số một cách nhanh chóng đòi hỏi một số lượng lương thực ngày càng nhiều trên toàn thế giới Vấn đề lương thực đã càng trở nên cấp bách, chính điều đó đã thu hút sự quan tâm của các nhà chọn tạo giống cây trồng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Mục đích của các nhà khoa học là nâng cao năng suất cây trồng, tìm ra nhiều giống cây trồng mới cho các loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô, lúa mì Tuy nhiên, những loại cây trồng này khi áp dụng trên phạm vi rộng thường chưa thu được những kết quả cao như mong đợi, đặc biệt là những nơi thiếu lương thực do ở đó trình độ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, đất đai xấu, khó khăn trong việc canh tác Do đó việc đưa những loại cây có củ như sắn, khoai lang, khoai môn - sọ vào trồng ở những nơi không cần đầu tư thâm canh lớn, trình độ kỹ thuật chưa cao là việc làm cần thiết để tăng sản lượng lương thực, giải quyết trước mắt vấn đề thiếu lương thực tại chỗ

Ở Việt Nam, tổng diện tích cây có củ hàng năm khoảng hơn 600.000 ha với sản lượng trên 4,7 triệu tấn củ tươi Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu về cây có

củ mới chỉ tập trung vào 3 cây chính, đó là: sắn, khoai tây và khoai lang, còn những loại cây có củ khác như: khoai môn, sọ; dong riềng mới chỉ được quan tâm trong mấy năm gần đây Bên cạnh đó, năng suất của các loại cây có củ, đặc biệt năng suất cây khoai môn đang được trồng tại nước ta còn thấp, nên việc chọn lọc, lai tạo tìm ra những giống tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau trên

cả nước, từ đó tập trung đầu tư thâm canh để tăng năng suất cây trồng là việc làm cần thiết và quan trọng

Yêu cầu sinh thái của cây khoai môn ở các thời kỳ sinh trưởng cũng khác nhau: Ở thời kỳ mọc mầm, nhiệt độ thích hợp 13 - 180C, thời kỳ cây con yêu cầu nhiệt độ 20 - 250C, thời kỳ cây trưởng thành yêu cầu nhiệt độ 25 - 300C, đặc biệt vào giai đoạn tạo củ nó cần biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm cao Là cây cần nhiều nước nhưng không chịu được nóng, nên trồng ở đất dốc, đất ruộng 1 vụ

Trang 18

không chủ động nước là khá phù hợp, yêu cầu lượng mưa hàng năm 1.500-2.000 mm/năm, độ ẩm không khí 80 - 82%, về đất đai phù hợp trên những loại đất có pH 5,0 - 6,5; đất tơi xốp, nhiều mùn

Tỉnh Yên Bái có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm cao, có nhiệt độ trung bình năm là 20 - 230C, lượng mưa trung bình năm là 1.500 - 1.600 mm/năm Độ ẩm tương đối là 84 - 86%, đất đai chủ yếu là đất nâu

đỏ phát triển trên đá vôi và đất feralit đỏ vàng, đỏ nâu phát triển trên đá mácma axit có độ pH 5,0 - 6,0; đất tơi xốp, hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao

Điều kiện tự nhiên của một số huyện tại tỉnh Yên Bái (trừ 2 huyện vùng cao

là Trạm Tấu và Mù Cang Chải) theo yêu cầu sinh thái của cây khoai môn là tương đối phù hợp, mặt khác là loại cây đã được trồng từ lâu đời tại địa phương và việc

mở rộng diện tích là có cơ sở do quỹ đất chưa sử dụng còn nhiều, đất ruộng lúa 1

vụ bỏ hoá không chủ động nước và đất soi bãi còn diện tích khá lớn

Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên (2011) [75],

về đánh giá hiện trạng và định hướng quy hoạch cây khoai môn trên địa bàn tỉnh Yên Bái đến năm 2015 đã xác định hướng quy hoạch các vùng trồng khoai môn tại các huyện Văn Chấn, Yên Bình, Lục Yên và các xã thuộc huyện Trấn Yên, thành phố Yên Bái nơi có điều kiện khí hậu đất đai phù hợp để trồng khoai môn Đặc biệt cần tận dụng đất đai ở vườn nhà để trồng khoai môn nhằm tăng thu nhập cho người dân

Từ những cơ sở trên cho thấy, việc triển khai đề tài là hoàn toàn có cơ sở nhằm bổ sung giống tốt vào cơ cấu giống của địa phương, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật về phân bón, mật độ - thời vụ và bảo quản củ giống sẽ mở ra triển vọng mới trong việc mở rộng diện tích, xây dựng vùng chuyên canh trồng cây khoai môn của tỉnh

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở giao điểm giữa Đông Bắc và Tây Bắc,

có nhiều tuyến giao thông chạy qua, thuận lợi cho cả đường thuỷ, đường bộ, đường không, đặc biệt tuyến đường xuyên Á chạy qua rất thuận lợi cho việc buôn bán, giao lưu hàng hoá khu vực miền núi phía Bắc Nơi đây có rất nhiều loại cây trồng đã được bà con nông dân trồng trọt từ lâu đời và đã trở thành những sản phẩm có tên tuổi như hồng không hạt, cam sành Lục Yên, chè Suối Giàng và nhiều loại cây trồng khác Một trong những cây trồng truyền thống, được trồng

Trang 19

trọt từ lâu đời và có giá trị kinh tế cao trong cơ cấu sản xuất của tỉnh còn phải kể đến cây khoai môn (cây khoai tím, khoai mán ) Nghiên cứu cho thấy điều kiện khí hậu, đất đai ở một số huyện tại tỉnh Yên Bái khá phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây khoai môn Cây khoai môn trồng ở Lục Yên có năng suất và chất lượng tốt, thơm, ngon… do sự chăm chỉ, cần cù, chịu khó của bà con các dân tộc huyện Lục Yên nói riêng, tỉnh Yên Bái nói chung, mặc dù trình độ thâm canh cây khoai môn của người dân chưa cao Định hướng của tỉnh Yên Bái cũng như của huyện và các sở, ban, ngành trong tỉnh muốn nâng cao thu nhập của người dân bằng nhiều ngành nghề thủ công, công nghiệp và dịch vụ, tuy nhiên, lực lượng lao động tham gia trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh cũng như của huyện còn chiếm

tỷ lệ tương đối cao trên 70%

Để xây dựng tỉnh Yên Bái trở thành một tỉnh phát triển toàn diện, tận dụng mọi thế mạnh sẵn có để tăng thu nhập cho người dân, trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp cần tập trung vào một số cây trồng chủ lực có thương hiệu như chè, cây ăn quả, khoai môn

Từ những cơ sở mang tính thực tiễn đã nêu trên, chúng tôi thấy rằng việc triển khai thực hiện đề tài là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn, sau khi đề tài được thực hiện ngoài việc sẽ bổ sung giống khoai môn có năng suất, phẩm chất tốt vào cơ cấu cây trồng của tỉnh, còn nghiên cứu được các biện pháp kỹ thuật về phân bón, mật độ - thời vụ và biện pháp bảo quản củ giống cho giống có triển vọng tại địa phương trên đất ruộng một vụ và đất bãi từ đó áp dụng vào thực tiễn sản xuất

1.2 Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây khoai môn - sọ (colocasia

esculenta (L.) Schott)

1.2.1 Nguồn gốc và phân bố

Cây khoai môn - sọ là loài cây đã được trồng từ lâu đời trên thế giới, phổ biến ở

các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Ở một số nước trên thế giới khoai môn (Colocasia

esculenta var esculenta) được sử dụng làm lương thực và thực phẩm phổ biến trên

thế giới, đặc biệt ở các nước châu Á và châu Đại Dương (Nguyen Thi Ngoc Hue et

al., 2005 [95]) Ngoài mục đích sử dụng làm lương thực, thức ăn cho con người và

cho gia súc, khoai môn - sọ còn được sử dụng trong các lễ hội tôn giáo và làm các vị thuốc dân gian (Vũ Văn Chuyên, 1976 [8])

Có rất nhiều minh chứng thực vật học cho thấy: Khoai môn - sọ có nguồn gốc phát sinh tại Trung Nam Á như: Ấn Độ hoặc bán đảo Malayxia Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Đăng Khôi và cs (1985) [43], Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs

Trang 20

(2004) [38], cây khoai môn - sọ có nguồn gốc ở Đông Nam Ấn Độ Nhiều công trình khoa học cũng cho thấy Việt Nam nói riêng và các nước vùng Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Thái Lan được coi là một trong những trung tâm đa dạng

di truyền của khoai môn - sọ Việt Nam và Trung Quốc được coi là những nơi đã phát triển các giống khoai môn từ nhiều thế kỷ trước

Nhiều dạng khoai môn - sọ hoang dại cũng được phát hiện tại nhiều nơi của vùng cận Đông Nam Á Từ trung tâm khởi nguyên, cây khoai môn - sọ được truyền

bá tới Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản và các quần đảo thuộc Thái Bình Dương

Từ châu Á, cây khoai môn - sọ được đưa tới các nước Ả Rập và Địa Trung Hải Vào khoảng 100 năm trước công nguyên cây khoai môn - sọ đã được trồng ở Trung Quốc

và Ai Cập (Puseglove, 1972 [106]) Ngày nay, khoai môn - sọ được trồng phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới cũng như ôn đới ấp áp Cây khoai môn - sọ được thâm canh tốt nhất ở các nước thuộc quần đảo Thái Bình Dương Tuy nhiên, diện tích lớn nhất lại ở các nước Tây Phi, Caribê và hầu hết các vùng ở châu Á

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi được coi là trung tâm đa dạng di truyền cây trồng, nơi phát sinh của nhiều loài cây họ ráy, trong đó có khoai môn - sọ Chính vì vậy, nguồn gen khoai môn - sọ rất đa dạng Việt Nam và

Trung Quốc được coi là những nơi phát triển giống khoai sọ (eddoe) nhiều thế kỷ

trước và sau đó được nhập vào Tây Ấn và các nước khác trên thế giới (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004 [38])

Ở nước ta khoai môn - sọ, đặc biệt là khoai môn nước được thuần hoá sớm trước cả cây lúa nước, cách đây khoảng 10.000 - 15.000 năm (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004 [38]) Nguồn gen môn - sọ phân bố trong điều kiện tự nhiên rất đa dạng: Từ độ cao 1 m đến 1.800 m so với mực nước biển, có giống sống trong điều kiện ngập nước, trong điều kiện ẩm hoặc có giống phát triển trên đất khô hạn Có giống sinh trưởng trong điều kiện dãi nắng, có giống sống trong điều kiện cớm nắng Cây khoai môn - sọ được trồng trong vườn nhà, từ miền núi đến đồng bằng nhờ đặc tính dễ sống, dễ thích nghi của nó Trong đó khoai môn được trồng chủ yếu ở trung du và miền núi (Nguyễn Phùng Hà và cs, 2012; Trung Tâm Tài nguyên Thực vật, 2009) [27], [71]

1.2.2 Phân loại thực vật khoai môn - sọ (Colocasia esculenta (L.) Schott)

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, (2004) [38], Lương Ngọc Toản và

cs, (1979) [63] thì: Nhóm cây lấy củ họ thuộc họ ráy (Araceae) có tên tiếng Anh là

"Taro", gồm một số loại như ráy rừng (Alocasia macrorrhira), ráy đầm lầy (Cyrtosperma chamisonis), khoai sáp (Xanthosoma agittifolium), dọc mùng

Trang 21

(Colocasia gigantea), khoai môn (Colocasia esculenta var escullenta) và khoai sọ (Colocasia esculenta var antiquorum) Họ ráy (Araceae) là một họ rất lớn, với

hơn 115 chi và trên 2000 loài phân bố khắp thế giới, trong đó có tới 92% số loài

xuất xứ từ những vùng nhiệt đới châu Á và châu Mỹ (đặc trưng cho rừng ẩm ) Ở

Việt Nam hiện biết 21 chi và hơn 77 loài, phần lớn là cây ưa bóng làm thành tầng cây phụ chủ yếu ở rừng hỗn giao

Cây khoai môn, khoai sọ thuộc chi Calocasia là một trong những chi quan trọng nhất của họ Ráy (Araceae) Các loài trong chi này được dùng làm lương

thực, thực phẩm cho người và gia súc Khoai môn - sọ trồng được phân loại như

loài Colocasia esculenta, một loài đa hình với 2 loài phụ : Khoai môn và khoai sọ Chi Colocasia được xác định bởi Schott năm 1832 trên cơ sở hai loài đã đươc Linnacus mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 là Arum colocasia và Arum

esculentum Schott cũng đã đặt tên của 2 loài này là Colocasia esculenta và Colocasia antiquorum Hiện nay, trong nghiên cứu phân loại chi Colocasia vẫn

còn nhiều tranh cãi chưa ngã ngũ Một số nhà phân loại thực vật học cho rằng có

một loài đa hình là C esculenta và ở mức độ dưới loài biết đến có C esculenta

var esculenta và C eculenta var antiquorum (Ghani., 1984 [94])

Ở Việt Nam, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về cây khoai môn - sọ, các

tác giả đều sử dụng danh từ chung "Cây khoai môn" vừa để chỉ giống cây

thích nghi với môi trường đất bị ngập nước hoặc ẩm ướt, với tên thường gọi là

"Cây khoai nước" và cũng để chỉ nhóm cây chịu hạn mà không chịu được

ngập úng nên thường gọi là "Cây khoai sọ" (Nguyễn Đăng Khôi và cs, 1985;

Bùi Công Trừng và cs, 1963) [43], [66]

Từ năm 1998, khi nghiên cứu đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn - sọ ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Trương Văn Hộ, Nguyễn Văn Viết,

Nguyễn Phùng Hà cho rằng giả thiết có 2 loài phụ dưới loài Colocasia esculenta

là C esculenta var esculenta và C esculenta var antiquorum với tên gọi khoai

môn và khoai sọ là có lý hơn cả

Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs (2004) [38] nguồn gen khoai

môn - sọ gồm 3 biến dạng thực vật là khoai môn (Dasheen type) với 2x = 28, khoai sọ (Eddoe type) với 3x = 42 và nhóm trung gian Ba biến dạng này có mối

quan hệ khá gần gũi trong quá trình tiến hoá từ cây khoai nước đến cây khoai môn

và sau cùng là cây khoai sọ Nhóm khoai sọ có thể do tự đa bội mà thành hoặc do

sự tái tổ hợp giữa dạng nhị bội (2x) với dạng tứ bội (4x) Ranh giới giữa 3 nhóm không rõ ràng nếu chỉ dựa vào đặc điểm hình thái nông học Về mặt di truyền 2

Trang 22

dạng này có mối quan hệ mật thiết Các biến dị tam bội được tiến hoá từ dạng nhị

bội do tự đa bội hoá mà thành (Hirai et al., 1994 [97]) Kết quả nghiên cứu của

nhiều tác giả trong và ngoài nước cho thấy hầu hết các giống khoai môn, khoai nước đều thuộc nhóm thể nhị bội còn hầu hết các giống khoai sọ thì thuộc nhóm

thể tam bội (Hirai et al., 1994 [97])

Vì vậy, nên gọi nhóm khoai môn - sọ là chính xác nhất, kể cả khi cho rằng có

một loài đa hình là C antiquorum và mức độ dưới loài là C antiquorum var

typeca, C antiquorum var euchlora và C antiquorum var esculenta

Để nhận biết các giống của 2 nhóm này, cần dựa vào kết quả phân tích của 3 nhóm đặc điểm:

- Hình thái củ cái và củ con

- Số lượng nhiễm sắc thể

- Đặc điểm hình thái hoa

Nếu dựa vào hình thái củ cái và củ con thấy rằng:

- Nhóm C esculenta var esculenta (Dasheen) bao gồm các giống khoai môn

và khoai nước, đặc điểm của chúng là có một củ cái lớn quyết định năng suất

giống khoai với một vài củ con nhỏ và dải khoai (Stolon) ít dùng để ăn Bông hoa

của nhóm này có phần phụ vô tính ngắn hơn phần hoa đực Khả năng thích nghi

của các giống khoai của nhóm này từ điều kiện đất bị ngập nước (khoai nước ở

một số vùng chiêm trũng Nam Định ) tới những vùng đất cao thuộc các tỉnh trung

du, miền núi như Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Lào Cai, Sơn La Với nhiều giống khoai nổi tiếng

- Nhóm C esculenta var antiquorum (Eddoe) gồm hầu hết các giống khoai

sọ, đặc điểm của nhóm khoai này là có một củ cái kích thước nhỏ hoặc trung bình,

ăn sượng và hơi ngái Xung quanh củ cái có nhiều củ con hình cầu hoặc hình trứng kích thước khác nhau tuỳ thuộc giống Ở các giống khoai sọ, củ con quyết định đến năng suất thương phẩm Các giống thuộc nhóm này thường có củ con cấp 1, 2, 3 và thường có thời gian ngủ nghỉ nên thường bảo quản được lâu Đặc tính hoa của nhóm này là phần phụ vô tính dài hơn phần phụ của hoa đực Điển hình là các giống khoai sọ trứng, khoai lủi (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004 [38])

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam thì ngoài 2 nhóm có sự phân biệt rõ kể trên, trong tập đoàn còn nhiều giống khác nhưng ở dạng trung gian Các dạng trung gian có thể do sự lai tạo tự nhiên

Trang 23

nên ít được quan tâm nghiên cứu Các giống ở nhóm này có củ cái và củ con gần bằng nhau về hình dạng và kích thước

Một cách phân loại được sử dụng để phân biệt C esculenta var esculenta và

C esculenta var antiquorum là dựa vào đặc điểm hình thái hoa - chiều dài phần

phụ vô tính của đỉnh bông mo Các giống khoai môn khi thuộc nhóm C esculenta

var esculenta có phần phụ vô tính của đỉnh ngắn hơn phần phụ vô tính của các

giống thuộc nhóm C esculenta var Antiquorum khoảng 3 lần (Lebot và Adrahy.,

1992 [100])

Khi quan sát tập đoàn khoai môn - sọ ở Việt Nam cho thấy các giống của

nhóm C esculenta var antiquorum hầu như không ra hoa, chỉ có nhóm khoai nước (C esculenta var esculenta) ra hoa thường xuyên Vì vậy, việc phân loại các

giống môn - sọ dựa vào đặc điểm hình thái hoa là rất hạn chế

Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Tài nguyên Di truyền thực vật, ở

Việt Nam có thể phân biệt 3 nhóm cây thuộc loài Colocasia esculenta Nhóm

khoai nước bao gồm những giống thích nghi với môi trường bóng râm, ưa đất trũng Nhóm khoai môn bao gồm những giống trồng trên đất khô (đất phẳng, đất dốc sử dụng nước trời, đất dốc có độ cao trên 500 m) được con người sử dụng củ cái để ăn, củ con làm giống Hầu hết các giống khoai dạng nhị bội (2x = 28) có khả năng ra hoa ở vùng núi phía Bắc thuộc nhóm này Nhóm khoai sọ bao gồm những giống có thể trồng trên đất ruộng chân mạ, ruộng mầu luân canh hay xen canh với khoai lang, đậu, ngô, chịu hạn khá, không chịu được ngập úng

Như vậy, căn cứ vào các tài liệu hiện có và kết quả điều tra thực tế thì các

giống thuộc loài phụ Colocasia esculenta var esculenta có tên gọi là khoai môn

Những giống khoai này được trồng ở mọi chân đất, từ ruộng ngập nước đến nương

rẫy cao Các giống thuộc loài phụ Colocasia esculenta var antiquorum có tên gọi

rễ phát triển xuống dưới, trong khi các củ con, củ nách, dải bò phát triển sang các bên Loài cây này có một số đặc điểm về thực vật học chủ yếu:

Trang 24

1.3.1.1 Rễ khoai môn - sọ

Hệ thống rễ của loài môn - sọ là rễ chùm, mọc ở đốt mầm, ngắn, phân bố chủ yếu ở tầng đất có độ sâu tối đa 1 m Rễ phát triển thành nhiều tầng Số lượng rễ và chiều dài rễ phụ thuộc vào từng giống và đất trồng Rễ thường có màu trắng, một

số kiểu gen có cùng lúc 2 loại rễ: Rễ có sắc tố và rễ không có sắc tố

1.3.1.2 Thân khoai môn - sọ

Khoai môn - sọ chỉ có thân giả trên mặt đất Cả 2 dạng khoai môn và khoai

sọ, củ cái chính được coi là cấu trúc thân chính của cây (Được gọi là thân củ) Trên thân củ có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm phát triển thành nhánh Sau mỗi dọc lá lụi đi thì trên thân củ thêm một đốt và thân củ dài thêm ra Bề mặt củ được đánh dấu bởi vòng tròn gọi là chân dọc củ Đó lá điểm nối của những lá vẩy hoặc lá già Nhiều mầm bên phân bố trên những đốt củ Đỉnh của củ cái chính là điểm sinh trưởng của cây Sự mọc lên của cây bắt đầu từ đỉnh củ cái

1.3.1.3 Lá khoai môn - sọ

Lá chính là phần duy nhất nhìn thấy trên mặt đất, quyết định chiều cao của cây Mỗi lá được cấu tạo bởi một dọc lá thẳng và một phiến lá Phiến lá của hầu hết các kiểu gien có dạng hình khiên, gốc hình tim, có rốn ở gần giữa Phiến lá nhẵn, chiều dài có thể biến động 20 - 70 cm và bề rộng 15 - 50 cm Kích thước của

lá chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh

1.3.1.4 Dọc lá khoai môn sọ

Dọc lá mập có bẹ ôm chặt ở phía gốc tạo nên thân giả Chiều dài dọc lá biến động phụ thuộc vào kiểu gen 35 - 160 cm Màu dọc lá biến động từ xanh nhạt tới tím đậm, đôi khi có sọc màu tím hoặc xanh đậm

1.3.1.5 Củ khoai môn - sọ

Cây môn - sọ có phần gốc phình thành củ hoặc thân củ chứa tinh bột, đây cũng chính là thân chính của loài cây này Củ khoai môn - sọ rất khác nhau về kích thước và hình dạng, tuỳ thuộc vào kiểu gen, loại củ giống và các yếu tố sinh thái, đặc biệt là các yếu tố có ảnh hưởng đến thân củ như cấu trúc và kết cấu của đất, sự có mặt của sỏi đá Củ cái của những giống đại diện trồng trên đất cao thường tròn hoặc hơi dài, còn những giống có củ cực dài thường là của những giống trồng ở ruộng và đầm lầy Tất cả củ cái, củ con và củ nách có cấu tạo bên ngoài gần như nhau, đều có một mầm ở đỉnh và nhiều mầm ở nách của vô số các

lá vảy trên thân củ

Mỗi loại cây trồng khác nhau đều có những đặc điểm riêng biệt về hàm lượng các chất có trong các bộ phận, đối với các loại cây trồng lấy củ thì tinh bột, protein

là những chất hết sức quan trọng Phần có giá trị kinh tế chính của khoai môn - sọ

Trang 25

chính là củ cái, các củ con, dọc lá Thành phần một số chất trong củ khoai môn được được trình bày tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Thành phần các chất trong củ khoai môn - sọ (khối lượng tươi)

Bảng 1.2 Thành phần hóa học trung bình của củ khoai môn - sọ tính theo

Khoai

sọ KS4

Môn ruột trắng

Môn tàu

Khoai tía riềng

Trang 26

Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương và cs [54], ở bảng 1.2 khi công bố kết quả nghiên cứu về tính chất lý hóa của tinh bột một số giống khoai môn - sọ phổ biến tại miền Bắc năm 2008, cho thấy hàm lượng nước của các giống khoai môn - sọ tương đối cao Hàm lượng một số chất trong củ khoai môn như lipit (0,57 - 0,68%), hàm lượng tro (3,81 - 4,25%) cao hơn trong củ khoại sọ Hàm lượng một số chất như protein, hàm lượng đường trong củ khoai sọ cao hơn trong củ khoai môn

Kết quả nghiên cứu một số giống khoai môn trên đất ruộng và đất nương rẫy tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2006 tại bảng 1.3 cho thấy các giống khoai môn khác nhau có một số chỉ tiêu về tinh bột, protein, chất xơ khác nhau Trong đó giống khoai môn Yên Bái (Yên Bái 1) và giống khoai môn Bắc Kạn có một số chỉ tiêu cao hơn so với các giống khác trong thí nghiệm

Bảng 1.3 Hàm lượng một số chất trong củ khoai môn nghiên cứu trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Lục Yên - Yên Bái, năm 2006 (% chất tươi)

ĐVT: %

Chỉ tiêu Giống

Hàm lượng protein

Hàm lượng lipit

Vật chất khô

Hàm lượng tinh bột

Chất xơ tổng số

(Nguồn: Số liệu nghiên cứu năm 2006 tại huyện Lục Yên, Yên Bái) Hàm lượng tinh bột cao nhất là giống khoai môn Yên Bái đạt 19,87%, giống thấp nhất là Lào Cai 2 chỉ đạt 12,25% Hàm lượng protein cao nhất là giống Lào Cai 1, sau đó đến giống Bắc Kạn và Yên Bái Giống có tỷ lệ xơ nhiều nhất là giống Hà Giang chiếm 1,70%

1.3.1.6 Hoa, quả khoai môn - sọ

Khoai môn có khả năng ra hoa, song sự lai tạo giữa chúng có tính bất hòa hợp cao và tính bất dục (Mai Thạch Hoành, 2006 [33]) Hoa của cây môn - sọ có dạng bông mo, mọc ra từ nách lá hoặc từ giữa bẹ của lá không mở Mỗi cây có thể có từ 1 cụm hoa trở lên Cụm hoa mọc đơn độc ngắn hơn cuống lá Quả mọng có đường kính khoảng 3 - 5 cm và chứa nhiều hạt Mỗi hạt ngoài phôi còn có nội nhũ

Trang 27

Thực tế trong điều kiện tự nhiên có những giống khoai môn - sọ ra hoa, hoa

đã được quan sát và nghiên cứu ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Khôi và cs, 1985; Tổ nghiên cứu cây có củ, 1965) [43], [62] Kết quả nghiên cứu các giống khoai môn tại Lục Yên năm 2006 đã xác định các giống khoai môn Yên Bái đều ra hoa, giống khoai môn Bắc Kạn, Hà Giang chưa quan quan sát thấy hiện tượng ra hoa

Mặc dù tỉ lệ ra hoa của các giống khoai môn - sọ còn phụ thuộc vào đặc điểm từng giống, như khả năng có thể thu được hạt ở những giống ra hoa có thể có được

từ kết quả nghiên cứu của Ellis et al., (1985) [91] đã nghiên cứu khả năng bảo

quản hạt giống và kết luận rằng hạt giống khoai môn - sọ dễ nẩy mầm, cho phép

hạ độ ẩm hạt để bảo quản trong điều kiện lạnh

Theo tác giả Wilson et al., (1981) [111] cho rằng có thể phun gibberelin và

tiến hành thụ phấn bằng tay để tăng cường sự ra hoa và kết hạt của cây khoai môn

1.3.2 Sinh trưởng, phát triển của khoai môn - sọ

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs (2004) [38] thì cây khoai môn - sọ tồn tại từ năm này qua năm khác là từ củ cái và củ con Nghiên cứu sự phát triển của chồi và khối lượng khô tổng số của chồi cho thấy sự phát triển của chồi sẽ giảm mạnh vào khoảng sau trồng 6 tháng Vào thời điểm đó, số lá mọc ra chậm lại, chiều dài của dọc cũng giảm, giảm tổng diện tích lá trên cây và giảm cả chiều cao cây trung bình trên đồng ruộng Hiện tượng này gọi là khoai xuống dọc Sự hình thành củ cái thường bắt đầu xảy ra sau trồng 3 tháng Sự hình thành củ con được xảy ra sau đó một thời gian ngắn Khoảng 5 đến 6 tháng sau trồng, khi sự phát triển của chồi giảm, kích thước củ cái và củ con phát triển rất nhanh Khi mùa khô bắt đầu, sự lụi của các chồi càng tăng nhanh cho đến khi chồi chính chết Chính củ cái và củ con cho phép cây tồn tại qua vụ khô Nếu củ không được thu hoặch chúng sẽ lại nẩy mầm và mọc thành cây mới vào thời vụ thích hợp Những nơi không có mùa khô, sau khi thân tàn, củ lại mọc mầm mới và tiếp tục phát triển thêm vài năm nữa

Vòng đời củ khoai môn - sọ có thể nhận biết được khi phân tích bề mặt củ cái với các phần sót lại của lá, dải bò hoặc chồi non, cụm hoa, rễ và thậm chí những vết bệnh gây ra bởi côn trùng Từ số lá còn lại trên củ, nếu biết thời gian cần thiết để phát triển mỗi lá mới sẽ cho phép ước lượng tuổi của cây Phân tích phần sót lại của các cụm hoa (số cụm và số cuống hoa mỗi cụm) sẽ biết được chính xác khả năng ra hoa của cây Sự biến đổi của đường kính củ cho biết sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh Củ thường bị thắt lại khi đất bị khô hạn hoặc bị ngập nước trong một thời gian nhất định

Trang 28

1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của khoai môn - sọ

Cây khoai môn, khoai sọ là loại cây trồng có khả năng thích ứng, sinh trưởng

và phát triển trong nhiều điều kiện khác nhau, được trồng nhiều ở hầu hết các vùng sinh thái nhờ đặc tính dễ trồng và là cây đặc sản của nhiều địa phương (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004; Phạm Văn Vang, 1990) [38], [80] Tuy nhiên

nó vẫn chịu tác động nhất định của điều kiện ngoại cảnh, đất đai và dinh dưỡng Trong điều kiện thuận lợi sự sinh trưởng, phát triển tốt và ngược lại

Theo tác giả Mai Thạch Hoành và cs, 2012 [35] thì yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây có củ nói chung cần có 5 yếu tố là đất, nước, nhiệt độ, ánh sáng và dinh dưỡng, mỗi yếu tố sẽ có tác động nhất định đến sinh trưởng, phát triển của cây

1.4.1 Nhiệt độ

Khoai môn - sọ yêu cầu nhiệt độ trung bình ngày trên 210C để sinh trưởng, phát triển bình thường Năng suất của môn - sọ có xu hướng giảm dần khi nơi trồng có độ cao tăng dần Nhiệt độ thấp làm cho cây giảm sinh trưởng và cho năng suất thấp (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004 [38])

Khi điều tra điều kiện về nhiệt độ ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Hòa Bình, Sơn La, Hà Giang những nơi có trồng cây khoai môn thấy rằng nhiệt độ trung bình qua 3 năm từ 2010 đến 2012 tại một số tỉnh điều tra, có trồng cây khoai môn dao động 20,3 - 24,10C, trong đó nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là tỉnh Lào Cai, chỉ đạt trung bình 20,30

C (Cục Thống kê tỉnh Yên Bái [11], Sơn La [13], Hà Giang [14], Lao Cai [15], Bắc Kạn [16], Hòa Bình [17], Tuyên Quang [18]) Qua đó thấy rằng, nhiệt độ thường thấp vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 Nhiệt độ cao nhất trong các tháng 5 đến tháng 8 và

giảm dần trong tháng 9 đến cuối năm

Trong các tháng 12, tháng 01 đến tháng 02 nhiệt độ tối thấp có những vùng như Bảo Yên, Thuận Châu, Lục Yên có thể giảm đến dưới 100

C, tuy nhiên số ngày có nhiệt độ thấp thường không kéo dài Vào các tháng 6, tháng 7, tháng 8 có những nơi nhiệt độ tối cao có thể đạt trung bình đến trên 350C

Qua điều tra số liệu và thực tế tại một số vùng trồng khoai môn như Thuận Châu - Sơn La, Đà Bắc - Hòa Bình, Lục Yên - Yên Bái, Vị Xuyên - Hà Giang, Bảo Yên - Lào Cai thấy rằng, cây khoai môn bản địa tại địa phương thường được người dân trồng trên cao, nhiệt độ thường thấp hơn so với các vùng khác trong cùng một huyện Ở những nơi mát mẻ, quanh sườn đồi cây khoai thường sinh trưởng tốt

Trang 29

1.4.2 Nước

Cây khoai môn có bề mặt thoát hơi nước lớn nên có yêu cầu về độ ẩm đất cao để phát triển Cây cần lượng mưa hoặc tưới khoảng 1.500-2.000 mm để cho năng suất tối ưu Cây phát triển tốt nhất trong điều kiện đất ướt hoặc điều kiện ngập Trong điều kiện khô hạn cây giảm năng suất củ rõ rệt, củ phát triển trong điều kiện khô hạn thường có dạng quả tạ Việc nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống khoai môn, khoai sọ được thu thập ở miền Trung và Tây Nguyên đã được tác giả Nguyễn Vĩnh Tường và cs (2012) [78] nghiên cứu với 11 giống khoai môn - sọ trong nghiên cứu, tác giả đã xác định được về hình thái và sinh lý thì các giống môn Chúm Huế, khoai sọ Tây Nguyên, môn Chúm Quảng Trị và môn Vĩnh Long là những giống có tiềm năng chịu hạn tốt

Ẩm độ không khí trung bình tại một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 2010 đến năm 2012 dao động từ 80,0 - 86,4%, thấp nhất ở tỉnh Sơn La, cao nhất ở thành phố Yên Bái Nói chung các tháng đều có ẩm độ cao ở tất cả các tỉnh thu thập số liệu, đều đạt trung bình trên 80% (Cục Thống kê tỉnh Yên Bái [11], Sơn La [13],

Hà Giang [14], Lao Cai [15], Bắc Kạn [16], Hòa Bình [17], Tuyên Quang [18]) Lượng mưa trên năm cũng có vai trò rất quan trọng đến sinh trưởng, phát triển của cây khoai môn - sọ Qua điều tra thu thập tại các tỉnh có trồng cây khoai môn ở

phía Bắc thấy rằng tổng lượng mưa tại một số tỉnh từ 2010 - 2012 dao động từ

1.162,1 mm/năm đến 2.263,6 mm/năm, trong đó tỉnh có lượng mưa trung bình cao nhất là Hà Giang, thấp nhất là tỉnh Bắc Kạn Sự chênh lệch về lượng mưa giữa các tỉnh có lượng mưa cao nhất với tỉnh có lượng mưa trung bình thấp nhất là trên 1.000 mm/năm Các tỉnh có tổng lượng mưa cao như Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai, Hòa Bình, Tuyên Quang Tỉnh có lượng mưa thấp là tỉnh Bắc Kạn, Sơn La (Cục Thống kê tỉnh Yên Bái [11], Sơn La [13], Hà Giang [14], Lao Cai [15], Bắc Kạn [16], Hòa Bình [17], Tuyên Quang [18])

1.4.3 Ánh sáng

Cây khoai môn - sọ đạt được năng suất cao nhất trong điều kiện cường độ ánh sáng cao, tuy nhiên nó là loại cây chịu được bóng râm hơn hầu hết các loại cây khác [38] Điều này có nghĩa là nó có thể cho năng suất hợp lý thậm chí trong điều kiện che bóng nơi những cây trồng khác không thể phát triển được Đây là một đặc tính đặc biệt khiến cây khoai môn - sọ là cây trồng xen lý tưởng với cây

ăn quả và các cây trồng khác Ánh sáng mặt trời cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây môn - sọ Sự hình thành củ được tăng cường trong điều kiện ngày ngắn, trong khi hoa lại nở mạnh trong điều kiện ngày dài

Trang 30

1.4.4 Yêu cầu về đất và dinh dưỡng

Cây môn - sọ là loại cây có thể thích ứng được với nhiều loại đất khác nhau

và được trồng nhiều ở loại đất tương đối chua, thành phần tương đối nhẹ và nhiều mùn Tuy nhiên, khoai môn nước (khoai nước) cũng thích ứng tốt với loại đất nặng ngập nước (60 - 80% sét và limon) hoặc đất ẩm thường xuyên [38]

Kết quả xây dựng mô hình giống và mô hình thâm canh khoai môn từ năm

2009 đến năm 2011 tại tỉnh Yên Bái trên nhiều loại đất khác nhau: đất ruộng một

vụ tại huyện Văn Chấn, đất cát pha và đất đồi tại huyện Yên Bình, đất nương rẫy tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái cho thấy cây khoai môn sinh trưởng, phát triển tốt và đều cho năng suất trên 15,0 tấn/ha (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học

và Công nghệ Yên Bái, 2012 [67])

Cây môn - sọ phát triển tốt nhất trên đất có độ pH trong khoảng 5,5 - 6,5 Một đặc tính quý của môn - sọ là một số giống có tính chống chịu mặn cao, điều này cho thấy tiềm năng sử dụng cây môn sọ để khai thác một số vùng sinh thái khó khăn nơi những cây trồng khác không thể trồng được

1.5 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ trên thế giới

Trong những năm trở lại đây diện tích khoai môn sọ trên thế giới có xu thế giảm, đến năm 2012 tổng diện tích khoai môn - sọ trên thế giới là: 1.316.985 ha, diện tích năng suất, sản lượng khoai môn sọ trên thế giới được cụ thể ở bảng 1.4 Qua bảng 1.4 cho thấy diện tích khoai môn - sọ toàn thế giới năm 2008 là: 1.571.183 ha, trong đó châu Phi có diện tích 1.369.639 ha; châu Mỹ có 2.979 ha thấp nhất trong các châu lục có trồng cây khoai môn; châu Á chiếm diện tích 131.211 ha; châu Đại Dương có 67.954 ha Năng suất năm 2008 của thế giới trung bình là 77,088 tạ/ha, trong đó châu Á có năng suất cao nhất đạt: 154,343 tạ/ha, trong khi châu Phi năng suất chỉ đạt 70,105 tạ/ha gần bằng nửa năng suất trung bình của châu Á

Năng suất trung bình toàn thế giới năm 2012 là 75,681 tạ/ha giảm so với năm

2008 Trong đó châu Á năng suất lại tăng so với năm 2008, đạt 163,122 tạ/ha, châu Đại Dương năng suất cũng tăng hơn so với năm 2008, đạt 79,569 tạ/ha Duy chỉ có châu Phi và châu Mỹ năng suất khoai môn - sọ giảm so với năm 2008, châu phi đạt 65,090 tạ/ha, châu Mỹ đạt 82,381 tạ/ha

Trang 31

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai môn tại một số châu lục

trên thế giới giai đoạn 2008- 2012 Châu lục

Năm

Châu Đại dương

1.5.2 Tình hình sản xuất khoai môn - sọ ở Việt Nam

Trong những năm trước đây khi nước ta còn đang gặp nhiều khó khăn về vấn

đề lương thực thì việc nghiên cứu các cây trồng lấy hạt như lúa, ngô được đặt lên hàng đầu để giải quyết vấn đề lương thực trước mắt Chính vì vậy, việc nghiên

Trang 32

cứu các loại cây có củ nói chung, cây khoai môn - sọ nói riêng còn chưa nhiều, chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về nó

Năm 2012 tổng diện tích các loại cây có củ (trong đó có khoai môn- sọ) của

cả nước đạt: 741,3 nghìn ha, cụ thể diện tích cây có củ (sắn, khoai lang, dong riềng, khoai sọ, cây chất bột khác) được biểu hiện ở bảng 1.5

Bảng 1.5 Diện tích các loại cây có củ của Việt Nam giai đoạn 2010-2012

(Nguồn: Trung tâm Phát triển Bền vững Nông nghiệp - Nông thôn, Viện Quy

hoạch và Thiết kế Nông nghiệp [68], [69], [70])

Qua bảng 1.5 thấy rằng tổng diện tích cây có củ đã tăng từ năm 2010 là 691.173,6 ha lên đến 741.300 ha vào năm 2012 Trong năm 2011 - 2012 diện tích

cơ bản giữ nguyên, không có sự tăng về diện tích Các loại cây có củ tập trung ở miền Nam chiếm hơn 50% tổng diện tích trong cả nước Ở Miền Bắc, diện tích các loại cây có củ chủ yếu tập trung ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, trong đó sắn chiếm diện tích nhiều so với các loại cây trồng khác

Ngoài các loại cây có củ có diện tích nhiều như sắn, dong riềng, khoai lang thì một số loại cây trồng như khoai sọ, cây chất bột khác cũng chiếm diện tích đáng kể, kết quả sản xuất từ năm 2010 đến năm 2012 được biểu hiện ở bảng 1.6 Qua bảng 1.6 cho thấy, diện tích khoai sọ của cả nước hiện nay đạt 9.200 ha, năng suất trung bình 91,0 tạ/ha, sản lượng 83.700 tấn Diện tích tăng gấp 1,5 lần

từ năm 2010 đến 2012, từ gần 4.000 ha lên hơn 9.000 ha vào năm 2012, tuy nhiên năng suất vẫn ở mức thấp, dưới 10 tấn/ha/vụ

Cây chất bột khác, trong đó có cây khoai môn trong cả nước có diện tích năm

2012 đạt 23.900 ha, giảm mạnh so với năm 2011, năng suất trung bình 108,8 tạ/ha, sản lượng đạt 260.100 tấn

Trang 33

Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai sọ, cây chất bột khác

từ năm 2010 đến năm 2012 tại Việt Nam Chỉ tiêu

Loại cây trồng

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: Trung tâm Phát triển Bền vững Nông nghiệp - Nông thôn, Viện Quy

hoạch và Thiết kế Nông nghiệp [68], [69], [70])

Kết quả điều tra thực tế và thu thập số liệu tại một số cơ quan tại các huyện Bảo Yên - Lào Cai, Thuận Châu - Sơn La và tỉnh Bắc Kạn về diện tích, năng suất

và sản lượng khoai môn giai đoạn 2010 đến năm 2012 được biểu hiện ở bảng 1.7

Bảng 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai môn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2010 đến năm 2012

TT

Chỉ tiêu Địa phương

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 34

Qua bảng cho thấy đại đa số diện tích khoai môn tại các địa phương đều có

xu hướng giảm về diện tích; năng suất tăng không đáng kể Riêng chỉ có diện tích khoai môn của tỉnh Bắc Kạn là năm sau tăng hơn năm trước, cao nhất trong 3 tỉnh điều tra, thu thập, tuy nhiên năng suất không cao chỉ đạt dưới 90 tạ/ha/năm Ở một

số địa phương khác như Vị Xuyên - Hà Giang, Phong Châu - Phú Thọ, Yên Bình - Yên Bái qua điều tra thấy rằng diện tích không nhiều chỉ vài ha, được người dân trồng nhỏ lẻ tại vườn, chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu gia đình, không mang tính chất hàng hóa

Việc trồng khoai môn ở miền núi chủ yếu trồng trên đất đồi, đất nương rẫy vì vậy người dân chỉ có thể trồng được 2 - 3 vụ (2 - 3 năm) sau đó đất mất sức sản xuất Muốn trồng tiếp phải tìm những diện tích đất mới như phát rừng, quay trở lại những diện tích đã trồng trước đây Việc phát rừng canh tác nông nghiệp đã bị cấm

từ nhiều năm nay, vì vậy diện tích khoai môn giảm xuống liên tục là điều dễ hiểu Mặt khác người dân chưa có thói quen trồng khoai trên đất bãi, đất ruộng nên diện tích cũng khó có thể tăng lên Để tăng được diện tích trong những năm tới cần có những khuyến cáo đến người dân trong việc đưa cây khoai môn xuống đất bãi, đất ruộng để thâm canh, phát triển sản xuất theo hướng bền vững có hiệu quả

Để có những cơ sở chắc chắn trong việc trồng cây khoai môn trên một số loại đất không phải đất nương rẫy, năm 2006 đã có một số nghiên cứu, thử nghiệm khoai môn trên đất ruộng tại huyện Lục Yên, Yên Bái Qua thử nghiệm thấy rằng việc trồng khoai trên đất ruộng 1 vụ mang lại hiệu quả rõ dệt, ngoài trồng khoai còn có thể canh tác được 1 vụ đông trong năm Đây sẽ là một trong những cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật cho cây khoai môn tại Yên Bái trong những năm tiếp theo

1.6 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ trên thế giới và Việt Nam

1.6.1 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ trên thế giới

Cây khoai môn - sọ là một trong những loại cây có củ có vai trò quan trọng trên thế giới, hiện nay nhiều cơ quan quốc tế nghiên cứu khoa học nông nghiệp như Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP), Viện Nghiên cứu Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế (IPGRI), Viện Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế (IITA) và Viện Nghiên cứu chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI) đã và đang rất coi trọng công tác nghiên cứu và phát triển cây có củ (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây có củ, 2011 [72])

Trang 35

Ở mức độ giống cây trồng, những nghiên cứu đánh giá sự đa dạng nguồn gen cây khoai môn - sọ còn nhiều tồn tại, chưa có một sự phân loại hoàn chỉnh các giống (Ghani, 1984 [94]), cây khoai môn - sọ là cây nhân giống vô tính, tuy nhiên khả năng biến dị của các dòng vô tính xảy ra khá mạnh mẽ Thêm vào đó là sự chọn lọc trong sản xuất, khi người ta duy trì và sử dụng những giống phù hợp cho từng vùng canh tác, vì vậy có thể tồn tại hàng nghìn giống khoai môn - sọ

Cây khoai môn là loại cây trồng có nhiều tác dụng trong sản xuất, trên thế giới có nhiều giống và được trồng khá phổ biến Tại Papua New Guinea tập đoàn khoai môn quốc gia với 895 mẫu giống đang được bảo tồn tại Bubia Agricultural Research Center Thông tin thu thập đã được quản lý theo hệ thống dữ liệu của IPGRI Có 151 mẫu giống được sử dụng phân tích phân tử và để chọn ra tập đoàn các giống chủ yếu (Okpul T., Ivancic A., and Simin A 1996 [104]) Tại Solomon Islands tập đoàn khoai môn quốc gia với 824 mẫu giống đang được bảo tồn tại Fote Experiment Station ở Malaita Thông tin thu thập đã được quản lý theo hệ thống dữ liệu của IPGRI Ngân hàng gen đồng ruộng đang lưu giữ tập đoàn khoai môn quốc gia, số liệu mô tả, đánh giá được phân tích bởi IPGRI (Tony Jansen,

2002 [110]) Tại Vanuatu và New Caledonia đang lưu giữ 502 mẫu giống khoai môn, từ các số liệu mô tả đánh giá đã chọn được 107 mẫu giống để phân tích phân

tử và chọn ra tập đoàn các giống chủ yếu (Anonymous, 1999 [86])

Công tác tuyển chọn khoai môn trên thế giới hiện nay được thực hiện bởi các

tổ chức quốc tế như TANSAO (Taro Network for Southeast Asia and Oceania), TaroGen (Taro Genetic Resources: Conservation and Utilisation) Ngoài ra còn có các quốc gia thuộc khu vực Nam Thái Bình Dương như Papua New Guinea Solomon Islands, Vanuatu đã có chương trình chọn tạo giống khoai môn

Để nhận biết các giống khoai môn - sọ người ta có thể dựa vào các đặc điểm hình thái và thời gian sinh trưởng của giống Màu sắc ruột củ cái, chỏm củ, dọc lá

và phiến lá cũng được sử dụng để phân biệt các giống khoai (Plucknett, 1983 [105], Diazuli, 1994 [94])

Ở Hawaii, Whitney et al đã phân loại 82 giống khoai môn - sọ thành các nhóm theo đặc điểm hình thái Ở Nhật Bản, Kumazawa et al (1956) [99] đã thu thập được 158 giống khoai ở Nhật Bản và 42 giống khoai tại Đài Loan và một vài hòn đảo chính ở Trung Quốc Các giống khoai môn - sọ đã được phân loại thành

15 nhóm dựa vào các đặc điểm hình thái Vào năm 1982, Takayanagi et al đã thu thập lại các giống khoai môn - sọ đang được trồng tại Nhật Bản và 88 giống khoai

đã được phân loại thành các nhóm theo khoá phân loại của Kumazawa et al

Trang 36

(1956) Sau này Hirai et al., 1989 [96] phân loại các giống khoai đã thu thập được

dựa vào đặc điểm hình thái và mẫu phân tích điện li thành phần protein của củ, kết

quả phân nhóm các giống đã cho thấy phương pháp Kumazawa et al., (1956) đã

sử dụng là thích hợp

Ở Solomon Islands, tập đoàn khoai môn - sọ gồm 187 giống được thu thập vào năm 1969, đã sử dụng những kết quả mô tả hình thái để đưa ra một khoá phân loại Ghani (1984) [94] đưa ra khoá phân loại các giống khoai môn - sọ được thu thập ở Malaysia Dựa vào thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái, tác giả đã phân thành bốn nhóm như sau:

Nhóm 1: Có thời gian sinh trưởng 9 - 11 tháng, cây cao 80 - 110 cm, dọc lá

to, mập, thẳng đứng hoặc nghiêng, lá hình mũi tên Gồm hai phân nhóm có stolon (thân bò lan) không có củ con và phân nhóm không có stolon nhiều củ con

Nhóm 2: Có thời gian sinh trưởng 6 - 8 tháng, cây cao 50 - 70 cm, dọc lá nhỏ, thẳng đứng hoặc nghiêng, lá hình mũi tên hoặc hình tim Gồm hai phân nhóm: Phân nhóm củ dài hình cầu, có stolon, stolon phát triển thành cây và hình thành củ và phân nhóm với củ dài hình trụ, đơn độc, không có stolon

Nhóm 3: Có thời gian sinh trưởng 5 - 6 tháng, cây cao 30 - 50 cm dọc lá bé, mảnh khảnh, không chụm, lá nhỏ và hình tim Gồm hai phân nhóm: Cùng kích thước và phân nhóm củ cái phân nhánh, có 6 - 8 củ cái kết thành khối

Nhóm 4: Thời gian sinh trưởng không xác định được, dọc lá và lá ăn được,

củ tiêu biến không ăn được

Nghiên cứu phương pháp nhân giống và bảo quản nguồn gen cây khoai môn

- sọ, nhiều tác giả đã đề cập đến khả năng ra hoa kết hạt để có thể có được nguồn giống phong phú và hạt giống bảo quản trong ngân hàng gen thuận lợi hơn (Ellis

et al.,1985 [91])

Nhân giống khoai đã được áp dụng nhiều nơi trên thế giới, cây con giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ, có khả năng sinh trưởng đồng đều,

năng suất cao, sạch bệnh (Murakami et al., 2006 [102])

Khoai môn - sọ trên thế giới bị một số loại sâu bệnh hại chủ yếu, theo tác giả Ooka (1983) [103] đã đưa ra một nhận xét rằng: Phần lớn thiệt hại về năng suất ở cây khoai môn do bệnh hại gây ra, còn đối với cây khoai sọ thì sự úng ngập và sâu hại là những tác nhân chính làm giảm năng suất

Trang 37

Ở Papua New Guinea, bệnh thối lá (Phytophthora colocasiae) và thối củ

(Pythium sp.) phá hoại dữ dội vào mùa mưa và là những tác nhân gây suy sụp

năng suất khoai môn - sọ ở đây Để hạn chế tác hại của bệnh, người ta sử dụng các biện pháp diệt nấm, vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng và lựa chọn giống kháng bệnh

Tóm lại: Vấn đề nghiên cứu về cây khoai môn - sọ đã được các nhà khoa học

trên thế giới quan tâm trong những năm trở lại đây, tuy nhiên các nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp kỹ thuật như phân bón, mật độ - thời vụ cho từng giống ở các nơi trên thế giới còn chưa nhiều, chưa được đầu tư nghiên cứu ở mức độ rộng, mới chỉ nghiên cứu trên quy mô nhỏ tại một số nước phát triển khoai môn - sọ

1.6.2 Tình hình nghiên cứu khoai môn - sọ ở Việt Nam

1.6.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái nông học và phương pháp nhân giống khoai môn - sọ

* Nghiên cứu đặc điểmg nông sinh học và giống khoai môn - sọ

Cây khoai môn - sọ ở Việt Nam là một danh từ chung để chỉ hai nhóm cây có những giống thích nghi với môi trường cớm bóng, ưa nơi đất trũng, có nhiều bùn hẩu

và ngập nước gọi là cây khoai nước và có những giống không chịu được ngập úng, chỉ thích hợp để trồng ở các chân đất mầu gọi là cây khoai sọ (Nguyễn Hữu Bình, 1963; Nguyễn Đăng Khôi và cs, 1985) [1], [43]

Cây khoai nước (C.esculenta (L.) Schott) được đề cập đến trong những công

trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Bình (1963) [1], Tổ nghiên cứu cây

có củ (1965) [62] và Nguyễn Đăng Khôi và cs (1985) [43] để sử dụng làm thức ăn cho gia súc Các tác giả đã đồng nhất ý kiến cho rằng: Đặc điểm sinh vật học của cây khoai nước là loại cây trồng dưới nước, nhưng cũng có thể trồng trên cạn được nếu giữ được độ ẩm tốt Vì vậy trong nhóm cây khoai nước có giống trồng ruộng nước, có giống hoàn toàn trồng ruộng cạn cho củ ăn bở và ngon, lại có giống trồng

cả dưới nước và trên cạn (khoai Tía riềng, khoai Bông) Căn cứ vào tính chất của

củ và đặc điểm phân nhánh của cây Các giống khoai nước còn được phân thành hai nhóm khoai khôn và khoai dại (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004 [38])

+ Nhóm khoai khôn: Các giống khoai khôn sinh sản bằng nhánh nách, củ con tập chung quanh củ mẹ thành một cụm, củ có nhiều bột ăn hơi ngứa Những giống chính trong nhóm khoai khôn là: Khoai Chấm Son, khoai Tía, khoai Xá Đen, khoai Ấp, khoai Bông

Trang 38

+ Nhóm khoai dại: Các giống khoai dại sinh sản bằng ngó (stolon hay dải

bò) có khi dài tới 2 - 3 m, đẻ ở thân và đâm ngang Vì vậy, nhánh khoai dại được

phân bố đều trên ruộng và khoai dại thường ít củ, dọc lá nhỏ, củ ăn rất ngứa Có hai loại giống chính trong nhóm khoai dại là: khoai ấp dại và khoai lá bàng

Để nhận biết các giống khoai nước, người ta dựa vào thời gian sinh trưởng và những đặc điểm hình thái nổi bật như: Màu sắc dọc lá, phẩm chất củ, loại hình cây… + Các giống khoai dài ngày: Các giống khoai dài ngày có thời gian sinh trưởng 10-12 tháng, trồng vào vụ xuân tháng 2 đến tháng 4

+ Các giống khoai ngắn ngày: Các giống khoai ngắn ngày có thời gian sinh trưởng từ 6 - 8 tháng, trồng vào vụ thu từ tháng 7 đến tháng 9

Cây khoai sọ (C esulenta (L.) Schott var antiquorum): Là cây trồng cạn, có

thời gian sinh trưởng ngắn hơn khoai nước, vì vậy rất thích hợp với việc luân canh ở những chân ruộng một lúa một mầu Ở các tỉnh phía Bắc, vụ trồng chính là vụ xuân, thu hoạch củ trước mùa mưa (Nguyễn Đăng Khôi và cs, 1985; Tổ nghiên cứu cây

có củ, 1965) [43], [62]) Theo tác giả Wilson (1981) [111] cho rằng: Những giống khoai thích nghi trồng trên cạn có thời gian sinh trưởng 4 - 10 tháng, còn những giống khoai thích nghi trồng dưới nước có thời gian sinh trưởng 9 - 12 tháng

Năm 1992 được sự tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) Canada và sự giúp đỡ khoa học của Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) và Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật quốc tế (IPGRI), Trung tâm Nghiên cứu Cây

có củ và Rau - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã chủ trì đề tài KN 0.07 tiến hành thu thập, nghiên cứu và bảo quản nguồn tài nguyên di truyền cây có củ ở Việt Nam Kết quả đã có 1.208 mẫu giống được thu thập, trong đó có 402 mẫu là môn - sọ - ráy Tập đoàn cây có củ với 14 loài, trong loài gồm có nhiều giống như đối với khoai môn - sọ (Trương Văn Hộ và cs, 1993 [31])

Tổng số 350 mẫu giống khoai môn - sọ được thu thập trong giai đoạn 1993 -

1997 đã và đang được đánh giá có hệ thống Nhiều nguồn gen quý được phát hiện

và đề xuất cho các chương trình sử dụng khác nhau Quỹ gen khoai môn - sọ hiện được duy trì, bảo quản bằng hai phương pháp: Ex - situ (ngoại vi hay chuyển chỗ)

và in - situ (nội vi hay tại chỗ) và bảo quản trong ống nghiệm đối với những giống khoai môn miền núi (Vũ Mạnh Hải và cs, 2011) [28] Tuy nhiên, bảo tồn In situ quỹ gen cây trồng nói riêng và cây khoai môn nói riêng ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng mức và chưa có vùng/điểm bảo tồn on farm nào được duy trì và hoạt động bền vững (Phạm Thị Sến và cs, 2009) [55] Việc bảo tồn lưu giữ nguồn

Trang 39

gen cây trồng quý hiếm cần dựa trên các nghiên cứu cơ bản để đề ra các phương

án quy hoạch vùng sản xuất và vùng bảo tồn thì mới có hiệu quả (Quy T D and Hue N T N, 2006 [108])

Trong vấn đề nghiên cứu đánh giá tính đa dạng di truyền của nguồn gen khoai môn sọ cũng đã được các tác giả quan tâm, đặc biệt từ sau quyết định của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2005 [3] về việc ban hành danh mục giống cây trồng quý hiếm cần được bảo tồn nguồn gen, trong đó với 228 giốngkhoai môn - sọ cần được bảo tồn Tác giả Nguyễn Xuân Viết và cs (2012) [85] đã sử dụng Marker phân tử RADP đánh giátính đa dạng di truyền của một số giống khoai môn sọ địa phương, gồm 19 giống khoai môn sọ địa phương ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ và 1 mẫu giống dọc mùng Kết quả cho thấy đa dạng di truyền cao được phát hiện trong 19 mẫu giống khoai môn sọ, bốn nhóm giống khoai môn sọ địa phương được phân nhóm dựa trên số liệu phân tử RADP là khá phù hợp với các nhóm hình thái giống

Trong vấn đề phân tích di truyền tế bào và di truyền tế bào phân tử để xác định nguồn gốc thể nhiễm sắc của cây lai tự nhiên giữa các loài trong chi khoai

môn colocasia (Araceae) cùng đã được tác giả Nguyễn Xuân Viết (2004) [84] nghiên cứu Theo đó đã phát hiện hiện tượng lai tự nhiên trong chi Colocasia dựa

trên các nghiên cứu đa hình biến dị điện di isôzym và kết quả phân tích di truyền

tế bào và di truyền tế bào phân tử cho phép xác định nguồn gốc của thể nhiễm sắc của cây lai tự nhiên có ý nghĩa để phân loại một cách chính xác ở mức độ dưới loài, cải tiến giống khoai môn, nghiên cứu sự đa dạng của các giống khoai môn và

sự tiến hóa trong chi Colocasia

Việc nghiên cứu đa dạng di truyền cây khoai môn - sọ bằng chỉ thị phân tử DNA được tác giả Nguyễn Văn Giang và cs (2013) [23] thực hiện với 60 mẫu giống khoai môn - sọ được thu thập tại các địa phương khác nhau Kết quả nghiên cứu của tác giả đã mở ra một hướng mới trong công tác bảo tồn cũng như lại chọn tạo giống khoai môn - sọ mới trong thực tiễn

Từ năm 1996, ngân hàng gen đồng ruộng thuộc ngân hàng gen cây trồng Quốc gia mới chính thức thành lập và hoạt động, nghiên cứu có hệ thống Tập đoàn khoai môn - sọ ở Việt Nam với nhiều mẫu giống thuộc 3 nhóm khoai nước, khoai môn và khoai sọ đang được lưu giữ, bảo quản và đánh giá tại Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật Khai thác, sử dụng các nguồn gen mới chỉ dừng lại ở mức độ chọn lọc Các nguồn gen có tiềm năng năng suất cao, chất lượng khá và chịu bệnh thối lá

ở mức khá Công tác chọn tạo giống mới, mới chỉ được bắt đầu ở Việt Nam

Trang 40

Ở Việt Nam công tác chọn tạo giống mới chỉ bắt đầu từ năm 1998 do Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật tiến hành Hiện tại, một số giống triển vọng đang được thử nghiệm trong sản xuất (Nguyễn Phùng Hà, 2001 [24])

Năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [3] có Quyết định số số 80/2005/QĐ-BNN ngày 5/12/2005 về việc ban hành danh mục nguồn gen cây trồng quý hiếm cần bảo tồn, trong đó tập đoàn giống khoai môn sọ nằm trong nguồn gen quý hiếm cần được bảo tồn với 228 giống Qua kết quả nghiên cứu và đánh giá 108 nguồn gen đã tuyển chọn được 7 nguồn gen có những đặc tính tốt để giới thiệu cho sản xuất, trong đó giống khoai mán vàng có chất lượng củ cái ngon Đánh giá tập đoàn 65 nguồn gen khoai môn thu thập tại các tỉnh Tây Bắc cho thấy

có sự đa dạng cao về tính trạng hình thái, tính trạng số lượng và các yếu tố cấu thành năng suất Bước đầu đã chọn được 4 nguồn gen khoai môn triển vọng (T3678, T5029, T5052, T5032), trong đó nguồn gen T5029 đáp ứng đủ yêu cầu để giới thiệu cho sản xuất

Cho đến năm 2010 đã có 545 mẫu giống khoai môn - sọ được duy trì và bảo quản tập đoàn tại ngân hàng gen cây trồng quốc gia và được mô tả đánh giá với 53 chỉ tiêu hình thái, nông học (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2011 [40])

Dự án toàn cầu về “tăng cường cơ sở khoa học bảo tồn nội vi (in-situ) đa

dạng sinh học nông nghiệp” do Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế

(IPGRI) điều phối đã được thực hiện tại Việt Nam từ 1998 Nguồn gen khoai môn -

sọ đã trở thành một trong những loài cây trồng ưu tiên triển khai nghiên cứu về cơ

sở khoa học và phương pháp bảo tồn in - situ tại nông hộ Qua công tác điều tra, đã xác định được 28 giống khoai môn - sọ đang được nông dân duy trì và bảo tồn trên đồng ruộng của họ Các nghiên cứu, mô tả về 28 giống khoai môn - sọ cũng đã được các nhà khoa học miêu tả, đánh giá chi tiết (VASI, IPGRI, 2003 [81])

Tác giả Nguyễn Phùng Hà và cs (2012) [27] khi nghiên cứu áp dụng tri thức bản địa trong bảo tồn On - farm nguồn gen khoai môn sọ ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam với 4 điểm bảo tồn đã đưa ra kết luận: Những kinh nghiệm nhận biết giống và kỹ thuật canh tác cây trồng của nông dân là công cụ rất hữu ích, đã giúp cho cán bộ bảo tồn xây dựng và thực thi được kế hoạch bảo tồn phù hợp với điều kiện của địa phương

Kết quả bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật tại ngân hàng gen quốc gia năm 2012 của tác giả Lê Khả Tường và cs (2013) [77] cho thấy đã thu thập nguồn gen tại đồng bằng sông Cửu Long năm 2012 có tới 37 nguồn gen cây có củ, về bảo tồn nguồn gen sinh sản vô tính trong hệ thống ngân hành gen quốc gia với 478 nguồn gen khoai môn - sọ

Ngày đăng: 06/10/2014, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Bình, Bùi Công Trừng, Trần Văn Doãn (1963), Cây khoai nước, Nhà xuất bản Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây khoai nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Bình, Bùi Công Trừng, Trần Văn Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học
Năm: 1963
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng”, QCVN 01-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), “Danh mục nguồn gen cây trồng quý hiếm cần bảo tồn”, Quyết định số 80/2005/QĐ-BNN ngày 5/12/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục nguồn gen cây trồng quý hiếm cần bảo tồn”", Quyết định số 80/2005/QĐ-BNN ngày 5/12/2005
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
8. Vũ Văn Chuyên (1976), “Quyết cây hạt trần và cây 1 lá mầm”, Hỏi đáp về thực vật (tập 3), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết cây hạt trần và cây 1 lá mầm”", Hỏi đáp về thực vật (tập 3)
Tác giả: Vũ Văn Chuyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1976
11. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2013
13. Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Sơn La
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
14. Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Hà Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
15. Cục Thống kê tỉnh Lào Cai (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Lào Cai
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
16. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
17. Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
18. Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2013), Niêm giám Thống kê năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2013
19. Phạm Tiến Dũng (2008), Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
20. Nguyễn Thế Đặng (chủ biên), Đặng Văn Minh, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Hải, Đỗ Thị Lan (2008), Giáo trình đất trồng trọt, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đất trồng trọt
Tác giả: Nguyễn Thế Đặng (chủ biên), Đặng Văn Minh, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Hải, Đỗ Thị Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
21. Nguyễn Thế Đặng (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Nông, Đặng Văn Minh, Nguyễn Thế Hùng, Dương Thị Thanh Hà, Phan Thị Thu Hằng, Hà Xuân Linh (2011), Giáo trình Đất và Dinh dưỡng cây trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đất và Dinh dưỡng cây trồng
Tác giả: Nguyễn Thế Đặng (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Nông, Đặng Văn Minh, Nguyễn Thế Hùng, Dương Thị Thanh Hà, Phan Thị Thu Hằng, Hà Xuân Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2011
22. Nguyễn Đình Điệp (2004), Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của một số giống khoai môn tại tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của một số giống khoai môn tại tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Nguyễn Đình Điệp
Năm: 2004
23. Nguyễn Văn Giang, Vũ Ngọc Lan, Tống Văn Hải (2013), “Nghiên cứu đa dạng di truyền cây môn - sọ bằng chỉ thị phân tử ADN”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 11, (1), tr. 1 - 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa dạng di truyền cây môn - sọ bằng chỉ thị phân tử ADN
Tác giả: Nguyễn Văn Giang, Vũ Ngọc Lan, Tống Văn Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2013
24. Nguyễn Phùng Hà (2001), Đánh giá các giống hiện có và các giống có khả năng mở rộng sản xuất tập đoàn khoai môn sọ (Colocasia escunlenta (L.) Schott tại một số điểm sinh thái miền Bắc Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các giống hiện có và các giống có khả năng mở rộng sản xuất tập đoàn khoai môn sọ (Colocasia escunlenta (L.) Schott tại một số điểm sinh thái miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phùng Hà
Năm: 2001
25. Nguyễn Như Hà (2006), Giáo trình bón phân cho cây trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bón phân cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
26. Trần Thị Thu Hà, Đinh Thị Điệp, Nguyễn Ngọc Trí, Lê Tiến Dũng (2011), “Một số đặc điểm hình thái và tính gây bệnh của nấm sương mai Phytophthora colocasiae Racib gây hại trên các giống khoai môn sọ tuyển chọn”, Tạp chí Bảo vệ Thực vật, (1), tr. 17 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hình thái và tính gây bệnh của nấm sương mai "Phytophthora colocasiae "Racib gây hại trên các giống khoai môn sọ tuyển chọn”, "Tạp chí Bảo vệ Thực vật
Tác giả: Trần Thị Thu Hà, Đinh Thị Điệp, Nguyễn Ngọc Trí, Lê Tiến Dũng
Năm: 2011
107. Faostat, (2013), http://faostat3.fao.org/faostat-gateway/go/to/download/Q/QC/E, Cập nhật ngày 20/9/2013 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón đạm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón đạm (Trang 96)
Hình 3.3. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến  năng suất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.3. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến năng suất (Trang 97)
Hình 3.4. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến năng suất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.4. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến năng suất (Trang 97)
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón lân khác nhau đến - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón lân khác nhau đến (Trang 102)
Hình 3.7. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón lân khác nhau đến năng suất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.7. Đồ thị ảnh hưởng của các mức bón lân khác nhau đến năng suất (Trang 104)
Hình 3.8. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón kali khác nhau đến - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
Hình 3.8. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các mức bón kali khác nhau đến (Trang 109)
HÌNH 1: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC NÔNG KIỂM TRA TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 1 PGS.TS. NGUYỄN NGỌC NÔNG KIỂM TRA TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN (Trang 150)
HÌNH 2: DỌC VÀ PHIẾN LÁ 3 GIỐNG KHOAI MÔN YÊN BÁI - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 2 DỌC VÀ PHIẾN LÁ 3 GIỐNG KHOAI MÔN YÊN BÁI (Trang 150)
HÌNH 3: DỌC VÀ PHIẾN LÁ GIỐNG KHOAI MÔN BẮC KẠN VÀ HÀ GIANG - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 3 DỌC VÀ PHIẾN LÁ GIỐNG KHOAI MÔN BẮC KẠN VÀ HÀ GIANG (Trang 151)
HÌNH 4: CỦ KHOAI MÔN 3 GIỐNG YÊN BÁI - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 4 CỦ KHOAI MÔN 3 GIỐNG YÊN BÁI (Trang 151)
HÌNH 5: CỦ KHOAI MÔN GIỐNG BẮC KẠN VÀ HÀ GIANG - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 5 CỦ KHOAI MÔN GIỐNG BẮC KẠN VÀ HÀ GIANG (Trang 152)
HÌNH 6: CỦ CÁI 5 GIỐNG KHOAI MÔN TRONG THÍ NGHIỆM - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 6 CỦ CÁI 5 GIỐNG KHOAI MÔN TRONG THÍ NGHIỆM (Trang 152)
HÌNH 8: LÁT CẮT DỌC CỦ CÁI + CỦ CON GIỐNG KMYB 1 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 8 LÁT CẮT DỌC CỦ CÁI + CỦ CON GIỐNG KMYB 1 (Trang 153)
HÌNH 12: SỰ RA HOA CỦA 3 GIỐNG KHOAI MÔN YÊN BÁI - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống khoai môn và biện pháp kỹ thuật cho giống có triển vọng tại tỉnh yên bái
HÌNH 12 SỰ RA HOA CỦA 3 GIỐNG KHOAI MÔN YÊN BÁI (Trang 155)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm