Tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, là loại hình dịch vụ chủ yếu của ngân hàng - tổ chức tài chính, cung cấp một danh mụccác dịch vụ tài chính đa dạng n
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng 4
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng 6
1.1.4 Quy trình tín dụng 10
1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 10
1.2.1 Khái niệm 10
1.2.2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ 13
1.2.3 Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.3 Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ 17
1.3.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng 17
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các DNVVN 19
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với các DNVVN .25 1.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng 25
1.4.2 Nhân tố từ phía khách hàng 28
1.4.3 Nhân tố từ phía nền kinh tế xã hội 29
1.5 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 30
1.5.1 Kinh nghiệp của Nhật Bản 30
1.5.2 Kinh nghiệp của Đài Loan 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT SÓC SƠN 33
Trang 22.1 Giới thiệu chung về chi nhánh NHNN & PTNT SÓC SƠN 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Bộ máy tổ chức điều hành tại Sóc Sơn 35
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng NHNN & PTNT Sóc Sơn 36
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng DNVVN tại NHNN & PTNT Sóc Sơn.39 2.2.1 Thực trạng tại chi nhánh NHNN&PTNT Sóc Sơn 39
2.2.2 Hoạt động cho vay vốn 41
2.2.3 Các hoạt động kinh doanh khác 44
2.2.4 Tăng dư nợ và doanh số cho vay 45
2.2.5 Nợ quá hạnDNVVN 48
2.2.6 Thu lãi từ hoạt động tín dụng DNVVN 51
2.3 Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng DNVVN tại NHNN & PTNT Sóc Sơn 52
2.3.1 Những kết quả đạt được 52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHNN & PTNT SÓC SƠN 63
3.1 Định hướng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN tại NHNN&PTNT Sóc Sơn 63
3.1.1 Những định hướng phát triển tồng thể 63
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng 65
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh NHNN&PTNT Sóc Sơn 65
3.2.1 Tăng cường khai thác những nguồn vốn có chi phí thấp 65
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định 67
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tiền vay 68
3.2.4 Xử lý kịp thời nợ quá hạn 68
3.2.5 Trích lập quỹ bù đắp rủi ro 69
Trang 33.2.6 Nâng cao chất lượng nhân sự 69
3.2.7 Đa dạng hoá các hình thức tín dụng 70
3.2.8 Tăng cường công tác tư vấn cho DN vay vốn 72
3.2.9 Mở rộng Marketing ngân hàng để thu hút thêm nhiều khách hàng 73
3.3 Kiến nghị 73
3.3.1 Kiến nghị đối với NHNN&PTNT Việt Nam 73
3.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 76
3.3.3 Kiến nghị với các DNVVN 77
3.3.4 Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước 78
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 4NHNN&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của Chi nhánh NHNN&PTNT Sóc Sơn 35
Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay tại NHNN & PTNT Sóc Sơn 41
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN ở một số quốc gia trên thế giới 11
Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động giai đoạn 2006-2010 36
Bảng 2.2: Lợi nhuận kinh doanh NHNN & PTNT Sóc Sơn giai đoạn 2006 - 2010 37 Bảng 2.3: Kết quả cho vay giai đoạn 2006-2010 41
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ cho vay đối với DNVVN theo ngành kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 42
Bảng 2.5: Thu-chi tiền và kinh doanh khác giai đoạn 2006 - 2010 44
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay tại NHNN & PTNT Sóc Sơn 46
Bảng 2.7: Nợ quá hạn DNVVN 48
Bảng 2.8: Nợ quá hạn DNVVN 50
Bảng 2.9: Thu lãi từ hoạt động cho vay DNVVN 51
Biểu đồ 2.1: Nợ quá hạn DNVVN 48
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình DN không những thích hợp đối vớinền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà nó còn đặc biệt thích hợp vớinền kinh tế của những nước đang phát triển ở nước ta trước đây, việc phát triển cácDNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới kinh tế doĐảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các DN này mới thực sự phát triển nhanh
về cả số và chất lượng
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hóa vàhiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN làbước đi phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta DNVVN là công cụ góp phần khaithác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có
ở mỗi người, mỗi miền của đất nước Loại hình DN này phát triển chắc chắn sẽ cótác dụng to lớn trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phảiquan tâm chú ý đến : tăng trưởng kinh tế - giải quyết và đào tạo việc làm - kiềmchế lạm phát
Song DNVVN cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình hoạt động kinhdoanh của mình, đặc biệt là thiếu vốn để mở rộng đầu tư vào hoạt động sản xuất kinhdoanh theo chiều sâu Xuất phát từ đường lối chủ trương đa dạng hoá các thành phầnkinh tế, nhu cầu vốn cấp bách của các DN, cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường và thịphần Chi nhánh NHNN & PTNT Sóc Sơn đã tập trung ưu tiên cấp tín dụng chokhách hàng vừa và nhỏ Nhưng với một Chi nhánh nằm trên một huyện nghèo, hoạtđộng tín dụng của Chi nhánh nói chung và hoạt động tín dụng đối với DNVVN nóiriêng cũng còn nhiều mặt hạn chế Như chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn vay, mới giảiquyết được nhu cầu vốn trong ngắn hạn là chủ yếu còn nhu cầu vốn vay dài hạn gặprất nhiều khó khăn và thiếu vốn, hình thức tín dụng nghèo nàn Nên việc định hướngcho phát triển loại hình DNVVN vẫn còn nhiều hạn chế
Vì vậy, em chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Sóc Sơn”
để làm luận văn
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là: Chất lượng tín dụng DNVVN tại NHNN & PTNTViệt Nam - Chi nhánh Sóc Sơn
- Phạm vi không gian: NHNN&PTNT Sóc Sơn
- Phạm vi thời giam: Nghiên cứu chất lượng tín dụng DNVVN tại NHNN &PTNT Sóc Sơn giai đoạn từ 2007 - 2010
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Thu thập số liệu từ các báo cáo của các kỳ kinh doanh của ngân hàng từ năm
2007 – 2010
- Luận văn áp dụng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê tổng hợp số liệu
để đưa ra kết luận về đối tượng cần nghiên cứu Nguồn tài liệu chính được thu thậpthông qua các báo cáo của NHNN&PTNT Sóc Sơn, nhằm giải quyết và làm sáng tỏmục tiêu đặt ra trong luân văn
5 Cấu trúc luận văn:
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ của ngân hàng Thương Mại.Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ tại Chinhánh NHNN & PTNT Sóc Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ tạiChi nhánh NHNN & PTNT Sóc Sơn
Trang 8CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng được hiểu là là hoạt động cho vay tiền giữa người cho vay và người
đi vay trong điều kiện hoàn trả cả vốn và lãi (là hoạt động vay tiền của ngân hànghoặc tổ chức tín dụng) Trong đó bên cho vay chuyển giao tiền cho bên đi vay sửdụng trong một thời gian nhất định theo thời hạn hai bên đã thoả thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả đúng và đủ theo quy định khi đến hạn, hay nói cách khác tíndụng là một mối quan hệ trong lĩnh vực kinh tế mà mỗi cá nhân hay tổ chức chuyểnquyền sử dụng một khối lượng giá trị, hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khácvới những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả cả gốc và lãi
Tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, là
loại hình dịch vụ chủ yếu của ngân hàng - tổ chức tài chính, cung cấp một danh mụccác dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất sovới bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Tín dụng ngân hàng làhình thức phát triển cao của tín dụng nói chung, về bản chất vẫn là quá trình chuyểndịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hay cá nhân này chomột tổ chức hay cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắchoàn trả Song điểm khác biệt của tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng ở đây làbằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnhvực tiền tệ, đóng cả vai trò đi vay và cho vay với một bên là tất cả các thành phầnkinh tế trong xã hội Tín dụng ngân hàng được hình thành trên cơ sở các nghiệp vụ tíndụng Tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển mạnh, phạm vi hoạt động ngày càngrộng và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thay thế tín dụngthương mại Nó luôn phát huy được vai trò đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở
Trang 9rộng quá trình tái sản xuất đồng thời được sử dụng như một công cụ tài trợ cho nhữngngành kinh tế khác phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà nước.
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Phân loại theo hình thức cấp tín dụng:
Chiết khấu thương phiếu: đây là nghiệp vụ đơn giản, khách hàng gửi thươngphiếu tới ngân hàng xin chiết khấu, ngân hàng kiểm tra chất lượng của thương phiếu
và tiến hành chiết khấu nghĩa là đưa tiền cho khách hàng và nắm giữ thương phiếu
Số tiền này căn cứ vào lãi suất, thời hạn và lệ phí chiết khấu Các NHTM thường táichiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
Cho vay : Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển,cho vay trả góp Có thể hiểu chung nhất cho vay là việc ngân hàng đưa tiền chokhách hàng với cam kết sẽ trả nợ gốc và lãi trong một thời gian xác định Thấu chi
là nghiệp vụ mà ngân hàng cho phép người vay chi vượt số dư trong tài khoản tiềngửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xácđịnh Cho vay trực tiếp từng lần thường áp dụng với khách hàng có nhu cầu thời vụ,mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình phương án dùng vốn vay Ngân hàngxem xét và đưa ra qui mô cho vay, thời hạn trả nợ, lãi suất Cho vay theo hạn mức
là ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, trong một thời hạn
đã được ghi trên hợp đồng thường là một năm và một lượng vốn cố định do hai bênthoả thuận Hạn mức được xác định dựa vào kế hoạch SXKD của khách hàng, nhucầu vốn và nhu cầu vay của họ Cho vay luân chuyển là dựa vào sự luân chuyển củahàng hoá, DN khi không đủ vốn mua hàng, ngân hàng sẽ cho vay và thu nợ khi DNbán được hàng, thường khoản vay này thế chấp bằng tài sản hình thành chính bằngnguồn vốn vay của ngân hàng Cho vay trả góp thường áp dụng với món vay trungdài hạn, khách hàng được phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng Chovay theo hạn mức là ngân hàng cho khách hàng vay vượt quá hạn mức đã thoả thuậnban đầu trong một giới hạn nhất định Hình thức này được áp dụng khi khách hàngkhông đủ vốn để bù đắp cho những khoản chi phí phát sinh Cho vay theo hạn mứctín dụng dự phòng thể hiện sự linh hoạt của NHTM đối với DN, giúp DN giải quyết
Trang 10những vướng mắc tạm thời Phương thức này chỉ áp dụng đối với khách hàng lâunăm và có uy tín Cho vay theo dự án đầu tư đây là phương thức cho vay đối vớikhách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện những dự án đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh thương mại dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống xã hội.
Cho thuê: là việc ngân hàng mua tài sản để cho khách hàng thuê theo thỏathuận cụ thể Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, ngân hàng có thểbán hay cho người khác thuê khi người thuê không trả nợ được Cho thuê có haihình thức là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê của ngânhàng chủ yếu là cho thuê tài chính, nó đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài vàngười đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê
Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng đều có đảm bảo nhưng với các khách hàng
uy tín, tài chính mạnh hay các món vay theo chỉ thị của Chính phủ thì không cần tàisản đảm bảo Có 2 nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp Cầm cố là hình thức màngười vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trongthời gian xác định, thường là bằng thời gian nhận tài trợ Thế chấp là hình thức màngười vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử dụng tàisản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết Tài sản đảm bảo đượcphân loại theo tính chất an toàn ngân hàng có thể chia thành hai loại:
Loại I: Là những tài sản được hình thành từ vốn vay, đây là biện pháp cuốicùng để ngân hàng có thể hạn chế người vay bán tài sản được hình thành từ vốnvay Hình thức đảm bảo này có mức độ rủi ro cao hơn vì khi người vay không cókhả năng trả nợ thì phần lớn các tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó thanhkhoản
Loại II: Là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách hàng, hoặcbảo lãnh của bên thứ ba cho khách hàng của ngân hàng Các khoản tín dụng dựatrên đảm bảo loại II thường có mức độ rủi ro thấp, song gây khó khăn cho cả kháchhàng lẫn ngân hàng trong việc định giá, bảo quản cất giữ, làm cho thời gian phântích tín dụng kéo dài
Trang 11Phân loại theo thời gian:
Do thời gian liên quan đến tính sinh lời và an toàn của tín dụng nên phân chiatheo thời gian là cần thiết Tín dụng ngắn hạn là từ 12 tháng trở xuống và thường tàitrợ cho tài sản lưu động Tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm, thường tài trợ chotài sản cố định Tín dụng dài hạn là trên 5 năm, tài trợ cho các công trình xây dựngnhư cầu, đường, máy móc thiết bị sử dụng lâu dài
Phân loại theo rủi ro :
Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến Còn rủi ro tín dụngđược hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàngkhông trả, trả không đúng hạn hay không trả đủ vốn và lãi Tín dụng gồm các khoản
có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp Cách phân loại này giúp ngân hàng đánhgiá được kịp thời các khoản tín dụng, giúp cho việc đánh giá chất lượng tín dụng.Ngoài ra, còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ; theo mục đích sử dụng khoản tài trợ là sản xuất, tiêu dùnghay thương mại Quan hệ tín dụng được thiết lập giữa hai bên là ngân hàng vàkhách hàng, khách hàng là đối tác hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng vớingân hàng Vì vậy, người ta cũng phân chia khách hàng thành DN lớn, DN vừa vànhỏ, cá nhân hộ gia đình
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
* Đối với DNVVN
Vốn kinh doanh là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư Trong nền kinh tếbao cấp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã không quan niệm vốn là hàng hoá đặcbiệt vì vốn được rót từ ngân sách và ngân hàng Vốn đã không được sử dụng hiệuquả do không có nơi giao dịch trên thị trường, điều đó đã làm mất đi vai trò kháchquan của nó trong sản xuất và đầu tư
Có thể khái quát, vốn kinh doanh ( bao gồm vốn sử dụng cho sản xuất kinhdoanh và vốn đầu tư tài chính của DN ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sảnđược đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
Đối với bất kỳ một DN nào, vốn cũng là yếu tố cơ bản không thể thiếu của
Trang 12mọi quy trình SXKD Nó là điều kiện để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người laođộng từ đó tạo điều kiện để DN tăng sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng xuấtkhẩu, nâng cao hiệu quả SXKD Tạo vốn được hiểu theo nghĩa rộng là làm chođồng tiền từ khâu dự trữ đi vào khâu lưu thông trên cơ sơ đảm bảo nguyên tắc sinhlời Khi thành lập cũng như trong quá trình phát triển, các DN phải xác định đượcnhu cầu vốn, cần xem xét có thể tạo vốn từ những nguồn nào, dưới hình thức nàovới chi phí vốn thấp nhất, từ đó để có thể bảo đảm đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệuquả, tăng nhanh vòng quay vốn Đây là vấn đề hết sức quan trọng và khó khăn đặcbiệt với các DNVVN
Căn cứ vào phạm vi huy động nguồn vốn mà DNVVN có khả năng huy động thì
có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài DN Nguồn vốn bêntrong thể hiện khả năng tự tài trợ của DN Nguồn vốn bên trong bao gồm vốn chủ
sở hữu bỏ ra đầu tư ban đầu và một phần nguồn vốn từ chính hoạt động của bảnthân DN Tuy nhiên DNVVN với đặc điểm vốn đầu tư ban đầu thường ít, quá trìnhtích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm chạp nên nguồn vốn bên trong nàykhông đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, vượt quá khả năng vốn liếng của chủ
DN Điều đó đòi hỏi các DNVVN phải huy động tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài.Tuy nhiên với sự hạn chế và khả năng lập dự án của các DNVVN, cộng với nguyêntắc an toàn trong việc cấp tín dụng của các NHTM nên đa phần các DN này khó tiếpcận được nguồn vốn dài hạn để đầu tư mở rộng nguồn vốn sản xuất kinh doanh.Chính vì vậy khoản cho vay trung và dài hạn đối với các DNVVN chiếm một tỉ lệnhỏ trong tổng nguồn vốn cho vay đối với loại hình DN này Tỉ lệ nhỏ đó lại thuộc
về đại đa số các DN vừa và nhỏ thuộc khối DN nhà nước
Quan hệ tín dụng giữa các NHTM và DNVVN tiềm ẩn nhiều rủi ro Những rủi
ro đó xuất phát từ chính những hạn chế của loại hình DN này như vốn ít, trình độquản lý yếu kém, hạn chế về công nghệ cũng như tính minh bạch trong báo cáo tàichính mà các ngân hàng rất quan tâm trong việc thẩm định trả nợ, một trong nhữngđiều kiện cơ bản của các khoản vay là các tài sản đảm bảo đây cũng là điểm yếu của
Trang 13rất nhiều DNVVN, vì các tài sản đảm bảo thường là tài sản cá nhân của chủ DN vàgiá trị của các tài sản đó thường thấp hơn nhiều so với nhu cầu vay vốn củaDNVVN đó là những khó khăn mà DNVVN gặp phải khi đi tìm nguồn vốn đầu tưcho DN của mình.
Để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chấtlượng sản phẩm tăng khả năng cạch tranh trên thị trường DNVVN không chỉ cần
có vốn lưu động ngắn hạn mà còn phải có một lượng vốn và tài sản cố định dài hạn.Quy mô vốn đầu tư cho các nhu cầu trên đôi khi vượt quá khả nămg vốn tự có và đivay của DNVVN Tín dụng ngân hàng có thể cho các DN thoả mãn nhu cầu vốnphục vụ cho các hoạt động mở rộng đầu tư của DN
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức
và phương pháp huy động vốn mới cho DN Đó có thể là thuê tài chính, vay củabạn bè người thân hay đối tác, gọi vốn liên doanh liên kết, phát hành chứng khoánhoặc thu hút vốn thông qua sáp nhập DN, cổ phần hoá DN Thị trường chứng khoánnước ta mới được thành lập còn non trẻ và rất nhiều tồn tại cần khắc phục, nênDNVVN phát hành chứng khoán khó đáp ứng các yêu cầu, thủ tục rườm rà và khảnăng hiệu quả là thấp Liên doanh liên kết hay sáp nhập cần xem xét cân nhắc kỹlưỡng, làm mất tính chủ động của chủ DN cũng như hoạt động kinh doanh bị rằngbuộc chặt chẽ Trong các DNVVN đặc biệt các DN tư nhân thường tạo nguồn vốnbằng cách đi vay của bạn bè hay người thân, thị trường vốn “ chìm “ Tuy nhiênhình thức này nhiều khả năng nảy sinh phức tạp mối quan hệ kinh doanh, quan hệgia đình xã hội, không ổn định cũng như chịu chi phí vốn cao
* Đối với nền kinh tế
Tín dụng không chỉ đem lại những lợi ích to lớn cho DNVVN và ngân hàng,việc cho vay đối với các DNVVN của ngân hàng còn có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của nền kinh tế đất nước Nhìn chung các nước trên thế giới DNVVNchiếm đại đa số trong tổng số các DNVVN của nước đó, hàng năm nó tạo ra công
ăn việc làm cho hàng triệu lao động Vì vậy, tín dụng đối với DNVVN đã giúp các
DN có đủ vốn để ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh
Trang 14Chất lượng tín dụng được nâng cao phản ánh hoạt động kinh doanh của ngânhàng và DN có hiệu quả, từ đó góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ănviệc làm, điều tiết vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tăng sản phẩm cho xã hội nâng caomức sống cho đại bộ phận dân cư Chất lượng tín dụng là một khái niệm rất baoquát ( đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, luôn ra tăng tiện ích cho khách hàng…)nhưng cũng rất cụ thể ( tỷ lệ tăng trưởng về dư nợ, tỷ lệ lợi nhuận trên đồng vốn, tỷ
lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ khó đòi…) Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp nóphản ánh sức mạnh của một ngân hàng thương mại trong cạnh tranh để tồn tại vàđạt hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng đó
* Đối với ngân hàng
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, tín dụng là hoạt động chủyếu, chiếm tỉ trọng lớn nhất và đem lại thu nhập chính cho ngân hàng thực hiệnđúng quy trình tín dụng (Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc củangân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyếtđịnh cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng) đặc biệt quan trọngđối với một ngân hàng thương mại: Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý
sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng
Về mặt quản lý: Quy trình tín dụng có tác dụng làm cơ sở cho việc phân chia nguồnvốn đối với từng ngành nghề, ổn định tăng trưởng cho ngân hàng theo từng năm vàđem lại lợi ích cho ngân hàng
* Đối với nhà nước
Hoạt động tín dụng tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, tạo ra nguồn thucho ngân sách nhà nước Tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết khốilượng tiền tệ trong lưu thông Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, ngânhàng đã tạo nên cung tiền tệ Đó chính là khả năng tạo tiền của ngân hàng
Như ta đã biết, một khoản tiền gửi ban đầu khi gửi vào, sau khi đã trừ đi khốilượng dự trữ, sẽ được ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng Sau đó, khoản tiền này lạiquay trở lại ngân hàng một cách lặp đi lặp lại Khối lượng tiền gửi được ghi nhận tạingân hàng sẽ tăng lên nhiều lần so với số tiền gửi ban đầu Vì thế cung tiền trong
Trang 15nền kinh tế tăng lên Tỉ lệ cấp tín dụng của ngân hàng so với khối lượng vốn huyđộng càng lớn thì mức cung tiền tệ, hay khối lượng tiền tệ thực trong lưu thôngcàng lớn Do vậy, bằng các chính sách của mình, NHTW dễ dàng thay đổi lượngtiền trong lưu thông bằng cách điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc hoặc hạn mức tíndụng đối với các NHTM
1.1.4 Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc và quy trình của ngân hàngtrong việc cấp tín dụng Nội dung của quy trình tín dụng là việc hướng dẫn chi tiếtcác bước cần thực hiện trong quá trình thực hiện, phân tích và quản lý sau khi cấptín dụng đối với khách hàng bao gồm các bước sau: Tiếp xúc và thu thập hồ sơkhách hàng ( Hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài sản bảo đảm, hồ sơ kinh tế ), thẩm định kháchhàng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân và kiểm tra trong quá trình cho vay vàsau cho vay, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng
Quy trình tín dụng nhìn chung không có sự khác biệt giữa các đối tượngkhách hàng là DN lớn hay DNVVN nhưng cần có các giải pháp linh hoạt áp dụngcho các món vay nhỏ và ngắn hạn như của các DNVVN
1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, DN được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cáchpháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất địnhvới mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận Thông thường cần có các điều kiện sau
Trang 16Việc quy định thế nào là DN lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạnphát triển kinh tế Tại Việt Nam, tiêu chí phân loại DNVVN đã được quy định theonghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ Theo quyđịnh tại công văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn và số lượng lao động cụ thể
là DNVVN là DN có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàngnăm dưới 300 lao động Trong đó quy định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanhđộc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành Căn cứ vào tình hình kinh
tế xã hội cụ thể của từng ngành nghề và từng quốc gia, địa phương trong quá trìnhthực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt theo các quyđịnh của các quốc gia khác nhau
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN ở một số quốc gia trên thế giới
(Nguồn: Tổng quan về DNVVN, OECD, 2000)
Tại Việt Nam, trước năm 2009 khái niệm DNVVN được quy định tại điều 3,Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001(Nghị định 90) của chính phủ về trợgiúp phát triển DNVVN Theo Nghị định này “ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sởsản xuất kinh kinh doanh độc lập, đã kinh doanh theo phát luật hiện hành, có vốnđăng ký không quá 10 tỷ VNĐ hoặc số lao động hàng năm trung bình không quá
300 lao động” Tuy nhiên so với các nước trên thế giới và khu vực thì nội dung
Trang 17Nghị định 90 này mang tính tổng quát, không chi tiết loại hình, ngành nghề kinhdoanh của từ DN Việc áp dụng hai tiêu chí trên (vốn điều lệ và số lao động) khiếncho việc xác định một DN có phải là DNVVN hay không đôi khi gặp khó khăn,dẫn đến việc bỏ sót DNVVN của các chính sách hỗ trợ của chính phủ nhất là tronggiai đoạn hiện nay nền kinh tế trong nước và thế giới liên tục bị khủng hoảng.Ngược lại một số DN không thuộc đối tượng trợ giúp của chính sách đôi khi vẫnđược tham gia.
Vì vậy, để công bằng và phù hợp với điều kiện thực tế của Vịêt Nam nhằmđảm bảo đúng đối tượng được trợ giúp, Chính phủ đã đưa ra tiêu chí mới về cáchxác định DNVVN tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, nội dung Nhịđịnh, một DN được gọi là DNVVN khi cơ sơ kinh doanh đã đăng ký theo quy địnhphát luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô vốn và lao động
20 tỷ đồng trởxuống
từ trên 10người đến 200người
từ trên 20 tỷđồng đến 100 tỷđồng
từ trên 200người đến 300người
II Thương mại
và dịch vụ
10 người trởxuống
10 tỷ đồng trởxuống
từ trên 10người đến 50người
từ trên 10 tỷđồng đến 50 tỷđồng
từ trên 50người đến 100người
III Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trởxuống
20 tỷ đồng trởxuống
từ trên 10người đến 200người
từ trên 20 tỷđồng đến 100 tỷđồng
từ trên 200người đến 300người
( Nguồn: Nghị định Số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN)
Nghị định cũng nói rõ tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách,chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên chophù hợp
Như vậy là việc phân loại của VN cũng đã gần hơn với cách phân loại của thế
Trang 18giới vì nền kinh tế thị trường của chúng ta cũng đã dần hoàn thiện hơn
1.2.2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.2.1 Năng động và linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh
DN vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế DN vừa và nhỏ
có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường, có khả năngchuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít và thuhồi vốn nhanh Các DNVVN dễ phát huy bản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnhtranh và phát huy tiềm lực ở trong nước
Mặt khác, do DNVVN tồn tại ở mọi thành phần kinh tế Sản phẩm củaDNVVN đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thíchứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế- xã hội thì nó sẽ dễ dànghơn so với các DN có quy mô lớn khi chuyển hướng sang loại hình khác cho phùhợp với thị trường
Các DN vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, linh hoạt Công tácđiều hành tại DNVVN mang tính trực tiếp Các quyết định quản lý được đưa ra vàthực hiện nhanh chóng, không ách tắc và tránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đachi phí quản lý DN Quan hệ giữa những người lao động và người quản lý khá chặtchẽ, gắn bó, tạo ra môi trường làm việc tốt
Các DN vừa và nhỏ có vốn đầu tư ban đầu ít, Chu kỳ sản xuất kinh doanhcủa DN thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, tạo ra nhiềukhả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế Khác với các DN lớn,DNVVN với yêu cầu vốn bổ sung không nhiều và giảm được sự thiệt hại trong việcthay đổi tư bản cố định khi có sự cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngànhnghề khác nên DNVVN dễ dàng và nhanh chóng trong việc đổi mới công nghệ,thiết bị khi cần
DNVVN tạo ra và duy trì môi trường cạnh tranh tự do vì có rất nhiều cácDNVVN hoạt động trong cùng một lĩnh vực nên thường không có tính độc quyền,các DNVVN dễ dàng chấp nhận đổi mới theo thị trường không trông chờ hay ỉ lạivào sự giúp đỡ của nhà nước Sản phẩm của DNVVN luôn theo sát với thị hiếu của
Trang 19người tiêu dùng, từ đó tạo ra nhiều hàng hoá dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu của thị trường.
Kết quả hoạt động kinh doanh của DNVVN nếu không may đi xuống thì sựđình trệ, thua lỗ hay thậm chí là phá sản của các DNVVN thì cũng có ảnh hưởngkhông nhiều, không gây nên khủng hoảng kinh tế và xã hội, đồng thời ít chịu ảnhhưởng bởi các cuộc khủng hoảng dây chuyền
1.2.2.2 Hạn chế về công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật
Trang thiết bị công nghệ không bắt kịp thời đại, trình độ quản lý sản xuấtkinh doanh còn thấp, khó khăn khi thâm nhập vào thị trường thế giới, khu vực và
mở rộng thị phần Do phần lớn các DNVVN là các cơ sơ thủ công đi lên hoặc cótiếp cận được khoa học kỹ thuật và công nghệ nước ngoài thì cũng không được bàibản đúng quy trình vì phần lớn việc tiếp cận này đều thông qua học hỏi kinh nghiệp
từ những lao động đã từng làm cho công ty nước ngoài Phần lớn các DNVVN đang
sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới 1-2 thập kỷ và chủyếu là nhập khẩu Mặt khác, trình độ công nghệ thông tin thấp khiến cho cácDNVVN chưa tiếp cận kịp thời thông tin về thị trường công nghệ thế giới, vềnguồn nguyên liệu và các đối thủ cạch tranh do vậy không đưa ra được phương ántối ưu, hoặc phản ứng chập trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường
Với DNVVN, giá trị tài sản thuần thấp ( tổng giá trị tài sản của DN sau khitrừ đi nợ phải trả ), uy tín trên thương trường không cao, trình độ về lĩnh vực sảnxuất kinh doanh cũng như nhiều lĩnh vực có liên quan khác còn hạn chế, đa số làdoanh nghiệp ngoài quốc doanh không được hưởng nhiều các ưu đãi, chính sách hỗ
Trang 20trợ của Chính phủ và Nhà nước nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực rủi ro cao,mang tâm lý e ngại dè dặt Chính vì vậy, DNVVN gặp nhiều trở ngại khi tiếp cậncác kênh huy động vốn trong nền kinh tế.
1.2.2.4 Hạn chế về mặt quản lý và nguồn nhân lực
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh vô cùngkhốc liệt Nếu so sánh sự cạnh tranh giữa các DN lớn với DNVVN là bất bình đẳng
vì các tập đoàn thường có sự bao bọc của nhà nước, sự vi phạm bản quyền sở hữutrí tuệ công nghiệp dễ xảy ra Do vậy thị trường của DNVVN là nhỏ bé và không ổnđịnh Các DNVVN thiếu sức phòng tránh rủi ro và dễ rơi vào tình trạng phá sản
Một thực tế không thể phủ nhận rằng ở DNVVN năng lực quản lý còn thấp:Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ, trình độ kĩ năng của nhà lãnh đạo DN cũng nhưngười lao động còn hạn chế, số lượng DNVVN có chủ DN, giám đốc quản lý giỏi
và trình độ chuyên môn cao không nhiều, yếu và thiếu về kiến thức kinh tế xã hộicũng như kĩ năng quản trị kinh doanh Cũng do hạn chế về tài chính nên DNVVNthường không thu hút được những người quản lý và nhân công có trình độ, tay nghềcao do chính sách đãi ngộ, để giữ chân người lao động còn thấp
Từ những đặc điểm vừa nêu, cho chúng ta thấy vì sao hầu hết các quốcgia, đặc biệt là các nước đang phát triển đều phải chú trọng trong việc đưa ra cácchiến lược phát triển cho loại hình DN này thông qua các chính sách, biện pháp
hỗ trợ cho phù hợp bởi DNVVN ngày càng giữ những vai trò quan trọng trongnền kinh tế đất nước
1.2.3 Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đạicông nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì
sự khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ.Trong quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranhgay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đã tạo ra những tập đoànkinh tế lớn như ngày nay Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, cácDNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định Bởi vì nhiều
Trang 21lĩnh vực kinh tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quả bởi các DNVVN Sauthời kỳ suy thoái kinh tế những năm đầu thập niên 30, người ta luận ra rằng khu vựcDNVVN là nhân tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo đảm và
ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng Thật vậy, khu vực DNVVN làxương sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai Đặc biệtkhi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiệncho các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sảnphẩm không thua kém các DN lớn Mặt khác xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay vềtính chất cạnh tranh giữa các DN đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh
về chất lượng và công nghệ Trong điều kiện này, lợi thế của các DN có quy mô lớn
sẽ bị giảm sút Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phépmột DN tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả Mà với
mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh của DN lớn tỏ ra rấtthích hợp
Các DNVVN làm cho nền kinh tế trở nên năng động, đáp ứng tích cực, kịpthời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong phú và đa dạng mà các DN lớn không thểlàm được, chế biến hàng hoá xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu Hệ thống siêuthị cũng không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớnhiện đại không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc Bằng sự đa dạng ngànhnghề, tính nhạy cảm thị trường các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất vàcung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã hội Với lợithế so sánh về các nguyên liệu nông lâm thuỷ hải sản để sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớncho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác choxuất khẩu Do DN lớn hạn chế về khu vực địa lý, phương pháp tổ chức sản xuất vànếu muốn kinh doanh thường phải sử dụng các DNVVN làm vệ tinh thu muanguyên liệu, chế biến, đóng gói
Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất Phát triển DNVVN sẽ giúp
Trang 22các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnhvực phục vụ phát triển kinh tế địa phương Từng địa phương cũng bị giới hạn bởingân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn của DN tư nhân không nhiều nên việcphát triển DN lớn là hạn chế Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của cácDNVVN, đồng thời việc chú trọng phát triển các DNVVN là một trong nhữnghướng chiến lược quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
1.3 Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng đối với các DN vừa và nhỏ
Các chuyên gia kinh tế nói đến chất lượng theo nhiều cách: Chất lượng là “
Sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng”, là “ Một trình độ dự kiến trước về độđồng đều, độ tin cậy với chi phí thấp và sự phù hợp với thị trường” hay “ Chấtlượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu củangười sử dụng” Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong dự thảo DIS9000-2000 thì “ Chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệthống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liênquan” chất lượng tín dụng có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
vì vậy để có thể đánh giá và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng,nhằm bảo đảm NHTM kinh doanh hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thìchúng ta cần đưa ra khái niệm chung về chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng cóthể được hiểu một cách đơn giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, là khả năngthu hồi đầy đủ và đúng hạn cả vốn gốc lẫn lãi theo dự định Nghĩa là chất lượng tíndụng được biểu hiện thông qua hiệu quả của khoản tài trợ và khả năng thu gốc vàlãi Đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận, chất lượng tín dụng càng cao khi hiệu quả và khảnăng thu nợ càng cao và ngược lại
Hoạt động tín dụng rất đa dạng, gắn với nó là chất lượng tín dụng của cáckhoản tín dụng trung dài hạn hay ngắn hạn; chất lượng tín dụng xem xét theo đốitượng tín dụng là tài sản cố định hay lưu động; chất lượng tín dụng xem xét theomục đích tài trợ là thương mại, sản xuất hay tiêu dùng Trong luận văn này, chúng
Trang 23ta cần nghiên cứu chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ – khách hàng củaNHTM trong quan hệ tín dụng Chất lượng tín dụng đối với DNVVN là một kháiniệm phản ánh khả năng mở rộng tài trợ ( cho vay, thuê mua ) của ngân hàng phùhợp với nhu cầu của các DNVVN, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàngcũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Khi các khoản tài trợ đượckhách hàng sử dụng đúng mục đích, khách hàng trả được đầy đủ nợ gốc và lãi đúnghạn cho ngân hàng còn khách hàng bù đắp được chi phí và có lợi nhuận thì khoảntín dụng đó được xem là có chất lượng tốt Như vậy, ngân hàng không những tạohiệu quả kinh tế cho các DN, cho mình mà còn đem lại hiệu quả xã hội Đây chỉ làcách hiểu chung, khái quát về chất lượng tín dụng mà thôi, vấn đề là chúng ta cầnđánh giá chất lượng tín dụng một cách cụ thể và chính xác dựa trên các chỉ tiêu sẽđược trình bày ở mục sau.
Qua phân tích trên, cho thấy chất lượng tín dụng thể hiện:
Đối với bên đi vay: Chất lượng tín dụng chính là khoản tín dụng được cấpphải phù hợp với nhu cầu và thời hạn vay, đông thời thủ tục vay vốn cúng được đơngiản, thuận tiện, thời gian giải quyết món vay cũng hợp lý
Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được nâng cao phản ánh hoạt độngkinh doanh của ngân hàng và DN có hiệu quả, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh
tế, giải quyết công ăn việc làm, kiềm chế lạm phát, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nângcao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư
Đối với ngân hàng : Chất lượng tín dụng là khoản cho vay có hoàn trả đầy
đủ và đúng hạn bao gồm cả gốc và lãi, được sử dụng đúng mục đích đã cam kết,đảm bảo cả tiêu chí tăng trưởng dư nợ, tỉ lệ nợ quá hạn hợp lý và đúng theo quyđịnh của ngân hàng nhà nước
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
Để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN một cách chính xác, đầy
đủ chúng ta phải xem xét và phân tích kỹ lưỡng cả mặt lợi ích kinh tế và lợi ích xã
Trang 24hội, cả các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng trên giác độ của NHTM,DNVVN và nền kinh tế xã hội.
Các chỉ tiêu định tính: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiển ở khảnăng tăng cường mở rộng tín dụng đáp ứng được nhu cầu của các DN đồng thờiđảm bảo sự phát triển của ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của đấtnước Nghĩa là chất lượng tín dụng cần được xem xét gắn liền với 3 chủ thể làNHTM, DNVVN và nền kinh tế xã hội
Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là biểu hiện của chất lượng lượngtín dụng Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi các DN quan hệ tín dụng vớingân hàng được đáp ứng tốt nhu cầu của họ Khách hàng nói chung và DNVVN nóiriêng luôn mong muốn một quy trình thủ tục tín dụng đơn giản, gọn nhẹ, khoa học,thuận tiện và thật sự khách quan trong thái độ làm việc của nhân viên ngân hàng.Tất nhiên dù gọn nhẹ tới mấy vẫn phải tuân theo nguyên tắc tín dụng, các nguyêntắc đảm bảo an toàn khác DN được cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời sẽ giúp quátrình SXKD diễn ra ổn định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh và giảm được mộtphần chi phí vốn vay Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tếtrong nước cũng như thế giới thì sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Sự cạnhtranh này buộc DN phải linh hoạt, sáng tạo hơn trong hoạt động kinh doanh đầu tư,ngân hàng cũng phải đổi mới tư duy, cung cách làm việc, năng động hơn để thoảmãn nhu cầu ngày càng cao từ các DN NHTM không chỉ là người đánh giá các dự
án vay vốn, kế hoạch kinh doanh của DN mà còn đóng vai trò nhà tư vấn Tư vấncho DN điều chỉnh những mặt chưa hợp lý trong dự án, trong hồ sơ tín dụng Cungcấp thêm cho DN các thông tin về các cải tiến trong khoa học công nghệ, thông tin
về tình hình thị trường, xu hướng đầu tư Giúp đỡ và bám sát DN khi họ rơi vàotình tạng khó khăn tài chính, kinh doanh kém hiệu quả so với dự tính Khi ấy đồngvốn của ngân hàng không chỉ mang lại lợi nhuận cho DN mà còn hạn chế được rủi
ro tín dụng, đảm bảo ngân hàng kinh doanh có hiệu quả
Chất lượng tín dụng của các NHTM đối với các DNVVNN còn được thểhiện qua kết quả kinh doanh của ngân hàng, uy tín của ngân hàng Nghĩa là một
Trang 25ngân hàng được đánh giá có chất lượng tín dụng tốt thì đồng nghĩa hoạt động tíndụng phải giúp ngân hàng bù đắp được chi phí và mang lại thu nhập Hoạt động tíndụng là hoạt động đặc trưng của tất cả các NHTM, hoạt động này đem lại nguồn thulớn nhất cho họ song cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn cả Ngoài các yếu tố kháchquan ra, rủi ro này có thể xuất phát từ phía ngân hàng như sai sót trong đánh giá dự
án, nghiệp vụ non yếu hoặc từ phía chính khách hàng Để có được chất lượng tíndụng tốt, ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng cho phù hợptừng đối tượng khách hàng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt kịp thời vàđầy đủ thông tin Về phía khách hàng, với mỗi khoản cho vay, tính hiệu quả chỉ đạtđược khi DN sử dụng vốn vay đúng mục đích đã ký, trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạncho ngân hàng nghĩa là tuân thủ theo nguyên tắc tín dụng Để trả gốc lãi đúng hạn
và đầy đủ một trong những điều kiện trước tiên là khách hàng cần sử dụng vốn vayđúng mục đích đã ký trong hợp đồng tín dụng Mục đích vay này đã được hai bênxem xét, phân tích cẩn thận cả yếu tố kinh tế và xã hội, đánh giá nhiều mặt và điđến thống nhất nên có khả năng đưa lại hiệu quả là cao nhất Tất nhiên không có gì
là không có rủi ro và SXKD lại là lĩnh vực nhạy cảm nhưng có sử dụng đúng vốnvay theo mục đích vay ban đầu thì DN mới có thể đạt hiệu quả trong kinh doanh củamình Các nguyên tắc tín dụng được tuân thủ là cơ sở của chất lượng tín dụng tốt,đảm bảo ngân hàng tồn tại và phát triển
Sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước cũng là một chỉ tiêu đểđánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng Ngân hàng cung cấp tín dụng giúp DNkinh doanh thu được lợi nhuận thì ngược lại ngân hàng cũng đạt được hiệu quảtrong hoạt động của chính mình Hiệu quả trong mối quan hệ hai chiều này tất yếuđem lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế đất nước : tăng năng suất lao động, tạothêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, thị trường tài chính ổn định,
hệ thống ngân hàng phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trongnước Với nền kinh tế thị trường chưa phát triển như ở nước ta hiện nay, nhữngđóng góp vào sự tăng trưởng chung của đất nước là hết sức quan trọng
Trang 26Các chỉ tiêu định lượng: Trên đây chỉ là một số chỉ tiêu định tính để đánh giáchất lượng tín dụng mà thôi Các chỉ tiêu này nói chung là khá phức tạp, khó xácđịnh chính xác đồng thời cũng chỉ đem lại cái nhìn khái quát về chất lượng tín dụng.
Để đánh giá chất lượng tín dụng chính xác hơn, cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét tổnghợp các chỉ tiêu định lượng trên góc độ ngân hàng và DN sau
Chỉ tiêu về doanh số cho vay trong kỳ và tốc độ tăng trưởng doanh số chovay đối với DNVVN:
Doanh số cho vay trong kỳ đối với DNVVN là tổng số tiền mà ngân hàng đãcho các DNVVN vay trong kỳ ấy Nó thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tíndụng của ngân hàng với các DNVVN Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vaylại thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay tới DNVVN qua các thời kỳ Đây là
số tương đối ( % ), nếu dương thể hiện quy mô cho vay tăng lên, âm thể hiện quy
mô cho vay đã sụt giảm qua các kỳ Để đưa ra kết luận cuối cùng là chất lượng tíndụng của ngân hàng ở mức độ nào cần xem xét nhiều chỉ tiêu và đánh giá nhiềumặt, nhưng doanh số cho vay lớn cùng tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay cao đốivới DN là cơ sở cho một chất lượng tín dụng tốt
Chỉ tiêu về dư nợ của DNVVN:
Dư nợ của DNVVN là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho DN vay tạimột thời điểm nhất định, thường xem xét ở thời điểm cuối kỳ Đây là số tuyệt đốithể hiện quy mô cho vay tới các DN tại một thời điểm nhất định Ngoài ra người tacòn xem xét tỷ trọng dư nợ của DNVVN trên tổng số dư nợ của DN, tư nhân và hộgia đình, được biểu hiện thành số tương đối là tỷ lệ % Tỷ lệ này càng cao chứng tỏngân hàng đang ngày càng tập trung quan hệ tín dụng vào các DNVVN, song cũng
có thể là do việc thu nợ không được thực hiện tốt nên tỷ trọng dư nợ của DNVVNcao Vì vậy, cần phải có cái nhìn tổng thể và đầy đủ mọi mặt trong quan hệ tín dụnggiữa ngân hàng và DN mới có thể đánh giá tỷ trọng dư nợ cao này phán ánh chấtlượng tín dụng tốt hay chưa
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với DNVVN phản ánh mức độ cho vaycủa ngân hàng đối với DNVVN qua các kỳ là nhanh hay châm
Trang 27Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng
(Dư nợ năm nay-Dư nợ năm
Dư nợ năm trước DNVVN
Có thể kết luận rằng, nếu tỷ lệ tăng trưởng này lớn hơn không thì sự mở rộngtín dụng năm sau lớn hơn năm trước Trong điều kiện các chỉ tiêu phản ánh chấtlượng tín dụng đối với DNVVN khác đảm bảo thì tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cũng
có ý nghĩa phản ánh chất lượng tín dụng tốt
Chỉ tiêu doanh số cho vay:
Doanh số cho vay từ DNVVN là số tiền các DNVVN đã vay ngân hàng trong
kỳ từ các khoản vay Chỉ tiêu này phán ánh mức độ hiệu quả trong công tác cho vaycủa ngân hàng, cũng đồng thời thể hiện tình hình kinh doanh của ngân hàng Chỉtiêu này phản ánh quy mô cho vay của hoạt động tín dụng của ngân hàng
Khi xét đến doanh số cho vay người ta thường tính tỷ lệ tăng trưởng doanh sốcho vay đối với DNVVN để đánh giá khả năng mở rộng tín dụng tới các DNVVNqua các kỳ kinh doanh
số cho vay cao và tăng trưởng ổn định qua các năm trong điều kiện các chỉ tiêu chấtlượng tín dụng khác cũng an toàn
Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Nợ quá hạn của DNVVN là khoản nợ gốc hay lãi mà DN không trả đượckhi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng giữa DN và ngân hàng.Trên thực tế các khoản vay bị chuyển sang trạng thái quá hạn là các khoản vay
có vấn đề, DN không có khả năng trả nợ ngân hàng, khả năng mất vốn của ngânhàng cao, điều đó có nghĩa là tính an toàn của khoản vay thấp.Ngoài số tuyệt đốingười ta còn thường tính toán tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của DNVVN, tỷ
lệ nợ quá hạn của DNVVN trên tổng nợ quá hạn Khách hàng không trả nợ đúng
Trang 28hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản, khiến ngân hàng giatăng chi phí do phải tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng.
Nợ quá hạn phản ánh chất lượng tín dụng thấp song không một NHTM nào tránhđược nợ quá hạn Đôi khi nợ quá hạn xảy ra không phải do phía DN mà là từchính ngân hàng Như cán bộ tín dụng không quan tâm thích đáng chu kỳ kinhdoanh của DN hay do nguồn ngắn hạn là chủ yếu nên đưa ra kỳ hạn trả nợ ngắn
Kỳ hạn nợ không phù hợp chu kỳ kinh doanh của DN tất yếu gây nợ quá hạn.Hay nợ quá hạn nhưng có khả năng thu hồi do khách hàng có kế hoạch kinhdoanh và trả nợ tốt, tài sản đảm bảo giá trị lớn thì không thể vì thế đánh giángay chất lượng tín dụng là thấp Vì vậy, dùng chỉ tiêu nợ quá hạn để đánh giáchất lượng tín dụng phải đưa ra một tỷ lệ % theo từng thời kỳ mới là hợp lý Tỷ
lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của DNVVN dưới 5% là chấp nhận được
Khi xem xét chất lượng tín dụng DNVVN không chỉ đơn thuần đánh giá nợ quáhạn mà còn đánh giá chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn DNVVN là chỉ tiêuquan trọng khi đánh giá về chất lượng tín dụng ngân hàng vì nó chỉ ra được nhứng rủi
ro tiềm ẩn về khả năng thu hồi gốc và lãi
Tỷ lệ nợ quá hạn DNVVN trong dư nợ = Nợ quá hạn của DNVVN x100%
Tổng dư nợ của DNVVNChỉ tiêu mức trích lập dự phòng rủi ro:
Mức trích lập dự phòng rủi ro là một chỉ tiêu chi phí trong hoạt động tín dụng củacác NHTM, do đó nó đóng vai trò quyết định trực tiếp việc lợi nhuận có tăng lêncùng với sự mở rộng cho vay hay không Mỗi nước có quy đinh về trích lập dựphòng rủi ro đối với hoạt động của NHTM Nhìn chung, mức trích lập dự phòng rủi
ro thường được tính như sau:
Trang 29R = Max{0,(A-C)} x rTrong đó:
R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: Giá trị của khoản nợ
C: Giá trị của tài sản đảm bảo
r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể, tỷ lệ này được quy định tương ứng vớitừng nhóm nợ của khách hàng, nhóm nợ có mức độ rủi ro càng cao thì tỷ lệ trích lập
dự phòng càng lớn
Trong điều kiện dự nợ hiện có, các NHTM muốn giảm bớt mức dự phòng rủi
ro thì cần tăng tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể, tức là giảm nợ xấucủa ngân hàng Để nâng cao chất lượng tín dụng thì ngân hàng phải giảm tới mứctối đa chỉ tiêu này
Chỉ tiêu lợi nhuận:
Như đã trình bày, chất lượng tín dụng tốt không chỉ giúp DN kinh doanh cólãi mà còn cần đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển Tức là ngân hàng cũngphải thu được lợi nhuận, tổng thu lớn hơn tổng chi Trong nền kinh tế thị trườngmục đích cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh đều là lợi nhuận và ngân hàngcũng vậy Đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN không thể bỏ qua việc tínhtoán và phân tích lợi nhuận thu được từ tín dụng với DNVVN, tỷ lệ lợi nhuận từ tíndụng với DNVVN trên tổng dư nợ tín dụng của DNVVN Đồng thời, tỷ lệ lợi nhuậnđối với DNVVN trên tổng lợi nhuận thu được của ngân hàng càng cho thấy rõ vaitrò, vị trí của tín dụng DNVVN trong hoạt động của ngân hàng
Đứng trên lập trường là DNVVN thì chất lượng tín dụng được biểu hiện thôngqua sự tăng giảm của số lượng lao động, năng suất lao động, giá thành sản phẩm,doanh thu, chi phí, lợi nhuận Nhờ khoản tín dụng do ngân hàng tài trợ cùng nỗ lựcphấn đấu, linh hoạt năng động trong kinh doanh của bản thân DN mang lại năngsuất lao động cao hơn, lợi nhuận nhiều hơn là minh chứng rõ rệt cho chất lượng tíndụng tốt Kết quả đó sẽ đồng thời mang lại sức cạnh tranh, vị thế uy tín cho cả DN
và ngân hàng Đồng vốn ngân hàng tài trợ cho DN giúp DN đạt hiệu quả cao hơn
Trang 30trong SXKD sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa hai bên để cùng nhauphát triển.
Lợi nhuận = Doanh thu từ cho vay - Chi phí từ cho vayChỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay đối với DNVVN, Nợ quá hạn
là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợpđồng tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nơ cho vay DNVVN quá hạnTổng dư nợ cho vay DNVVN x100%Chỉ tiêu này là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng đốivới DNVVN, hoạt động cho vay nói chung và cho vay DNVVN nói riêng củaNHTM phải đảm bảo mục tiêu an toàn hiệu quả, tỷ lệ này cũng giúp cho các ngânhàng đánh giá và xếp loại tín dụng đối với các DNVVN
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
1.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng
Quy mô và cơ cấu của nguồn vốn: nguồn vốn của NHTM gồm vốn của chủngân hàng và vốn nợ Không như các DN thông thường, vốn nợ là tài nguyên chínhcủa ngân hàng Chất lượng và số lượng của nó ảnh hưởng mạnh đến hoạt động tíndụng – hoạt động chủ yếu nhất của mỗi ngân hàng Ngân hàng không chỉ cố gắnghuy động một lượng vốn ngày càng lớn để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô chovay và đầu tư tới DNVVN, mà còn không ngừng đa dạng hoá nguồn để tìm kiếm cơcấu nguồn có chi phí thấp nhất, ổn định nhất Bởi ngân hàng thực hiện chức năngtrung gian tài chính, trung gian thanh toán nên thường xuyên phải duy trì khả năngthanh toán tức là duy trì thanh khoản của mình Có thể nói quy mô và cơ cấu nguồnvốn là một trong trong các nhân tố quyết định đến quy mô, thời hạn tài trợ của ngânhàng đối với khách hàng nói chung và DNVVN nói riêng
Chính sách tín dụng: Hoạt động bao trùm nhất của ngân hàng là tín dụng.Chính vì tầm quan trọng và quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự sống còn củaNHTM nên tín dụng được thực hiện theo một chính sách rõ ràng, được xây dựng vàhoàn thiện qua nhiều năm Đây là cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, hướng dẫn
Trang 31chung cho cán bộ nhân viên ngân hàng thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.Chính sách tín dụng gồm có chính sách về khách hàng, quy mô và giới hạn tíndụng, lãi suất và phí tín dụng, thời hạn tín dụng và kì hạn nợ, các khoản đảm bảo vàchính sách với các tài sản có vấn đề Nếu chính sách tín dụng của ngân hàng làhướng vào DNVVN thì rõ ràng DNVVN sẽ có ưu tiên hơn, thuận lợi hơn trong việccấp tín dụng, từ đó chất lượng tín dụng đối với DNVVN chắc chắn sẽ biến chuyểntốt lên Xây dựng và thực hiện được một chính sách tín dụng chặt chẽ, phù hợp vớitình hình thực tế trong từng giai đoạn của ngân hàng, của đất nước cũng như xu thếchung là điều kiện để đạt được một chất lượng tín dụng tốt với khách hàng nóichung và DNVVN nói riêng.
Năng lực thẩm định dự án: Để thực hiện một món tín dụng với DN, NHTMcần tiến hành theo quy trình tín dụng Một trong các khâu quan trọng để đảm bảokhách hàng sẽ trả được gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ, là chất lượng công tác thẩmđịnh trước khi cấp tín dụng NHTM sẽ tiến hành thẩm định khách hàng cùng dự án,tập trung vào đánh giá tư cách pháp lý của DN, khả năng tài chính, trình độ quản lý,mức độ uy tín trên thương trường, phân tích lại hiệu quả của dự án, dự đoán diễnbiến tình hình kinh tế chính trị trong thời gian của dự án Để thu hút thêm nhiều
DN, mở rộng cả quy mô tín dụng và nâng cao chất lượng thì các ngân hàng phảikhông ngừng đổi mới, cải tiến công tác thẩm định cho phù hợp với tình hình thực tếcủa DNVVN, của thị trường Thẩm định tín dụng vừa đơn giản, nhanh chóng, chínhxác song vẫn phải chặt chẽ để bảo đảm rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất
Công tác kiểm soát khách hàng cùng khoản tín dụng: Sau khi hợp đồng tíndụng đã được kí kết ngân hàng không chỉ giải ngân cho DN và ngồi chờ đến ngàythu lãi, thu gốc Làm việc một cách thụ động như vậy thì không bao giờ có thể đạtđược chất lượng tín dụng tốt Trong khi cấp tín dụng cho DN, cán bộ NHTM phải đisâu đi sát tìm hiểu tiền vay có được sử dụng đúng mục đích, tiến trình thực tế vàtheo kế hoạch có khớp không, quá trình SXKD có thay đổi gì không, DN có dấuhiệu lừa đảo hay làm ăn thua lỗ không Nghĩa là ngân hàng phải luôn thu thậpthông tin để nắm rõ tình hình của DN cũng như dự án được cấp tín dụng Thông tin
Trang 32theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ cho thấy chất lượng tín dụng có được đảm bảo haykhông Nắm được thông tin đầy đủ và đúng lúc là cơ sở để ngân hàng giúp đỡ DNtrong những tình huống biến động bất ngờ, nảy sinh mới trong khi thực hiện dự ánnhư cho vay thêm, cung cấp thông tin, gia hạn nợ Kiểm soát khách hàng cũng giúpngân hàng ngăn chặn kịp thời các ý đồ sử dụng khoản tài trợ sai lệch, ngăn chặn cáckhoản tín dụng xấu bằng cách như ngừng giải ngân, bổ sung tài sản thế chấp
Trình độ chuyên môn và tư cách đạo đức của đội ngũ cán bộ nhân viên: tronghàng chục năm chiến tranh với bè lũ đế quốc hùng mạnh, dù là một dân tộc rấtnghèo và lạc hậu nhưng ta vẫn giành được thắng lợi vẻ vang, đó là nhờ ở nhữngchiến sĩ dũng cảm và tài trí Con người làm ra mọi thứ và con người có sức mạnh tolớn nhất Trong hoạt động của NHTM cũng vậy, các cán bộ nhân viên ngân hàngđóng vai trò nòng cốt, quyết định nhất để có thể đem lại hiệu quả trong kinh doanh,đem lại chất lượng tín dụng cao Bất kể bước nào trong quy trình tín dụng dù có sựtham gia của máy móc song đều do do cán bộ tiến hành phân tích, đánh giá và đưa
ra các quyết định Một đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao,giàu kinh nghiệm, nhiệt tình trong công tác, nghiêm chỉnh trong kỷ luật chung vàkhách quan, không vụ lợi sẽ hạn chế được đáng kể rủi ro tín dụng có thể xảy ra Cóđược lực lượng nhân sự chuyên môn cao, đạo đức tốt song người quản lý cũng cầnbiết cách kết hợp họ sao cho hợp lý nhất, phù hợp với năng lực sở trưởng từngngười để đảm bảo đạt được một chất lượng tín dụng tốt
Trang thiết bị kỹ thuật: Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin
và kỹ thuật hiện đại Để có thể cạnh tranh, hoà nhập với khu vực và thế giới để tồntại và phát triển, các NHTM Việt Nam buộc phải đổi mới công nghệ, máy móc.Máy vi tính cùng các phần mềm về lĩnh vực ngân hàng, mạng nội bộ và mạng thanhtoán điện tử liên ngân hàng, máy rút tiền tự động đã giúp các giao dịch diễn ranhanh chóng chính xác, thủ tục đơn giản hơn, nhân viên tín dụng làm việc thuậntiện hơn, thu thập thông tin đầy đủ và kịp thời, thu hút thêm khách hàng gửi tiềncũng như vay tiền ngân hàng Thiết bị kỹ thuật vì vậy sẽ ngày càng có ảnh hưởngmạnh hơn tới chất lượng tín dụng
Trang 331.4.2 Nhân tố từ phía khách hàng
Nhu cầu vốn của DN: NHTM là trung gian tài chính huy động vốn và cấp tíndụng cho khách hàng Để nâng cao được chất lượng tín dụng, mở rộng quy mô chovay đối với DNVVN thì trước tiên nó phụ thuộc vào nhu cầu vốn của chính DN.DNVVN là một phần trong đầu ra của các NHTM Nói chung thì DNVVN ở nước
ta hiện nay luôn có nhu cầu vốn lớn song cũng không ngoại trừ các tình huống bấtthường như kinh tế suy thoái, cạnh tranh quá gay gắt thì DN lại có xu hướng hạnchế đầu tư giảm bớt tổn thất, nhu cầu vốn khi ấy sẽ giảm
Năng lực của DN trong việc thoả mãn các điều kiện tín dụng: để được ngânhàng phê duyệt và cấp 1 khoản tín dụng, DN phải đáp ứng tất cả các yêu cầu từ phíangân hàng Các yêu cầu này của NHTM đối với DN không chỉ nhằm bảo đảm tínhsinh lời và an toàn cho chính mình mà còn đảm bảo DN đầu tư hiệu quả và đúngluật Tư cách pháp lý, năng lực tài chính, khả năng kinh doanh, trình độ quản lý và
am hiểu lĩnh vực đầu tư, tính khả thi của dự án, các biện pháp đảm bảo luôn đượccác ngân hàng chú ý Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn với nhiều thay đổi không thểlường trước, cũng như không một ai có thể chắc chắn rủi ro không xảy ra Nếu ngay
cả các điều kiện ngân hàng đòi hỏi DN cũng không đáp ứng được thì quan hệ tíndụng không thể thiết lập, bởi đây là một sự mạo hiểm cho cả hai phía Vì vậy, khảnăng DNVVN thoả mãn các yêu cầu từ phía ngân hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tớichất lượng tín dụng
Đạo đức kinh doanh của khách hàng: khi khách hàng có đạo đức uy tín trongkinh doanh, DN sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích và có thiện chí trong việc trả nợcho ngân hàng Khi đó họ sẽ tìm đủ mọi cách để trả nợ cho ngân hàng Ngược lại,trong trường hợp vốn vay không được sử dụng đúng mục đích hoặc khách hàngchây ỳ trong việc trả nợ thì khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp sẽ khó hoặckhông thể thu hồi lại được
Năng lực sử dụng vốn vay: Như trên đã trình bày, trong quá trình cấp tíndụng ngân hàng luôn theo sát DN để giúp đỡ, tư vấn cũng như ngăn chặn kịp thờinhững hiện tượng xấu và giải quyết các vấn đề nảy sinh Song để dựa dự án đạt
Trang 34được hiệu quả đề ra cơ bản vẫn là phụ thuộc vào bản thân DN Một dự án khả thi,một quy trình tín dụng chặt chẽ cũng chưa đảm bảo DN sẽ trả gốc lãi đầy đủ đúnghạn, nghĩa là chưa đảm bảo chất lượng tín dụng tốt Khoản tín dụng có được sửdụng đúng mục đích không, quá trình dùng vốn để SXKD có mang lại lợi nhuậnkhông còn bởi trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên, trình độ quản lý và đạo đứcchủ DN, uy tín và kinh nghiệm thị trường, sự nhạy bén năng động của DN, trình độ
kỹ thuật
1.4.3 Nhân tố từ phía nền kinh tế xã hội
Nền kinh tế: Bất kỳ DN hay NHTM nào cũng nằm trong tổng thể một nềnkinh tế Nền kinh tế tác động mạnh mẽ đến mọi thành phần nằm trong nó Kinh tếphát triển, tăng trưởng ổn định thì hoạt động kinh doanh của DN, ngân hàng mới đạtđược hiệu quả cao Ngược lại, nền kinh tế trì trệ, thiếu sức cạnh tranh sẽ không tạođược động lực cho DN SXKD, không tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư Khi ấy,thay vì mở rộng kinh doanh, bỏ vốn đầu tư thì các DN lại thu hẹp, NHTM cũng gặpkhó khăn trong cả huy động vốn và cho vay tất yếu không đạt được chất lượng tíndụng tốt
Chính trị xã hội: Nếu như kinh tế tác động mạnh và trực tiếp đến mọi thànhphần thì chính trị cũng có vai trò không hề thua kém Khi mà tình hình chính trị xãhội không ổn định thì không chỉ riêng các ngân hàng thương mại mà cả cácDNVVN cũng không dám mạo hiểm đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Hơnnữa, bất ổn về chính trị và xã hội cũng làm mất lòng tin của các nhà đầu tư trongnước và các nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến họat động cũng như chất lượngtín dụng của các ngân hàng
Môi trường pháp lý: Tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt quốcdoanh hay tư doanh, đều có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh củamình dựa trên khuôn khổ của pháp luật Ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ,môi trường pháp lý bao gồm: Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủthống nhất của các văn bản dưới luật Đồng thời gắn liền với quá trình chấp hànhluật pháp và trình độ dân trí.Một hệ thống văn bản pháp luật chặt chẽ, khoa học,
Trang 35không rườm rà cùng các cơ quan luật pháp thực thi nghiêm minh, công bằng sẽ làđiều kiện cho mọi đối tượng làm ăn chân chính được bảo vệ Ngân hàng và DNtrong quan hệ tín dụng với nhau sẽ lấy khung pháp lý chuẩn ấy để tiến hành Có nhưvậy mới bảo đảm được tính sinh lời và an toàn trong hoạt động tín dụng Đồng thời,phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tránh những lỗ hổng
sẽ gây hiện tượng DN gian lận, làm ăn bất chính, lừa đảo ngân hàng
Điều kiện tự nhiên: yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụngnhưng là từ phía khách hàng Đặc biệt các DN SXKD trong lĩnh vực phụ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên như nông lâm thuỷ sản, sản xuất tiêu thụ sản phẩmtheo mùa vụ Thời tiết ổn định, thuận lợi sẽ giúp DN thực hiện được dự án như đãđịnh, thực hiện đúng tiến độ trả nợ Thiên tai, những thay đổi bất thường của tựnhiên không chỉ làm DN khó khăn trong hoạt động SXKD mà còn có thể dẫn tớimất trắng, phá sản Đây là một nguyên nhân gây rủi ro tín dụng mà con ngườikhông phải lúc nào cũng lường trước được
1.5 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
1.5.1 Kinh nghiệp của Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ hai Nhật Bản đặc quan tâm đến phát triển cácDNVVN vì đây khu vực mà người Nhật cho là đem lại lợi nhuận kinh tế cao và rútngắn được nhiều công đoạn Đặc biệt các DNVVN giải quyết được nhiều công ănviệc làm trong một thời gian ngắn, chiến lược hiện đại hoá các DNVVN đã trởthành một nhiệm vụ cấp bách trước bối cảnh nền kinh tế thế giới khủng hoảng vàcạch tranh gay gắt Chiến lựơc này chủ yếu tập chung vào bốn lĩnh vực:
- Hiện đại hoá các thể chế quản lý DNVVN
- Giải pháp tài chính cho DNVVN
- Xúc tiến hiện đại hoá DNVVN
- Các hoạt động tư vấn cho DNVVN
Trong các lĩnh vực trên Nhật Bản đặc biệt chú ý đến việc hỗ trợ tài chínhnhằm xoá bỏ những hạn chế về mặt tài chính, giúp các DNVVN có khả năng tiếpcận vốn nhanh để quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi Các biện pháp hỗ
Trang 36trợ đã được thông qua hệ thống hỗ trợ tín dụng và các tổ chức tài tín dụng côngcộng phục vụ DNVVN Hệ thống hỗ trợ tín dụng giúp các DNVVN tiếp cận đựơcvới nguồn vốn tín dụng, tạo điều kiện cho họ vay vốn của các tổ chức tín dụng tưnhân thông qua sự bảo lãnh của hiệp hội bảo lãnh tín dụng trên cơ sở hợp đồng bảolãnh Ngoài ra còn có ba tổ chức tài chính công cộng là Công ty Tài chính DNVVN,Công ty tài chính nhân dân và ngân hàng Shoko Chukin do Chính phủ đầu tư thànhlập toàn bộ hoặc một phần nhằm tài trợ vốn cho các DNVVN để đổi mới máy mócthiết bị và hỗ trợ vốn lưu động dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh.
1.5.2 Kinh nghiệp của Đài Loan
Đài Loan là một nước có nền công nghiệp đặc trưng chủ yếu bởi cácDNVVN Ở Đài Loan loại hình DNVVN có từ 5-10 lao động, vốn hoạt động trungbình là 1.6 triệu USD chiếm khoảng 95% tổng số DNVVN, tạo ra khoảng 40% sảnlượng công nghiệp, hơn 50% giá trị xuất khẩu Để đạt được thành công này ĐàiLoan đã dành nhiều công sức trong công cuộc và xây dựng, thi hành chính sách trợgiúp về công nghệ, nghiên cứu khoa học, đào tạo, quản trị cho các DNVVN
Chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng cho DNVVN được tiến hành như sau:
Khuyến khích các ngân hàng cho vay vốn mà đối tượng được ưu tiên làDNVVN, với mức lãi suất ưu đãi “thấp”, thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng,quy định tỷ lệ cung cấp tài chính cho DNVVN phải tăng lên hàng năm Ngânhàng Trung ương Đài Loan yêu cầu các NHTM phải thành lập riêng phòngtín dụng và tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận được với nguồn vốn vớicác ngân hàng
Thành lập quỹ phát triển cho DNVVN: Quỹ phát triển, quỹ Sino-US, quỹphát triển DNVVN để cung cấp vốn cho DNVVN qua hệ thống ngân hàng,nhằm trợ giúp các hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN
Trang 37và chiến lược cho DNVVN từ những thập niên 70 của thế kỷ trước, năm 1974 ĐàiLoan đã thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng, hoạt động của quỹ này là cùng chia sẻgánh nặng và rủi ro với các tổ chức tín dụng kể từ khi thành lập đến nay quỹ đã bảolãnh cho 1.5 triệu trường hợp Do sự nhận thức rõ được từ phía chính phủ nên nềnkinh tế Đài Loan đã phát triển mạnh mẽ, ổn định, làm cho Đài Loan trở thành quốcgia của các DNVVN.
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH
Ngay từ khi mới thành lập, NHNN&PTNT Sóc Sơn đã phải đối mặt với vôvàn khó khăn thử thách như: Số lượng lao động 107 cán bộ, trong đó chỉ có 7 đồngchí có trình độ Đại học, số còn lại có trình độ trung cấp và phần lớn chưa qua đàotạo kinh doanh tiền tệ trên địa bàn một huyện nghèo của Thủ đô Hà Nội, với tưtưởng bao cấp “xin cho” đã ăn sâu vào tiềm thức, mạng lưới hoạt động ít, cơ sở vậtchất vừa thiếu vừa lạc hậu, vì vậy kết quả hoạt động kinh doanh khi mới thành lậpchủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng, song nguồn vốn chỉ có khoảng 1.6 tỷ đồng.Được tập trung cho vay hai thành phần kinh tế là: DN Nhà Nước 38% và HTX62%, Nợ quá hạn chiếm 5.3% trên tổng dư nợ Cơ chế tín dụng bao cấp: chovaytheo chỉ định, theo kế hoạch nhà nước, lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất huyđộng Vì vậy hoạt động của NHNN&PTNT Sóc Sơn nói chung và hoạt động tíndụng nói riêng gặp muôn vàn khó khăn thử thách, không có định hướng, lúng túng
về đối tượng và loại hình đầu tư
Đầu năm 1991, sau khi có văn bản 53/NHNg “về biện pháp cho vay ngắn
Trang 39hạn, trung hạn đối với hộ nông dân” của Tổng giám đốc NHNo Việt Nam, NHNNSóc Sơn đã tiếp cận cho vay đối tượng hộ sản xuất Mặc dù hộ sản xuất đã được xácđịnh là một đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng đất lâu dài, song việcđầu tư cho vay kinh tế hộ ở NHNN&PTNT vẫn rất dè dặt Dư nợ cuối năm 1991của cho vay kinh tế hộ là 113 triệu đồng bằng 4% trên tổng dư nợ Chỉ sau khi có chỉthị 202/CT ngày 28/06/1991 và nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ.Trên cơ sở quy định 499/NHNo ngày 23/07/1991 và tiếp đến là quyết định499A/NHNN-TDNT ngày 02/09/1993 của Tổng giám đốc NHNN&PTNT thì việccho vay hộ sản xuất ở NHNN&PTNT Sóc Sơn mới có bước chuyển biến mới Từ chỗcho vay gián tiếp qua các tổ chức đã chuyển sang cho vay trực tiếp hộ sản xuất Kếtquả cho vay kinh tế hộ từ năm 1992 đến năm 1995 không ngừng tăng trưởng, bìnhquân hàng năm trong giai đoạn này cho vay kinh tế hộ tăng hơn 200% Đến năm
1995 dư nợ kinh tế hộ chiếm 41% tổng dư nợ của NHNN&PTNT Sóc Sơn Mặc dùkhông thuần túy là kinh doanh theo lợi nhuận, nhưng thực chất không còn là bao cấptrong hoạt động tín dụng, góp phần quan trọng đưa NHNN Sóc Sơn vào hoạt độngthương mại
Cho đến năm 2001, sau 10 năm cho vay kinh tế hộ của NHNN&PTNT ViệtNam đạt kết quả to lớn về kinh tế và xã hội, thì đòi hỏi hệ thống NHNN&PTNTphải đa dạng hóa cơ cấu đầu tư, đối tượng khách hàng, trong đó đặc biệt chú trọngđến khách hàng là các DN nhỏ và vừa
Các DN nhỏ và vừa hầu hết được thành lập theo luật DN với số lượng ngàycàng tăng theo các năm Các DN này lại được Chính phủ hỗ trợ thông qua Nghịđịnh 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 Có thể nói đây là một chủ trương đột phá vềđịnh hướng phát triển DN, một môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng cả về sốlượng và chất lượng hoạt động của DN nhỏ và vừa Đồng thời cũng là một thịtrường tiềm năng để ngân hàng đầu tư tín dụng và dịch vụ ngân hàng
Trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại ngân hàng giai đoạn 2001-2010
và đề án kinh doanh trên địa bàn đô thị loại I NHNN&PTNT đã xác định ngoàiviệc đẩy mạnh cho vay kinh tế hộ sản xuất, thì việc cho vay các DN nhỏ và vừa
Trang 40được xác định là một hướng đầu tư mới, góp phần mở rộng đầu tư tín dụng và mởrộng thị phần trong các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên địa bàn huyện Đến nayNHNN&PTNT Sóc Sơn có một mạng lưới gồm một trụ sở chính nằm ở trung tâmThị trấn Sóc Sơn, và 07 phòng giao dịch phân bố đều trên địa bàn huyện.
2.1.2 Bộ máy tổ chức điều hành tại Sóc Sơn
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của Chi nhánh NHNN&PTNT Sóc Sơn
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng nguồn vốn và
kế hoạch
Phòng thẩm
định
Phòng tín dụng
Bộ phận tổ chức
Phòng KT-KS nội bộ