Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để tạo nên sự phong phú và đa dạng về cách thức, tổ chức đời sống nhưng cũng thống nhất trong sự phát triể
Trang 1TRẦN MẠNH THẮNG
THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 2TRẦN MẠNH THẮNG
THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Thu Thuỷ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 31 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, mục đích và phạm vi nghiên cứu…… 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu……… 5
5 Đóng góp của luận văn……… 5
6 Cấu trúc luận văn……… 6
NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYÊN QUANG 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên……… 7
1.2 Địa bàn cư trú, nguồn gốc của người Cao Lan……… 11
Tiểu kết chương 1……… 19
Chương 2 THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG 2.1 Thiết chế chính trị……… 20
2.2 Thiết chế xã hội……… 29
2.3 Thiết chế chính trị - xã hội truyền thống trong đời sống của người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay……… 38
Tiểu kết chương 2……… 48
Chương 3 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG 3.1 Tôn giáo, tín ngưỡng……… 50
3.2 Phong tục, tập quán……… 59
3.3 Văn học, nghệ thuật và lễ hội dân gian……… 76
Tiểu kết chương 3……… 101
KẾT LUẬN……… 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 105
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong quá trình phát triển, các dân tộc luôn có ý thức đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để chinh phục tự nhiên, đấu tranh giữ
nước và dựng nước Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Kinh hay
Thổ,Mường hay Mán, Gia-rai hay Ê-đê, Xơ-đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta Vậy nên, tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, ủng hộ chính phủ ta Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt.” ( trích trong thư gửi Đại hội các dân tộc
thiểu số miền Nam, Pleiku 19/4/1946)
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc nước ta, nơi hội tụ của 22 dân tộc anh em Trong đó, dân tộc Cao Lan có số dân đông thứ
4 sau các dân tộc Kinh, Tày, Dao Họ cư trú ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn
và Sơn Dương Trong quá trình chung sống, luôn tích cực giao lưu, hòa nhập với các dân tộc nhưng vẫn giữ gìn được những nét đặc trưng riêng của mình Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
để tạo nên sự phong phú và đa dạng về cách thức, tổ chức đời sống nhưng cũng thống nhất trong sự phát triển chung của cả cộng đồng
Tìm hiểu về những nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc sẽ làm phong phú thêm nhận thức của mỗi người đối với từng tộc người Do vậy, việc nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang là một vấn đề thiết thực, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Góp phần làm rõ sự tồn tại và vai trò của
Trang 5thiết chế chính trị, xã hội truyền thống trong đời sống kinh tế, văn hóa Là cơ
sở vững chắc vào việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí và chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc Cao Lan nói riêng và các dân tộc
thiểu số nói chung ở Tuyên Quang Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Thiết
chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn thạc sỹ khoa học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu về tộc người Cao Lan, tác giả đề tài đã tiếp cận được với một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp tới đề tài như:
“Du Man Cao Lan”, xuất bản năm 1905, của Bonifacy Monographie,
tài liệu dịch của viện dân tộc học, đã làm rõ về nguồn gốc tộc người, tiếng nói
và các phong tục, tập quán của người Cao Lan (ông còn chia ra thành các loại Mán khác nhau; Mán tiểu bản, Mán đại bản, Mán quần trắng, , trong đó có Mán Cao Lan)
Cuốn “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” do Ban Dân tộc học
Tuyên Quang, xuất bản năm 1972, đã giới thiệu khái quát về đời sống kinh tế,
xã hội và các phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang
“Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, xuất bản năm 1978, Viện dân tộc
học, đã giới thiệu khái quát về đời sống, xã hội của các dân tộc ở Việt Nam
“ Truyện cổ Cao Lan”, xuất bản năm 1983, của Lâm Quý đã giới thiệu
cho chúng ta nhiều câu chuyện nói về sự tích ra đời cũng như tên sông, tên núi và giải thích những điều kiêng kị trong đời sống hàng ngày của người Cao Lan
Trong cuốn “ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang”, xuất bản năm 1995,
đã giới thiệu một hệ thống các vấn đề lịch sử địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Trang 6“ Văn hóa truyền thống Cao Lan”, xuất bản năm 1999, của Phù Ninh –
Nguyễn Thịnh đã nghiên cứu lịch sử tộc người Cao Lan,cơ cấu xã hội, kinh tế
và văn hóa vật chất, tinh thần của người Cao Lan
“ Văn hóa Cao Lan”, xuất bản năm 2004, của Lâm Quý đã nghiên cứu kĩ
hơn về lịch sử hình thành, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Cao Lan, đồng thời tìm hiểu thêm về sự giao thoa của văn hóa này trong cộng đồng các dân tộc
“Đời sống văn hóa phi vật thể của người Cao Lan ở Tuyên Quang”, (2002-2006), khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm I Hà Nội, của Tống Thị
Mỹ Hường, có viết về nguồn gốc tộc người, văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người Cao Lan ở Tuyên Quang
“Văn hóa làng Tuyên Quang”, xuất bản năm 2009, kỉ yếu hội thảo văn
hóa làng Tuyên Quang, nói lên một số vấn đề nghiên cứu và đánh giá truyền thống văn hóa làng và một số biện pháp nhằm khuyến khích phong trào văn hóa cơ sở, làng, bản
“Lễ hội đình Giếng Tanh của đồng bào người Cao Lan tại thôn Giếng
Tanh, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”, (2006-2010), khóa luận
tốt nghiệp, Đại học Đà Lạt của Trần Thế Dương, viết về đời sống văn hóa truyền thống thông qua lễ hội đầu năm của người Cao Lan của thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Những công trình đã được công bố trên là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này
3 Đối tượng, nhiệm vụ, mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang Về thiết chế chính trị bao gồm, cách thức xây dựng, tổ chức và vận hành bộ máy thống trị của dân
Trang 7tộc Cao Lan Thiết chế xã hội gồm có, các loại hình tổ chức, hình thức tập hợp và quy chế vận hành của hình thức đó Từ đó nghiên cứu vai trò của thiết chế chính tri, xã hội đối với đời sống kinh tế, văn hóa Về văn hóa, đề tài nghiên cứu những nét đặc trưng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang Trong truyền thống và ảnh hưởng của nó trong thời kì hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của đề tài:
- Khái quát về tỉnh Tuyên Quang: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân
cư, các thành phần dân tộc, nguồn gốc, địa bàn cư trú của người Cao Lan ở Tuyên Quang
- Nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang trước Cách Mạng tháng 8 năm 1945 và những giá trị của nó trong đời sống kinh tế văn hóa của tộc người này hiện nay
3.3 Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần tái hiện lại một số hiện tượng lịch sử, chính tri, xã hội và văn hóa của người Cao Lan ở Tuyên Quang thời kì trước năm 1945 và những giá trị truyền thống còn lại cho đến ngày nay
- Làm rõ về thiết chế chịnh trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan – một tộc người thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta
3.4 Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa
của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang thời kì trước Cách Mạng tháng 8 năm
1945 và những giá trị văn hóa, lịch sử của nó được bảo lưu đến ngày nay
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung ở tỉnh Tuyên Quang, các
địa bàn có số đông người Cao Lan sinh sống như các xã Kim Phú, Đội Bình (huyện Yên Sơn); Đại Phú, Đông Lợi (huyện Sơn Dương); Lưỡng Vượng, Đội Cấn (Thành phố Tuyên Quang); Đức Ninh, Thái Hòa (huyện Hàm Yên)
Trang 84 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, lịch
sử Đảng bộ các huyện: Huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu dân tộc học
- Các chỉ thị, nghị quyết của TW Đảng, Tỉnh ủy Tuyên Quang, Huyện
ủy các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, bộ phận Lưu trữ Thông tin; Phòng lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang
- Nguồn tài liệu thu thập được qua công tác điều tra điền dã bao gồm, quan sát, tham dự, thống kê, phóng vấn sâu đối với những người Cao Lan hiểu biết, đặc biệt là các cụ già làng và vốn hiểu biết của mình về cuộc sống đồng bào dân tộc Cao Lan, trong quá trình tiếp xúc giao lưu và cùng chung sống trên cùng mảnh đất Tuyên Quang
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Từ những nguồn tư trên, tôi đã tiến hành tập hợp các nguồn tư liệu có cùng nội dung, sau đó đem so sánh, đối chiếu, phân tích, thống kê và rút ra kết luận về vấn đề cần nghiên cứu Trong quá trình thực hiện tác giả đề tài sử dụng hai phương pháp chính lịch sử và lôgíc Kết hợp với điền dã dân tộc học tại địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế
5 Đóng góp của luận văn
- Góp thêm nguồn tư liệu điền dã mới về đặc trưng riêng trong thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang Hình thành trong thế hệ thanh niên người Cao Lan niềm tự hào và thái
độ trân trọng đối với những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình
Trang 9- Trong thực tiễn giáo dục lịch sử hiện nay, việc dạy học lịch sử địa phương cũng như lịch sử về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn
về tư liệu Do vậy, tìm hiểu thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang là nguồn tư liệu quan trọng để học sinh hiểu được đời sống của các dân tộc trong tỉnh
- Làm cơ sở khoa học cho hoạch định các chính sách về văn hóa, xã hội của các cơ quan văn hóa đối với việc gìn giữ, phát triển các giá trị truyền thống về chính trị, xã hội và văn hóa của dân tộc nói chung, người Cao Lan nói riêng ở tỉnh Tuyên Quang Luận văn có giá trị khoa học, thực tiễn sâu sắc nghiên cứu về tộc người – dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc của nước ta
6 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn bao gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung được chia làm 3 chương
+ Chương 1: Khái quát về tỉnh Tuyên Quang
+ Chương 2: Thiết chế chính trị, xã hội truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang
+ Chương 3: Văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang
Trang 11
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYÊN QUANG 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Theo “ Dư địa chí ” của Nguyễn Trãi, Tuyên Quang xưa thuộc bộ
Vũ Định của nhà nước Văn Lang Dưới các triều đại Lý, Trần, Tuyên Quang nguyên là vùng đất thuộc xứ Thái, đến thế kỉ XIII chịu sự kiểm soát của triều đình phong kiến ở thời nhà Trần Lúc đó, Tuyên Quang gọi
là lộ Quốc Oai, sau đổi thành châu Tuyên Quang Dưới thời Trần Hiến Tông châu Tuyên Quang đổi thành trấn Tuyên Quang, sau đó là phủ Tuyên Hóa ở thời thuộc Minh Đến triều Lê, đời Lê Thánh Tông, Tuyên Quang gồm 1 phủ và 5 huyện và trở thành tỉnh Minh Quang Ở thời vua
Lê Trang Tông đổi thành doanh An Tại cho dòng họ Vũ người Thái làm doanh trưởng Đầu thế kỉ XIX, Tuyên Quang gồm 1 phủ là Yên Bình, phủ này quản lý 1 huyện và 5 châu Sau đó, vua Gia Long đổi thành trấn Tuyên Quang, rồi thành tỉnh Tuyên Quang dưới thời vua Minh Mang (sau cải cách hành chính), trong đó tên gọi Tuyên Quang là tương đối ổn định
ở Miền Bắc (1954), Tuyên Quang có một số thay đổi về hành chính Tháng 7-1956, huyện Yên Bình đã tách khỏi Tuyên Quang sáp nhập vào tỉnh Yên Bái Đến năm 1976, hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang sáp nhập lại thành tỉnh Hà Tuyên Năm 1991, tỉnh Hà Tuyên lại được chia thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang như ngày nay Hiện nay, Tuyên Quang bao gồm
Trang 12Thành phố Tuyên Quang và 6 huyện (Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương)[ 1, tr 16]
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc của Việt Nam Phía Đông giáp các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5870,4 km2
Trong
đó đất nông nghiệp chiếm 11,96%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 76,16%, còn lại là đất ở và đất chưa sử dụng Phần lớn đất đai không thấm nước, dễ bị xói mòn, có đất sét và cấu thành Granit, nơi có vôi, đá xít, là các loại đất tương đối tốt có thể tạo ra những vùng chuyên canh trồng các loại cây như chè, mía, lạc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến[ 2, tr 13]
Địa hình Tuyên Quang bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu,chia làm 3 vùng như sau:
Vùng núi cao Phía Bắc chiếm 50% diện tích toàn tỉnh, có độ cao trung bình là 600m so với mặt nước biển, bao gồm toàn bộ huyện Na Hang, huyện Lâm Bình, 11 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, 2 xã thuộc huyện Hàm Yên, 3 xã thuộc huyện Yên Sơn Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của các đồng bào dân tộc ít người, dân cư thưa thớt, kinh tế chủ yếu là khoanh nuôi rừng tự nhiên, trồng rừng và phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc Giao thông đi lại không thuận tiện, khó khăn cho việc giao lưu thông thương với các vùng khác [2, tr 14-15]
Vùng đồi núi thấp phía Nam của các huyện Chiêm Hóa, Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương Diện tích của khu vực này chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên của tỉnh, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực lại có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu với các
Trang 13vùng khác trong tỉnh Đây là nơi các đồng bào dân tộc tập trung sống với
số đông
Vùng thung lũng bao gồm 2 thung lũng lớn: Thung lũng Tuyên Quang và thung lũng Sơn Dương Với diện tích khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh, đây là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, địa bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế xã hội của tỉnh Cư dân chủ yếu là người Kinh, Tày Kinh tế của vùng là trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi và khai thác khoáng sản (thiếc, kẽm, ăngtimoan )[ 2, tr 15]
Tuyên Quang có nhiều sông suối lớn như sông Lô, sông Gâm; Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc sau khi chảy dọc qua địa phận Hà Giang, chảy qua Tuyên Quang về Phú Thọ và hợp với sông Hồng ở Việt Trì, đây là đường thủy nối liền Tuyên Quang với Hà Giang, thủ đô Hà Nội và các tỉnh trung du đồng bằng Bắc Bộ Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Cao Bằng đến Hà Giang rồi chảy vào các huyện Na Hang, Chiêm Hóa hợp với sông Lô, đây là đường thủy nối liền các huyện với tỉnh và thành phố Tuyên Quang Ngoài ra còn rất nhiều con sông, ngòi khác như; Sông Năng, sông Phó Đáy, ngòi Chinh, ngòi Cổ Linh Tạo nên hệ thống sông ngòi dày đặc, đây cũng là nguồn thủy sinh không thể thiếu trong đời sống nhân dân, nó có giá trị kinh tế rất lớn, vừa là hệ thống giao thông, vừa cung cấp nước, thủy sản phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất và chứa đựng nhiều tiềm năng thủy điện, nhưng do độ dốc cao, lòng sông hẹp lắm thác ghềnh nên thường ngây lũ lụt vào mùa mưa[ 2, tr.16]
Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ
C và lượng mưa trung bình lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn chia thành hai mùa rõ rệt và thay đổi thất
Trang 14thường Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, điều kiện khí hậu trên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật phát triển nhanh , nhất là rừng, cây dược liệu và cây công nghiệp Tuy nhiên, Tuyên Quang hay
có lốc mạnh, lũ to, sương muối và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, đây là một trong những nguyên nhân sinh ra các dịch bệnh như sốt rét, khớp, bướu cổ[ 2, tr 16]
Thiên nhiên đã ưu đãi cho Tuyên Quang có một nguồn tài nguyên , khoáng sản giàu có Rừng Tuyên Quang có nhiều cây gỗ quý như: Trầm Hương, Nghiến, Lát Hoa, Tuế đá vôi, Hoàng Đàn, Pơ Mu, Đinh, Lim, Sến, Táu ; Nhiều cây dược liệu quý như: Sa Nhân, Ba Kích, Thục Sâm,
và các loại đặc sản khác như Nấm Hương, Mộc Nhĩ, Mật Ong Kết quả kiểm kê rừng năm 2005, độ che phủ của rừng là 63%, rừng gỗ chiếm 2,3
[2, tr 17]
Lòng đất Tuyên Quang chứa nhiều khoáng sản Theo sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Tuyên Quang do Cục Địa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp biên soạn năm 1994, Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng sản khác nhau, được phân bố ở các huyện trong tỉnh Trong đó đứng đầu
về trữ lượng và chất lượng là quặng Sắt, Barít, Cao Lanh, Thiếc, Manggan, Chì Kẽm, Ăngtimoan
Mỏ kim loại: Quặng Sắt đã phát hiện 17 điểm mỏ với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7 triệu tấn, chủ yếu ở 2 huyện Yên Sơn và Hàm Yên Quặng Thiếc có ở 12 điểm tập trung ở huyện Sơn Dương tổng trữ lượng cả quặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn Quặng Mănggan có ở 8 điểm tập trung chủ yếu ở hai huyện Chiêm Hóa và Na Hang Chì – Kẽm có ở 24 điểm mỏ tập trung ở Thành phố Tuyên Quang, Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hóa, Na Hang Trong đó có 6 điểm mỏ được đánh giá trữ lượng ở cấp C2 – 195.927 tấn Ăngtimoan đã phát hiện
Trang 15ở 15 điểm trong đó Chiêm Hóa có 10 điểm, Na Hang có 4 điểm, Yên Sơn
Mỏ
Cao lanh – Fenspat có nhiều điểm rải rác ở 3 huyện Yên Sơn, Sơn Dương
và Hàm Yên Nước khoáng – Nước nóng Có ở 2 điểm đáng chú ý là Bình
Ca và Mỹ Lâm (thuộc huyện Yên Sơn)[2, tr 18]
Nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú và đa dạng cho phép địa phương phát triển, làm giàu bằng các ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng, đây là những thế mạnh của tỉnh để phát triển các ngành kinh tế phục vu đời sống nhân dân trong
và ngoài tỉnh
1.2 Địa bàn cư trú, nguồn gốc của người Cao Lan
Theo số liệu điều tra 1/4/2009 dân số toàn tỉnh Tuyên Quang là
727 505 người, với 22 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó, dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm 44,82%; dân tộc Tày có 172.136 người, chiếm 23,66%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 10,59%; dân tộc Sán Chay (Cao Lan) có 54.095 người, chiếm 7,43%; dân tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,01%; dân tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,77%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người, chiếm 1,52%; các dân tộc khác chiếm 8,2% Ta có thể tổng kết thành phần dân tộc trên địa bàn tỉnh như sau:
Trang 16BẢN ĐỒ ĐỊA BÀN CÁC HUYỆN CÓ NGƯỜI CAO LAN SINH SỐNG Ở
TUYÊN QUANG
Trang 17Bảng 1.1 THỐNG KÊ CÁC THÀNH PHẦN DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN
( Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2009 )
Người Cao Lan sinh sống chủ yếu ở vùng Đông Bắc nước ta như: Tuyên Quang (54.095 người ); Thái Nguyên ( 29.229 người ); Bắc Giang ( 23.872 người); Quảng Ninh ( 11.766 người ); Yên Bái ( 7.665 người ); Cao Bằng ( 6.051 người ) Tại Tuyên Quang người Cao Lan cư trú ở 37 xã thuộc phía tây nam của các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên và một bộ phận ở ven Thành phố Tuyên Quang
Bảng 1.2 THỐNG KÊ VỀ TỘC NGƯỜI CAO LAN Ở CÁC HUYỆN
người)
Tỷ lệ (%)
Ghi chú
Trang 18Mức độ tập trung sinh sống của dân tộc Cao Lan ở các huyện là không đều nhau, họ sống chủ yếu ở 2 huyện Yên Sơn và Sơn Dương
Về nguồn gốc của dân tộc Cao Lan, tư liệu cho biết sớm nhất là: “Kiến văn
tiểu lục” của Lê Quý Đôn Khi viết về xứ Tuyên Quang, trong phần các giống
người, ông cho thấy Cao Lan và Sơn Tử là 2 trong 7 chủng tộc Man: Sơn Trang, Sơn Tử, Cao Lan, Sơn Man, Sơn Bán, Sơn Miêu, Hán Văn và Bảo Toàn
Trong “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, xuất
bản năm 1997, Sơn Tử, Cao Lan đều được coi như những nhóm Mán khác
Trong một số tư liệu khác như: “Phong thổ kí Tuyên Quang, Vĩnh Yên,
Thái Nguyên” đều coi Cao Lan là Mán như: Mán sơn đầu, Mán quần đen,
Mán quần trắng, Mán đại bản, Mán tiểu bản
Một số tác giả nước ngoài cũng có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá về
nguồn gốc của người Cao Lan Ví dụ, trong “Giản chí người Mán Cao Lan”
A.Bonifacy người Pháp, xuất bản năm 1905 viết: Cao Lan vào nhóm Mán và coi Cao Lan như một ngành của Mán gọi là Mán Cao Lan Tên tự gọi là Cao Lan hay Sơn Tử Viết về nguồn gốc của người Cao Lan, A.Bonifacy đã ghi lại như sau:
Khởi thủy, nước và đất đều không có nhưng đất và nước không rời nhau, dẫu vậy đã có Bàn Vương biết con đường thẳng Bàn Vương xuống biển mượn và mang một con kì lân lên trời Bằng hơi thở, ông đã làm ra 9 mặt trời bao quanh mặt đất, về sau Thích Ca tiêu diệt 7 mặt trời đủ để chiếu sáng mặt đất nhưng không đốt cháy Năm Vĩnh Trinh thứ 3, nạn hồng thủy ngập trái đất, chỉ còn lại núi Côn Lôn nước không ngập đến, cây cối, người và vạn vật đều chết hết chỉ còn lại Phục Hy và cô em gái còn sống sót trong vỏ quả bầu, trốn lên núi này Họ đi, đi mãi không tìm thấy người nào Khi rùa đen hiện lên, bảo họ phải lấy nhau, hai người đánh chết con rùa và cắt thành từng mảnh, con rùa vẫn không chết và tiếp tục khuyên bảo họ, họ không nghe và
Trang 19tiếp tục đi, đi mãi Lúc bấy giờ, có một cây hiện lên bảo họ phải lấy nhau, họ lấy dao chặt cây đốt thành hai đống lửa, khói của hai đống lửa bay lên trên mặt sông gặp nhau quấn quýt lấy nhau tạo thành hình trôn ốc Từ đó hai người hiểu ngay rằng trời đã cho phép họ lấy nhau, sau một đêm người con gái có mang, sau 10 tháng trên đỉnh núi Côn Lôn cô gái đẻ ra một khối thịt hình mai rùa, khối thịt được phân thành 300 mảnh và trở thành các họ của loài người, có 50 mảnh trở thành các dòng họ chúa đất và thần thánh Vậy, nên các vua chúa, thần thánh đều có cùng một nguồn gốc Nhưng về sau có nhiều đàn ông hơn đàn bà, họ không có quần áo, không có thắt lưng, không biết làm nhà, gieo hạt Họ ăn sống nuốt tươi, không học hành gì, họ giao cấu bừa bãi với cả người thân thuộc Rồi Phục Hy trở lại trái đất, dạy họ biết mặc quần áo,
Lỗ Ban dạy họ làm nhà, Ngọc Hoàng dạy họ dùng lửa, Thần Nông dạy họ cày ruộng làm nương, Bàn Cổ cấp cho họ các giống lúa Bàn Cổ có 2 con trai và
12 con gái, người con trai cả là tổ tiên của người Hán, con trai thứ là tổ tiên của người Kinh, còn 12 người con gái nhà vua không thể gả hết chồng được; Một trong số các cô con gái đó đã được gả lấy chồng chó, đây chính là tổ tiên của người Cao Lan, cho nên phụ nữ mặc áo thân hình thang trên bả vai, tượng trưng cho những vết chó cắn, dưới cánh tay khâu những miếng vải xanh trắng tượng trưng cho những vết chân chó Những người Khạ ở Lào đến Hà Nội dự Đấu xảo, năm 1902 cũng có những bộ trang phục giống như trang phục nữ của người Cao Lan và họ cắt nghĩa nguyên nhân của bộ trang trí bằng những
lí do tương tự
Căn cứ vào nội dung ghi chép trong gia phả của các dòng họ lớn người Cao Lan như Hoàng; Âu; Tiêu; Trần; Lâm;Vi; Phương, tổ tiên của người Cao Lan trước đây ở vùng phía Tây Hương Sơn thuộc tỉnh Quảng Đông Thời Minh do chiến tranh loạn lạc họ rời bỏ quê hương đi đến Quảng Tây, từ Nam Ninh đi vào Việt Nam Họ đến sinh cơ lập nghiệp ở Yên Sơn, Sơn Dương
Trang 20(Tuyên Quang), từ năm Giáp Thân năm 1705 đến năm Ất Dậu 1706 Như vậy, cách đây hơn 300 năm các cụ tổ của các dòng họ nói trên đã đến nơi đây sinh sống Theo sử thi của người Dao quần trắng cho thấy họ có một sự nghiệp chung với người Cao Lan ở một thời kì xa xưa hơn những điều đã nói trên đây Có những nơi khi người Cao Lan đến sinh sống và định cư (xã Kim Phú, huyện Yên Sơn), họ thường gọi mình với cái tên khác là người Sán Chấy – theo âm hán là Sơn Tử (người ở rừng), họ cũng gọi mình là Trại Cao để phân biệt với người Sán Dìu (Trại Đất) đây là cách gọi dựa trên sự phân biệt
về nhà cửa Trại Cao tức là dân tộc Trại ở nhà sàn, còn Trại Đất tức là dân tộc Trại ở nhà đất [ 7, tr 11-12]
Tiếng nói người Cao Lan dùng thường ngày có nhiều đặc điểm giống
với tiếng Tày – Nùng, những thanh niên nam nữ hát “sình ca” ( xướng ca)
với nhau lại bằng tiếng dân tộc Sán Chỉ, cho nên người ta gọi dân tộc Cao Lan là dân tộc có hai ngôn ngữ, ngôn ngữ dùng hằng ngày và ngôn ngữ văn học Có thể từ thời xa xưa người Cao Lan và người Sán Chỉ có chung một nguồn gốc, một dân tộc Vì họ có tên gọi, ca hát giống nhau, sự kiêng kị, phong tục tập quán nói chung đều giống nhau, nhưng tách ra thành hai dân tộc Một bộ phận tách ra chịu ảnh hưởng của tiếng Tày – Nùng mà sau này gọi là Cao Lan, còn một bộ phận khác tách ra chịu ảnh hưởng của tiếng Hán sau này gọi là Sán Chí, điều này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa
Về tiếng nói của người Cao Lan, theo Bonifacy, sở dĩ Cao Lan là người Mán lại nói tiếng Tày là do họ quên tiếng nói của dân tộc mình và vay mượn tiếng của dân tộc láng giềng Chúng ta có thể nói rằng, người Cao Lan ở các huyện trong tỉnh Tuyên Quang nói tiếng Tày, người ta gọi là Cao Lan hay Sán Chay, Sơn Tử đều được, không phân biệt Cao Lan với Sán Chay hay Sơn Tử Dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu những nguồn tư liệu khác nhau, nhìn chung các tác giả thời phong kiến cũng như thời thuộc Pháp đều cho Cao Lan,
Trang 21Sán Chí thuộc nhóm Mán (Dao) Sau này cho tới những năm của thập niên
50, 60 và đầu 70 của thế kỉ trước một số tác giả như Bùi Đình, Nguyễn Chắc Dĩ vẫn dựa vào những ghi chép trên mà cho rằng: Cao Lan cũng là Mán như các nhóm Mán khác, song về sau đã phân chia thành một dân tộc riêng gọi là Cao Lan Đến nay nhiều người đều thống nhất gọi Cao Lan là một dân tộc Dân tộc Cao Lan đến nay đã được khẳng định về nguồn gốc của họ là
ở tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc vào cuối đời Minh, đầu đời nhàThanh (khoảng những năm 1640 – 1660), những thiết chế cai trị khắc nghiệt của các triều đại phong kiến Trung Quốc đã làm cho đời sống của nhân dân hết sức cực khổ, giặc giã liên miên, họ phải đứng lên đấu tranh chống lại triều đình phong kiến Những cuộc nổi dậy khởi nghĩa bị đàn áp và thất bại, một bộ phận dân tình hoảng sợ phải đi di cư, một nhóm sang Việt Nam cư trú
và định cư lâu dài cho tới ngày nay[14, tr 11]
Như vậy, thời điểm tộc người Cao Lan di cư sang Việt Nam là vào khoảng những năm cuối của thế kỉ XVII nửa đầu thế kỉ thứ XVIII cách ngày nay khoảng 300 – 400 năm Họ di cư nhiều nhóm, nhiều đợt bằng nhiều con đường khác nhau và đến nhiều nơi trên đất nước ta như Lạng Sơn, Hải Phòng, Phú Thọ, Thái Nguyên Ở Tuyên Quang theo một số gia phả của một số dòng
họ thì được biết người Cao Lan đến Tuyên Quang đã rất lâu rồi Trong dịp đi khảo sát thực tế ở thôn Giếng Tanh (xã Kim Phú, Yên Sơn, Tuyên Quang), theo một số gia phả của dòng họ Hoàng, người Cao Lan đến sinh sống ở vùng này được khoảng hơn 100 năm Trong đó, họ Tiêu và họ Hoàng đã đến vùng này khai phá đầu tiên Ngày đầu khai phá lập làng vùng này chỉ có khoảng 5 –
6 mái nhà, dần dần đồng bào Cao Lan kéo về quần tụ đông hơn và trở thành
một làng, một bản nhỏ mà theo tiếng Cao Lan gọi là “Bán”[14, tr 11-12 ]
Hiện nay, các nhóm người Cao Lan ở các vùng như Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang), Đoan Hùng, Phù Ninh (Phú Thọ), Yên Bình (Yên Bái),
Trang 22Lập Thạch (Vĩnh Phúc) và một số vùng khác hiện đang sinh sống ổn định Do những biến cố của lịch sử các nhóm người này đã sống định canh, định cư lâu dài Đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày một được nâng cao theo trào lưu chung của các dân tộc khác trong vùng, mỗi khi đến các dịp lễ hội, ngày tết những nhóm người Cao Lan này lại tập trung lại với nhau trong các điệu hát
“sình ca”, các điệu múa, thể hiện rõ bản sắc truyền lâu đời của dân tộc mình
Người Cao Lan có truyền thống ở nhà sàn, nhưng ngôi nhà được xây dựng khá công phu thể hiện cho tín ngưỡng của dân tộc và cũng thuận tiện cho việc sinh hoạt gia đình Trong cách ăn mặc của họ cũng rất đơn giản với
bộ trang phục truyền thống thường ngày của người phụ nữ là chiếc váy chàm,
có cuốn xà cạp đến bắp chân, trên cũng là chiếc áo màu chàm, đầu thường đội một chiếc khăn bằng vải tự dệt màu chàm, người phụ nữ thường dùng chiếc
dây của bao dao để thay cho dây thắt lưng và gọi là “ Sali lịn” Trang phục
nam giới khá đơn giản với màu chàm Nhìn chung, trang phục thường ngày của người Cao Lan được cắt may hết sức đơn giản, màu sắc dản dị, khác hẳn với trang phục của một số dân tộc như Mông, Dao với màu sắc sặc sỡ Đặc biệt, các cô gái Cao Lan còn có bộ trang phục giành riêng cho ngày cưới gọi
là “Pù đăn đinh” Trước kia mỗi cô gái thường có hai bộ áo cưới, một bộ có
thể mặc đến khi rách, còn một bộ được cất giữ cẩn thận để đến khi chết người
ta sẽ mặc cho họ khi khâm liệm Đây là một ý niệm đẹp của người Cao Lan bởi họ quan niệm rằng quãng đời đẹp nhất của người phụ nữ là lúc đi lấy chồng và họ sẽ đẹp mãi như thế cho tới lúc từ giã cõi đời Chiếc áo uyên ương thường có trang trí hoa văn ở lưng áo, hoa văn chủ yếu thường là ngôi sao tám cánh Họ còn có một số trang sức đi kèm như vòng cổ, vòng tay, khuyên tai Ngày nay, để tiện lợi họ ăn vận chủ yếu theo lối Âu phục, trang phục truyền thống ít được sử dụng, nhất là trang phục lễ hội đến nay thì không mấy người còn biết đến nữa, nó đang ngày bị mai một đi[7,tr 12-13 ]
Trang 23Bữa ăn chính của người Cao Lan chủ yếu là cơm với các loại rau, thực phẩm của họ có thể là cá, tôm, thịt thú rừng Trong các dịp tết, họ có làm các loại bánh như bánh dày, bánh vắt vai, các loại xôi và món bún chua…Đồ uống ngày thường của họ là nước đun sôi hoặc nước chè tươi, các dịp lễ tết, hội họp thì họ uống rượu do mình tự nấu từ gạo, ngô, sắn Đàn ông thì thường hút thuốc lá do tự trồng lấy hoặc hút thuốc lào…
Tuy nhiên, do nhịp sống phát triển không ngừng của xã hội, đất nước, điều đáng lo ngại là việc lưu giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc Cao Lan ngày càng bị mai một, với sự xâm lấn của các dạng thức văn hóa hiện đại hoặc của các dân tộc khác lấn át, cách ăn mặc, tiếng nói, lời hát dân ca, điệu vũ dân bị các thế hệ sau dần dần quên lãng
Tiểu kết chương 1: Có thể nói, với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của
tỉnh Tuyên Quang khá thuận lợi cho việc sinh sống và phát triển cho đồng bào các dân tộc ở nơi đây Một vị trí tiếp giáp với nhiều tỉnh, có mức độ phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, xã hội là điều kiện để tiếp thu, giao lưu học hỏi kinh nghiệm cùng phát triển Nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú, dồi dào đảm bảo cho phát triển nhiều ngành kinh tế khác nhau, đây là cơ sở ban đầu để tập trung dân cư, thu hút nguồn nhân lực cho sự phát triển của tỉnh Chính sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên làm cho dân cư tập trung sinh sống ngày cành nhiều, có rất nhiều các dân tộc đã sống và làm ăn nơi đây, đặc biệt là các dân tộc thiểu số Một trong số nhiều dân tộc đến đây định cư trong
đó có đồng bào dân tộc Cao Lan Cho dù họ di cư từ Trung Quốc sang đây từ khá muộn, so với các đồng bào dân tộc thiểu số khác, song khi người Cao Lan xuất hiện và sinh sống tập trung ở nơi đây, họ đã mang theo lịch sử và lối sống riêng của dân tộc mình Họ có một thiết chế chính trị, xã hội riêng và một nền văn hóa truyền thống rất độc đáo, nhưng cũng rất phong phú, đa dạng Điều này được thể hiện qua đời sống sinh hoạt hàng ngày, đan xen và
Trang 24hòa vào cùng lối sống chung của cộng đồng các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, tạo lên bức tranh đời sống hết sức sinh động, pha nhiều màu sắc truyền thống của các dân tộc Trong đó, đặc biệt là của đồng bào dân tộc thiểu số, mà người Cao Lan là một ví dụ cụ thể
Khi cuộc sống ngày càng phát triển thì các giá trị của đời sống luôn được chân trọng và khẳng định, điều chân trọng nhất đối với mỗi một dân tộc, tộc người đó chính là bản sắc truyền thống của dân tộc mình Đối với người Cao Lan ngoài việc tổ chức sinh hoạt cộng đồng thôn, bản, dòng họ, gia đình thì họ cũng có một thiết chế chính trị riêng độc đáo, phù hợp với từng thời kì lịch sử
Trang 25Chương 2
THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI
CAO LAN Ở TUYÊN QUANG
2.1 Thiết chế chính trị
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Cao Lan cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Tuyên Quang đã tồn tại thiết chế chính trị mang nhiều nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo nhưng về bản chất thì vẫn được gọi bằng cái tên chung là chế độ thổ ty Chế độ thổ ty là một trong những chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số của triều đình phong kiến Việt Nam
Người Cao Lan ở Tuyên Quang sống trong các thôn, bản về bản chất là
các công xã nông thôn Cư dân được chia thành các bậc theo quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau:
- Thứ nhất là chức sắc, bao gồm những người từ 50 tuổi trở lên đã thi đỗ tú tài hoặc là khán thủ, thầy cúng, lão hạng
- Thứ hai là dân thường, bao gồm những người từ 16 tuổi trở lên đến 49 tuổi,
có nghĩa vụ gánh vác sưu thuế và các công việc chung nặng nhọc trong làng
- Thứ ba là trẻ em, bao gồm những trẻ nhỏ từ lọt lòng đến khi 16 tuổi, không được tham dự các hoạt động chủ yếu của thôn, bản
Về tổ chức bộ máy chính trị của người Cao Lan, ngay từ khi họ di cư vào Tuyên Quang, cùng với quá trình sinh sống và sản xuất, họ cũng hình thành một thiết chế chính trị riêng Mỗi thôn, bản thường có một người đứng đầu do nhân dân tự nguyện bầu ra đó là Khán thủ (hay chủ làng), để điều hành, đôn đốc mọi công việc của thôn, bản, kể từ việc lao động sản xuất, cho đến sinh hoạt lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng Việc bầu ra người chăm lo cho đời sống của nhân dân hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ vì thế trong mọi hoạt động của làng, xã mọi thành viên đều có trách nhiệm và thực
Trang 26hiện nghiêm túc các quy định do chủ làng và nhân dân trong bản đặt ra, vì ý nguyện của Khán thủ cũng là ý nguyện của mọi thành viên trong cộng đồng [ 7, tr 15]
Qua việc khảo sát ở các xã của huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên
và các xã lân cận Thành phố Tuyên Quang Cho thấy hầu hết các xã đều có Khán thủ Chức vị Khán thủ được đặt ra song song tồn tại với bộ máy chính quyền địa phương do nhà nước chỉ định: Chánh tổng, Xã trưởng, Lý trưởng Điều đó cho thấy tầm quan trọng, cũng như phạm vi ảnh hưởng, chức trách, nhiệm vụ của Khán thủ trong đời sống sinh hoạt chung của đồng bào dân tộc Cao Lan ở miền núi phía Bắc nói chung, cũng như ở Tuyên Quang nói riêng Khán thủ có vai trò là người hòa giải, giữ gìn trật tự an ninh xóm làng,
và trong sinh hoạt chung của cộng đồng, là người đảm nhận liên lạc, cầu nối giữa nhân dân trong thôn, bản với các cấp chính quyền trong mọi công việc,
là người có uy tín, am hiểu, giàu kinh nghiệm trong lao động sản xuất và sinh hoạt, được mọi người kính nể Việc bầu ra Khán thủ là do sự tự nguyện của người dân, không có vai trò can thiệp từ chính quyền, nhà nước Mọi hoạt động của làng xã đều diễn ra với những luật lệ nhất định nắm trong khuôn khổ chung của nhà nước nhưng vẫn mang tính độc lập cao độ Nhân dân bầu
ra Khán thủ để điều hành công việc Nếu Khán thủ làm việc thiêú hiệu quả, dân làng sẽ bầu lại chủ làng mới, dựa trên sự nhất trí chung của các già làng, các gốc họ, trưởng các dòng họ lớn trong làng, Khán thủ không phải là chức
vị cha truyền con nối, vì vậy bất cứ ai có năng lực, được nhân dân kính trọng đều được bầu làm Khán thủ, tuy nhiên những người được lựa chọn cũng đều phải dựa trên những quy định thống nhất do chính nhân dân đặt ra như: phải
là người mang họ gốc, tức là những người thuộc các dòng họ lớn trong làng
Vì vậy, có thể đánh giá tổ chức làng xã cổ truyền của người Cao Lan vẫn còn mang dấu ấn của công xã nông thôn trong những buổi đầu của lịch sử
Trang 27Thời gian Khán thủ điều hành công việc chung của xóm làng, không theo một quy định cụ thể nào cả có thể một người làm liên tục hoặc cũng có thể thay đổi giữa chừng điều này phụ thuộc vào tình hình phát triển của thôn, bản, hay cách thức điều hành, tổ chức đời sống sinh hoạt cho mọi thành viên trong thôn, bản phù hợp hay không Nếu năm đó việc làm ăn của làng gặp may mắn thuận lợi (theo cách nói của người Cao Lan là mọi chuyện đều mát mẻ) thì Khán thủ vẫn tiếp tục được dân làng tín nhiệm bầu lại và năm sau vẫn tiếp tục là chủ làng Ngược lại nếu năm đó dân làng làm ăn khó khăn, thiên tai xảy ra liên miên, mất mùa, hạn hán, , một mặt Khán thủ không có trách nhiệm mời thầy cúng, cùng dân làng chuẩn bị lễ tế thần linh, cầu mưa, cúng ma ,cầu cho trời đất phù hộ tai qua nạn khỏi, thì năm sau dân làng sẽ chọn người khác được tín nhiệm hơn
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy chính quyền thôn, bản của người Cao Lan (thời
kì phong kiến độc lập)
Khán Thủ
c
Nhân dân thôn, bản
Trang 28Bộ máy chính quyền trong các thôn, bản của người Cao Lan được tổ chức khá chặt chẽ, quy củ thống nhất từ trên xuống dưới, bao gồm nhiều chức sắc, mỗi chức sắc lại có nhiệm vụ riêng Giúp việc cho Khán thủ là một hệ thống nhân lực, mỗi người đảm nhận một công việc riêng như: Thổ từ, Thường biện (chuyên lo về lễ nghi tôn giáo), ông Hương (chuyên lo việc ghi chép sổ sách chi tiêu mọi hoạt động chung của xóm làng)[ 38]
Cùng tồn tại với tổ chức bộ máy do làng xã bầu ra là bộ máy chính quyền do nhà nước chỉ định, đứng đầu mỗi làng, xã là các Chánh tổng, Xã trưởng, Lý trưởng
Sơ đồ 2.2 Bộ máy chính quyền ở làng xã thời phong kiến độc lập Hai tổ chức bộ máy hành chính này cùng tồn tại song song, nhưng độc
lập với nhau và thống nhất trong cách thức quản lý, tổ chức sinh hoạt đời sống
của nhân dân trong thôn, bản
Chánh tổng
Xã trưởng
Nhân dân làng, bản
Trang 29Tuy vậy, nhìn chung mọi hoạt động sản xuất, tôn giáo, văn hóa, lễ hội đều nằm dưới sự chỉ đạo của Khán thủ Khán thủ có quyền chỉ định những người giúp việc cho mình, tuy nhiên vẫn phải thông qua ý kiến của các vị
“già làng”, “gốc họ” , về các chức vị: Thổn từ, Thường biện, , đều dựa trên
sự nhất trí của cộng đồng không phải chỉ riêng ý kiến chủ quan của Khán thủ
Có thể nói đây là bộ máy giúp sức đắc lực nhất trong hoạt động lễ nghi tôn giáo của người Cao Lan [7 , tr 28-29]
Thổ từ là người chông nom, quét dọn nơi thờ cúng, đồng thời cũng là
người đảm nhận việc thờ cúng, lo liệu xắp xếp các lễ cúng, bố trí phân công nhân lực cho các lần cúng đình, miếu của làng Thổ từ thường được làng bầu
ra cho đến khi già yếu, trong trường hợp già chết thì dân làng lại họp và bầu
ra người khác thay thế
Giúp việc cho Thổ từ là ông “Thường biện”: là người chuyên giữ các sổ
sách, ghi chép lại toàn bộ những chỉ tiêu có liên quan đến các nghi lễ của thôn, bản Thường biện có vai trò là người đứng ra để kêu gọi mọi thành viên trong làng xã đóng góp các khoản như tiền, nhân công từ các hộ gia đình, để giúp cho các buổi tế lễ chung của cả làng Những người đảm nhận công việc này cũng phải dựa trên nguyên tắc chung do làng, bản quy định, cũng có nơi Thường biện được thay thế hằng năm, và thường là những người trung tuổi, khẻo mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, biết ăn nói [7, tr 29 ]
Trong thiết chế chính trị cổ truyền của người Cao Lan vai trò của thầy cúng đặc biệt quan trọng, nếu Khán Thủ là người giữ vị trí quyết định trong quá trình điều hành chung của cộng đồng làng xã, thì thầy cúng là sợi dây nối
giữa thế giới “Dương châu” (theo quan niệm của người Cao Lan khi họ chết
đi thì đều về thế giới bên kia và gọi đó là “Dương châu”) và những người
đang sống Thầy cúng là hiện thân của đời sống văn hóa tâm linh của dân tộc Cao Lan Trong sinh hoạt hàng ngày, người Cao Lan rất chú trọng và coi thế
Trang 30giới tâm linh luôn tồn tại song song cùng với đời sống thực Vì thế, vai trò của các thầy cúng trong thôn, bản của người Cao Lan là rất lớn [7, tr 28]
Thông thường người am hiểu chữ Hán, hiểu biết rộng, có kinh nghiệm sản xuất làm thầy cúng Mỗi xã của người Cao Lan thường có vài thầy cúng,
họ không thoát ly khỏi sản xuất, không trở thành tầng lớp ăn bám hay bóc lột,
mà do sự am tường về thế giới tâm linh và niềm tin của nhân dân đối với đời sống và với chính những thầy cúng, cho nên họ đại diện cho người dân nói nên tâm tư tình cảm, niềm tin và hy vọng tới các thần linh Họ vừa làm thầy cúng nhưng cũng vừa tham gia sản xuất, những khi làng xã có chuyện gì cần
có thầy về cúng lễ thì những thầy cúng lại được mời đến để chuẩn bị mọi công việc tế lễ Điều quan trọng thầy cúng là người am hiểu các nghi lễ, giúp nhân dân tiếp cận với thế giới tâm linh, xua tan những hoài nghi, để nhân dân tin vào cuộc sống, chăm chỉ làm ăn sản xuất
Người Cao Lan vốn có truyền thống kính trọng những người cao tuổi trong làng, vì vậy để giải quyết những việc trọng đại như: xây đình làng, miếu
thờ, tế lễ cúng “ma ham” hay trong làng, bản tổ chức các cuộc thi, lễ hội
Khán thủ thường mời những Già Làng đến hỏi ý kiến, lấy quyết định chung của đa số, như vậy tính dân chủ được thể hiện rất rõ trong cách thức quản lý, điều hành mọi việc trong làng, bản Trong một số trường hợp, không có sự thống nhất giữa các Già Làng và Khán thủ thì lúc này vai trò của Khán thủ được thể hiện là người quyết định mọi việc [14, tr 45 ]
Già làng là những người cao tuổi, được mọi người kính trọng và cũng
là người am hiểu về phong tục, tập quán, có nhiều kinh nghiệm trong lao động sản xuất Cho nên, trong thôn, bản vai trò của già làng là rất lớn, từ việc như xây dựng chùa, đền, miếu mạo hay đề ra các quy tắc chung cho thôn, bản cho đến việc bảo tồn và lưu truyền các giá trị truyền thống của làng xã thì các già làng luôn là những người khởi xướng, đi đầu
Trang 31Nhìn chung, bộ máy hành chính này tồn tại suốt thời kì phong kiến độc
lập, đến thời kì thực dân Pháp thống trị, để phục vụ cho quá trình khai thác, bóc lột người Pháp đã đề ra các chính sách cai trị đối với từng dân tộc, từng địa phương trên lãnh thổ nước ta Chính vì thế, để điều hòa mối quan hệ vốn rất phức tạp của làng xã ở nước ta, đặc biệt là tập tục riêng của từng tộc người, dân tộc ở miền núi Thực dân Pháp cho rằng, việc tồn tại hai hình thức cai trị do Nhà nước cắt cử và nhân dân tự bầu lên là hoàn toàn hợp
lý, góp phần duy trì một cách hòa bình bộ máy chính quyền thực dân, nhằm xoa dịu những bất đồng trong chính sách cai trị của mình, với vùng dân tộc thiểu số thuộc khu vực miền núi phía Bắc, một mặt chúng tiếp tục duy trì bộ máy quan lại cai trị địa phương thời phong kiến, mặt khác chúng đặt ra chức Chánh Mán để chông coi người Cao Lan và người Mán
Bên cạnh đó, chính quyền thực dân Pháp còn đặt ra chức Chánh tổng, Lý trưởng, Phó Lý, chúng còn tổ chức lính dõng ở các xã, dưới quyền chỉ huy của Xã đoàn Các chức dịch này do một số người Cao Lan nắm giữ, họ đã cùng thực dân Pháp chèn ép, bóc lột dân tộc mình như: Chiếm ruộng đất, bắt phu lao dịch Một số người khác tuy không làm chức dịch cho Pháp nhưng bằng cách này hay cách khác cũng chiếm nhiều ruộng đất, thuê mướn người làm, cho vay lãi và xuất hiện hình thức phát canh, thu tô theo kiểu của một số địa chủ, phú nông đã trở lên giàu có Những đối tượng này người ta thường gọi là các Lãnh Chân Ở Tuyên Quang có ông Lãnh Chân ở xã Đội Cấn thuộc huyện Yên Sơn trước đây (nay là xã Đội Cấn, thuộc Thành phố Tuyên Quang) là người giàu có và quyền thế nhất Lãnh Chân làm quan Lãnh binh cai quản người Cao Lan Lãnh Chân có rất nhiều ruộng đất cho nên hằng tháng
Trang 32phải bắt người dân đến lao dịch, làm thuê Ông lấy ba vợ, có nhiều người
ở, người làm tay sai, có bốn, năm cái nhà[ 39] [ 44]
Khán Thủ
c
Nhân dân thôn, bản Chánh Mán
Trang 33Người Cao Lan sống thành từng làng giống như người Kinh, lý trưởng
là người đứng đầu (giống như người Thổ) và Thông phán là người đại diện
của hội đồng kì mục, đóng thuế theo từng gia đình Chủ làng là “Quản Mán”, dưới họ còn có “Khán đồng” (tương đương với chánh tổng) Khán đồng là
người giữ chức vụ chông coi ruộng đất Người Cao Lan có quan niệm ruộng đất là của “Ông trời” chứ không phải của riêng ai (là của chung), ruộng được chia theo nguyên tắc gia đình, gia đình chia lại cho con cháu Người làm ruộng không được coi là chủ mà chỉ là người có quyền quản lý tài sản làm ra trên mảnh đất đó mà thôi[ 14, tr 47]
Các chức sắc cũ trong thôn, bản vẫn tiếp tục được duy trì, ông Khán giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống cộng đồng của đồng bào Cao Lan, giúp việc cho Khán thủ là Thổ từ và Thường biện, là những chức sắc để duy trì ổn định đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất cùng nghi lễ tôn giáo của họ Đây là bộ máy chính trị thu nhỏ, tồn tại ở trong thôn, bản của người Cao Lan trong suốt thời gian dài của lịch sử dân tộc
Mỗi thôn, bản thường có những quy định riêng trong sinh hoạt cộng đồng và nghi lễ tôn giáo, việc đóng góp nghĩa vụ với thôn, bản là nhiệm vụ bắt buộc của mọi thành viên trong thôn, bản Ngoài ra, thôn, bản còn có những quy định riêng về các mặt của đời sống xã hội như: quy định về hôn nhân, nơi cư trú của các thành viên, nhưng tất cả các quy định này đều dựa trên cơ sở tuân theo các quy tắc chung của Nhà nước, không tách dời giữa luật pháp với quy định riêng Mặc dù, những quy định của người Cao Lan không được ghi lại thành văn bản, hương ước, quy ước một cách có hệ thống như cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền của người dân miền đồng bằng Bắc Bộ, mà chủ yếu truyền lại qua các thế hệ bằng truyền khẩu (truyền miệng) và bảo lưu trong cộng đồng làng xã, nhưng tất cả cộng đồng đều tôn trọng tổ chức chính
Trang 34quyền do mình bầu ra và thực hiện những quy định do tổ chức bộ máy đặt ra một cách nghiêm ngặt, chính xác
Như vậy, ta có thể thấy thiết chế chính trị trước đây của dân tộc Cao Lan cũng có điểm tương đồng với nhiều dân tộc thiểu số khác Ngoài bộ máy chính quyền do Nhà nước đặt ra, cắt cử ở địa phương, thì luôn tồn tại song song cùng với nó là một bộ máy chính quyền của dân tộc thiểu số do chính họ bầu ra nhằm góp phần vào việc duy trì trật tự an ninh của thôn, bản và thực hiện chức năng của chính quyền địa phương trong đời sống cộng đồng là cầu nối giữa mọi người dân với chính quyền Nhà nước Nhìn vào bộ máy chính quyền của người Cao Lan trước đây, thì đây là một bộ máy Nhà nước có tổ chức, thể hiện sự thống nhất từ trên xuống, từ người đứng đầu là Khán thủ cho đến các Già Làng và nhân dân đều nhất quán trên cơ sở tự nguyện và dân chủ Một tổ chức chính quyền địa phương nắm quyền lãnh, chỉ đạo mọi công việc của thôn, bản cả trong lao động sản xuất lẫn trong sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, thông qua tổ chức chính quyền thì mọi chủ trương, đường lối, chính sách của nhà nước được thực hiện
Tuy còn rất đơn giản, không mang tính cưỡng chế cao độ như bộ máy nhà nước ở trung ương, nhưng thực sự nó là một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động đời sống cộng đồng của người Cao Lan
2.2 Thiết chế xã hội
Theo Trần Từ, từ thời cổ đại cho tới ngày nay, con người có hai phương thức tập hợp để hình thành các cộng đồng dân cư: tập hợp theo quan hệ huyết thống và tập hợp theo quan hệ láng giềng Nếu làng của người Kinh là một đơn vị tụ cư được tập hợp lại chủ yếu theo quan hệ láng giềng, thì khu vực cư trú của người Cao Lan được hình thành theo quan hệ huyết thống [25, tr 32] Cũng giống với nhiều dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi phía Bắc, người Cao Lan ở Tuyên Quang thời kì trước năm 1945, có cách thức tổ
Trang 35chức đời sống sinh hoạt riêng Trên cơ sở của lối sống tập trung quần tụ theo từng làng, bản, dòng họ, gia đình cho nên trong việc tìm hiểu về tổ chức xã hội cũng có những nét đặc trưng, độc đáo riêng
Tổ chức cộng đồng thôn, bản: Người Cao Lan vẫn sống thành từng làng,
bản và quan hệ huyết thống giữ vai trò chính trong đời sống của họ, sự gần gũi và thân thiết luôn được thể hiện trong cách thức sinh hoạt hàng ngày của làng, là cơ sở để duy trì sự tồn tại của làng xóm
Người Cao Lan ở Tuyên Quang ngay từ khi mới di cư vào, họ đã có tổ chức xã hội riêng và thường chung sống xen kẽ với các dân tộc khác như: Tày, Nùng, Sán Dìu, Dao, Kinh Địa điểm sinh sống của người Cao Lan lựa chọn phụ thuộc vào đất đai, rừng núi, sông suối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trồng lúa nước Ranh giới giữa các thôn, bản là ranh giới dựa vào tự nhiên có thể là các cánh đồng, rừng, dòng suối, Trên cơ sở ý thức tự giác của từng dân tộc đến trước, đến sau có thể ý thức về ranh giới của thôn, bản mình Trong phạm vi quy định đó những người dân trong thôn, bản có quyền sở hữu toàn bộ những nguồn lợi tự nhiên, có quyền cư trú trên phạm vi nhất định của thôn, bản được bảo hộ Trong phạm vi đó mỗi thôn, bản lại được chia thành các khu vực cư trú khác nhau: Khu vực sản xuất, khu vực thờ cúng, trong đó lấy khu vực cư trú làm trung tâm, từ đó có thể phát triển rộng ra các khu vực khác Vấn đề phân chia ranh giới lãnh thổ và địa vực cư trú của người Cao Lan hoàn toàn dựa theo tinh thần tự nguyện của cộng đồng làng xã, điều này chứng tỏ có sự tồn tại của chế độ công xã nông thôn trong hệ thống chính quyền của thôn, bản
Ranh giới thôn, bản chủ yếu dựa vào những quy định của đình làng Trong mỗi đình có những cuốn sách cổ, ghi chép ranh giới của từng khu vực nhất định và được truyền từ đời này sang đời khác của người Cao Lan tự nguyện tuân theo những quy định ấy, nó tạo thành một hệ thống luật tục nhất
Trang 36quán từ trên xuống dưới Trong mỗi đình làng thường có gia phả cấp sắc cho từng thôn, bản là một trong những việc quan trọng của làng xóm, thể hiện rõ nguyện vọng của quần chúng trong việc phân chia lãnh thổ, điều này liên quan đến quyền lợi kinh tế và tôn giáo của thôn, bản nói chung và của từng thành viên trong bản nói riêng Đình làng lớn sẽ chi phối cho những đình làng nhỏ hơn, lãnh thổ cư trú do đình làng nhỏ quy định chịu sự quản lý của đình làng lớn Ví dụ: Tại đình làng Giếng Tanh xã Kim Phú, huyện Yên sơn vẫn còn lưu giữ gia phả, trong đó ghi chép lại những quy định của làng như việc thờ cúng Thành hoàng làng, thờ các vị thần linh và những người có công trong việc xây dựng làng
Trong thôn, bản vai trò tổ chức cuộc sống sinh hoạt cộng đồng của các già làng luôn được đề cao, từ việc hướng dẫn cách thức làm ăn kinh tế cho đến việc tổ chức các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của thôn, bản, dòng họ và gia đình Từ những sinh hoạt tập thể của làng xã mà các quy định của thôn, bản được ghi chép lại, ghi nhớ truyền từ đời này sang đời khác tạo thành các quy ước, luật tục bắt mọi thành viên trong thôn, bản phải thực hiện
Dân tộc Cao Lan từ xa xưa đã có những quy định không thành văn, để điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, họ hàng, bạn bè, làng xóm với cả bên ngoài Những quy định đó luôn được lưu truyền bằng miệng từ người cao tuổi cho đến các thế hệ con cháu, từ đời này sang đời khác và ai cũng tự giác,
tự nguyện thực hiện[ 14; tr 45]
Ví dụ về hình pháp, trong làng, bản có những người chủ làng gọi là “Quản
Mán” và những người “Khán đồng” là những người chông coi đồng thay Lý
trưởng được xử, những tội nhẹ (do lệ làng quy định) Khi xử tội, những ông già sẽ được mời tới dự, không có luật viết thành văn bản song có một số hình phạt như sau:
-Trộm vặt: Phạt 6 roi và 50 miếng trầu để tạ lễ với các bà già
Trang 37- Trộm một con lợn: Phạt 10 roi và đền một con lợn
- Gặt trộm lúa: Phạt 10 roi, đền bù thiệt hại cho chủ
- Cãi nhau, ẩu đả: Phạt 10 roi, đền bù thiệt hại cho người bị hại
- Vợ chồng cãi nhau: Giao cho bố mẹ họ đánh 10 roi
Con gái phạt 6 quan tiền
- Thông dâm cho phép chồng xẻo tai vợ và bị đuổi đi Kẻ đồng phạm bị phạt
vạ đòn roi và một con lợn Nếu chồng bắt được quả tang kẻ đồng phạm với vợ thì có thể giết chết mà không mắc tội
- Chửa hoang: Phạt 20 roi, cắt tóc bêu rếu khắp bản làng
- Thủ dâm: Phạt 10 roi, bêu rếu khắp bản làng
Những tiền phạt và vật thu được đều chi cho việc ăn vạ của bản, làng tại đình làng Nếu phạm trọng tội lớn như cướp của giết người thì làng sẽ đưa lên cấp trên xử phạt
Nếu vợ, chồng mâu thuẫn dẫn đến đánh, chửi nhau cần phải ly dị thì phải mời ông mối phán xử Ông mối đồng ý mới được bỏ và ngược lại ông mối không đồng ý thì không được bỏ [14, tr 45-47 ]
Những quy định bất thành văn trên đây cho thấy tính cộng đồng của
người Cao Lan rất bền vững Tất cả mọi quy định nhằm duy trì trật tự, an ninh của thôn, bản Tính dân chủ và tự nguyện còn được thể hiện trong quan điểm
tư tưởng của mọi người trong thôn, bản
Người Cao Lan ở Tuyên Quang quy định rất rõ ràng về nơi thờ cúng
và tổ chức các lễ hội Ở khu vực cư trú mỗi cộng đồng thôn, bản đều có những nơi là khu vực chung cho cả cộng đồng, là miếu thờ thần thổ địa Miếu thờ thường được làm trên một bãi đất rộng ở đầu làng, xung quanh trồng nhiều cây và rào lại không cho gia súc vào phá hoại Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên đán (ngày 2-2 âm lịch), người Cao Lan thường tổ chức cúng chung
Trang 38cho cả làng tại các miếu thờ Có thể nói, mọi sinh hoạt tôn giáo của người Cao Lan chủ yếu diễn ra ở miếu làng Có điểm khác biệt là không phải bất cứ
ai cũng có quyền vào trong miếu, vào ngày lễ cúng chung của cả làng, người đàn ông thay mặt gia đình tham gia vào buổi tế lễ Ngoài các buổi sinh hoạt chung của cả năm thì hằng tháng vào các ngày mùng một âm lịch làng cử ông Hương thắp hương cúng lễ trời phật, cầu mọi điều tốt lành, mùa vụ bội thu, dân làng no đủ[ 14, tr 49]
Tất cả công việc chung của làng xã trong dịp đầu năm đều do già làng chỉ bảo, những việc mang tính linh thiêng như: Thờ cúng, cầu màu, tạ ơn, thì
giao cho họ “gốc” trong làng, còn những việc khác thì giao cho những người
chuyên trách như việc cúng lễ giao cho ông hương, hay nhưng người đàn ông khỏe mạnh trong làng Mọi quy tắc hoạt động của làng xã đều dựa trên nguyên tắc chung do làng đặt ra, không có quy tắc riêng cho từng người [ 39]
Đối với dòng họ: Một trong những mối tương quan về thiết chế xã hội
còn phải tìm hiểu tác động của quan hệ đồng huyết trên một bình diện cao hơn, mặc dù đã phân tán nhưng các gia đình lớn vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, có thể xem xét ở mức độ dòng họ Đây là, bộ máy tự quản hữu hiệu và quan trọng nhất trong thiết chế xã hội truyền thống của người Cao Lan, mọi hoạt động đời sống đều bị chi phối bởi những quy định truyền từ đời này qua đời khác (cũng có những thay đổi nhỏ thích nghi với điều kiện hoàn cảnh cụ thể), ăn sâu vào ý thức mỗi thành viên, những người có chung một dòng họ là những người có cùng tổ tiên, thờ cùng một loại ma[ 38]
Người Cao Lan có những tiêu chí để phân biệt họ này với họ khác, mỗi
họ có nghi lễ ma chay, thờ cúng riêng, trong đó chủ yếu phân biệt thông qua việc thờ ma trong họ
Theo truyền thống khu vực cư trú của người Cao Lan được hình thành theo từng dòng họ, mỗi họ riêng có khu vực cư trú riêng, ngay cả những khu
Trang 39vực được xem là là khu vực cư trú lâu đời của người Cao Lan Thường là những dòng họ lớn chiếm tỷ lệ đa phần trong thôn, các dòng họ ở đây thường
cư trú thành từng cụm, dân cư thưa thớt, chỉ gồm khoảng 10 đến 15 nóc nhà Nhưng do dân số tăng nhanh, các gia đình lớn đã tách thành các gia đình nhỏ cho nên hầu hết các thôn, bản có người Cao Lan sinh sống đều cư trú xen kẽ giữa các dòng họ[ 36] [ 38] [ 39]
Vấn đề dòng họ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền Thông thường những dòng họ lớn (đó là những dòng
họ có lịch sử cư trú lâu dài, thường là dân bản địa) có những đặc quyền riêng, những vị trí then chốt trong bộ máy chính quyền thôn, bản, các chức sắc, Khán thủ, Xã đương, Thầy cúng Người Cao Lan ở Tuyên Quang có nhiều
họ khác nhau như: Hoàng, Nịnh, Âu, Lý, Trương, Tiêu, Lục, , mỗi họ đều có
Hoàng, Tiêu và Trần là những họ lớn nhất Mỗi một dòng họ lại thờ một “ Ma Ham” riêng để bảo vệ cho dòng họ mình Họ nào cũng có những kiêng cữ nhất định trong đời sống, họ Hoàng kiêng ăn thịt chó và thờ cúng gà trống thiến, họ Trần kiêng ăn thịt gà và kiêng cho chó lên nhà…Đây là các họ lập ra làng Giếng Tanh và có phong tục thờ Thành hoàng làng[7; tr 15]
Trong một họ thì người con trai ngành trưởng được họ tôn trọng, trưởng họ không nhất thiết là con trai cả của ngành trưởng mà quan trọng nhất
là trưởng họ phải biết đọc chữ Nôm, chữ Nho, và biết cúng tế, thờ tự Trưởng
họ là người quyết định vai trò cũng như nghĩa vụ của mỗi thành viên trong dòng họ Đối với dân tộc Cao Lan, người đàn ông thường có ba mối quan hệ dòng họ: Quan hệ với họ nội, quan hệ với họ ngoại, quan hệ với họ vợ Tùy vào từng hoành cảnh mà các mối quan hệ trên có vị trí khác nhau, nếu gia đình người đàn ông có điều kiện cưới vợ về cùng chung sống với gia đình nhà chồng thì quan hệ với họ nội rất đậm Còn nếu gia đình nhà vợ không có con
Trang 40trai, nhà trai lại không có điều kiện chi trả cho hôn lễ thì quan hệ họ nhà vợ là chủ yếu (người ta gọi là tục ở rể), người đàn ông muốn vào gia đình nhà vợ ở
rể cần có lễ cấp sắc do họ nhà vợ làm Sau lễ cấp sắc thì người chồng mới chính thức được họ hàng nhà vợ công nhận và có quyền sinh sống và lao động trên mảnh đất đó[ 43]
Ban đầu trong thôn, bản có bao nhiêu nhà thì con cháu sinh ra đều mang chung một họ và một số dòng họ của người di cư đến Họ sống hòa hợp, cùng làm ăn trên một vùng đất chung, cho dù lấy người khác họ nhưng con cái họ sinh ra đều phải mang họ gốc Điều này lý giải vì sao họ gốc lại chiếm tỷ lệ lớn trong phần dân số người Cao Lan ở Tuyên Quang, cũng như đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động cộng đồng của thôn, bản, đặc biệt là các lễ hội
Dòng họ gốc của làng thường xây một miếu thờ riêng của họ mình, tuy nhiên người trong làng vẫn coi đó là miếu thờ chung của cả làng, điều này cũng có những nét tương đồng với đình thờ thành hoàng làng của người Kinh
ở đồng bằng Bắc Bộ Trong nơi thờ tự này thờ những người có công trong việc xây dựng và khai hoang làng xã Họ gốc thờ cúng ông tổ của dòng họ và coi đó là vị thần mang lại ấm no cho thôn, bản Vì thế, hằng năm để tưởng nhớ công đức người dân thường tổ chức lễ cúng tế và hội làng hằng năm
Đối với gia đình: Người Cao Lan họ sống quần tụ với nhau thành một
làng, một khu vực địa lý nhất định hiếm có một gia đình nào sống lẻ và xen
kẽ với các dân tộc khác Mỗi xóm làng như vậy thường là anh em họ hàng, thông gia với nhau Trong gia đình thì người chồng người con trai có uy quyền hơn cả, người vợ là người khoán xuyến mọi việc trong gia đình, những việc lớn như cưới hỏi, ma chay, làm nhà, , thường là người đàn ông bàn bạc
và đưa ra quyết định Giống như trong chế độ phụ quyền người đàn ông là