1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô

90 761 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng quan tâm tới báo cáo tài chính không chỉ là các nhà quản trị doanhnghiệp mà còn có các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, cácnhà cho vay, các cơ quan quản lý

Trang 1

Nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lậpcủa học viên và chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhkhoa học nào.

Trang 2

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu, hình, sơ đồ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 4

1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính 4

1.1.1 Báo cáo tài chính 4

1.1.2 Phân tích báo cáo tài chính 8

1.2 Nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp 10

1.2.1 Nội dung phân tích báo cáo tài chính 10

1.2.2 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính 34

1.3 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ .42

2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Kinh Đô 42

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 42

2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 44

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phân cấp quản lý tài chính 46

2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán 48

2.1.5 Vai trò và xu thế phát triển 51

2.2 Khái quát nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 53

2.2.1 Về nội dung phân tích 53

2.2.2 Về phương pháp phân tích 54

2.3 Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 54

2.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 54

Trang 3

2.3.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh 63

2.4 Đánh giá thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 65

2.4.1 Về nội dung phân tích 65

2.4.2 Về phương pháp phân tích 66

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KINH ĐÔ 68

3.1 Quan điểm, phương hướng hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 68

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 68

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 69

3.2 Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 70

3.2.1 Hoàn thiện phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 71

3.2.2 Hoàn thiện nội dung phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 73

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 79

3.3.1 Về phía Nhà nước 80

3.3.2 Về phía Công ty 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC

Trang 4

TSNH : Tài sản ngắn hạn

TSCĐ : Tài sản cố định

BCĐKT : Bảng cân đối kế toán

ROS : Suất sinh lời của doanh thuROA : Suất sinh lời của tài sản

ROE : Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

Trang 5

Bảng 2.1: Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn 55

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính 56

Bảng 2.3: Đánh giá khái quát khả năng thanh toán năm 2009 56

Bảng 2.4: Phân tích các khoản phải thu năm 2009 57

Bảng 2.5: Phân tích các khoản nợ phải trả năm 2009 58

Bảng 2.6: Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 61

Bảng 2.7: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2009 63

Bảng 2.8: Phân tích chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời 64

Bảng 2.9: Phân tích lãi cơ bản trên cổ phiếu 65

Bảng 3.1: Các nhân tố tác động đến ROE của Công ty Cổ phần Kinh Đô 71

Bảng 3.2: Bảng phân tích ROE theo phương pháp loại trừ 72

Bảng 3.3: Bảng phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 73

Bảng 3.4: Phân tích các chỉ tiêu về cân bằng tài chính năm 2009 74

Bảng 3.5: Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ 75

Bảng 3.6: Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản 76

Bảng 3.7: Phân tích khả năng thanh toán năm 2009 77

Bảng 3.8: Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính qua cơ cấu nợ 77

Bảng 3.9: Dự báo doanh thu thuần năm 2011 của Công ty Kinh Đô 78

Bảng 3.10: Báo cáo kết quả kinh doanh dự báo năm 2011 79

HÌNH Hình 2.1 Đồ thị tăng trưởng doanh thu qua các năm của công ty .60

Hình 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 60

SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo phương pháp Dupont 39

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Kinh Đô 47

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Kinh Đô 49

Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung của Công ty Cổ phần Kinh Đô 50

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Báo cáo tài chính là những báo cáo phản ánh đầy đủ và chính xác nhất vềtình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua việc phản ánh tình hình tài sản,nguồn vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽđánh giá đầy đủ về thực trạng, an ninh tài chính và khả năng sinh lợi của doanhnghiệp từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh kịp thời, đúng đắn Hiện nay thịtrường chứng khoán phát triển mạnh với hàng trăm công ty cổ phần niêm yết trênthị trường chứng khoán thì báo cáo tài chính còn là nguồn cung cấp thông tin thiếtthực và hữu ích cho nhà tín dụng, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà đầu tư quantâm với cổ phiếu của doanh nghiệp Do đó việc phân tích báo cáo tài chính của cáccông ty cổ phần trở thành một nhu cầu cấp thiết không chỉ cho các nhà quản lý màcòn cho các nhà đầu tư, nhà tín dụng, cơ quan quản lý nhà nước

Công ty Cổ phần Kinh Đô là doanh nghiệp 100% vốn trong nước, trải qua 17năm xây dựng và phát triển đã trở thành một thương hiệu có tiếng trong lĩnh vựckinh doanh thực phẩm Trong định hướng phát triển trong tương lai, Công ty Cổphần Kinh Đô sẽ mở rộng đầu tư kinh doanh sang lĩnh vực địa ốc, tài chính và bán

lẻ nhằm hướng tới một tập đoàn hoạt động đa ngành, đảm bảo sự phát triển ổn định

và vững chắc trong tương lai

Với vị thế đó của Công ty Cổ phần Kinh Đô trên thị trường, kết quả kinhdoanh của công ty trong những năm qua trở thành mối quan tâm của các nhà đầu tư,

cổ đông của công ty Mã chứng khoán KDC của công ty hứa hẹn là một kênh đầu tưtốt Do đó việc phân tích báo cáo tài chính của công ty để đánh giá chính xác đầy đủ

về tình hình tài chính của công ty là một nhu cầu cấp thiết

Nhận thức được nhu cầu đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô” làm đề

tài luận văn thạc sỹ của mình

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Làm rõ một số vấn đề lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong doanhnghiệp sản xuất

Thông qua việc đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính của Công ty

Cổ phần Kinh Đô, luận văn đề xuất các phương hướng có tính nguyên tắc và đưa racác giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổphần Kinh Đô

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cơ sở lý luận và thực trạng về phân tích hệthống báo cáo tài chính

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Giới hạn tại Công ty Cổ phần Kinh Đô

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở nền tảng đểnghiên cứu Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp toán học như phươngpháp so sánh, phương pháp đồ thị, phương pháp loại trừ, kết hợp với lý luận cơ bảncủa khoa học chuyên ngành kế toán tài chính để nghiên cứu đề tài này

5 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá lý luận về nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài

chính trong các doanh nghiệp

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báocáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô

- Đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung vàphương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô nói riêng vàcác doanh nghiệp khác nói chung nhằm thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tincủa doanh nghiệp trong điều kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nền kinh tếnước ta ngày càng hội nhập với thế giới

6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn đượcchia làm ba chương:

Trang 8

Chương 1: Cơ sở lý luận về nội dung và phương pháp phân tích báo

cáo tài chính trong các doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài

chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô.

Chương 3: Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài

chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô.

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính

1.1.1 Báo cáo tài chính

Ngày nay cùng với sự phát triển của các ngành nghề, dịch vụ, kế toán trởthành một công cụ đắc lực nhất cho các nhà quản trị doanh nghiệp Kết quả cuốicùng của quá trình kế toán số liệu là hệ thống báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là

hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánhcác thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị Đây là báo cáo phản ánh mộtcách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định

Đối tượng quan tâm tới báo cáo tài chính không chỉ là các nhà quản trị doanhnghiệp mà còn có các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, cácnhà cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơquan kế hoạch đầu tư…

Hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp bao gồm 4 báocáo bắt buộc là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báocáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính

- Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo phản ánh tình hình tài sản của doanh nghiệptheo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm lập báocáo Nội dung của Bảng cân đối kế toán thể hiện qua hệ thống chỉ tiêu phản ánh tìnhhình tài sản và nguồn hình thành tài sản Các chỉ tiêu được sắp xếp thành từng loại,mục, được mã hoá để thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu và xử lý các thông tintrên phần mềm kế toán

Hệ thống các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán được phân thành 2 phần: Tàisản; và Nguồn vốn theo nguyên tắc tổng tài sản phải bằng tổng nguồn vốn

Trang 10

Phần “Tài sản” phản ánh giá trị ghi sổ của toàn bộ tài sản hiện có củadoanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo như: tiền mặt, đầu tư tài chính, các loạitài sản cố định, hàng tồn kho trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trìnhkinh doanh và được sắp xếp theo trật tự tính thanh khoản giảm dần theo yêu cầuquản lý thống nhất.

Phần “Nguồn vốn” phản ánh các nguồn tài trợ cho các loại tài sản của doanhnghiệp đến thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theonguồn hình thành tài sản của đơn vị từ bắt đầu từ nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đếnnguồn vốn của bản thân doanh nghiệp-vốn chủ sở hữu

Ngoài cột chỉ tiêu còn có các cột phản ánh mã số, cột thuyết minh, cột kỳphân tích và cột kỳ trước Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, bảng cân đối kế toáncòn các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đây là báo cáo tài chính phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí vàlợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ phân tích trong các hoạt động bánhàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và hoạt động khác Thông qua báocáo kết quả hoạt động kinh doanh, người đọc sẽ đánh giá sơ bộ tình hình hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian qua là hiệu quả hay thua lỗ

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm bao gồm các cột phản ánh cácchỉ tiêu của bảng, mã số của các chỉ tiêu trong bảng, cột thuyết minh, trị số của cácchỉ tiêu trong kỳ báo cáo và giá trị của các chỉ tiêu mà doanh nghiệp đạt được trong

kỳ trước Việc trình bày số liệu của cả kỳ này và kỳ trước giúp người đọc dễ dàng

so sánh và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh qua các thời kỳ

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Nếu bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhgiúp người đọc đánh giá sơ bộ về tình hình tài sản, nguồn vốn và những kết quảkinh doanh mà doanh nghiệp đã đạt được trong thời gian qua thì báo cáo lưu chuyểntiền tệ sẽ giúp người đọc thấy được các “mạch máu” để nuôi sống toàn bộ doanhnghiệp Đây là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng

Trang 11

lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Báo cáo là một công cụgiúp nhà quản lý kiểm soát dòng tiền, đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền củacác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng bao gồm hoạt độngkinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính nên luồng tiền trong doanhnghiệp được chia thành lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu

tư và hoạt động tài chính để phản ánh đầy đủ và chính xác các hoạt động đó

Ngoài cột chỉ tiêu, báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gồm cột mã số, cột thuyếtminh, cột kỳ phân tích và kỳ trước

- Thuyết minh báo cáo tài chính

Mặc dù bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưuchuyển tiền tệ đã phản ánh đầy đủ và chi tiết về thực trạng tài chính của doanhnghiệp nhưng để người đọc có cái nhìn toàn diện và đầy đủ nhất về doanh nghiệp,Thuyết minh báo cáo tài chính được lập để cung cấp những thông tin còn thiếu haythông tin chưa được giải thích rõ ràng ở các báo cáo trên Thuyết minh báo cáo tàichính là báo cáo nhằm giải thích bằng lời, số liệu một số chỉ tiêu kinh tế - tài chínhchưa được thể hiện trong các báo cáo tài chính ở trên đồng thời cung cấp thêmnhững thông tin bổ sung cần thiết giúp cho việc đánh giá kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp được đầy đủ và chính xác

Thuyết minh báo cáo tài chính gồm những nội dung chủ yếu sau: đặc điểmhoạt động của doanh nghiệp, Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng, Chuẩn mực và chế

độ kế toán áp dụng, Chính sách kế toán áp dụng, Thông tin bổ sung cho các khoảnmục trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Thông tin bổ sung chocác khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán; Thông tin bổ sung một số khoảnmục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Một số thông tin khác liên quan

Hiện nay hệ thống báo cáo tài chính trở thành một kênh thông tin quan trọngđối với nhà quản lý doanh nghiệp nói riêng và những đối tượng quan tâm tới hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp nói chung Đó là do những vai trò quan trọngsau của báo cáo tài chính :

Trang 12

Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình kinh tế tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở đónhà quản trị phân tích được thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ, đánh giátình hình sử dụng vốn và khả năng huy động các nguồn vốn vào quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, cơ quan quản lý đánh giá tình hình chấp hành và thựchiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và chính sách kinh tế tài chính của doanh nghiệp.

Báo cáo tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, pháthiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế và những rủi ro doanh nghiệp có thể gặpphải trong tương tai Từ đó nhà quản trị dự đoán được tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh cũng như xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới Đó

là căn cứ quan trọng giúp cho việc đưa ra những quyết định cho quản lý, điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp, hoặc là nhữngquyết định của các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cổ đông tương lai của doanh nghiệp

Tuy nhiên trong hệ thống báo cáo tài chính, mỗi loại báo cáo lại có vai tròcung cấp thông tin khác nhau đối với việc phân tích tình hình tài chính doanhnghiệp Cụ thể:

- Bảng cân đối kế toán: Cung cấp những thông tin về tình hình tài sản, nguồnhình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời kỳ nhất định Đây là cơ sở cho việcphân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng huy động nguồnvốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tới, đánhgiá tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

- Báo cáo kết quả kinh doanh: Cung cấp những thông tin về kết quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, cung cấp những thông tin về tình hìnhthực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp Việc phân tíchbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giúp nhà phân tích đánh giá khả năng sinhlợi của doanh nghiệp, đánh giá tình hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trongdoanh nghiệp

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Cung cấp những thông tin về biến động tàichính của doanh nghiệp, giúp cho việc phân tích các hoạt động đầu tư, tài chính,

Trang 13

kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó người đọc đánh giá khả năng tạo ra nguồntiền và khoản tương đương tiền trong tương lai cũng như việc sử dụng các nguồntiền này cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư chính của doanh nghiệp.

- Thuyết minh báo cáo tài chính: Cung cấp những thông tin chi tiết hơn vềtình hình sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp choviệc phân tích một các cụ thể một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính mà cácbáo cáo tài chính khác không thể trình bày được Nó giúp người đọc có cái nhìntoàn diện và đầy đủ về tình hình tài chính của doanh nghiệp

Tóm lại hệ thống báo cáo tài chính chính là “bức tranh toàn cảnh” về tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Nó cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữuích giúp cho việc phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp, đồng thời phảnánh khả năng huy động mọi nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp trong thời gian tới, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và đưa ra những dựbáo về hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai

1.1.2 Phân tích báo cáo tài chính

Nếu báo cáo tài chính là những “nguyên liệu” thì việc phân tích báo cáo tàichính là quá trình “ chế biến” để cung cấp các “món ăn” cho nhà quản lý và nhữngđối tượng quan tâm Ngày nay, phân tích báo cáo tài chính là nội dung không thểthiếu trong hoạt động tài chính, kế toán của mỗi doanh nghiệp

Phân tích báo cáo tài chính là quá trình sử dụng các phương pháp phân tích

để tính toán các chỉ tiêu phân tích hay phân loại các chỉ tiêu trên báo cáo tài chínhtheo nhiều hướng khác nhau để cung cấp các thông tin hữu ích, quan trọng chongười đọc Thông qua quá trình phân tích, người đọc sẽ đánh giá được thực trạng tàichính của doanh nghiệp là tốt hay xấu, doanh nghiệp làm ăn có lãi hay không đồngthời dự báo được nhu cầu tài chính và những rủi ro mà doanh nghiệp có thể trongtương lai Từ những thông tin công tác phân tích mang lại, nhà quản trị doanhnghiệp và những đối tượng quan tâm sẽ có những quyết định phù hợp để đảm bảolợi ích của mình

Trang 14

Phân tích báo cáo tài chính là một công việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọngtrong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thândoanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan đến doanhnghiệp Để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được toàn cảnh “bức tranhtài chính” của doanh nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của người sử dụngthông tin, việc phân tích báo cáo tài chính phải thể hiện được những nội dung sau:

- Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp cho các chủ doanh nghiệp, cácnhà đầu tư, các nhà cho vay và những đối tượng quan tâm khác những thông tin đầy

đủ, kịp thời và trung thực về tình hình công nợ, khả năng thu hồi các khoản phảithu, khả năng thanh toán các khoản phải trả

- Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốnchủ sở hữu, nợ phải trả, kết quả và hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, các sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợcủa doanh nghiệp

- Việc phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ,chính xác và trung thực nhất cho các đối tượng quan tâm

Hiện nay đối tượng quan tâm tới việc phân tích báo cáo tài chính không chỉgiới hạn ở các nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, nhà tín dụng

mà còn mở rộng tới các nhà đầu tư, đối thủ cạnh tranh Mỗi đối tượng trên sử dụngthông tin phân tích cho các mục đích khác nhau Cụ thể:

- Các chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng thông tin phântích để đánh giá khả năng sinh lợi và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp không có khả năng trả nợ và tạo ra lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thìdoanh nghiệp đang dần đi vào chỗ phá sản, hoạt động kinh doanh thua lỗ Do đó cácnhà quản trị luôn đặc biệt quan tâm tới hai nội dung phân tích này Ngoài ra họ cũngcần thông tin phân tích về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải để đưa ranhững quyết sách kịp thời giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn, thách thức

- Các cổ đông quan tâm nhiều đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Bởi

họ đầu tư vốn vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận Doanh nghiệp làm ăn có lãi,

Trang 15

lợi nhuận thu được nhiều đồng nghĩa với việc đồng vốn đầu tư của họ đem lại hiệuquả cao Và ngược lại khi khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thấp hoặc thua lỗ,hoạt động đầu tư của họ cũng thất bại Do đó tình trạng tài chính và kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả của cổ phiếu do doanhnghiệp cổ phần đã phát hành Các cổ đông thường xuyên phân tích tình hình tàichính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định nắm giữ các cổ phiếucủa doanh nghiệp hay không.

- Các chủ ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng lại quan tâm đến khả năngthanh toán và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Bởi nếu doanh nghiệp mấtkhả năng thanh toán thì nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tài sản đảm bảo khả năng thu hồi

nợ của họ Đây cũng là những cơ sở quan trọng để ngân hàng và các nhà tín dụngquyết định cho doanh nghiệp vay vốn hay không Ngoài ra ngân hàng và nhà tíndụng cũng quan tâm tới khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

- Ngoài chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư và ngân hàng còn nhiều đối tượngkhác quan tâm tới việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp Đó là cơ quanthuế, tổng cục thống kê, sở kế hoạch đầu tư, người lao động, đối thủ cạnh tranh…Các đối tượng này quan tâm tới khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của doanhnghiệp

1.2 Nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp

1.2.1 Nội dung phân tích báo cáo tài chính

1.2.1.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Trước khi đi vào các nội dung cụ thể của việc phân tích báo cáo tài chính,các nhà phân tích thường đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.Việc đánh giá khái quát này sẽ cung cấp cho nhà phân tích những thông tin sơ bộ vềthực trạng tài chính của doanh nghiệp, giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện vềtình hình tài chính của doanh nghiệp mà vẫn tiết kiệm thời gian, công sức

Để việc đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả,công tác đánh giá phải đảm bảo yêu cầu chính xác và toàn diện Có đánh giá chính

Trang 16

xác tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đưa ra được các quyết định quản trịhiệu quả phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, tránh những quyết địnhsai lầm gây tổn thất cho doanh nghiệp Để đánh giá chính xác tình hình tài chínhviệc đánh giá phải được tiến hành toàn diện Bởi nếu đánh giá trên một vài mặtphản ánh tình hình tài chính đã đưa ra kết luận thì kết luận đó khó chính xác Khiđáp ứng được hai yêu cầu đó, việc đánh giá khái quát mới thực sự hữu ích cho việcquản trị doanh nghiệp.

Theo các nhà khoa học của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ ChíMinh thì việc đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp gồm phântích khái quát bảng cân đối kế toán, phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh, phân tích khái quát báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tính các tỷ sốtài chính Phương pháp phân tích chủ yếu là phương pháp so sánh [8,tr.161] Nộidung phân tích này sẽ giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về tình hình tàichính của doanh nghiệp Nhưng nội dung phân tích đã đi sâu vào phân tích chi tiếttình hình tài chính của doanh nghiệp, không còn dừng lại ở đánh giá khái quát tìnhhình tài chính nữa

Nội dung đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp các nhàkhoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân tập trung vào việc đánh giá tìnhhình huy động vốn và đánh giá mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp Để đánhgiá tình hình huy động vốn, các nhà khoa học này sử dụng chỉ tiêu “Tổng số nguồnvốn”, “Tổng số nợ phải trả”, “Tổng số vốn chủ sở hữu” Phương pháp phân tíchđược sử dụng là phương pháp so sánh Bằng việc so sánh sự biến động của các chỉtiêu phân tích về số tuyệt đối và số tương đối, nhà phân tích sẽ đánh giá được tìnhhình huy động vốn theo quy mô và sự biến động của cơ cấu vốn theo thời gian.[15,tr169-172]

Ngoài việc xem xét cơ cấu vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để đánh giá mức độđộc lập và tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, các tác giả của Trường Đại họcKinh tế quốc dân còn đưa ra các chỉ tiêu khác để đánh giá mức độ độc lập tài chínhcủa doanh nghiệp như “Hệ số tự tài trợ”, “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn”, “Hệ số tự

Trang 17

tài trợ tài sản cố định” Trên cơ sở so sánh các hệ số giữa kỳ gốc và kỳ phân tích,nhà phân tích sẽ đánh giá chính xác về mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp

và vị trí của doanh nghiệp so với bình quân ngành là cao hay thấp [15,tr.173-175].Nội dung đánh giá khái quát của các nhà khoa học Trường Đại học Kinh tế quốcdân chưa đáp ứng được yêu cầu toàn diện khi đánh giá Người đọc chỉ biết được khảnăng huy động vốn và mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp mà chưa thấyđược khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Do đó người đọcchưa có cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp

Theo chúng tôi để đáp ứng được hai yêu cầu chính xác và toàn diện, việcđánh giá khái tình hình tài chính cần gồm những nội dung phân tích: Đánh giá kháiquát tình hình huy động vốn, đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính, đánh giákhái quát khả năng thanh toán, đánh giá khái quát khả năng sinh lợi

* Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn:

Để đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của doanh nghiệp, các nhàphân tích nên sử dụng chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn”, “ Tổng nợ phải trả”, “Tổng sốvốn chủ sở hữu” Thông qua việc so sánh sự biến động của nguồn vốn theo thờigian, các nhà phân tích sẽ đánh giá được khả năng tạo lập và huy động vốn củadoanh nghiệp, tính hợp lý trong cơ cấu vốn

* Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính:

Mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát thôngqua các chỉ tiêu sau:

Hệ số tài trợ:

“Hệ số tài trợ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính vàmức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp, được xác định theo công thức[15]:

(1.1)Chỉ tiêu này cho biết nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần trong tổng sốnguồn vốn của doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ vốn chủ sở hữuchiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Các tài sản của doanhnghiệp được tài trợ chủ yếu bằng vốn chủ sở hữu do đó khả năng tự bảo đảm về mặt

Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu

Tổng số nguồn vốn

Trang 18

tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng vàngược lại Khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, nguồn hình thành tài sản của doanhnghiệp chủ yếu từ vốn vay, doanh nghiệp luôn phải chịu áp lực thanh toán cáckhoản nợ nên khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp,mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm.

Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn:

“Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sảndài hạn của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu , được xác định theo công thức [15]:

Hệ số tự tài trợ

tài sản dài hạn =

Vốn chủ sở hữu

(1.2)Tài sản dài hạn

Hệ số này cho biết trong tổng số tài sản dài hạn của doanh nghiệp, có mấyphần được hình thành từ vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, số vốn chủ sởhữu của doanh nghiệp có đủ và thừa để trang trải cho tài sản dài hạn Khi đó doanhnghiệp ít gặp khó khăn khi thanh toán nợ đáo hạn Trị số của chỉ tiêu này càng lớn

1, chứng tỏ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng có thừa khả năng tài trợ tài sảndài hạn Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao thì không có lợi cho doanh nghiệp vì khi

đó hiệu quả kinh doanh không cao do vốn đầu tư đã được tập trung chủ yếu vào tàisản dài hạn, ít được sử dụng trong kinh doanh để quay vòng sinh lợi nhuận chodoanh nghiệp Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” <1,vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải

sử dụng các nguồn vốn khác ( kể cả vốn chiếm dụng dài hạn) thì khi các khoản nợđáo hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán

Hệ số tự tài trợ TSCĐ:

“Hệ số tự tài trợ TSCĐ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản cố định của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu, được xác định theo công thức [15]:

Tài sản cố định đã và đang đầu tư

Hệ số này cho biết trong tổng số tài sản cố định của doanh nghiệp, có mấyphần được mua bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, số vốn chủ

sở hữu đầu tư cho tài sản cố định càng nhiều, tính tự chủ trong các quyết định kinh

Trang 19

doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.

* Đánh giá khái quát khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán khái quát của doanh nghiệp được đánh giá toàn diện ởkhả năng thanh toán tổng quát, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tứcthời, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nợ dài hạn Khi đánhgiá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhà phân tích thường đánh giá

ở những nội dung sau:

Đánh giá khả năng thanh toán tổng quát:

Khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉ tiêu

“Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” và được xác định theo công thức [2]:

Hệ số khả năng thanh

toán tổng quát =

Tổng tài sản

(1.4)Tổng nợ phải trả

Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảotrang trải được các khoản nợ phải trả hay không Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thìkhả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Khi trị số này ≥ 1 thìdoanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán Trong trường hợp trị số của chỉtiêu = 1 tức tổng tài sản = tổng nợ phải trả thì với số tài sản hiện có doanh nghiệpvẫn đủ khả năng thanh toán toàn bộ nợ phải trả Thông thường trị số của chỉ tiêunày ≥ 2 thì doanh nghiệp mới có khả năng thanh toán nợ đáo hạn Bởi trong thực tế,mặc dù lượng tài sản có thể đủ và thừa để trả nợ nhưng nếu không đủ tiền và tươngđương tiền, hiếm khi các doanh nghiệp bán tài sản của mình để trả nợ Ngược lại trị

số của chỉ tiêu này <1 doanh nghiệp không đảm bảo được khả năng thanh toán cáckhoản nợ Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khảnăng thanh toán

Đánh giá khả năng thanh toán nhanh

Để đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, các nhà phân tíchnên sử dụng chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” và được xác định theocông thức [2]:

Trang 20

Hệ số khả năng thanh

toán nhanh =

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

(1.5)Tổng số nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết với giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có

đủ khả năng thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn hay không Trị số của chỉ tiêu này cànglớn thì khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Trên lýthuyết, khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” 1doanh nghiệpthừa khả năng thanh toán Nhưng thực tế khi trị số của chỉ tiêu này , doanh nghiệpmới hoàn toàn đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Khi trị số của chỉ tiêu này

<1, doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán

Đánh giá khả năng thanh toán tức thời

Để xem xét doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn haykhông, các nhà phân tích tiếp tục xem xét chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tứcthời” Chỉ tiêu này được xác định theo công thức [2]:

Hệ số khả năng thanh

toán tức thời =

Tiền và các khoản tương đương tiền

(1.6)Tổng số nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp

có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn đến hạn không Khi trị số của chỉtiêu này ≥1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tức thời và ngược lại.Khi trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không đảm bảo đượckhả năng thanh toán nợ đến hạn

Đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:

Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉtiêu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” và được xác định theo công thức [2]:

Hệ số khả năng thanh

toán nợ ngắn hạn =

Tài sản ngắn hạn

(1.7)Tổng số nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết với tài sản ngắn hạn hiện có, doanh nghiệp có đủ khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn hay không Về lý thuyết nếu trị số của chỉ tiêu này 

1, doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình

Trang 21

hình tài chính là bình thường Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1,khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thấp Khi trị số của chỉ tiêu =1tức tài sản ngắn hạn = tổng nợ ngắn hạn, doanh nghiệp vẫn đủ khả năng thanh toán.Tuy nhiên nếu tình trạng không cấp bách, không chịu áp lực phá sản, không doanhnghiệp nào lại bán toàn bộ tài sản để thanh toán nợ ngắn hạn Do đó khi trị số của chỉtiêu này doanh nghiệp mới hoàn toàn đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.

Đánh giá khả năng thanh toán nợ dài hạn

Bên cạnh việc đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp,các nhà phân tích cũng quan tâm tới khả năng thanh toán nợ dài hạn của doanhnghiệp nên họ sử dụng chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán dài hạn để đánh giá Hệ

số này cho biết với số tài sản dài hạn hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trangtrải nợ dài hạn hay không, và được xác định theo công thức [2]:

Hệ số khả năng thanh

toán nợ dài hạn =

Tài sản dài hạn

(1.8)Tổng số nợ dài hạn

Trị số của chỉ tiêu càng cao, khả năng thanh toán nợ dài hạn càng lớn vàngược lại Tuy nhiên doanh nghiệp cũng cần lưu ý trị số của chỉ tiêu này Bởi trị sốcủa chỉ tiêu này càng lớn, khi đó một phần tài sản dài hạn được hình thành từ nợngắn hạn, doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

Do đó để đảm bảo khả năng thanh toán nợ dài mà không ảnh hưởng đến khả năngthanh toán nợ ngắn hạn, các nhà quản lý cần xác định mức độ an toàn cho chỉ tiêunày Nguyên tắc an toàn là tổng nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu phải luôn lớn hơnhoặc bằng tổng giá trị tài sản dài hạn

* Đánh giá khái quát khả năng sinh lợi

Để đảm bảo yêu cầu toàn diện khi đánh giá khái quát tình hình tài chính củadoanh nghiệp, bên cạnh việc đánh giá tình hình huy động vốn và khả năng thanhtoán của doanh nghiệp thì khả năng sinh lợi cũng được nhà phân tích quan tâm, xemxét Bởi mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là hướng đến lợi nhuận Cónhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, tuy nhiên

Trang 22

các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu:

Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (Return on equity -ROE) là chỉ tiêu phảnánh một đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế và được xácđịnh theo công thức [2]:

Sức sinh lợi của vốn

Lợi nhuận sau thuế

(1.9)Vốn chủ sở hữu

Trị số của chỉ tiêu “Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu” càng cao chứng tỏ sốđơn vị lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ 1 đơn vị vốn chủ sở hữu là cao, doanhnghiệp đã sử dụng có hiệu quả vốn chủ sở hữu đồng thời đã tận dụng được nguồnvốn vay trong hoạt động kinh doanh Ngược lại trị số của chỉ tiêu ngày thấp, doanhnghiệp đã không sử dụng hiệu quả nguồn vốn chủ sở hữu của mình, không đem lạilợi nhuận cao cho doanh nghiệp Các nhà quản trị doanh nghiệp cần có những quyếtđịnh kịp thời để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đây cũng là chỉtiêu hấp dẫn các nhà đầu tư Họ thường quan tâm tới những doanh nghiệp có trị sốcủa chỉ tiêu ROE lớn

Sức sinh lợi của doanh thu:

Trong phân tích kinh doanh, chỉ tiêu sức sinh lợi của doanh thu được sử dụng

bổ sung để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bên cạnh chỉtiêu “Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu” Chỉ tiêu “Sức sinh lợi của doanh thu”(Return on sales – ROS) được xác định theo công thức [2]:

Sức sinh lợi của

doanh thu thuần =

Lợi nhuận sau thuế

(1.10)Doanh thu thuần

“Doanh thu thuần” gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thuhoạt động tài chính Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị doanh thu thuần đem lại mấyđơn vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ số đơn vị lợi nhuận sauthuế thu được từ 1 đơn vị doanh thu thuần càng cao, hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp càng hiệu quả và ngược lại Khi trị số của chỉ tiêu này thấp, một đơn

vị doanh thu thuần đem lại ít đơn vị lợi nhuận sau chứng tỏ doanh nghiệp kinh

Trang 23

doanh không hiệu quả, gây lãng phí trong kinh doanh Các nhà quản trị doanhnghiệp cần có những biện pháp kịp thời để cải thiện tình hình.

Sức sinh lời của tài sản:

Ngoài đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu và và sức sinh lời củadoanh thu, hiệu quả sử dụng tài sản cũng là một chỉ tiêu thường dùng để đánh giáhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Sức sinh lời của tài sản (Return on assets)được xác định theo công thức [2]:

Sức sinh lợi

của tài sản =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

(1.11)Tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị tài sản bình quân đem lại mấy đơn vị lợi nhuậntrước thuế và lãi vay Trị số của chỉ tiêu càng cao, chứng tỏ số đơn vị lợi nhuậntrước thuế và lãi vay tạo ra từ 1 đơn vị tài sản bình quân càng cao, càng thể hiệndoanh nghiệp đã sử dụng tài sản có hiệu quả, đem lại lợi nhuận lớn cho doanhnghiệp và ngược lại Khi trị số của chỉ tiêu thấp, việc đầu tư vào tài sản của doanhnghiệp không hiệu quả, gây lãng phí trong việc mua sắm tài sản, không đem lại hiệuquả thiết thực cho doanh nghiệp

Sức sinh lợi của chi phí hoạt động:

Khả năng tạo ra lợi nhuận của chi phí là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánhhiệu quả số tiền chi ra trong kỳ của doanh nghiệp, thể hiện trình độ tổ chức, sử dụngcác yếu tố của quá trình sản xuất Chỉ tiêu này thường được xác định như sau [2]:Sức sinh lợi của chi

phí hoạt động =

Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

(1.12)Chi phí hoạt động trong kỳ

Trong đó chi phí hoạt động là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp tiêu hao cóliên quan đến kết quả hoạt động trong kỳ bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bánhàng và quản lý doanh nghiệp, chi phí hoạt động tài chính và chi phí khác

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp tiêu hao 1 đơn vị chiphí thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ lợinhuận sau thuế thu được từ 1 đơn vị chi phí bỏ ra càng lớn, hiệu quả sử dụng cácyếu tố sản xuất của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao mức lợi nhuận trong

Trang 24

kỳ và ngược lại Khi trị số của chỉ tiêu này thấp, doanh nghiệp đã không sử dụngtiết kiệm chi phí bỏ ra, hoạt động kinh doanh không hiệu quả.

Lãi cơ bản trên cổ phiếu:

“Lãi cơ bản trên cổ phiếu” (Earnings per share – EPS) là chỉ tiêu phản ánhmức lợi nhuận mà 1 cổ phiếu thường có được trong kỳ Chỉ tiêu này được sử dụngtrong các công ty cổ phần và được tính như sau [2]:

1.2.1.2 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp nào cũng cần có vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanhnhư ông cha ta thường nói “Có bột mới gột nên hồ” Nguồn vốn của doanh nghiệpđược hình thành từ vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay Từ nguồn vốn của mình, doanhnghiệp tiến hành mua tài sản để tiến hành sản xuất kinh doanh Việc đảm bảo đủ vốncho hoạt động sản xuất kinh doanh, cân đối hài hoà giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay có

ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

Theo các nhà khoa học của Học viện Tài chính, tình hình nguồn vốn củadoanh nghiệp thể hiện qua cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn Cơ cấu nguồnvốn là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số Thông qua tỷ trọng của từngnguồn vốn người đọc không những đánh giá được chính sách tài chính của doanhnghiệp mà còn thấy được khả năng tự chủ hay phụ thuộc về tài chính của doanhnghiệp Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn để đánh giá khái quát khảnăng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp, xác định mức độ độc lập tự chủtrong sản xuất kinh doanh hoặc những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trongviệc khai thác nguồn vốn Phương pháp phân tích là so sánh từng loại nguồn vốn

Trang 25

giữa cuối kỳ và đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn tương đối, xác định và so sánh giữacuối kỳ với đầu năm về tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng số để xác địnhchênh lệch cả về số tiền, tỷ lệ và tỷ trọng [10,tr.118-119] Nội dung phân tích theoquan điểm của các nhà khoa học của Học viện Tài chính mới chỉ dừng ở nội dungphân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn, chưa đưa ra được các hệ số, chỉtiêu giúp người đọc đánh giá đầy đủ, toàn diện khả năng tự tài trợ, mức độ độc lập

tự chủ về tài chính của doanh nghiệp

Khi phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cácnhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân thường xem xét trên hai quanđiểm: quan điểm luân chuyển vốn và quan điểm tính ổn định của nguồn hình thành

Để có nhận xét đầy đủ và chính xác về nguồn vốn của doanh nghiệp, các nhà phântích còn tính và so sánh các chỉ tiêu: Hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạmthời, hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn vốn thường xuyên, hệ số giữa nguồn vốnthường xuyên so với tài sản dài hạn, hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn.[15] Các nội dung phân tích mà các nhà khoa học Trường Đại học Kinh tế quốcdân đưa ra đã đánh giá đầy đủ và toàn diện tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp.Việc phân tích này giúp người đọc đánh giá chính xác về tình hình đảm bảo vốn chohoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định hợp lý

Theo chúng tôi, hai hướng phân tích của các nhà khoa học Trường Đại họcKinh tế quốc đều đã phản ánh chính xác tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinhdoanh nhưng việc phân tích tình hình đảm bảo vốn theo tính ổn định của nguồnhình thành tài sản đơn giản và dễ áp dụng hơn

Xét trên góc độ ổn định của nguồn hình thành tài sản, toàn bộ nguồn hìnhthành tài sản của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên vànguồn tài trợ tạm thời Nguồn vốn chủ sở hữu, vốn vay, vốn thanh toán dài hạn,trung hạn được xếp vào nguồn tài trợ thường xuyên Đây là những nguồn tài trợ màdoanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dài thường trên 1 năm mà không phảiquan tâm đến việc thanh toán nợ trong năm phân tích Do đó những nguồn vốn đóđược gọi là nguồn tài trợ thường xuyên Ngược lại các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn

Trang 26

hạn, các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán thuộc nguồn tài trợ tạm thời.Đây là những nguồn trợ mà doanh nghiệp chỉ được sự dụng trong một thời gian ngắn,dưới 1 năm và phải có nghĩa vụ thanh toán trong năm phân tích Thực chất nguồn tàitrợ tạm thời chính là các khoản nợ ngắn hạnphải trả của doanh nghiệp.

Từ cân bằng tài chính: Tài sản = Nguồn vốn ta có thể triển khai theo quanđiểm tính ổn định của nguồn hình thành tài sản thành đẳng thức sau:

Biến đổi đẳng thức trên thành:

Do nguồn tài trợ tạm thời chính là nợ phải trả nên hiệu số của Tài sản ngắnhạn và nợ phải chính là chỉ tiêu vốn hoạt động thuần Vốn hoạt động thuần là chỉtiêu phản ánh số vốn tối thiểu doanh nghiệp được sử dụng để duy trì những hoạtđộng thường ngày diễn ra trong doanh nghiệp

Vốn hoạt động thuần được tính theo hai cách:

Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Và:

Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên – Tài sản dài hạn

Trị số của chỉ tiêu “Vốn hoạt động thuần” có thể nhận giá trị <0 hoặc

Cụ thể:

- Trường hợp vốn hoạt động thuần <0:

Vốn hoạt động thuần <0 có nghĩa tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không

đủ để thanh toán cho nợ ngắn hạn Doanh nghiệp luôn nằm trong tình trạng khókhăn về thanh toán, cán cân thanh toán mất cân bằng Khi trị số của chỉ tiêu nàycàng nhỏ hơn 0, tình trạng khó khăn trong thanh toán của doanh nghiệp càng tăng,nguy cơ phá sản đang cận kề doanh nghiệp

- Trường hợp vốn hoạt động thuần bằng 0:

Trang 27

Vốn hoạt động thuần bằng 0 khi nguồn tài trợ thường xuyên bằng tài sản dàihạn hay số nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn Khi đó nguồn tài trợ thường xuyênvừa đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên doanh nghiệp không phải sử dụng nợ ngắnhạn để bù đắp Tài sản ngắn hạn cũng vừa đủ để thanh toán cho nợ ngắn hạn Về lýthuyết thì doanh nghiệp đang ở tình trạng an toàn, không phải chịu áp lực nằng nề

về thanh toán nợ ngắn hạn Nhưng trên thực tế tính ổn định của nguồn hình thànhtài sản vẫn chưa cao, nguy cơ xảy ra khả năng mất thanh toán vẫn tiềm tàng Bởitrong thực tế doanh nghiệp ít khi bán tài sản để trang trải nợ khi đáo hạn Hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị ngừng trệ

- Trường hợp vốn hoạt động thuần >0:

Vốn hoạt động thuần >0 có nghĩa sau khi dùng tài sản ngắn hạn để thanhtoán nợ ngắn hạn, doanh nghiệp vẫn có một số vốn nhất định để duy trì nhữnghoạt động thường xuyên của mình Khi đó cân bằng tài chính trong trường hợpnày được coi là an toàn và bền vững Doanh nghiệp không phải chịu áp lực khithanh toán các khoản nợ ngắn hạn bởi doanh nghiệp đã có một khoản vốn nhấtđịnh Trị số của chỉ tiêu vốn hoạt động thuần càng lớn thì khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp càng cao

Ngoài chỉ tiêu vốn hoạt động thuần, để đánh giá chính xác và đầy đủ hơn vềtính ổn định của nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp, các nhà phân tích còn sửdụng các chỉ tiêu sau: Hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạm thời, hệ số vốnchủ sở hữu so với nguồn vốn thường xuyên, hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên

so với tài sản dài hạn và hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn

Nếu hệ số tài trợ thường xuyên phản ảnh nguồn tài trợ thường xuyên chiếmmấy phần so với tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp (nguồn vốn) thì hệ sốtài trợ tạm thời cho biết so với tổng nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp (nguồnvốn), nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Thông qua hai hệ số này nhà phântích đánh giá được tính ổn định của nguồn tài trợ tài sản và cân bằng tài chính củadoanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu hệ số tài trợ thường xuyên càng lớn và trị số củachỉ tiêu hệ số tài trợ tạm thời càng nhỏ thì nguồn vốn tài trợ thường xuyên càng

Trang 28

chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Khi đó nguồn tài trợthường xuyên không chỉ tài trợ cho tài sản dài hạn mà vẫn còn để thanh toán cho tàisản ngắn hạn Doanh nghiệp không phải chịu áp lực nặng nề về thanh toán nợ ngắnhạn Ngược lại khi trị số của chỉ tiêu hệ số tài trợ thường xuyên càng nhỏ và trị sốcủa chỉ tiêu hệ số tài trợ tạm thời càng lớn thì tính ổn định của nguồn tài trợ tài sảncàng thấp, cán cân thanh toán mất cân bằng.

Để đánh giá mức độ tài trợ tài sản của các nguồn tài trợ, các nhà phân tíchthường sử dụng hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn và hệ

số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn Khi trị số của hệ số giữa nguồn tài trợthường xuyên so với tài sản dài hạn ≥ 1, tính ổn định và bền vững về tài chính củadoanh nghiệp càng cao bởi tài sản dài hạn được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn tài trợthường xuyên và ngược lại Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn đánhgiá mức độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn Khi trị số của hệ số giữa tàisản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn ≤1, tình hình tài chính của doanh nghiệp không ổnđịnh Bởi tài sản ngắn hạn không đủ để thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toánxấu, doanh nghiệp luôn phải chịu áp lực nặng nề khi thanh toán nợ ngắn hạn Ngượclại trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, tính ổn định và bền vững về tài chính củadoanh nghiệp càng cao Ngoài việc tài trợ cho nợ ngắn hạn thì tài sản ngắn hạn củadoanh nghiệp vẫn còn duy trì một số vốn hoạt động thuần hợp lý để duy trì hoạtđộng kinh doanh hàng ngày và dự trữ hàng tồn kho

Hệ số giữa vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên cho biết vốnchủ sở hữu chiếm mấy phần trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên Trị số củachỉ tiêu này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao

và ngược lại Trị số thông thường của chỉ tiêu này nằm trong khoảng (0,1) Khi trị

số =1 tức nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Lúc

đó tính ổn định của nguồn tài trợ là lớn nhất Nhưng trong thực tế ít xảy ra trườnghợp này Bởi các doanh nghiệp luôn tận dụng nguồn vốn vay để đẩy mạnh hoạtđộng kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo cân bằng tài chính tốt Trị số của chỉ tiêu vẫn

có thể <0 khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phải dùng số vốn chủ sở hữu để bù đắp

Trang 29

phần lỗ trong hoạt động kinh doanh dẫn tới “âm” vốn.

1.2.1.3 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán

Hoạt động tài chính của doanh nghiệp phản ánh đầy đủ và rõ nét qua tìnhhình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nếu tình hình tài chính của doanhnghiệp tốt thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn,khả năng thanh toán sẽ cao Ngược lại nếu tình hình tài chính của doanh nghiệpkém sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chiếm dụng vốnlẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài

Theo các nhà khoa học của Học viện Tài chính, để phân tích tình hình công

nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, các nhà phân tích nên lập bảng phântích tình hình công nợ với các chỉ tiêu là các khoản phải thu, phải trả để đánh giá sựbiến động của các chỉ tiêu ở đầu kỳ và cuối kỳ phân tích Trên cơ sở đó tính toáncác chỉ tiêu phản ánh tình hình và khả năng thanh toán gồm: Hệ số khả năng thanhtoán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toánnhanh, hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn, hệ số khả năng thanh toán lãi vay, sốvòng thu hồi nợ, thời hạn thu hồi nợ bình quân, hệ số các khoản phải thu, hệ số cáckhoản phải trả [10,tr.216-221]

Khi phân tích khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, các nhà khoa họccủa Trường Đại học Kinh tế quốc dân lại so sánh giữa nhu cầu thanh toán và khảnăng thanh toán của doanh nghiệp để thấy được khả năng thanh toán của doanhnghiệp đó Trên cơ sở so sánh đó, các nhà phân tích sẽ đánh giá được doanh nghiệp

có đủ khả năng thanh toán của kỳ hiện tại và kỳ tới hay không [15, tr 210]

Ngoài việc so sánh giữa nhu cầu thanh toán và khả năng thanh toán, các nhàkhoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân còn đưa ra các chỉ tiêu cụ thể chotừng nội dung phân tích Để phân tích khả năng thanh toán chung, các nhà phân tích

sử dụng chỉ tiêu: Hệ số nợ so với tổng tài sản, hệ số nợ so với tổng vốn chủ sở hữu.Khi phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nhà phân tích dùng chỉ tiêu: Hệ sốkhả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số khả năngchuyển đổi của tài sản ngắn hạn Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn thông

Trang 30

qua các chỉ tiêu: Hệ số nợ dài hạn so với tổng nợ phải trả, hệ số nợ dài hạn so vớitổng tài sản [15,tr 211-231].

Hệ thống chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán mà các nhà khoa học củaHọc viện Tài chính và Trường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra đều giúp người đọcđánh giá cụ thể và chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Theo chúng tôi để phân tích chi tiết tình hình thanh toán của doanh nghiệp,các nhà phân tích tập trung vào phân tích nợ phải thu và nợ phải trả Việc phân tíchtheo phương pháp so sánh sẽ giúp nhà phân tích thấy được những biến động của chỉtiêu theo số tuyệt đối và số tương đối từ đó rút ra những đánh giá, nhận xét về tìnhhình thanh toán của doanh nghiệp Ngoài ra, các nhà phân tích cũng nên dùng cácchỉ tiêu để đánh giá được mối quan hệ giữa nợ phải thu và nợ phải trả

Hệ số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả:

Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản doanh nghiệp bị chiếmdụng so với các khoản đi chiếm dụng, được tính theo công thức [2]:

Hệ số giữa nợ phải thu

so với nợ phải trả =

Nợ phải thu

(1.14)

Nợ phải trảNếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếmdụng lớn hơn số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêunày nhỏ hơn 1 chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đichiếm dụng Thực tế số vốn đi chiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn số vốn bị chiếmdụng đều phản ánh tình hình tài chính không lành mạnh

Hệ số giữa nợ phải thu ngắn hạn so với nợ phải trả ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thu ngắn hạn doanhnghiệp bị chiếm dụng so với các khoản nợ phải trả ngắn hạn doanh nghiệp đi chiếmdụng, được tính theo công thức [2]:

Hệ số giữa nợ phải thu ngắn

hạn so với nợ phải trả ngắn hạn =

Nợ phải thu ngắn hạn

(1.15)

Nợ phải trả ngắn hạnNếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ số phải thu ngắn hạn lớn hơn

số nợ phải trả ngắn hạn của doanh nghiệp Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ

Trang 31

hơn 1 chứng tỏ nợ phải thu ngắn hạn nhỏ hơn nợ phải trả ngắn hạn

Hệ số giữa nợ phải thu dài hạn so với nợ phải trả dài hạn

Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thu ngắn hạn doanhnghiệp bị chiếm dụng so với các khoản nợ phải trả ngắn hạn doanh nghiệp đi chiếmdụng, được tính theo công thức [2]:

Hệ số giữa nợ phải thu dài hạn

so với nợ phải trả dài hạn =

Nợ phải thu dài hạn

(1.16)

Nợ phải trả dài hạnNếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ số phải thu dài hạn lớn hơn số

nợ phải trả dài hạn của doanh nghiệp Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn

1 chứng tỏ nợ phải thu dài hạn nhỏ hơn nợ phải trả dài hạn

Hệ số nợ dài hạn so với tổng nợ phải trả

Chỉ tiêu này phản ánh nợ dài hạn của doanh nghiệp chiếm mấy phần trong

tổng nợ phải trả và được tính theo công thức [2]:

Hệ số nợ dài hạn so với

tổng nợ phải trả =

Tổng nợ dài hạn

(1.17)Tổng nợ phải trả

Trị số của chỉ tiêu này càng cao, tổng nợ dài hạn chiếm càng lớn trong tổng

nợ phải trả của doanh nghiệp, nhu cầu thanh toán ngay của doanh nghiệp càng thấp

Để đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp cần có kế hoạch thanh toán cho những

kỳ tới Ngược lại trị số của chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ nợ ngắn hạn chiếm cànglớn trong tổng nợ phải trả Doanh nghiệp cần có các phương án cụ thể để thanh toán

nợ ngắn hạn, tránh tình trạng mất cân bằng tài chính

1.2.1.4 Phân tích kết quả kinh doanh

Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ doanh thu, thu nhập và lợinhuận mà doanh nghiệp thu được trong kỳ khi kết thúc kỳ kinh doanh Việc phântích kết quả thu được sau một kỳ kinh doanh sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệpđánh giá được những kết quả thu được có như kế hoạch đã đề ra hay không để cónhững quyết định kịp thời cho kỳ kinh doanh tiếp Nội dung chính của phân tích kếtquả kinh doanh sẽ hướng tới những kết quả cuối cùng doanh nghiệp thu được trongkỳ: doanh thu, thu nhập và lợi nhuận Theo Phó giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Văn Công,kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được phân tích thông qua các chỉ tiêu

Trang 32

phản ánh doanh thu, thu nhập, lợi nhuận hoặc thông qua phân tích báo cáo kết quảkinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ [2].

Theo chúng tôi, việc phân tích kết quả kinh doanh nên tập trung vào phântích báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích báo cáo kết quảkinh doanh theo phương pháp so sánh sẽ giúp nhà phân tích thấy được những biếnđộng của các chỉ tiêu theo số tuyệt đối và số tương đối để đưa ra những đánh giáchính xác về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài phân tích báo cáo kết quảkinh doanh, các nhà phân tích cũng nên phân tích thêm các chỉ tiêu khác để đánhgiá đầy đủ và chính xác hơn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần kinh doanh

Đây là chỉ tiêu đánh giá tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần và được xác

định theo công thức [2]:

Tốc độ tăng trưởng doanh

thu thuần kinh doanh =

Trị số doanh thu thuần kỳ này

x 100 (1.18)Trị số doanh thu thuần kỳ trước

Tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần nếu >100% chứng tỏ tăng trưởng

“dương”, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, năm sau tốt hơn năm trước và ngượclại Tốc độ tăng trưởng nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi Cácnhà quản trị cần có những biện pháp kịp thời để nâng cao kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp

Việc phân tích tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần có thể áp dụng chotừng hoạt động, từng lĩnh vực, từng thị trường của doanh nghiệp Điều này sẽ giúpnhà quản lý đánh giá chính xác tình hình tăng trưởng của từng bộ phận để có quyếtsách phù hợp

Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế

Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận sau thuế kỳ này so

với kỳ trước và được xác định theo công thức [2]:

Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

sau thuế so với kỳ trước =

Lợi nhuận sau thuế kỳ này

x100 (1.19)Lợi nhuận sau thuế kỳ trước

Tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận tăng nếu trị số của chỉ tiêu >100% và

Trang 33

ngược lại, tốc độ tăng trưởng giảm hoặc giữ nguyên nếu trị số của chỉ tiêu

Ngoài đánh giá tốc độ tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận, cơ cấudòng tiền lưu chuyển thuần cũng cần được đánh giá khi phân tích kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp bởi đây là những “mạch máu” nuôi sống toàn bộ doanhnghiệp Thông qua cơ cấu dòng tiền lưu chuyển thuần nhà quản lý sẽ xác địnhđược xu hướng biến động của dòng tiền và dự báo dòng tiền lưu chuyển thuầntrong tương lai

Tỷ trọng dòng tiền lưu chuyển thuần:

Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của từng dòng tiền lưu chuyển thuần củatừng hoạt động trong tổng số tiền lưu chuyển Chỉ tiêu này được xác định theo công

Hoạt động nào tạo ra dòng tiền lưu chuyển thuần càng lớn, tỷ trọng dòng tiềnlưu chuyển thuần chiếm trong tổng số càng cao và ngược lại Trường hợp dòng tiềnlưu chuyển thuần của hoạt động là “âm”, tỷ trọng mang dấu trừ phản ánh dòng tiềnthuần của hoạt động đó <0, tức thu không đủ chi

1.2.1.5 Phân tích hiệu quả kinh doanh

Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn với lợi nhuận Lợi nhuận là cơ sở

để đánh giá hoạt động kinh doanh có hiệu quả không Việc phân tích hiệu quả kinhdoanh luôn là mối quan tâm của chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, ngân hàng…

Hoạt động kinh doanh được bắt đầu từ việc dùng vốn mua sắm tài sản đểphục vụ sản xuất kinh doanh Do đó để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp có hiệu quả hay không, các nhà đầu tư thường đánh giá việc sử dụng tài sản

và vốn của doanh nghiệp có đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp hay không.Đánh giá mức độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp cũng là chỉ tiêu để đánh giáhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 34

Theo tác giả Phạm Văn Dược và Trần Phước, phân tích hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp dựa trên việc đánh giá chức năng tạo ra lợi nhuận của doanhnghiệp Các chỉ tiêu dùng để đánh giá gồm: tỷ lệ lãi gộp, tỷ lệ lãi thuần từ hoạt độngkinh doanh trước thuế, tỷ lệ số dư đảm phí, hệ số đòn bẩy kinh doanh [8,tr.215].Các chỉ tiêu phân tích mà tác giả Phạm Văn Dược và Trần Phước đưa ra để phântích kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đầy đủ Bởi ngoài lợi nhuận thì việcdoanh nghiệp sử dụng tài sản và vốn như thế nào để đạt được lợi nhuận đó cũnggiúp nhà phân tích đánh giá doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả không.

Theo các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp cần được đánh giá khái quát và phân tích ở các mặt: hiệuquả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng chi phí Để đánh giákhái quát hiệu quả kinh doanh các nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu: Sức sinh lợicủa vốn góp chủ sở hữu, sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu, sức sinh lợi của doanh thuthuần, sức sinh lợi của chi phí hoạt động, lãi cơ bản trên cổ phiếu Hiệu quả sử dụngtài sản của doanh nghiệp đánh giá thông qua chỉ tiêu: Số vòng quay của tài sản, suấthao phí của tài sản so với doanh thu thuần Hiệu quả sử dụng vốn đánh giá thôngqua chỉ tiêu: Số vòng quay của vốn chủ sở hữu, suất hao phí của vốn chủ sở hữu sovới lợi nhuận sau thuế Để phân tích hiệu quả sử dụng chi phí, các nhà phân tích sửdụng chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán, tỷ suất lợi nhuận so vớichi phí bán hàng [3,tr.239-276] Các nội dung phân tích của các nhà khoa học củaTrường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra đầy đủ và toàn diện khi phân tích hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp Các nội dung phân tích đi từ việc đánh giá kháiquát hiệu quả kinh doanh đến các yếu tố liên quan tới hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp

Theo chúng tôi, ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh khi phântích khái quát khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, các nhà phân tích bổ sung thêmcác chỉ tiêu sau để việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đầy đủ vàtoàn diện hơn

Mức hao phí tài sản so với lợi nhuận sau thuế [2]:

Trang 35

Mức hao phí tài sản so với

lợi nhuận sau thuế =

Tổng tài sản bình quân trong kỳ

(1.21)Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích để có 1 đơn vị lợi nhuận sau thuế,doanh nghiệp phải hao phí mấy đơn vị tài sản bình quân Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ số đơn vị tài sản bình quân doanh nghiệp đã hao phí để tạo ra 1 đơn vị lợinhuận càng lớn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thấp và ngược lại

Mức hao phí chi phí hoạt động so với lợi nhuận sau thuế:

Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đơn vị lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp phải

hao phí mấy đơn vị chi phí hoạt động, thường được xác định như sau [2]:

Mức hao phí hoạt động so

với lợi nhuận sau thuế =

Tổng chi phí hoạt động trong kỳ

(1.22)Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, số đơn vị chi phí doanh nghiệp bỏ ra trong

kỳ để tạo ra 1 đơn vị lợi nhuận càng lớn, hiệu quả hoạt động càng thấp và ngược lại,mức hao phí chi phí hoạt động so với lợi nhuận sau thuế càng nhỏ, hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp càng cao, doanh nghiệp càng sử dụng hiệu quả, tiết kiệm chiphí bỏ ra

Mức hao phí của vốn chủ sở hữu so với lợi nhuận sau thuế:

Chỉ tiêu này được tính như sau [2]:

Mức hao phí vốn chủ sở hữu

so với lợi nhuận sau thuế =

Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ

(1.23)Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích để có 1 đơn vị lợi nhuận sau thuế,doanh nghiệp phải hao phí mấy đơn vị vốn chủ sở hữu bình quân Mức hao phí vốnchủ sở hữu so với lợi nhuận sau thuế càng lớn, số đơn vị vốn chủ sở hữu bình quândoanh nghiệp bỏ ra càng nhiều để thu được 1 đơn vị lợi nhuận sau thuế, hiệu quảhoạt động càng thấp và ngược lại

1.2.1.6 Phân tích rủi ro tài chính

Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những rủi rotiềm tàng như rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính hay rủi ro do việc thay đổi chính sáchcủa nhà nước Trong đó rủi ro tài chính được nhà phân tích và nhà quản lý đặc biệt

Trang 36

quan tâm khi phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ việc phân tích nhữngrủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải, các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ cócác biện pháp cụ thể để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp

Rủi ro tài chính là phần rủi ro mà chủ sở hữu phải gánh chịu do doanhnghiệp sử dụng vốn từ các khoản vay nợ Khoản vay là nghĩa vụ mà doanh nghiệpphải thanh toán Nếu không đủ khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ rơi vào tìnhtrạng phá sản Do đó khí đánh giá rủi ro tài chính, các nhà phân tích thường xem xétrủi ro thanh toán nợ và ảnh hưởng của cơ cấu nợ đến khả năng sinh lợi trên vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp

Các nhà khoa học của Học viện Tài chính phân tích rủi ro tài chính thôngqua hệ số nợ và các tỷ số hoạt động Các tỷ số hoạt động được thiết lập trên doanhthu nhằm mục đích xác định tốc độ quay vòng của một số đại lượng, cung cấpnhững thông tin cần thiết cho công tác quản lý tài chính và đánh giá mức độ rủi rotài chính của doanh nghiệp Một số tỷ số hoạt động như Hệ số quay vòng hàng tồnkho, Hệ số quay vòng nguyên vật liệu…[10,tr.258,268-273]

Phó giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Văn Công lại phân tích rủi ro tài chính trongmối quan hệ với hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tácgiả sử dụng chỉ tiêu “Hệ số khả năng chi trả lãi vay” để phân tích rủi ro tài chínhcủa doanh nghiệp trong mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh Để phân tích rủi rothanh toán, tác giả đưa ra các chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”, “Hệ

số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn”, “ Hệ số khả năng thanh toán tức thời”…[2,tr.152-157]

Theo chúng tôi việc phân tích rủi ro tài chính thông qua phân tích rủi rothanh toán nợ và cơ cấu nợ của doanh nghiệp và rủi ro tài chính thông qua mối quan

hệ với hiệu quả kinh doanh Qua việc phân tích này, nhà phân tích sẽ đánh giá đượcdoanh nghiệp đó có gặp rủi ro tài chính hay không Từ đó nhà quản trị sẽ có nhữngbiện pháp phù hợp để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp

* Rủi ro thanh toán nợ:

Rủi ro thanh toán nợ là một bộ phận cấu thành nên rủi ro tài chính Rủi ro

Trang 37

thanh toán nợ xảy ra khi doanh nghiệp không đủ hoặc không có khả năng thanhtoán Nếu rủi ro thanh toán nợ không được kịp thời khắc phục tất yếu sẽ dẫn doanhnghiệp đến rủi ro phá sản Việc phân tích rủi ro thanh toán sẽ cho nhà quản lý biếtđược khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp và dự báo được những rủi

ro thanh toán có thể gặp trong tương lai

Rủi ro thanh toán nợ có thể đo lường thông qua các chỉ tiêu phản ánh khảnăng thanh toán như “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”, “Hệ số khả năng thanhtoán nhanh”, “Hệ số khả năng thanh toán tức thời”,

* Rủi ro do ảnh hưởng của cơ cấu nợ

Ngoài rủi ro thanh toán nợ, rủi ro tài chính mà doanh nghiệp gặp phải còngián tiếp thể hiện qua ảnh hưởng của cơ cấu nợ đến khả năng sinh lời tính trên vốnchủ sở hữu hay mức lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu thường của doanh nghiệp Trongđiều kiện kinh doanh thuận lợi, trị số đòn bẩy tài chính càng cao thì suất sinh lời củatài sản (ROA) và suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) càng cao và ngược lại.Khi môi trường kinh doanh biến động, biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp bằng việc tăng nợ phải trả để tăng trị số đòn bẩy tài chính luôn tiềm

ẩn những rủi ro khó lường Nợ phải trả tăng đặt doanh nghiệp vào tình trạng luônphải chịu áp lực nặng nề để kịp thời thanh toán các khoản nợ và lãi vay Do đó việcphân tích rủi ro tài chính gián tiếp qua cơ cấu nợ thường sử dụng các chỉ tiêu phảnánh đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp Các nhàphân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là tỷ số giữa tổng nguồn vốn và vốn chủ sở hữu hoặc tỷ sốgiữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu hoặc tỷ số giữa tổng tài sản bình quân và vốnchủ sở hữu bình quân Đòn bẩy được xác định theo các công thức sau [2]:

Đòn bẩy

tài chính =

Tổng tài sản bình quân

(1.24)Vốn chủ sở hữu bình quân

Hệ số chi trả lãi vay

Để xác định khả năng chi trả lãi vay, nhà phân tích xác định hệ số chi trả lãi

Trang 38

Do lợi nhuận trước thuế và lãi vay = Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay nên hệ

số chi trả lãi vay được biến đổi thành [2]:

- Trị số của hệ số chi trả lãi vay <1

Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ, lợi nhuận trước thuế bị

“âm”, lợi nhuận thu được không đủ chi trả lãi vay Nếu tình hình này kéo dài, sốvốn của doanh nghiệp sẽ mất dần, rủi ro tài chính của doanh nghiệp rất cao, doanhnghiệp đang đứng trên bờ vực phá sản

- Trị số của hệ số chi trả lãi vay =1

Lúc này lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được chỉ vừa đủ trang trải lãi vay,không có để nộp ngân sách và tích luỹ hay phân chia cho các thành viên Tuy nhiêndoanh nghiệp không còn phải đối mặt với rủi ro tài chính nữa

- Trị số của hệ số chi trả lãi vay >1

Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lãi, phần lợinhuận trước thuế sau khi bù đắp các chi phí bỏ ra và thực hiện nghĩa vụ với nhànước, vẫn còn dôi ra để tích luỹ vốn và phân chia cho các thành viên Trị số của chỉtiêu càng lớn hơn 1 thì phần lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp càng lớn, khảnăng chi trả lãi vay càng cao, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tôt Khi

đó tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở mức an toàn

Ngoài các nội dung phân tích trên, phân tích báo cáo tài chính còn nội dungphân tích giá trị doanh nghiệp và dự báo nhu cầu tài chính

1.2.2 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp gồm hệ thống cáccông cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối

Trang 39

quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạtđộng tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêukhái quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thựctrạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hiện nay để phân tích báo cáo tài chínhcác nhà phân tích cần sử dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau vì mỗiphương pháp sẽ giúp nhà phân tích xem xét và đánh giá vấn đề ở các khía cạnhkhác nhau Qua đó nhà phân tích sẽ đánh giá được toàn diện, chính xác nội dungphân tích, tránh được sự phiến diện, không nhìn rõ bản chất của chỉ tiêu phân tích.

Các nhà khoa học của Học viện Tài chính kế toán đã đưa ra các phương pháp phântích như phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, phương pháp liên hệ đối chiếu,phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phương pháp hồi quy.[10]

Các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân lại đưa ra phươngpháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp số chênh lệch, phương pháp thaythế liên hoàn, phương pháp liên hệ cân đối, mô hình Dupont.[15]

Tuỳ vào điều kiện và mục đích phân tích mà các nhà phân tích lựa chọnphương pháp phân tích phù hợp Theo chúng tôi những phương pháp phân tích saunên được sử dụng khi phân tích báo cáo tài chính

1.2.2.1 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong phân tích tài chính nóichung và phân tích báo cáo tài chính nói riêng Mục đích của phương pháp nàynhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích

Phương pháp so sánh được thực hiện dưới 2 hình thức:

- So sánh theo chiều ngang hay phân tích xu hướng

- So sánh theo chiều dọc hay phân tích tỷ trọng

So sánh ngang trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sosánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉtiêu, trên từng báo cáo tài chính Mục đích là xác định mức độ biến động (tăng haygiảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân

tố đến chỉ tiêu phân tích

Trang 40

So sánh dọc trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sử dụngcác tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tàichính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất của việc phân tíchtheo chiều dọc trên các báo cáo tài chính là phân tích sự biến động về cơ cấu haynhững quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp.

Tuy nhiên để phương pháp so sánh đạt hiệu quả cần lưu ý các vấn đề cơbản sau:

Thứ nhất các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải thống nhất về nội dungkinh tế, phương pháp tính, đơn vị tính, cùng một phạm vi thời gian và quy môkhông gian Tất cả các điều kiện trên gọi chung là đặc tính “có thể so sánh được”.Nếu không đảm bảo các điều kiện trên thì việc so sánh trở nên khập khiễng, không

có giá trị, đôi khi còn phản ánh sai lệch thông tin

Thứ hai, phải xác định được mục tiêu so sánh trong phân tích báo cáo tàichính Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối

và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích

- Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ:

kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước…

- Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này vớitrị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu cóliên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chi tiêu phân tích

Nội dung so sánh bao gồm:

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trướcnhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanhnghiệp Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính củadoanh nghiệp

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kế hoạch nhằm xác định mứcphấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính củadoanh nghiệp

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến của

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời (Trang 48)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Kinh Đô - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Kinh Đô (Trang 57)
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Kinh Đô - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Kinh Đô (Trang 59)
Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung  của Công ty Cổ phần Kinh Đô - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung của Công ty Cổ phần Kinh Đô (Trang 60)
Bảng 2.1: Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.1 Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn (Trang 65)
Bảng 2.3: Đánh giá khái quát khả năng thanh toán năm 2009 - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.3 Đánh giá khái quát khả năng thanh toán năm 2009 (Trang 66)
Bảng 2.4: Phân tích các khoản phải thu năm 2009 - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.4 Phân tích các khoản phải thu năm 2009 (Trang 67)
Bảng 2.5 chỉ rừ nợ phải trả của cụng ty năm 2009 tăng 931.513.891 ngàn - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.5 chỉ rừ nợ phải trả của cụng ty năm 2009 tăng 931.513.891 ngàn (Trang 68)
Hình 2.1 Đồ thị tăng trưởng doanh thu qua các năm của công ty. - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Hình 2.1 Đồ thị tăng trưởng doanh thu qua các năm của công ty (Trang 70)
Hình 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Hình 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Trang 70)
Bảng 2.6: Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 Mã - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.6 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 Mã (Trang 71)
Bảng 2.7: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2009 Chỉ tiêu Đơn vị - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2009 Chỉ tiêu Đơn vị (Trang 73)
Bảng 2.8: Phân tích chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.8 Phân tích chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời (Trang 74)
Bảng 2.9: Phân tích lãi cơ bản trên cổ phiếu - hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kinh đô
Bảng 2.9 Phân tích lãi cơ bản trên cổ phiếu (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w