Theo quan điểm của một số nhà kinh tế học nổi tiếng như Lucas 1993, Sen1999, Stiglitz 2000, thì cùng với quá trình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởngđược biểu hiện tập trung ở các tiêu
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ 3BẢNG 3
ĐỒ THỊ 3
Đồ thị số 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error:
Reference source not found 3
Đồ thị số 2.2: Quy mô GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.3: Thu nhập bình quân/người của tỉnh Ninh Bình Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.4: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.5: Năng suất lao động của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 -2010 Error:
Reference source not found 3
Đồ thị số 2.6 : Hệ số ICOR của tỉnh Ninh Bình với cả nước giai đoạn 2001 -2009 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.7: Chỉ số PCI và thứ hạng xếp hạng CPI của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn
2005 - 2010 Error: Reference source not found 3LỜI NÓI ĐẦU 1
Trang 2FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
UNIDO : Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
Trang 3DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ 3BẢNG 3
ĐỒ THỊ 3
Đồ thị số 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error:
Reference source not found 3
Đồ thị số 2.2: Quy mô GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.3: Thu nhập bình quân/người của tỉnh Ninh Bình Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.4: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.5: Năng suất lao động của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 -2010 Error:
Reference source not found 3
Đồ thị số 2.6 : Hệ số ICOR của tỉnh Ninh Bình với cả nước giai đoạn 2001 -2009 Error: Reference source not found 3
Đồ thị số 2.7: Chỉ số PCI và thứ hạng xếp hạng CPI của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn
2005 - 2010 Error: Reference source not found 3LỜI NÓI ĐẦU 1
ĐỒ THỊ
Đồ thị số 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010
Error: Reference source not found
Đồ thị số 2.2: Quy mô GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error:
Reference source not found
Đồ thị số 2.3: Thu nhập bình quân/người của tỉnh Ninh Bình Error: Reference
source not found
Đồ thị số 2.4: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị
sản xuất tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010 Error: Referencesource not found
Đồ thị số 2.5: Năng suất lao động của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 -2010
Error: Reference source not found
Đồ thị số 2.6 : Hệ số ICOR của tỉnh Ninh Bình với cả nước giai đoạn 2001 -2009
Error: Reference source not found
Đồ thị số 2.7: Chỉ số PCI và thứ hạng xếp hạng CPI của tỉnh Ninh Bình trong
giai đoạn 2005 - 2010 Error: Reference source not found
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Ninh Bình là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội hơn90km về phía Nam Trong giai đoạn vừa qua, cùng với những thành tựu chung của
cả nước, tỉnh Ninh Bình đã đạt được những thành tựu đáng kể về tăng trưởng vàphát triển kinh tế: duy trì được tốc độ tăng trưởng trong thời gian dài, quy mô nềnkinh tế không ngừng được mở rộng; đã huy động, khai thác, sử dụng được mộtnguồn lực đáng kể về lao động, vốn đầu tư, nguồn tài nguyên thiên nhiên cho quátrình tăng trưởng Tuy nhiên, vấn đề: tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong giai đoạn cóthực sự hiệu quả? mô hình tăng trưởng theo chiều rộng hay chiều sâu? việc khaithác, sử dụng kết hợp các yếu tố nguồn lực cho tăng trưởng có thực sự tối ưu? điểmmạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức của tỉnh? cần được phân tích làm rõ để làm cơ sởcho việc định hướng, xác định các mục tiêu, giải pháp tăng trưởng cho giai đoạn tớimột cách sát thực, hiệu quả
Trước những vấn đề trên, là một công chức nhà nước làm việc trong lĩnh
vực Kế hoạch và Đầu tư, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Định hướng chiến
lược tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2010” làm luận văn
tốt nghiệp Thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu: (i) Phân tích, đánh giá tăng trưởng kinh tế tỉnh
Ninh Bình trong giai đoạn 2001-2010 để rút ra những mặt được, những tồn tại yếukém; mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 (ii) Đồngthời rút ra các bài học kinh nghiệm; xác định điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hộithách thức đối với tăng trưởng kinh tế; và mạnh dạn đưa ra mục tiêu, phương ántăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2020 (iii) Trên cơ sở đó sẽ đềxuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể để đạt được mục tiêu tăng trưởng theophương án đã được luận chứng lựa chọn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình
Trang 5tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình, bao gồm cả mặt lượng của tăng trưởng và mặtchất lượng của tăng trưởng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vị nghiên cứu về mặt không gian: đề tài nghiên cứu tăng trưởng kinh
tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian:
+ Phạm vi phân tích: đề tài nghiên cứu, phân tích dựa trên số liệu về tăngtrưởng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2001-2010, có
sự so sánh, đối chiếu với mức bình quân chung của vùng và các tỉnh trong vùngĐồng bằng sông Hồng khu vực đồng bằng sông Hồng
+ Phạm vi định hướng: giai đoạn 2011-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 và đưa ramục tiêu, phương hướng tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2020 đềtài sử dụng các phương pháp cơ bản sau: phân tích tổng hợp, thống kê, mô hìnhkinh tế lượng, phương pháp đối chiếu so sánh, ma trận SWOT
5 Kết cấu luận văn
Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế và chiến lược
tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng tăng trưởng kinh tế tỉnh giai đoạn 2001 - 2010
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai
đoạn 2011-2020
Kết luận và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHIẾN LƯỢC TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, lànền tảng chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong khoảng thờigian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ.Quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng phản ánh
sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ảnh sự thay đổi về lượng của nềnkinh tế Nhưng bản thân tăng trưởng kinh tế cũng chứa đựng hai thuộc tính: mặtlượng của tăng trưởng và mặt chất của tăng trưởng
* Mặt lượng của tăng trưởng
Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng,
nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng kinh tế và được phản ánh thôngqua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập Thu nhập thườngđược thể hiện dưới dạng giá trị: có thể là tổng thu nhập hoặc có thể là thu nhập bìnhquân trên đầu người Khi xem xét mặt lượng của tăng trưởng kinh tế người tathường quan tâm đến các câu hỏi như: tăng trưởng được bao nhiêu? nhiều hay ít?nhanh hay chậm?
* Mặt chất của tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh
tế Theo quan điểm của Thomas, Dailami và Dhareshwar (2004), chất lượng tăngtrưởng kinh tế được thể hiện trên hai khía cạnh: tốc độ tăng trưởng cao cần đượcduy trì trong dài hạn và tăng trưởng cần phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện mộtcách bền vững và xóa đói giảm nghèo
Trang 7Theo quan điểm của một số nhà kinh tế học nổi tiếng như Lucas (1993), Sen(1999), Stiglitz (2000), thì cùng với quá trình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởngđược biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau: (1) yếu tố năng suất tổng hợpcao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biếnđộng từ bên ngoài; (2) tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nângcao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; (3) tăng trưởng đi kèm với phát triển môitrường bền vững; (4) tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt
nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn; (5) tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cảithiện phúc lợi xã hội và giảm đói nghèo
Theo quan điểm của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), chất lượngtăng trưởng kinh tế thể hiện nhất quán và liên tục trong suốt quá trình sản xuất xãhội Chất lượng tăng trưởng thể hiện cả ở yếu tố đầu vào như việc quản lý và phân
bổ các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, lẫn ở kết quả đầu ra của quá trình sảnxuất với chất lượng cuộc sống được cải thiện, phân phối sản phẩm đầu ra đảm bảotính công bằng và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái Chất lượng tăng trưởng thểhiện ở sự bền vững của quá trình tăng trưởng và mục tiêu tăng trưởng dài hạn, mặc
dù tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn là những điều kiện rất cần thiết
Theo quan điểm của Lê Huy Đức (2004), “chất lượng tăng trưởng kinh tế làmột khái niệm kinh tế dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có củaquá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc tính tạothành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và giai đoạn nhất định”.Theo quan điểm của Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt, chất lượng tăngtrưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiệnqua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mứcsống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phùhợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăngtrưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lýkinh tế của nhà nước có hiệu quả; cụ thể nền kinh tế có chất lượng thể hiện qua cácđặc trưng sau:
Trang 8(i) Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài.
(ii) Phát triển có hiệu quả, thể hiện qua năng suất lao động, năng suất tài sảncao và ổn định, hệ số ICOR phù hợp và đóng góp của TFP cao
(iii) Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao
(iv) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp vớithực tiễn của nền kinh tế trong mỗi thời kỳ
(v) Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo hài hòa đời sống xã hội
(vi) Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái
(vii) Quản lý hiệu quả của nhà nước
1.1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
a) Nhóm nhân tố kinh tế:
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị đầu ra của nền kinh tế phụ thuộc chínhvào sức mua, khả năng thanh toán của nền kinh tế tức là tổng cầu và các yếu tốnguồn lực đầu vào tức là tổng cung Đây là hai yếu tố tác động trực tiếp đến tăngtrưởng kinh tế
(i) Nhóm nhân tố từ phía tổng cung:
Vốn (K): là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế Về mặt hiện vật, nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại củanền kinh tế, gồm: máy móc, nhà xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải, hệ thống kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội (đường xá, cầu, cống, các công trình điện, nước)… Đầu
tư tăng thêm vốn làm gia tăng năng lực sản xuất, là cơ sở để tăng thêm sản lượngthực tế có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Đối với các nước đang pháttriển, vốn đang là yếu tố khan hiếm nhất hiện nay, trong khi đó nó lại là khởi nguồn
để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác cho tăng trưởng.Tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển theo chiều sâu thì vai trò của vốn giảm dần vàđược thay thế bằng yếu tố như tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao
Lao động (L): là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, có vai trò quan
trọng đối với tăng trưởng kinh tế Lao động không chỉ được hiểu ở số lượng, quy
mô lao động mà cả ở chất lượng lao động được thể hiện ở kiến thức và kỹ năng mà
Trang 9người có được thông qua giáo dục đào tạo, tích lũy kinh nghiệm Trong các lýthuyết kinh tế hiện đại người ta đánh giá rất cao kiến thức và kỹ năng của người laođộng và coi đây là một loại vốn - vốn nhân lực Xem xét lao động trên cả haiphương diện số lượng và chất lượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phântích lợi thế so sánh và vai trò của yếu tố này đối với sự tăng trưởng ở các nước đangphát triển và các nước phát triển Một thực tế hiện này là tăng trưởng ở các nướcđang phát triển, có sự đóng góp nhiều của quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốnnhân lực còn hạn chế do trình độ và chất lượng lao động còn thấp.
Tài nguyên thiên nhiên (R): là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình
sản xuất và đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển Đối vớicác nước đang phát triển, việc tích lũy và huy động vốn cho đầu tư gặp rất nhiềukhó khăn nhưng nếu nhờ ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng thì
có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để xuấtkhẩu thu ngoại tệ Đồng thời nguồn tài nguyên thiên nhiên thường là cơ sở để pháttriển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyênliệu cho nhiều ngành kinh tế khác góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khoa học kỹ thuật (T): là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng
kinh tế trong điều kiện hiện đại Yếu tố khoa học kỹ thuật cần được hiểu đẩy đủ theohai dạng Thứ nhất đó là sự nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra nhữngnguyên lý, thử nghiệm, cải tiến trong sản xuất, quy trình công nghệ hay thiết bị Thứhai là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nângcao trình độ phát triển chung của sản xuất Kuznets hay Samuelson đều khẳng địnhcông nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tăng trưởng kinh tế bền vững.(ii) Nhóm nhân tố từ phía tổng cầu:
Theo cách tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi tiêu cuối cùng hộ gia đình (C),chi tiêu của chính phủ (G), đầu tư tích lũy tài sản (I) và cán cân xuất nhập khẩu (X-M) GDP = C + G + I + (X-M) Do vậy, sự biến đổi của các bộ phận trên sẽ gây nên
sự biến đổi của tổng cầu và từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trang 10Sự biến đổi của tổng cầu có thể theo hai xu hướng: suy giảm hay tăng tổng cầu.Theo hai xu hướng đó, tác động của sự thay đổi tổng cầu đến tăng trưởng kinh tếcũng khác nhau Nếu tổng cầu giảm sẽ làm hạn chế tăng trưởng và lãng phí các yếu
tố nguồn lực Nếu tổng cầu tăng thì thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế hoạtđộng dưới mức sản lượng tiềm năng hoặc không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà chỉlàm gia tăng mức giá khi nền kinh tế đã đạt, vượt mức sản lượng tiềm năng
b) Nhóm nhân tố phi kinh tế:
Khác với sự tác động trực tiếp của các yếu kinh tế lên tăng trưởng kinh tế, cácyếu tố phi kinh tế tác động một cách gián tiếp, không lượng hóa cụ thể được mức
độ, phạm vi tác động lên tăng trưởng kinh tế Các nhân tố phi kinh tế không tácđộng riêng rẽ mà mang tính chất tổng hợp, đan xen, tất cả lồng vào nhau tạo nêntính chất đồng thuận hay không đồng thuận của quá trình tăng trưởng kinh tế Một
số nhân tố phi kinh tế có tác động rõ nét đến quá trình tăng trưởng kinh tế như: đặcđiểm văn hóa - xã hội, thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, cơ cấu dân tộc, tôn giáo,
sự tham gia của cộng đồng
(i) Đặc điểm văn hóa - xã hội
Văn hoá - xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triểncủa mỗi quốc gia Nhân tố văn hoá - xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổthông đến những tích luỹ tinh hoa văn hoá nhân loại về khoa học, công nghệ, vănhọc, lối sống, phong tục tập quán, cách ứng xử trong giao tiếp… Trình độ văn hoácao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao ở mỗi quốc gia Nhìnchung, trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tốc vềchất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế - xã hội, tác phong laođộng… Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu tư cho sựnghiệp phát triển văn hóa phải được coi là những đầu tư cần thiết nhất và đi trướcmột bước so với đầu tư sản xuất
(ii) Thể chế chính trị - xã hội
Thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tươngtác giữa người với người Một thể chế chính trị - xã hội được thừa nhận có tác động
Trang 11đến quá trình tăng trưởng và phát triển, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành langpháp lý, định hướng con đường mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế và môitrường đầu tư… Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và phù hợp sẽ tạo ra nhữngđiều kiện thực tế tạo ra tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh và bền vững.Ngược lại, một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra cản trở, mất ổn định thậm chí điđến phá vỡ những quan hệ kinh tế cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suythoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị - xã hội.
(iii) Cơ cấu dân tộc, tôn giáo
Trong một quốc gia có các tộc người, tôn giáo khác nhau cùng sinh sống vàphát triển Do có những điều kiện sống khác nhau về: về vị trí địa lý, trình độ pháttriển, mức sống về tinh thần và vật chất… nên sự phát triển kinh tế tổng thể có thểđem lại những biến đổi có lợi cho dân tộc này, tôn giáo này nhưng lại gây nênnhững bất lợi cho dân tộc khác, tôn giáo khác Đó chính là những nguyên nhân nảysinh xung đột dân tộc, tôn giáo ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tăng trưởng vàphát triển kinh tế của một quốc gia Vì vậy, phải lấy tiêu chuẩn bình đẳng và cùng
có lợi cho tất cả các dân tộc, các tôn giáo nhưng phải bảo tồn bản sắc riêng và cáctruyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc góp phần ổn định chung của xã hội qua đó tạođiều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá tăng trưởng kinh tế
1.1.2.1 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế
Đo lường tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu trong hệ thống tài khoảnquốc gia (SNA) phản ánh quy mô của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêuphản ánh quy mô nền kinh tế như: tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốcnội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), GDP bình quân trên người, tốc độ tăngtrưởng giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng GDP
- Tổng giá trị sản xuất (GO): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạonên trên lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụcuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo
Trang 12nên trong một thời kỳ nhất định Để tính GDP, có ba cách tiếp cận cơ bản là sảnxuất, tiêu dùng và phân phối.
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI), là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất vàdịch vụ cuối cùng do công nhân một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhấtđịnh GNI bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lầnđầu có tính đến cả các khoản nhận từ nước ngoài về và chuyển ra nước ngoài GNI = GDP + chênh lệnh thu nhập nhân tố với nước ngoài
Trong đó: chênh lệnh thu nhập nhân tố với nước ngoài = thu nhập lợi tức nhân
tố từ nước ngoài - chi trả lợi tức nhân tố ra nước ngoài
1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đánh giá chất lượng tăng trưởng qua các nhóm yếu tố như: nhóm tiêu chí đánhgiá hiệu quả tăng trưởng; chỉ số năng lực cạnh canh cấp tỉnh (PCI); cơ cấu kinh tế;tác động lan tỏa của tăng trưởng đến các vấn đề xã hội môi trường
(a) Tính hiệu quả của tăng trưởng:
Hiệu quả tăng trưởng thể hiện ở sự so sánh kết quả đạt được của các chỉ tiêutăng trưởng so với chi phí bỏ ra; so sánh giữa kết quả đạt được ở các chỉ tiêu tăngtrưởng với các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh tế, đó là tăngthu nhập thực sự cho các quốc gia và nâng cao mức sống bình quân cho người dân
Để đánh giá tính hiệu quả của tăng trưởng, chúng ta thường sử dụng các chỉ tiêu:
(i) Tỷ lệ giá trị gia tăng (VA) trong tổng giá trị sản xuất (GO), so sánh tốc độ tăng giá trị gia tăng và tốc độ tăng tổng giá trị sản xuất Nếu giá trị gia tăng càng
chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị sản xuất thì càng chứng tỏ tính hiệu quả của tăngtrưởng Tốc độ tăng trưởng GO cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP phản ánh nền kinh
kế tăng trưởng nhờ gia công, sự sống còn của nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn hànghoá trung gian phải nhập khẩu từ bên ngoài và không có tính chủ động, kém bềnvững Đồng thời tốc độ tăng của GO cao hơn tốc độ tăng GDP chứng tỏ sự gia tăngngày càng cao của chi phí trung gian làm cho tỷ trọng chi phí trung gian trong GOngày càng cao và kết quả là tỷ trọng giá trị gia tăng (VA) trong GO giảm đi, hiệuquả tăng trưởng thấp Do vậy để nâng cao tính hiệu quả của tăng trưởng thì cần đảm
Trang 13bảo tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất và tăng tốc độ tăng trưởnggiá trị gia tăng
(ii) Năng suất lao động: được tính bằng GDP theo giá thực tế chia cho tổng số
lao động đang làm việc, phản ánh hiệu quả của tăng trưởng ở góc độ sử dụng laođộng sống Khi năng suất lao động thấp và tăng chậm thì chẳng những tác độngkhông tốt đến tăng trưởng GDP mà chứng tỏ giá trị thặng dự tạo ra thấp, ảnh hưởngđến tích lũy tái đầu tư để mở rộng cũng như nâng cao mức sống Năng suất laođộng thấp một mặt là do chất lượng lao động, trình độ công nghệ kỹ thuật thấp; mặtkhác còn do tình trạng thất nghiệp bao gồm cả thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp
vô hình Do vậy, vừa nâng cao chất lượng lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật chongười lao động vừa quan tâm đến các chương trình giải quyết việc làm cho ngườilao động là góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng của tăng trưởng kinh tế
(iii) Hiệu quả sử dụng vốn (hệ số ICOR): hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả của vốn đầu tư Ý nghĩa của hệ số ICOR là để tạo thêm được một đơn vịkết quả sản xuất thì cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất Hay nói cáchkhác, hệ số ICOR là “giá” phải trả thêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sảnxuất Trong một chừng mực nhất định, hệ số ICOR phản ánh hiệu quả sử dụng vốnđầu tư, tuy nhiên đó không phải là tất cả Đối với các nước công nghiệp phát triểntrong điều kiện nhiều vốn đầu tư, ít nguồn nhân lực thì có hệ số ICOR cao nhưngđiều đó không chứng tỏ hiệu quả đầu tư kém Ngược lại, đối với các nước đang pháttriển thì vốn đầu tư khan hiếm, nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng lao độngthấp thì hệ số ICOR cao đồng nghĩa với tình trạng đầu tư tư dàn trải, thất thoát, lãngphí, sử dụng vốn kém hiệu quả
Đối với thực hiện của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010, hệ số ICOR có xuhướng tăng lên nhưng điều đó chưa đi đến kết luận về hiệu quả đầu tư toàn xã hộitrong giai đoạn này là giảm Vì trong giai đoạn vừa qua nền kinh tế chịu tác độngbất thường của tình hình kinh tế thế giới như: giá cả nguyên, nhiên liệu tăng cao từcuối năm 2007 đến năm 2008, khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ, sau đó là khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả
Trang 14đầu tư, sản xuất kinh doanh Vì vậy, khi sử dụng hệ số ICOR để đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư cần xem xét trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, tínhtoán đến quan hệ của các yếu tố khác ngoài vốn
(iv) Nhân tố năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) và tốc độ tăng TFP
Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity) là một nhân tốtổng hợp phản ánh tác động của yếu tố khoa học cộng nghệ, vốn nhân lực, các khíacạnh về thể chế, cơ chế tác động đến khả năng tiếp nhận, nghiên cứu và vận hànhkhoa học - công nghệ và vốn nhân lực vào hoạt động sản xuất và dịch vụ của nềnkinh tế Năng suất nhân tố tổng hợp biểu thị phần thay đổi của GDP không do quy
mô lao động và tài sản tạo nên, được xác định bằng phần dư còn lại của tăng trưởngsau khi đã loại trừ tác động của các yếu tố vốn và lao động Vốn và lao động đượcxem là yếu tố vật chất, có thể lượng hóa được mức độ tác động của nó đến tăngtrưởng kinh tế và được coi là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng TFP đượccoi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu
Theo xu hướng của quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng cần phải xétđến vai trò của yếu tố TFP Đánh giá vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế dựavào: tỷ trọng đóng góp của yếu tố này trong kết quả tăng trưởng; các điều kiện cầnthiết cho vận hành yếu tố công nghệ mới vào hoạt động kinh tế như: trình độ côngnghệ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, quy mô đầu tư vốn cho các hoạt độngnghiên cứu và phát triển, sự phát triển của hoạt động giáo dục đào tạo và kết quả là
sự gia tăng quy mô của nguồn nhân lực, thể chế chính sách phù hợp để tạo ra cácnhân tố cần thiết cho quán trình tích tụ công nghệ; năng lực canh tranh công nghệ…TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
sẽ đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến độngkinh tế từ bên ngoài Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng trưởngkinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lựcsản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh
tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học côngnghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phươnghay mỗi quốc gia
Trang 15Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức: (1.1) gTFP = gY - (αgK + βgL)
(Trong đó: gY là tốc độ tăng trưởng GDP; gK là tốc độ tăng trưởng vốn; gL làtốc độ tăng trưởng lao động việc làm; α, β là lần lượt là hệ số đóng góp của vốn vàlao động)
Nếu xét trên góc độ cơ chế của tăng trưởng kinh tế, người ta phân tăng trưởngkinh tế thành hai loại: tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu.Tăng trưởng theo chiều rộng là nền kinh tế tăng trưởng chỉ chú trọng mặt lượng,tăng về quy mô mà không chú trọng đến các yếu tố duy trì tăng trưởng trong dàihạn, tăng trưởng phụ thuộc vào tăng quy mô nguồn vốn (K), tăng số lượng lao động(L) và tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên (R) Tăng trưởng theo chiều sâu
là tăng trưởng do tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, sự tiến
bộ của khoa học công nghệ, tức là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).Đối với các nước đang phát triển, trong giai đoạn đầu tiến hành công nghiệphóa do các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng như lao động, tài nguyên thiên nhiên
và vốn tương đối dồi dào, trong khi trình độ khoa học - công nghệ và chất lượngnguồn nhân lực còn hạn chế thì tăng trưởng theo chiều rộng thường được lựa chọn.Tuy nhiên, nếu nền kinh tế tăng trưởng dựa quá nhiều vào vốn và lao động thì tốc
độ tăng trưởng không cao, không có bước đột phá, nền kinh tế dễ bị tổn thương khi
có các tác động từ bên ngoài và kém tính bền vững Vì vậy theo xu hướng của sựphát triển, vai trò và sự đóng góp của yếu tố năng suất các yếu tố tổng hợp đối vớităng trưởng kinh tế ngày càng chiếm tỷ trọng cao Trong thời gian qua các nước đangphát triển đều chú trọng thực hiện các giải pháp nhằm tăng TFP Để tăng TFP cần cócác biện pháp tác động tổng hợp lên các nhân tố đóng góp vào TFP Có thể tăng chấtlượng lao động bằng các biện pháp phát triển nguồn nhân lực như tăng cường chấtlượng giáo dục đào tạo Hay sự thay đổi cơ cấu và chất lượng của vốn, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn cũng có tác động nâng TFP Và đặc biệt là các biện pháp thúc đẩy sựphát triển của khoa học - công nghệ như: tiếp thu công nghệ mới và tiên tiến ở nướcngoài, tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển…
Trang 16b) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI-Province Competitive Index)
PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Namtrong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanhnghiệp dân doanh Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam (là dự án do Cơquan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ) Chỉ số này được công bố thí điểmlần đầu tiên vào năm 2005 cho 47 tỉnh, thành Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi, tất cảcác tỉnh thành Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng Về bản chất, chỉ số PCI là “tậphợp tiếng nói” của nhiều doanh nghiệp dân doanh được chọn ra làm mẫu điều tra vềchất lượng điều hành kinh tế của chính quyền tỉnh
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được sử dụng như một công cụ quantrọng để đo lường, đánh giá công tác quản lý và điều hành kinh tế các tỉnh, thành phốViệt Nam trên 9 lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế dândoanh, bao gồm: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sửdụng đất, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian để thực hiện các quyđịnh của Nhà nước, chi phí không chính thức, tính năng động và tiên phong của lãnhđịa phương, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý
Một đặc điểm khá đặc biệt của PCI, là chỉ số PCI được xây dựng nhưng cótrọng số vì PCI dựa trên ảnh hưởng đối với sự phát triển của khu vực tư nhân.Chính vì thế những tiêu chí nào ảnh hưởng tới khu vực này nhiều hơn thì có trọng
số lớn hơn Ba yếu tố quan trọng nhất là: chí phí gia nhập thị trường; tính minh bạch
và tiếp cận thông tin; tính năng động và tiên phong của chính quyền địa phương.Các chỉ số thành phần được chuẩn hoá theo thang điểm từ 1 đến 10 và chỉ số PCIcuối cùng sau khi đã được tính toán trọng số có điểm tuyệt đối là 100 điểm
Về phương pháp nghiên cứu chỉ số PCI có một số điểm đặc biệt góp phần làmcho kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng dễ dàng vào công tác đổi mới điềuhành, cụ thể như:
- Thứ nhất, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban
đầu tới sự tăng trưởng kinh tế (những điều kiện này là các nhân tố căn bản cần thiết
Trang 17cho sự tăng trưởng nhưng rất khó hoặc thậm chí không thể đạt được trong thời gianngắn), kết quả nghiên cứu cho thấy thực tiễn điều hành kinh tế tốt ở cấp tỉnh có vaitrò quan trọng đối với sự tăng trưởng và những thực tiễn này còn góp phần lý giải sựkhác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh hoặc tại sao các tỉnh đạt kết quả phát triểnkinh tế tương đồng mặc dù điều kiện truyền thống ban đầu của mỗi tỉnh này rất khácnhau Tập trung vận dụng các thực tiễn điều hành tốt sẽ góp phần cải thiện sự pháttriển kinh tế mà không nhất thiết phải đòi hỏi ngay một sự thay đổi to lớn nào về mặt
hạ tầng cơ sở vật chất hay con người ở vùng đó
- Thứ hai, bằng cách chuẩn hóa điểm qua các thực tiễn tốt nhất đã có ở Việt
Nam, chỉ số PCI hướng chính quyền địa phương vào cải thiện cách điều hành của họ,không nhất thiết cứ phải dựa vào chuẩn mực lý tưởng nào về mô hình điều hành mà
có thể căn cứ ngay vào những thực tiễn tốt nhất đã sẵn có ở các tỉnh bạn và ngaytrong cùng một hệ thống chính trị Vì vậy, về lý thuyết, bất cứ tỉnh nào cũng có thểđạt tới điểm tuyệt đối bằng cách áp dụng thực tiễn tốt sẵn có của Việt Nam Điều đó
có nghĩa là chẳng có lý gì để biện hộ cho sự điều hành yếu kém ở tỉnh mình khi màchính quyền của bất cứ tỉnh nào đều có thể tự cải thiện để tạo ra môi trường kinhdoanh hấp dẫn ngay tại địa phương mình
- Thứ ba, bằng cách so sánh thực tiễn điều hành kinh tế với thực tế phát triển
kinh tế, chỉ số PCI cung cấp các đánh giá ban đầu về tầm quan trọng của thực tiễnđiều hành đối với sức thu hút đầu tư và tăng trưởng Cuộc nghiên cứu này là mộtminh chứng cụ thể về mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánhgiá của doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là với sự cải thiện phúc lợi của địaphương Mối quan hệ thứ hai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó nêu rõ các chínhsách và thực tiễn điều hành kinh tế tốt không chỉ làm lợi cho các doanh nghiệp màcòn làm lợi cho xã hội, khu vực kinh tế tư nhân năng động sẽ tạo thêm việc làm, gópphần nâng cao mức sống cho nhân dân
c) Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là thuộc phạm trù kinh tế, phản ánh tính chất và trình độ phát củanền kinh tế Cơ cấu kinh tế biểu hiện qua sự tương quan giữa các bộ phận trong tổng
Trang 18thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ tương hỗ và vị trí của mỗi bộ phận trong nềnkinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ góp phần tạo ra tăng trưởng nhanh, giatăng quy mô của nền kinh tế và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: đứng trên góc độphân công lao động thì có cơ cấu ngành kinh tế; đứng trên góc độ không gian, lãnh thổthì có cơ cấu vùng kinh tế; đứng trên góc độ xã hội hóa tư liệu sản xuất thì có cơ cấuthành phần kinh tế; đứng trên góc độ tích lũy và tiêu dùng thì có cơ cấu tái sản xuất
(I/C); đứng trên góc độ hội nhập kinh tế quốc tế thì có cơ cấu thương mại quốc tế
d) Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội
Các thước đo này phản ánh sự tác động lan toả của tăng trưởng đến các đốitượng chịu ảnh hưởng trong xã hội Quá trình tăng trưởng kinh tế phải kéo theo sựgia tăng các chỉ tiêu phúc lợi xã hội dưới các mặt như: giải quyết vấn đề lao động,việc làm và thất nghiệp; giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo; những tiến bộ phúclợi xã hội về y tế và giáo dục; bảo đảm công bằng xã hội
(i) Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm: tăng trưởng kinh tế phải đi đôi
với việc tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ởthành thị và tăng thời gian lao động cho lao động nông nhàn ở nông thôn Các thước
đo chất lượng tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm bao gồm: so sánh tốc độtăng trưởng lao động trong nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thấtnghiệp, tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn…
(ii) Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo: nền kinh tế tăng trưởng có
chất lượng phải đi kèm với xóa đói, giảm nghèo Các chỉ tiêu phản ánh mối quan hệgiữa tăng trưởng và giảm nghèo như: tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo, % giảm nghèo sovới % tăng trưởng kinh tế…
(iii) Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công xã hội: tăng trưởng kinh tế phải dẫn
đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân… thể hiện qua một số chỉ tiêu chínhnhư: chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số phát giới (GDI)
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa mặt lượng và mặt chất của tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế là hai mặt của mộtvấn đề, có quan hệ ràng buộc lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế về mặt lượng thường
Trang 19diễn ra trước và là điều kiện, tiền đề để đẩy mạnh nâng cao chất lượng tăng trưởngkinh tế Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng bền vững và hiệu quả,đến lượt nó góp phần tạo ra nhiều của cải, tăng thu nhập… lại là điều kiện bổ sungnguồn lực cho chu kỳ sản xuất sau, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về mặt lượng Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau và tuỳ theo sự lựa chọn mô hìnhphát triển khác nhau mà vị trí của mặt số lượng và mặt chất lượng được đặt ra khácnhau Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, để tạo ra những nét khởi sắc nhanhchóng cho nền kinh tế, hình thành những tiền đề vật chất, động lực cơ bản cho việcgiải quyết vấn đề xã hội, phần lớn các nước đều nhấn mạnh nhiều hơn đến mặt sốlượng của tăng trưởng và nhiệm vụ trước mắt thường đặt ra là làm thế nào để cảithiện được các chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng Giai đoạn sau, khicác chỉ tiêu tăng trưởng đã đạt được một mức độ nhất định thì vấn đề chất lượngtăng trưởng ngày càng được chú trọng Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này khôngphải là đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng là bao nhiêu mà là tính hiệu quả và sự bềnvững của các chỉ tiêu ấy như thế nào Chính việc quan tâm đến các tiêu chí mặt chấtcủa tăng trưởng lại là cơ hội để đạt được các mục tiêu về mặt số lượng tăng trưởng
và ngược lại, về phía mình, mặt lượng của tăng trưởng lại tạo ra các yếu tố hỗ trợ vềvật chất cho việc hướng tới chất lượng tăng trưởng tốt hơn
Việc phân chia vị trí và mối quan hệ của hai yếu tố số lượng và chất lượng củatăng trưởng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển chỉ mang tính chất tương đối.Mức độ khác biệt giữa hai giai đoạn phụ thuộc và nhiều yếu tố: như tình trạng pháttriển kinh tế - xã hội; quan điểm và các chính sách của nhà nước trong quá trình lựachọn mô hình phát triển, yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Cơ sở lý luận cho việc định định hướng chiến lược tăng trưởng
1.2.1 Chiến lược và vai trò, chức năng của chiến lược
1.2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội về cơ bản được xem là một hệ thống cácphân tích đánh giá và lựa chọn về các căn cứ của chiến lược, các quan điểm cơ bản(tư tưởng chỉ đạo và chủ đạo), các mục tiêu tổng quát và mục tiêu chủ yếu, các định
Trang 20hướng phát triển chủ yếu trong các lĩnh vực của đời sống đất nước, các giải pháp cơbản, chủ yếu là về cơ cấu và chính sách vận hành hệ thống kinh tế - xã hội, cácchính sách về bồi dưỡng, khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lựcphát triển, các biện pháp về tổ chức thực hiện chiến lược.
1.2.1.2 Vai trò, chức năng của chiến lược
Chiến lược vạch ra các phương hướng chủ đạo, định hướng có tính toàn cục
và xác định các mục tiêu phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳdài hạn Chiến lược là tiền đề cho quy hoạch và chiến lược cùng với quy hoạch làcăn cứ cơ bản để xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch, quy hoạch có nhiệm vụluận chứng phương án phát triển theo không gian lãnh thổ, theo ngành và kế hoạch
cụ thể hoá các mục tiêu của chiến lược Chất lượng của kế hoạch có được nâng caohay không, có phù hợp với kinh tế thị trường và đảm bảo quản lý vĩ mô của nhànước hay không chính là do khâu xây dựng chiến lược quyết định
Chiến lược là cương lĩnh hành động quản lý kinh tế - xã hội Hoạt động quản
lý nền kinh tế xã hội rất rộng lớn và phức tạp, muốn đưa mọi hoạt động quản lýthuộc các lĩnh vực khác nhau, có đặc điểm quản lý khác nhau vào trong một tầmsuy nghĩ chung thì cần phải có chiến lược Vì vậy chiến lược phát triển kinh tế - xãhội đảm nhiệm chức năng là cương lĩnh thống nhất hành động quản lý mọi hoạtđộng kinh tế - xã hội Ngoài ra trong cơ chế đảng lãnh đạo - nhà nước quản lý - dânlàm chủ, thì chiến lược là cụ thể hóa một bước đường lối phát triển kinh tế - xã hộicủa Đảng, là cầu nối giữa đường lối với thực tiễn quản lý của nhà nước và làm chủcủa nhân dân
1.2.2 Các loại hình chiến lược tăng trưởng kinh tế
Nội dung của chiến lược rất phong phú và đa dạng, với nhiều loại hình khácnhau Tính đa dạng và sự khác nhau của bản chiến lược do nhiều yếu tố ảnh hưởngnhư: chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển được lựa chọn; hoàn cảnh lịch
sử và trình độ phát triển ở từng giai đoạn của đất nước gắn với yêu cầu, nhiệm vụđặt ra ở giai đoạn đó; các nguồn lực phát triển chính…Tùy theo mục đích nghiêncứu, cách thức tiếp cận có thể phân chiến lược thành nhiều loại hình khác nhau như:
Trang 211.2.2.1 Xét theo góc độ quản lý
Xét theo góc độ quản lý có thể chia chiến lược thành các loại:
(i) Chiến lược quốc gia: là hệ thống các phân tích đánh giá và lựa chọn về cáccăn cứ của chiến lược, các quan điểm cơ bản, mục tiêu tổng quát, các định hướngphát triển chủ yếu trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giải pháp cơ bản đểkhai thác, huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực phát triển, các biện pháp
về tổ chức thực hiện
(ii) Chiến lược cấp tỉnh và phát triển vùng: là một bộ phận của chiến lược quốcgia, phải phù hợp và phục tùng chiến lược quốc gia Trong chiến lược cấp tỉnh (vùng)chứa đựng hai yếu tố: một là chiến lược phát triển của địa phương và vùng Trongtrường hợp đó một mặt phát triển nào đó của tỉnh (vùng) là nhằm thực hiện nhiệm vụchiến lược của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển của tỉnh (vùng) Hai là thực hiện yêu cầucủa chiến lược toàn quốc đối với tỉnh (vùng) Trong trường hợp này một số mặt pháttriển nào đó của tỉnh hay vùng là nhằm thực hiện chiến lược toàn quốc
(iii) Chiến lược cấp ngành: là hệ thống các mục tiêu và biện pháp của ngành
để đạt được mục tiêu ngành đặt ra Chiến lược cấp ngành phải phục tùng chiến lượcquốc gia
(iv) Các chiến lược chức năng như: chiến lược phát triển khoa học công nghệ,chiến lược phát triển chính sách tiền tệ, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lượctăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chiến lược phát triển sự nghiệp văn hóa…
1.2.2.2 Theo tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc (UNIDO)
Theo UNIDO chiến lược có thể phân loại thành:
(i) Chiến lược tăng trưởng nhanh
Nội dung của chiến lược này là tập trung vào việc phân bổ các nguồn lực đầu
tư và nhân lực và các ngành mà đặc biệt là các phân ngành công nghiệp, các hoạtđộng kinh tế, các dự án có mức hoàn vốn cao nhất Muốn đạt được điều này phảihướng mạnh vào xuất khẩu là chủ yếu
- Chiến lược này đòi hỏi:
+ Đảm bảo hiệu quả cao Muốn vậy phải phân tích kỹ về chi phí và lợi íchthương mại cho các ngành, lĩnh vực; áp dụng phương pháp quản lý mới nhất, nângcấp thiết bị một cách căn bản; tham gia hoàn toàn vào hội nhập và cạnh tranh quốc tế
Trang 22+ Phải thu hút được nhiều vốn và công nghệ, đặc biệt là các nước đang phát triển.+ Tạo ra thị trường trong nước và nước ngoài một cách chủ động.
+ Phải nhập khẩu lớn, nhất là các cấu kiện, thiết bị và sản phẩm trung gian.+ Chủ động tiếp nhận công nghệ, bí quyết công nghệ nước ngoài
+ Tạo ra được kết cấu hạ tầng hiện đại bao gồm cả kết cấu hạ tầng kinh tế và
xã hội
- Chiến lược này có những hạn chế:
+ Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao cần thiết phải giảm tối đa nhân lực trongcác ngành sản xuất do đó làm tăng tỷ lệ thất nghiệp;
+ Làm tăng sự khác biệt giữa các vùng, miền và tạo ra sự chênh lệch lớn vềthu nhập giữa các bộ phân dân cư, ngành và các lĩnh vực
(ii) Chiến lược nhằm vào các nhu cầu cơ bản
Chiến lược này hướng các nguồn lực vào việc sản xuất và cung ứng cho thịtrường trong nước những nhu cầu hàng lương thực, thực phẩm cơ bản, hàng maymặc thông thường, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, các sản phẩm công nghiệpnặng cho nhu cầu trong nước như sắt thép, hóa chất, phân bón Về cơ bản đây làchiến lược thay thế nhập khẩu (Được áp dụng phổ biến ở Ấn Độ, Malaixia,Indonexia, Hàn Quốc ở thập kỷ 50-60 của thế kỷ trước) Điều kiện áp dụng chiếnlược này là:
- Chú trọng phát triển công nghiệp trên cơ sở nông nghiệp, ưu tiên vốn đầu tưcho phát triển các sản phẩm hỗ trợ công nghiệp
- Có chính sách kinh tế vĩ mô cho phép tạo ra nhu cầu cao trong nhân dân.Trong đó có chính sách ngoại thương trước hết hỗ trợ cho sản xuất trong nước cungcấp sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cơ bản
- Đề cao phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp nông thôn
Chiến lược này có nhược điểm là hiệu quả không cao, tính cạnh tranh kém.Thực hiện chiến lược này cũng đồng nghĩa với việc phải nhập khẩu nhiều nguyênliệu, máy móc thiết bị để phát triển sản xuất Trong khi đó thị trường trong nướcnhỏ hẹp, không kích thích mở rộng sản xuất
Trang 23(iii) Chiến lược dựa trên cơ sở nguồn lực trong nước
Chiến lược này dựa trên thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên trong nước nhưkhoáng sản, nông sản, thủy hải sản, lâm sản Trên cơ sở đó mà khai thác và chếbiến cho cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài Yêu cầu khi thực hiệnchiến lược này là phải đẩy mạnh việc thăm dò và khai thác mỏ, khí thiên nhiên Cầnchú trọng sản xuất nông sản hàng hóa, phát triển nghề cá Bên cạnh đó, cần điều trachi tiết, áp dụng các hệ thống tiên tiến về rừng, trồng rừng quy mô lớn kết hợp với
ưu tiên phát triển chế biến tài nguyên Để thúc đẩy sản xuất cần tăng cường hợp tácquốc tế, nâng cao trình độ chuyên môn trong lĩnh vực chế biến tài nguyên, tạo ranguồn năng lượng điện lớn
Hạn chế chủ yếu của chiến lược này là nguồn tài nguyên nhanh chóng bị cạnkiệt Trong khi chú ý khai thác nguồn tài nguyên, nền kinh tế không có điều kiệnphát triển công nghiệp vừa và nhỏ, sử dụng nhiều lao động
(iv) Chiến lược toàn dụng lao động
Chiến lược này hướng vào việc tạo tối đa việc làm, ít chú ý đến hiệu quả và hợptác quốc tế Trong chiến lược này, các ngành công nghiệp vừa và nhỏ đóng vai tròchủ yếu, hợp tác quốc tế ở trình độ thấp, việc xuất khẩu được thực hiện một cách cólựa chọn, chủ yếu là lắp ráp, công nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn được phát triển.Điểm hạn chế của chiến lược là trình độ công nghệ thấp, kém hiệu quả, khảnăng cạnh tranh chỉ được phát huy ở những sản phẩm có hàm lượng lao động cao.Thêm vào đó, khả năng hợp tác quốc tế không được mở rộng
Qua phân tích tính đa dạng của chiến lược và những ưu, nhược điểm, điềukiện vận dụng của các loại hình chiến lược, rõ ràng là một quốc gia không thể theođuổi một mục tiêu thể hiện ở một loại hình chiến lược riêng biệt nào, bởi lẽ từngloại hình chiến lược nêu trên chỉ đáp ứng từng mặt trong từng giai đoạn, không đápứng được mục tiêu phát triển tổng thể, toàn diện Các quốc gia không thể chỉ đạt tăngtrưởng nhanh mà còn tạo ra sự phân hoá xã hội, tạo ra sự chênh lệnh quá lớn về mứcsống; không thể đáp ứng nhu cầu trong nước, hoặc toàn dụng lao động trong điều
Trang 24kiện nền kinh tế kém hiệu quả, không có khả năng hội nhập với nền kinh tế thế giới;nguồn tài nguyên thiên nhiên không đủ lớn để chỉ dựa vào nó để phát triển nhanh vàbền vững Trong thực tiễn, một chiến lược đúng phải là sự kết hợp các loại hình trên,trên cơ sở xem xét nhiều chính sách và mô hình phát triển khác nhau để đạt tới sựphát triển đáp ứng cả ba yêu cầu: nhanh, hiệu quả và bền vững.
Chiến lược rất đa dạng với nhiều loại hình khác nhau nên khi xây dựng chiếnlược phải tuỳ theo bối cảnh và đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ mà lựa chọncho phù hợp Chính vì vậy, yêu cầu đối với chiến lược, trước hết không được đi theonhững “lối mòn” trong tư duy và hoạch định Để chiến lược thực sự mới mẻ, sángtạo, đột phá, thiết thực và linh hoạt thì từ sự hoạch định đến hành động không thểtách rời, phân cách, cần căn cứ và xuất phát từ những yếu tố chủ yếu sau:
- Từ thực tiễn cuộc sống và phát triển của đất nước, nhận ra những vấn đềđang nổi bật và gay gắt, đồng thời thực tiễn cũng chứa đựng những mô hình, kinhnghiệm cho phép giải quyết những vấn đề đó Đặc biệt cần lắng nghe và cảm nhậnđược những mong muốn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân
- Từ sự phát triển của thế giới, của thời đại nhận rõ những thành quả văn minhcủa nhân loại, những xu thế phát triển, những thách thức và cơ hội, những nguồn lựcvật chất và tinh thần… tất cả những điều đó đều tác động vào sự tồn tại và phát triển
- Từ nền tảng tư tưởng của Đảng, từ lý tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân dân,giữ vững và phát triển định hướng cho tư duy và hoạch định chiến lược
- Từ truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc, cốt cách, lối sống của dân tộc,
kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với thời đại mới, hình thành nênnhững nét riêng đặc sắc của chiến lược
1.2.3 Quy trình định hướng chiến lược phát triển kinh tế ở địa phương
1.2.3.1 Xác định các căn cứ xây dựng chiến lược
Xác định các căn cứ xây dựng chiến lược nhằm làm rõ thực trạng phát triển,thuận lợi, thời cơ, khó khăn, thách thức đối với sự phát triển trong thời gian tới Cáccăn cứ xây dựng chiến lược gồm:
Trang 25(i) Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Đánh giá thực trạng nền kinh tế nhằm mục đích xác định rõ điểm xuất phátcủa nền kinh tế trước khi bước vào thời kỳ chiến lược Trên nền tảng điểm xuấtphát, người xây dựng chiến lược phải có nhiệm vụ xác định cái đích cần đạt đượcqua thời kỳ chiến lược và luận chứng rõ đi đến đích đó bằng con đường nào, bằngcách nào Tuy nhiên, việc xác định đích cần đạt được phải căn cứ vào nhu cầu củachính nền kinh tế - xã hội, nhu cầu của thời đại và những căn cứ khác
Đánh giá đúng thực trạng nền kinh tế có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó không nhữngcho phép xác định đúng đắn đích tối đa cần đạt được mà còn tạo lập căn cứ để xác định
rõ có bao nhiêu cách đi tới đích, và trong đó cách nào là tối ưu, hiệu quả nhất
Việc đánh giá thực trạng nền kinh tế sai lệch có thể gây nên sự lệch lạc trongviệc xác định đích cần đạt qua thời kỳ chiến lược theo hai khuynh hướng:
- Một là đánh giá quá thấp: đánh giá quá thấp thực trạng đạt được của nền kinh
tế sẽ gây nên những lãng phí to lớn cho nền kinh tế và vô hình dung làm chậm tiếntrình đi lên của đất nước Điều quan trọng là khi nhận thức thực trạng ở mức thấp sẽkéo theo sự nhận thức các qui luật nội tại của nền kinh tế một cách sai lệch, trongkhi thực tế diễn ra theo một chiều hướng khác Những tính toán, lập luận về mụctiêu theo đó cũng ở mức thấp Do vậy nền kinh tế phát triển có thể theo đườngvòng, lãng phí nguồn lực, làm chậm quá trình phát triển
- Hai là đánh giá quá cao thực trạng phát triển Trong trường hợp này, ngườilập chiến lược ngộ nhận về trình độ phát triển cao hơn mức thực tế đạt được, dẫnđến những lạc quan không đáng có trong cách nhìn, trong tư duy và lập luận Hậuquả tất yếu của khuynh hướng là xây dựng mục tiêu quá cao, nền kinh tế không thểđạt tới, tính khả thi của chiến lược không được đảm bảo Trong nhiều trường hợpkhi chiến lược không được thực hiện thành công sẽ gây nên nhiều hậu quả nghiêmtrọng: nền kinh tế xã hội rơi vào khủng hoảng, niềm tin của quần chúng bị giảm sút,tình hình kinh tế - xã hội diễn ra theo chiều hướng phức tạp, mất ổn định
Trang 26Do vậy, trong thực tiễn xây dựng chiến lược cần tránh cả hai khuynh hướngnói trên Muốn như thế khi phân tích đánh giá thực trạng cần đứng trên quan điểmtoàn diện, khách quan, dám nhìn thẳng vào thực trạng để phân tích đánh giá.
Thực trạng kinh tế - xã hội được phản ánh qua nhiều nội dung phức tạp vừađịnh tính, vừa định lượng Những nội dung chủ yếu phản ánh thực trạng bao gồm:
- Trình độ phát triển kinh tế (số lượng tuyệt đối và tương đối) thể hiện ở cácchỉ tiêu sau đây:
+ Sản lượng nền kinh tế, qui mô sản phẩm chủ yếu của các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Mức độ đáp ứng hàng hóa tư liệu sản xuất và tư liệutiêu dùng cho sản xuất và đời sống nhân dân
+ Tích lũy và đầu tư, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, năng lực sản xuất củacác ngành, trình độ công nghệ
+ Cơ cấu nền kinh tế, sức cạnh tranh của nền kinh tế
+ Việc hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, các vùng kinh tếtrọng điểm
+ Quan hệ sản xuất, sự phát triển của các thành phần kinh tế, thể chế quản lý
và phân phối thu nhập
+ Quan hệ kinh tế đối ngoại, xuất - nhập khẩu, thu hút đầu tư và đầu tư nước ngoài
- Trình độ phát triển về mặt xã hội:
+ Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực
+ Phát triển giáo dục, văn hóa, khoa học - công nghệ
+ Đời sống nhân dân - giải quyết việc làm, bảo trợ xã hội (trẻ em, cô đơn, đốitượng xã hội khác)
+ Môi trường sinh thái
- An ninh quốc phòng, trật tự xã hội
Việc đánh giá thực trạng cần xem xét cả hai mặt: mặt thành tựu cũng như hạn
Trang 27chế Trong khi đánh giá tổng quát cần so sánh đối chiếu với các mục tiêu đề ra trongchiến lược giai đoạn đã qua, các chỉ tiêu của các nước trong khu vực và các trình độkhác nhau trên thế giới.
(ii) Phát hiện quy luật nội tại của phát triển kinh tế - xã hội
Quy luật nội tại của các hoạt động kinh tế - xã hội tồn tại một cách kháchquan, không phụ thuộc và ý chí của con người Con người chỉ có thể cố gắng để làmcho nhận thức của mình tiếp cận với thực tế khách quan Do vậy, để chiến lược thực
sự là một sự định hướng chung cho sự phát triển kinh tế - xã hội thì chiến lược phảiphù hợp với tính quy luật của hoạt động kinh tế - xã hội Nếu không hiểu được tínhquy luật của các hoạt động kinh tế - xã hội hoặc vi phạm quy luật thì không thựchiện chiến lược một cách hiệu quả
(iii) Dự báo các nguồn lực
Căn cứ cho việc hoạch định chiến lược còn bao gồm cả đánh giá đầy đủ dự trữcác nguồn lực và khả năng huy động sử dụng chúng vào phát triển kinh tế - xã hộithời kỳ chiến lược Đây là nội dung khá phức tạp, đòi hỏi phải điều tra thống kê đầy
đủ, đánh giá đúng nguồn lực từ vị trí địa lý, đất đai, tài nguyên (phân loại), nguồnnhân lực, tiềm lực về vốn và huy động vốn, tiềm lực khoa học - công nghệ, các điềukiện và nhân tố nội tại của nền kinh tế tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hộithời kỳ tới Yêu cầu là phải đánh giá đầy đủ, đúng đắn dự trữ nguồn lực, điều kiện
và khả năng khai thác Việc đánh giá cần được kết hợp với dự báo khả năng huyđộng vào phát triển trong thời kỳ chiến lược Đồng thời, trong đánh giá thực trạng,vấn đề quan trọng là phải xác định nền kinh tế đã đi đúng quĩ đạo chưa Cần xácđịnh các lệch lạc có thể có, tìm ra nguyên nhân và phương hướng điều chỉnh Trongnội dung này, những vấn đề về cơ chế, thể chế, bộ máy và đội ngũ cán bộ cũng cầnđược đánh giá một cách đầy đủ
(iv) Dự báo xu hướng tiến bộ của khoa học - công nghệ
Đặc điểm phát triển của xã hội hiện đại là tiến bộ khoa học - công nghệ ngàycàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống xã hội Tiến bộ khoa học - công nghệ một
Trang 28mặt thúc đẩy kết cấu kinh tế - xã hội thay đổi và phát triển, mặt khác làm cho nộidung và hình thức của hoạt động kinh tế - xã hội đổi mới, thay đổi đời sống tinhthần của xã hội và các quan niệm xã hội.
Khoa học - công nghệ tác động vào sản xuất trước hết thông qua việc tăngcường trình độ của lực lượng sản xuất: công cụ sản xuất hiện đại, thay đổi trongcông nghệ dẫn đến thay đổi hàm lượng tiêu hao vật chất, quan hệ trong sản xuấtthay đổi, kết cấu hạ tầng thay đổi Khoa học - công nghệ tác động đến trình độ tổchức và quản lý Khoa học - công nghệ tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàđặt ra yêu cầu mới cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khoa học - công nghệtác động đến đời sống tinh thần của xã hội và làm thay đổi các quan niệm xã hội
Do vậy khi hoạch định chiến lược phải tính đến tiến bộ khoa học - công nghệ, sự tácđộng của nó đến hoạt động kinh tế - xã hội và những yêu cầu mới của nó Trong nộidung của chiến lược phải thể hiện được những quan niệm mới, tư tưởng mới, nhữngyêu cầu mới mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ sản sinh ra
Để xác định mức độ tác động của khoa học - công nghệ trong thời kỳ chiếnlược, cần phải tiến hành đánh giá, phân tích và dự báo Dự báo khoa học - côngnghệ là lĩnh vực riêng trong hệ thống dự báo kinh tế quốc dân
(v) Phân tích và dự báo môi trường kinh tế
Bao gồm đánh giá và dự báo môi trường trong nước và môi trường quốc tế, cácđiều kiện tác động đến phát triển kinh tế - xã hội như: các cân đối vĩ mô của nền kinh
tế, tác động của quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, khả năng mở rộng hợp tác quốc
tế, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ… qua đó có thể rút ra được những cơ hội
và khó khăn thách thức cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
1.2.3.2 Hình thành quan điểm cơ bản của chiến lược
Quan điểm cơ bản của chiến lược là những tư tưởng chỉ đạo và chủ đạo thểhiện tính định hướng của chiến lược Các quan điểm này vừa có ý nghĩa chủ đạo xâydựng chiến lược vừa là những tư tưởng “linh hồn” của bản chiến lược mà trong từngnội dung của chiến lược phải thể hiện và quán triệt Hệ thống quan điểm thể hiện nét
Trang 29khái quát, đặc trưng nhất và có tính nguyên tắc về mô hình và con đường phát triểnkinh tế xã hội của đất nước hướng tới mục tiêu lâu dài Việc xác định các quan điểm
cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường pháttriển, tạo ra động lực cơ bản xuyên suốt trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia.Quan điểm cơ bản của chiến lược được hình thành bởi các yếu tố chính sau:
- Chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển của đất nước được lựa chọn
- Hoàn cảnh lịch sử và trình độ phát triển ở từng giai đoạn của đất nước gắnvới các yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong từng giai đoạn
- Quan điểm thể hiện sự nhận thức cao điều kiện bên trong và bên ngoài củanhà nước để lựa chọn bước đi, trọng điểm của chiến lược, phương châm phát triển,động lực phát triển chủ yếu
1.2.3.3 Xác định các mục tiêu của chiến lược
Mục tiêu chiến lược là mức phấn đấu cần phải đạt được qua mỗi thời kỳ nhấtđịnh Mục tiêu bao gồm cả phần định tính và phần định lượng, phản ánh một cáchtoàn diện những biến đổi quan trọng của nền kinh tế - xã hội, là những mốc mới cầnphải đạt được trên con đường phát triển
Mục tiêu định tính được diễn đạt bằng lời văn, mô tả bước tiến của đất nướctrên những phương diện như: trình độ hiện đại hoá của nền kinh tế, trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, đời sống tinh thần - vật chất,nền văn minh dân chủ, an ninh quốc phòng…
Mục tiêu định lượng hướng vào một số chỉ tiêu quan trong và chủ yếu nhấtnhư: tốc độ tăng và quy mô GDP; cơ cấu kinh tế; cán cân xuất nhập khẩu, thanhtoán quốc tế; các chỉ tiêu về xã hội và môi trường
Việc xác định mục tiêu phát triển phải xuất phát từ khả năng thực tế, đòi hỏicủa cuộc sống, của thời đại, hướng tới việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư, bộ mặt của đất nước và vị thế của đất nướctrên trường quốc tế Đồng thời việc xác định mục tiêu phải trên cơ sở quán triệt cácquan điểm chỉ đạo, mục tiêu vừa phải đảm bảo tính khả thi, tính tích cực, vững chắcvừa phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo
Trang 301.2.3.4 Chính sách và biện pháp thực hiện chiến lược
Để thực hiện chiến lược cần có một hệ thống giải pháp về cơ chế hoạt độngcủa nền kinh tế - xã hội, tức là những chính sách và thể chế quản lý kinh tế - xã hội.Đây là những giải pháp có ý nghĩa tạo ra động lực, khai thác, huy động, phát huy,phân bổ và sử dụng các nguồn lực ở trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế
- xã hội Không có những giải pháp thì chiến lược chỉ đơn thuần là những ý tưởng
và nguyện vọng, không mang tính khả thi
Cơ chế triển khai thực hiện chiến lược bao gồm rất nhiều các công cụ khácnhau, trong đó hệ thống kế hoạch hóa có vai trò quan trọng Chiến lược phải được cụthể hóa thành quy hoạch phát triển, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàngnăm, các chương trình, dự án Trong hệ thống các chính sách và giải pháp thực hiệnchiến lược cần xác định rõ các giải pháp mang tính chất đột phá Đó là các giải phápcho phép tập trung giải quyết các vấn đề then chốt nhất có tác dụng tạo ra động lựcmới để huy động mọi tiềm năng trong nền kinh tế vào việc thực hiện các mục tiêu đãđặt ra của chiến lược
1.3 Kinh nghiệm thực tế ở một số địa phương nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, định hướng chiến lược tăng trưởng kinh tế
Bài học về việc xác định đúng khâu đột phá để tạo thế "đi tắt, đón đầu" của tỉnh Vĩnh Phúc: nếu lấy mốc tái lập tỉnh năm 1997 để xác định điểm xuất phát, thì
Vĩnh Phúc là một tỉnh nông nghiệp Thu nhập GDP bình quân đầu người lúc đó mớichỉ bằng 48% mức trung bình của cả nước Thu ngân sách của tỉnh dưới 100 tỷđồng, nhiều khoản mục chi thường xuyên phải do ngân sách trung ương trợ cấp Cơcấu sản xuất còn rất nặng về nông nghiệp (chiếm 52% trong GDP), trong khi côngnghiệp mới chỉ chiếm khoảng 12%, còn lại 36% GDP là thương mại dịch vụ, nhưngchủ yếu mới chỉ là buôn bán nhỏ lẻ Tuy nhiên, đến năm 2004 Vĩnh Phúc đã vươnlên thành một trong mười tỉnh đầu tiên của cả nước có số thu ngân sách trên 1.000
tỷ đồng, gia nhập "câu lạc bộ một ngàn tỷ đồng thu ngân sách" Thu ngân sách nhànước trên địa bàn đạt trên 2.375 tỷ đồng, trong đó nét nổi bật là thu nội địa đạt trên1.346,7 tỷ đồng, chiếm gần 57% Nếu tính riêng giá trị tuyệt đối sản xuất công
Trang 31nghiệp, Vĩnh Phúc đã vượt lên trên nhiều tỉnh và thành phố, đứng thứ bảy trong cảnước và đứng thứ ba ở phía Bắc, sau Hà Nội và Hải Phòng Nguyên nhân chínhtrong sự tăng trưởng thần kỳ của tỉnh Vĩnh Phúc là tỉnh đã xác định đúng khâu độtphá để tạo thế "đi tắt, đón đầu" Khâu đột phá đó là phát triển mạnh các khu côngnghiệp, cụm công nghiệp để thu hút vốn đầu tư vào tỉnh, đồng thời khai thác các lợithế về du lịch và dịch vụ
Và sự thành công của Vĩnh Phúc trong phát triển các khu công nghiệp, cụmcông nghiệp là có nhờ có một phần đóng góp rất lớn trong việc tháo gỡ một cáchkhéo léo, tinh tế, vấn đề quy hoạch và đền bù giải phóng mặt bằng Một số địaphương khác lân cận Hà Nội và các thành phố lớn đều coi vấn đề giải phóng mặtbằng để phát triển công nghiệp theo quy hoạch là một trong những vấn đề nan giải.Thậm chí có tỉnh còn bị trì trệ, làm chậm lại nhiều dự án đầu tư lớn Thực tế ở nhiềuđịa phương cho thấy, để đưa công nghiệp về nông thôn khâu khó khăn nhất, gặpnhiều gay cấn nhất, liên quan đến sự thành bại của mọi dự án đầu tư, đều tập trung
ở khâu đền bù, giải phóng mặt bằng, chứ không phải là vốn Nhưng nhờ công táctuyên truyền, vận động, giải thích đã làm cho mọi người dân nhận thức được rằng,thu hút được các nhà đầu tư vào làm ăn trên địa bàn tỉnh là được lợi về nhiều mặt,đồng thời tỉnh cũng thực hiện một cách nghiêm túc, công tâm, khách quan nhữngquy định của Chính phủ về chính sách giải phóng mặt bằng, trong đó phải đặc biệtquan tâm đến quyền lợi chính đáng của người dân trong khâu đền bù giải tỏa, bêncạnh đó chính quyền địa phương còn tìm mọi cách để chia sẻ khó khăn với các nhàđầu tư, làm cho họ thật sự yên tâm, tin tưởng khi đầu tư Do đó, hai bài toán hócbúa đối với nhiều địa phương là tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng và giảiphóng mặt bằng, có thể nói, đã được giải quyết thỏa đáng ở Vĩnh Phúc
Bài học về tạo dựng môi trường đầu tư của tỉnh Bình Dương: hiện nay, nhiều
tỉnh phía Bắc đang cạnh tranh thu hút đầu tư bằng việc đưa ra hàng loạt những chínhsách ưu đãi Tuy nhiên, ông Lê Việt Dũng, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Bình Dương cho rằng ưu “đãi đầu tư chỉ có vai trò như đồ trang điểm của một
cô gái”, do vậy không có tính bền vững Điều quan trọng là tạo ra môi trường kinh
Trang 32doanh minh bạch, thông thoáng và thuận lợi Có thể có người e ngại rằng BìnhDương thu hút đầu tư bằng cách cấp các chế độ ưu đãi đầu tư hơn các tỉnh khác.Thực ra không phải như vậy, tỉnh Bình Dương không có bất kỳ ưu đãi đầu tư nàokhác ngoài các chính sách chung của Nhà nước mà điểm khác biệt chính là chínhquyền ở đây tạo ra môi trường và để cho các nhà đầu tư lựa chọn trên cơ sở lợi thếcạnh tranh và giúp các nhà đầu tư phát triển dựa trên lợi thế đó Thực hiện chủ
trương “chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”, tăng cường đối thoại giữa
chính quyền với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạtđộng sản xuất - kinh doanh cho các doanh nghiệp, làm thế nào để doanh nghiệp cóthể yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tất
cả vì lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của tỉnh Bình Dương Giải quyết
các thủ tục hành chính của doanh nghiệp bằng cơ chế "một cửa", và “ một cửa liên
thông”, kịp thời lắng nghe và giải quyết trực tiếp các khó khăn vướng mắc của
doanh nghiệp với thủ tục rõ ràng, công khai, minh bạch, bình đẳng cho mọi thànhphần kinh tế Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối duy nhất tiếp nhận hồ sơ
và giải quyết các công việc tiếp theo, thay mặt nhà đầu tư liên hệ với các cơ quanhữu quan rồi trả lời cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tưkhi đăng ký Các cơ quan chức năng đều thông báo công khai các loại giấy tờ cần
có về hồ sơ đăng ký giấy phép đầu tư Bên cạnh đó tỉnh cũng đẩy mạnh cải cáchhành chính và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước Tiếp tục rà soát, nâng caonăng lực đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầuđổi mới và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2010
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cơ bản của tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm phân vùng
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam của vùng Đồng bằng sông Hồng, cách trungtâm thủ đô Hà Nội hơn 90 km về phía Nam, nằm trên tuyến giao thông huyết mạchBắc - Nam; phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định, phíaĐông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây - Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hoá,phía Tây - Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.389,1 km2,chiếm 9,28% diện tích đất tự nhiên vùng đồng bằng sông Hồng và 0,42% diện tích
tự nhiên của cả nước
Tỉnh có địa hình đa dạng, thấp dần từ vùng núi đồi phía Tây sang vùng đồngbằng trũng xen kẽ núi đá vôi và xuống đồng bằng phì nhiêu, bãi bồi ven biển phíaĐông Địa hình hội tụ đầy đủ điều kiện khá thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hộivới thế mạnh của từng vùng:
- Vùng đồi núi: gồm các dãy núi đá vôi với độ dốc lớn và đồi đan xen hìnhthành các thung lũng lòng chảo hẹp, trong tiểu vùng có dạng địa hình bình nguyên.Vùng này chủ yếu nằm ở huyện Nho Quan, phía Bắc - Đông Bắc của huyện GiaViễn và phần lớn thị xã Tam Điệp Diện tích chiếm gần 30% tổng diện tích tự nhiêncủa tỉnh
- Vùng đồng bằng trũng trung tâm: có tiểu vùng ruộng trũng, hồ, ao xen kẽnhiều dãy núi đá vôi với các hang động đẹp, gồm phần còn lại của huyện NhoQuan, huyện Gia Viễn, thị xã Tam Điệp và huyện Hoa Lư, thành phố Ninh Bình,một phần của huyện Yên Mô Vùng này có diện tích chiếm gần 40% tổng diện tích
tự nhiên của tỉnh
- Vùng đồng bằng, bãi bồi ven biển: gồm toàn bộ huyện Kim Sơn, huyện YênKhánh và một phần diện tích của huyện Yên Mô Vùng này đất đai phì nhiêu và bờ
Trang 34biển dài (18 km), thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắtthuỷ hải sản; diện tích chiếm trên 30% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Do địa hình
bị sông, núi chia cắt mạnh, vùng núi có độ dốc lớn, đồng bằng nằm ven biển nênhàng năm tỉnh chịu nhiều thiên tai như bão, lụt , gây trở ngại phát triển kinh tế - xãhội nhanh, bền vững
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Đơn vị hành chính trực thuộc
Tỉnh Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 01 thành phố (thànhphố Ninh Bình), 01 thị xã (thị xã Tam Điệp) và 6 huyện (Kim Sơn, Yên Khánh,Yên Mô, Hoa Lư, Gia Viễn và Nho Quan), với tổng 146 xã, phường và thị trấn
2.1.2.2 Dân số và nguồn nhân lực
Theo niên giám Thống kê năm 2010, tổng dân số tỉnh Ninh Bình năm 2010 là900.620 người, chiếm gần 4,6% dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng Mật độ dân
số trên 649 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình của vùng (trung bình của vùngĐồng bằng sông Hồnglà 932 người/km2) Độ tuổi trung bình của dân số tỉnh tươngđương với độ tuổi trung bình của cả nước và đang nằm trong "thời kỳ dân số vàng"
Bảng số 2.1: Thực trạng phát triển dân số đến năm 2010
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2010 Tốc độ tăng TB (%)
Số lượng (Người)
Tỷ trọng (%)
Số lượng (Người)
Tỷ trọng (%) 1996-2000 2001-2010
48,951,1
447.867452.753
49,7350,27
0,690,75
0,370.009
3 Phân theo khu vực
- Thành thị
- Nông thôn
119.404767.350
13,586,5
170.707729.616
18,9981,01
8,4-0,22
4,0-0,53
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010
Giai đoạn 2001 - 2010, tốc độ tăng dân số trung bình thấp hơn hẳn thời kỳtrước, đạt xấp xỉ 0,2%, trung bình mỗi năm tăng khoảng 1.660 người, tỷ lệ tăng dân
Trang 35số tự nhiên nhỏ hơn 1,0%/năm Dân số đô thị tăng khoảng 4,0%/năm và nông thôngiảm khoảng 0,53%/năm; Tỷ lệ sinh giảm bình quân khoảng 0,12º/oo/năm.
Tỷ lệ nam/nữ của tỉnh xấp xỉ đạt 50%/50%, từ năm 2006 trở lại đây, dân số nữđang giảm dần trong khi dân số nam tăng khoảng 4.000 người/năm; dân số dưới 25tuổi chiếm tỷ lệ cao Phân bố dân cư theo lãnh thổ không đồng đều, có sự chênhlệch lớn về mật độ dân số giữa thành phố Ninh Bình và các huyện, thị xã, còn lại(thành phố Ninh Bình có mật độ trên 2.362 người/1 km2, huyện Yên Khánh với mật
độ 975 người/1 km2; trong khi huyện Nho Quan chỉ có 314 người/1 km2)
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người dân tộc Kinhchiếm trên 98% tổng dân số, tiếp theo là người dân tộc Mường chiếm 1,7% và số ítcòn lại là các dân tộc khác; Tỷ lệ người theo đạo Thiên chúa giáo khá cao tới 15%tổng dân số, tập trung chủ yếu ở huyện Kim Sơn
Nguồn nhân lực của tỉnh phát triển khá về cả số lượng, chất lượng do đang ởnằm trong giai đoạn “thời kỳ dân số vàng”, khá thuận lợi cho tăng trưởng nhanh vàphát triển kinh tế - xã hội bền vững Hiện tại, tổng số lao động đang làm việc trongcác ngành kinh tế là 514,4 nghìn người (chiếm 57,1% tổng dân số) và lao động đãqua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ khoảng 28%, là tỷ lệ khá trong vùng Đồng bằng sôngHồng, tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị trong thời gian qua khá thấp (3,7%) Tronggiai đoạn 2001 - 2010, bình quân/năm giải quyết được trên 15 nghìn chỗ làm việc
Bảng số 2.2: Dân số và lao động trong giai đoạn 2001-2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010
2.1.3 Các nguồn lực có lợi thế so sánh phục vụ tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình
Trang 362.1.3.1 Tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng:
Tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất vậtliệu xây dựng có trữ lượng và chất lượng tốt như:
- Tài nguyên đá vôi với trữ lượng tới hàng chục tỷ m3, chất lượng tốt, chiếmdiện tích trên 1,2 vạn ha, rất thuận lợi để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng,đặc biệt là sản xuất xi măng, đá xây dựng
- Tài nguyên đôlômit (2,3 tỷ tấn) có chất lượng tốt, hàm lượng MgO từ 17 đến19%, tập trung ở Thạch Bình, Phú Long (huyện Nho Quan), Yên Đồng (huyện YênMô), Đông Sơn (thị xã Tam Điệp) để làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng vàlàm một số hoá chất khác
- Tài nguyên đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi thấp và ở những vùngtương đối bằng phẳng thuộc thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn và Yên
Mô, các bãi bồi ven sông để sản xuất gạch ngói, làm nguyên liệu cho ngành sảnxuất xi măng và ngành đúc
- Than bùn với trữ lượng nhỏ, khoảng 2,6 triệu tấn, phân bố ở huyện Nho Quan
và thị xã Tam Điệp, dùng để sản xuất phân vi sinh phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp
2.1.3.2 Tài nguyên du lịch:
Tỉnh Ninh Bình có tài nguyên du lịch rất đặc sắc và đa dạng với nhiều danhlam, thắng cảnh tự nhiên, sinh thái; danh lam văn hoá, lịch sử, tâm linh nổi tiếngtrong nước và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, là một trong số rất hiếm các tỉnhtrên cả nước hội tụ nhiều lợi thế để phát triển du lịch:
- Khu Tam Cốc - Bích Động - Tràng An - Cố đô Hoa Lư: đây là quần thể hang
động và các di tích lịch sử - văn hóa rất phong phú, độc đáo, với khu du lịch sinh tháiTràng An, Khu cố đô Hoa Lư, khu hang động Tam Cốc - Bích Động, tuyến Linh Cốc -Hải Nham, và Thạch Bích - Thung Nắng Đặc biệt là khu du lịch sinh thái Tràng Anđang đệ trình Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
- Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long: đây là khu du lịch sinh
Trang 37thái có cảnh quan rất đặc thù không chỉ của Việt Nam mà còn là của khu vựcASEAN Diện tích khu vực này khá rộng (3.710 ha) với nhiều loài sinh vật (547loài thực vật và 39 loài động vật) có những loài quý hiếm, đặc hữu của vùng đấtngập nước, có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu khoa học Ngoài ra ở đây cũng có nhiềunúi đá, hang động và đền, chùa.
- Vườn Quốc gia Cúc Phương: diện tích thuộc tỉnh Ninh Bình là 11.000 ha, là
khu rừng nguyên sinh nhiệt đới hiếm có ở Việt Nam với đặc điểm hệ sinh thái, sinhcảnh, cấu trúc rừng và tính đa dạng loài, gồm cả loài quý hiếm và loài đặc hữu(1.944 loài động thực vật) Việc phát hiện, khai thác nguồn nước khoáng tại khuvực này càng mở ra tiềm năng lớn hơn trong phát triển du lịch
- Khu Kênh Gà (Gia Viễn) và động Vân Trình (Nho Quan): từ những năm 60
của thế kỷ trước, nước suối Kênh Gà (nhiệt độ 53% với khoáng chất tốt) đã nổitiếng ở miền Bắc nhờ khả năng chữa trị được một số loại bệnh, giúp phát triển loạihình du lịch nghỉ dưỡng Động Vân Trình cũng là một địa danh đẹp để cùng với cáchang động khác tạo nên sự độc đáo thu hút khách du lịch
- Khu quần thể nhà thờ Phát Diệm: tính độc đáo thể hiện trong kiến trúc và
xây dựng ở sự kết hợp giữa kiến trúc Gotic của Châu Âu và kiến trúc đình chùa ÁĐông với chất liệu chủ yếu bằng đá xanh, tạo nên vẻ đẹp độc đáo, hấp dẫn du kháchtrong nước, quốc tế đến tham quan
- Ngoài ra, tỉnh còn có một số lợi thế riêng có khác để phát triển du lịch như:hàng chục làng nghề truyền thống trên địa bàn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
và có khả năng thu hút khách du lịch đến thăm quan, mua sắm (làng nghề chạmkhắc đá, làng nghề thêu ren, làng nghề mây tre đan, làng nghề cói…)
2.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010
2.2.1 Tăng trưởng về mặt số lượng
2.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2001 - 2010, nền kinh tế tỉnh Ninh Bình đạt được tốc độ tăngtrưởng GDP tương đối cao và ổn định Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai
Trang 38đoạn 2001 - 2010 đạt 14,2 %/năm; cụ thể như sau:
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010
Đồ thị 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010
Năm 2001, tốc độ tăng trưởng GPD đạt 7,2%, mở đầu cho giai đoạn tăngtrưởng khá và ổn định Năm 2002, năm 2003, năm 2004 tăng trưởng GDP tiếp tụcduy trì ở mức 8,48%, 11,76% và 11,97% Năm 2005, có sự tăng trưởng đột biến nhờnhà máy xi măng Tam Điệp và nhà máy cán thép Pomihoa đã xây dựng hoàn thành
và đi vào sản xuất, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 20,47% Do vậy, giai đoạn 2001
-2005, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,9%/năm, đứng thứ 3/11 tỉnh vùngđồng bằng sông Hồng (sau tỉnh Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh)
Hai năm đầu (năm 2006, năm 2007), thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm
2006 - 2010, kinh tế tỉnh Ninh Bình tiếp tục đà phát triển với tốc độ tăng trưởngGDP lần lượt là 12,6% và 14,9% Năm 2008 tăng vọt lên 18,95% là do có thêm 03nhà máy sản xuất xi măng với công suất lớn đã hoàn thành xây dựng và đi vào hoạtđộng Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảmkinh tế trong nước, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 15,35% Năm 2010, kinh tế địaphương dần lấy lại đà tăng trưởng và tốc độ tăng GDP đạt trên 16,0% Cả giai đoạn
2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 16,8%/năm, là mức tăng trưởngcao nhất so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng
Bảng số 2.3: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Ninh Bình
Trang 39và các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010
2.2.1.2 Quy mô nền kinh tế
Với việc nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, liên tục trongthời gian dài nên quy nền kinh tế cũng không ngừng gia tăng, từ 1.937,88 tỷ đồngnăm 2000 tăng lên 3.397,34 tỷ đồng năm 2005 và năm 2010 đạt trên 7.000,49 tỷđồng Như vậy, đến hết năm 2010 quy mô GDP tỉnh Ninh Bình gấp 3,61 lần so vớinăm 2000 và gấp 2,06 lần so với năm 2005
Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm
2010
Đồ thị số 2.2: Quy mô GDP tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2010
Tuy nhiên, nếu so sánh với các tỉnh trong đồng bằng sông Hồng thì quy mô
Trang 40GDP tỉnh Ninh Bình là còn khá nhỏ bé, theo niên giám thống kê năm 2010, quy môGDP tỉnh Ninh Bình xếp 10/11 tỉnh đồng bằng sông Hồng, chỉ đứng trên quy môGDP của tỉnh Hà Nam và cách biệt nhiều so với một số tỉnh phía bắc vùng đồngbằng sông Hồng như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.
Bảng số 2.4: Quy mô GDP tỉnh Ninh Bình và các tỉnh
trong vùng đồng bằng sông Hồng
Đơn vị tính: tỷ đồng (theo giá so sánh)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010
2.2.1.3 Thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người
Cùng với nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, tương đối ổn địnhtrong thời gian dài, quy mô nền kinh tế không ngừng gia tăng và tốc độ gia tăng dân
số không có sự biến động mạnh (bình quân khoảng 1,4%0/năm) nên thu nhập bìnhquân đầu người của tỉnh Ninh Bình liên tục gia tăng và được cải thiện một cáchđáng kề Năm 2000, thu nhập bình quân đầu người tỉnh Ninh Bình đạt 2,7 triệuđồng/người/năm; năm 2005, đạt 5,6 triệu đồng/người/năm, gấp gần 2,1 lần năm2000; năm 2010 đạt 21,6 triệu đồng/người/năm, gấp gần 8 lần năm 2000 và gấp 3,9lần năm 2005