1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh

90 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 674,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng, nó được xem là công cụ,

Trang 2

Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thônCNTT : Công nghệ thông tin

NHTB : Ngân hàng thông báo

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

SWIFT : Hiệp hội viễn thông liên Ngân hàng thế giới

TCTD : Tổ chức tín dụng

TGCKH : Tiền gửi có kỳ hạn

TMQT : Thương mại quốc tế

TTQT : Thanh toán quốc tế

UCP : Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ

Trang 3

Danh mục sơ đồ

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt được vị trí thuận lợi trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi thương mại quốc tế Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ lĩnh vực kinh tế đối ngoại

Đối với nước ta phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn đang trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Chỉ có thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại chúng ta mới tạo được nguồn ngoại tệ cần thiết để phục vụ nhập khẩu kỹ thuật hiện đại, công nghệ thiết bị, đồng thời phát huy tiềm năng của đất nước, tận dụng nguồn vốn và công nghệ nước ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới

Thanh toán quốc tế là một trong những mặt hoạt động quan trọng của ngân hàng, nó có liên quan đến nhiều mặt hoạt động khác của ngân hàng như hoạt động tín dụng ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ

Agribank Bắc Ninh mới tham gia thực hiện thanh toán quốc tế nhưng

đã đạt được một số thành quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động thanh toán

Trang 5

quốc tế của chi nhánh với quy mô nhỏ và còn gặp nhiều khó khăn Việc phát triển thanh toán quốc tế là hết sức cần thiết và cấp bách, nó không những tạo điều kiện cho phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần vào việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước mà còn

là một tất yếu quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng trong cơ chế thị trường, giúp Agribank Bắc Ninh sớm hội nhập với hệ thống Ngân hàng trong nước và thế giới

Thanh toán quốc tế thực sự là phức tạp và còn nhiều tồn tại trong cơ chế nghiệp vụ cũng như trong công tác tổ chức và thực hiện Chính vì vậy, chúng ta cần phải quan tâm nghiên cứu, tìm ra biện pháp khắc phục Xuất phát từ những vấn đề trên và là một cán bộ làm việc tại Ngân hàng tôi chọn đề

tài “ Phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp

và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại

- Phân tích và đánh giá việc phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh

- Đề xuất các giải pháp phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh

- Phạm vi nghiên cứu: thực trạ ng thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh giai đoạn 2005-2008

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh và phân tích để xử lý các thông tin, số liệu đã được thu thập về tình hình thanh toán

Trang 6

quốc tế để thấy rõ được những kết quả cũng như những hạn chế của Agribank Bắc Ninh trong hoạt động này Đồng thời tìm hiểu các định hướng, chiến lược phát triển thanh toán quốc tế của chi nhánh trong thời gian tới Từ đó tìm ra một số giải pháp, đề xuất nhằm phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh.

5 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm một số khái niệm, đặc điểm, bản

chất và vai trò của thanh toán quốc tế Trên cơ sở đó làm sáng tỏ vấn đề phát triển thanh toán quốc tế của NHTM

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh từ năm 2005 đến năm 2008 Từ đó nêu bật được những kết quả đạt được và nguyên nhân tồn tại giúp chi nhánh rút ra được những kinh nghiệm, những vấn đề cần lưu ý trong phát triển thanh toán quốc tế

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh, góp phần thực hiện thành công chiến lược đưa Agribank Việt Nam trở thành tập đoàn tài chính đa năng mang tầm khu vực

và thế giới

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về thanh toán quốc tế.

Chương 2: Thực trạng phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân

hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Giải pháp phát triển thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông

nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh

Trang 7

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

THANH TOÁN QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế

1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay thật hiếm khi một quốc gia lại tự sản xuất mọi thứ mình cần Mỗi nước đều có lợi thế so sánh hơn về một mặt hàng nào

đó so với nước khác và họ sẽ sản xuất mặt hàng này để đổi lấy những mặt hàng khác không có lợi thế Việc trao đổi vượt ra khỏi biên giới một quốc gia hình thành nên hoạt động xuất nhập khẩu, kết quả của hành vi này là việc chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau Từ đó hình thành nghiệp vụ TTQT, trong đó NHTM là cầu nối trung gian

TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan

hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức, cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các phương thức thanh toán khác nhau như chuyển tiền, nhờ thu, thư tín dụng Từ khái niệm trên cho thấy, TTQT phục vụ

cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Trong thực tế, giữa hai lĩnh vực này thường có sự giao thoa nhau TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, người ta chia TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương

và thanh toán phi ngoại thương

TTQT trong ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương

Trang 8

Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một

tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước

Nhìn chung hoạt động ngoại thương có một số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó hoạt động ngoại thương liên quan đến:

- Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau

- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là đồng tiền của một trong hai nước hoặc đồng tiền của nước thứ ba

- Hàng hoá mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa các nước, đi từ nước người bán đến nước người mua

- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng yếu tố quốc tế Kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và các chính sách hạn chế ngoại thương của chính phủ

1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế

- TTQT đối với nền kinh tế: Trong xu thế hội nhập hoá nền kinh tế thế giới, các quốc gia đều coi trọng việc phát triển kinh tế đối ngoại TTQT là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với bên ngoài, có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác TTQT ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi trọng hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế mỗi quốc gia

Trang 9

TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Nếu không có TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được Nếu việc thực hiện TTQT được nhanh chóng, an toàn, hiệu quả sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả

- Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM: Hoạt động TTQT giúp các NHTM thu hút thêm nhiều KH có nhu cầu thanh toán vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia, tạo ưu thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó TTQT còn tạo điều kiện cho NH hoàn thiện và đa dạng hoá các dịch vụ kinh doanh như kinh doanh ngoại tệ, nghiệp vụ bảo lãnh và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế, tạo niềm tin cho KH trên cơ sở đó nâng cao uy tín NH

Do đẩy mạnh TTQT mà các NHTM đã phát triển được hoạt động tín dụng quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời tận dụng được nguồn vốn của KH ký quỹ khi tham gia TTQT hoặc khi ngoại tệ từ nước ngoài về thông qua con đường kiều hối hay thanh toán hàng xuất khẩu

TTQT giúp các NHTM nâng cao uy tín, ưu thế của mình trên thị trường quốc tế Từ đó khai thác được nguồn vốn tài trợ của các NH nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng được nhu cầu tín dụng trong nước, thu được các khoản phí dịch vụ thanh toán như phí thanh toán L/C, nhờ thu, chuyển tiền, phí từ kiều hối, bảo lãnh góp phần không nhỏ vào doanh thu và lợi nhuận của NH

- Đối với các DN xuất nhập khẩu: TTQT là khâu cuối cùng trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương, nó khép lại một chu trình mua bán hàng hoá, dịch

vụ Đây là một nghiệp vụ phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro ngoài dự kiến, bởi vậy,

Trang 10

ngay cả khi hai bên mua bán thống nhất mức giá, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra do những nguyên nhân khách quan hoặc những nguyên nhân bất khả kháng Do đó, yêu cầu đặt ra cho TTQT là phải đảm bảo an toàn cho các hợp đồng ngoại thương, thu tiền và nhận hàng đầy đủ, đúng như hợp đồng đã quy định.

Thông qua hoạt động TTQT với các bạn hàng nước ngoài, các DN xuất nhập khẩu có điều kiện nắm bắt các thông tin về thị trường, hiểu biết thêm về đối tác Trên cơ sở đó cân đối về tiềm lực, đề ra các chiến lược kinh doanh thích hợp, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro

Khi TMQT phát triển, đòi hỏi TTQT cũng phải đổi mới để phù hợp với nó Chính vì thế, nghiên cứu TTQT và các vấn đề có liên quan như tiền tệ, tỷ giá hối đoái luôn là sự quan tâm của các nhà kinh tế, các NH và các DN xuất nhập khẩu

1.1.3 Các hình thức thanh toán quốc tế

Các hình thức hay phương thức TTQT là toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để NH tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán giữa cá nhân, tổ chức ở những quốc gia, lãnh thổ khác nhau

Lựa chọn phương thức thanh toán sao cho thích hợp với từng thương vụ, mối quan hệ giữa các bên hợp đồng là một yếu tố góp phần hạn chế rủi ro trong TTQT Các phương thức thanh toán hiện nay: tín dụng chứng từ, chuyển tiền, nhờ thu và ghi sổ

1.1.3.1 Phương thức tín dụng chứng từ

a/ Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó theo yêu cầu của KH (người yêu cầu mở L/C), NH sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter

of Credit) theo đó NH này (gọi là NHPH L/C) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi xuất trình cho NHPH bộ chứng từ thanh toán phù hợp với điều kiện và điều khoản quy định của L/C

Trang 11

Theo Điều 2, UCP 600 thì “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”

b/ Trình tự tiến hành nghiệp vụ theo phương thức tín dụng chứng từ:

(2)(5) (6)(8) (7) (1) (6) (5) (3)

(4)

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ L/C

(1) Nhà nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến NH của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng;

(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, NHPH thư tín dụng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua NH đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc

mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến nhà xuất khẩu

(3) Khi nhận được thông báo này, NHTB sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khi nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho nhà xuất khẩu

(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề nghị người nhập khẩu thông qua NHPH L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng

(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng, xuất trình qua NHTB cho NHPH L/C đề nghị thanh toán

Trang 12

(6) NHPH L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền nhà xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp, NH từ chối thanh toán và gửi lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.

(7) NHPH L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ chứng từ cho

họ sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

(8) Nhà nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền

c/ Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng phương thức thư tín dụng:

- Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là “Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 600, bản sửa đổi năm 2007” của Phòng Thương mại quốc tế (viết tắt là UCP 600) Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tuỳ ý, nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận ghi vào L/C Hiện nay ở nước ta, các NHTM và các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu đã thống nhất sử dụng bản Quy tắc này như một văn bản pháp lý điều chỉnh các loại thư tín dụng được áp dụng trong TTQT giữa Việt Nam và các quốc gia khác

- Đặc điểm giao dịch L/C:

+ L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: Nhiều người lầm tưởng cho rằng, L/C là hợp đồng kinh tế ba bên, gồm: người yêu cầu mở L/C, NHPH và người thụ hưởng Thực tế L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và người thụ hưởng Mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó, tiếng nói chính thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C Hiểu được điều này là rất quan trọng, bởi vì nhiều nhà xuất nhập khẩu cho rằng L/C là của họ, NH chỉ cung cấp dịch vụ để hưởng phí, do đó, mọi thoả thuận giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu mới là quan trọng, còn việc NH có đồng ý hay không chỉ là yếu tố phí thanh toán Hãy hình dung, một sửa đổi thư tín dụng đã được người xuất khẩu và nhập khẩu đồng ý, nhưng nếu NHPH không chấp nhận thì sửa đổi đó có bao giờ trở nên có giá trị thực hiện?

Trang 13

+ L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hoá: Điều này đã được khẳng định trong các phiên bản của UCP Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở

để hình thành giao dịch L/C Trong mọi trường hợp, NH không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này

Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C

Một số nhà nhập khẩu không hiểu hoặc làm ngơ quy tắc này, khi gặp rủi ro trong giao dịch hợp đồng cơ sở đã quay sang khiếu nại hay ngăn cản việc NH thanh toán bộ chứng từ xuất trình phù hợp Điều này là không được phép

Trong thực tế, một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như là công cụ dự phòng để cụ thể hoá, chi tiết hoá hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng thương mại còn sót; ngoài ra, còn để đính chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký kết Tuy nhiên, việc làm này chỉ tránh được việc phải mở một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng, còn nhà xuất khẩu có thế kiện nhà nhập khẩu ra toà trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng thương mại

- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Các NH, chỉ trên cơ sở chứng từ kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên

bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hoá đã được giao, do đó, chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu Việc nhà xuất khẩu có thu

Trang 14

được tiền hay không, phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp, đồng thời, NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là NH không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hoá mà bất kỳ chứng từ nào đại diện.

Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá có thể không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ Như vậy, việc thanh toán L/C không thể căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, nếu hàng hoá không khớp với chứng từ thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, mà NH vẫn thanh toán cho người xuất khẩu, thì NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán lại tiền cho NH

- Nội dung của L/C và bộ chứng từ phải không được mâu thuẫn nhau: Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C Để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C

- L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo? Xét về giác độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thì L/C có ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác Chính vì vậy mà phương thức này đã tồn tại phát triển như ngày nay Tuy nhiên, trong thực tiễn TMQT, do diễn biến của thị trường, giá cả hàng hoá mà L/C có thể bị lạm dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận và lừa đảo

Từ bản chất của L/C là chỉ giao dịch bằng chứng từ và khi kiểm tra chứng

từ lại chỉ xem xét trên bề mặt chứng từ chứ không xem xét tính chất “bên trong của chứng từ”, chính vì điều này mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính chất tuân thủ chặt chẽ của chứng từ Trong thực tế, lập được một bộ chứng từ hoàn hảo

Trang 15

không có bất cứ sai sót nào là một việc làm không hề dễ chút nào, hơn nữa, giữa phù hợp và “sai sót” lại có ranh giới thật mong manh, tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, động cơ của những người có liên quan Ngoài ra, do tính chất độc lập của L/C với hợp đồng cơ sở nên bọn lừa đảo có thể lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộ chứng từ phù hợp để thanh toán Thực tế trên thế giới đã xảy ra không ít trường hợp như thế.

1.1.3.2 Phương thức chuyển tiền

a/ Khái niệm:

Là phương thức thanh toán trong đó KH (người chuyển tiền) yêu cầu NH phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định

Có thể nói, chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau NH khi thực hiện chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ hưởng

(4)

(2)

(1)

Trang 16

- (1) Bước này chỉ thực hiện khi có hợp đồng ngoại thương xuất hiện Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, bên xuất khẩu thực hiện việc giao hàng, đồng thời gửi cho nhà nhập khẩu bộ chứng từ (hoá đơn, B/L )

- (2) Sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng nếu quyết định trả tiền thì nhà nhập khẩu viết đơn yêu cầu chuyển tiền gửi NH phục vụ mình

- (3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, NH của nhà nhập khẩu sẽ tiến hành chuyển tiền

- (4) NH chuyển tiền ra lệnh cho NH phục vụ bên xuất khẩu chi trả cho người thụ hưởng

- (5) NH trả tiền ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi và gửi giấy báo

có cho người hưởng lợi

c/ Ưu, nhược điẻm của phương thức chuyển tiền

+ Ưu điểm:

Đối với người chuyển tiền: thông thường trong ngoại thương chuyển tiền được thực hiện sau khi đã nhận xong hàng hoá, chính vì vậy nhà nhập khẩu có thể tận dụng được vốn của nhà xuất khẩu do chưa phải thanh toán ngay Bên cạnh đó chi phí để thực hiện chuyển tiền bao giờ cũng rẻ hơn chi phí để thực hiện phương thức khác như tín dụng chứng từ

Đối với người nhận tiền: Cũng như người chuyển tiền, người nhận tiền sẽ mất ít chi phí hơn, thời gian và thủ tục nhanh gọn hơn các phương thức khác do vậy tiết kiệm được công sức và tiền bạc

+ Nhược điểm: Bên chuyển tiền có thể chiếm dụng vốn của bên nhận tiền trong quan hệ thương mại do việc thực hiện chuyển tiền thường diễn ra sau khi đã giao nhận hàng hoá xong

Trang 17

1.1.3.3 Phương thức nhờ thu

a/ Khái niệm:

Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho NH phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua NH thu hộ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác

Để nhờ thu trở thành phương thức thanh toán hiệu quả thì người mua và người bán phải thoả thuận chi tiết các điều kiện thanh toán quy định trong hợp đồng ngoại thương Trên cơ sở các thoả thuận này, người bán thực hiện nhờ thu qua NH phục vụ mình

Văn bản pháp lý điều chỉnh nhờ thu là Quy tắc thống nhất về nhờ thu hiện hành có hiệu lực từ tháng 6 năm 1995 (viết tắt là URC 522) Khi URC 522 được dẫn chiếu trong Lệnh nhờ thu thì tất cả các bên liên quan phải thực thi quyền lợi

và nghĩa vụ của mình theo đúng bản Quy tắc này Tuy nhiên, nếu các bên có thoả thuận khác với bản Quy tắc hoặc bản Quy tắc trái với luật pháp quốc gia thì bản Quy tắc sẽ không được áp dụng; nghĩa là các bên liên quan có quyền thoả thuận riêng về nhờ thu; đồng thời luật pháp quốc gia luôn phải được tôn trọng vượt lên trên Quy tắc này Điều này xảy ra là vì URC 522 chỉ là bản Quy tắc tuỳ ý, nó chỉ

có hiệu lực khi các bên thoả thuận áp dụng và được dẫn chiếu vào trong nhờ thu,

vì là Quy tắc tuỳ ý nên không thể vượt lên trên luật quốc gia được Chính vì vậy khi áp dụng URC 522 các bên liên quan luôn phải tính đến đặc điểm luật pháp các quốc gia liên quan đến nhờ thu

Nhờ thu có hai loại: Nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ

b/ Nhờ thu phiếu trơn: Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho NH thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không qua NH

Trang 18

- Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn gồm các bước:

+ Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho NH của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu

+ NH phục vụ bên bán gửi thư uỷ thác nhờ thu kèm hối phiếu cho NH đại

lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền

+ NH đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là hối phiếu trả tiền ngay) hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu là trả chậm)

+ NH đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì NH giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán Khi đến hạn thanh toán NH sẽ đòi tiền người mua và thực hiện chuyển tiền trả người bán

Sau đây là sơ đồ trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiều trơn:

Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn

(1) Nhờ thu hối phiếu

(2, 3) Đòi tiền người mua

(4) Người mua trả tiền cho người bán

- Phương thức nhờ thu phiếu trơn thường chỉ được áp dụng cho những trường hợp sau:

NHchuyển chứng từ

NH thu vàxuất trình chứng từ

(2)(4)

(4)

Gửi hàng và chứng từ

Trang 19

+ Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau.

+ Thanh toán về các dịch vụ có liên quan tới xuất khẩu hàng hoá, vì việc thanh toán này không cần thiết phải kèm theo chứng từ như tiền phí vận tải, bảo hiểm, phạt bồi thường v.v

Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không bảo đảm quyền lợi cho người bán, vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trễ trả tiền Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán

có đúng hợp đồng hay không

c/ Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu bao gồm: hoặc chứng từ thương mại cùng với chứng từ tài chính; hoặc chỉ chứng từ thương mại mà không có chứng từ tài chính gửi cùng NH thu

hộ chỉ trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi người này trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu

- Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ:

Sơ đồ 1.4: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ

NHchuyển chứng từ xuất trình chứng từNH thu và

(4)(2)

(1)

Gửi hàng

Trang 20

Cũng giống như nhờ thu phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ NH thu hộ tiền Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là NH đại lý chỉ trao chứng từ gửi hàng cho người mua nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.

Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho NH ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ NH khống chế chứng từ vận tải đối với người mua Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn

- Người bán thông qua NH mới khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người của người mua Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được, khi tình hình thị trường bất lợi với họ

- Trong phương thức này NH chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền

hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua

d/ Những vấn đề sử dụng phương thức nhờ thu:

- Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của nhờ thu là “Quy rắc thống nhất

về nhờ thu” số 522 của Phòng thương mại quốc tế, bản sửa đổi năm 1995 (Uniform Rules for the Collection, 1995 Revision No 522, ICC)

Quy tắc này mang tính tuỳ ý nên muốn áp dụng nó, hai bên mua bán phải thống nhất quy định trong hợp đồng

- Người bán phải lập một chỉ thị nhờ thu gửi đến NH đại diện cho mình nhờ thu hộ tiền Trong chi thị nhờ thu, người bán phải đề ra những điều kiện nhờ thu và được NH chấp nhận Đây là chứng từ pháp lý cụ thể điều chỉnh quan hệ giữa người bán và NH phục vụ bên bán

Nội dung của chỉ thị nhờ thu thường bao gồm điều kiện sau: Điều kiện trả tiền là D/A hay D/P Điều kiện D/P (Documentary against payment: thanh toán

Trang 21

đổi lấy chứng từ), người mua phải trả tìên hối phiếu thì NH mới trao chứng từ cho Điều kiện D/A (Documentary against acceptance: chấp nhận đổi lấy chứng từ) thì người mua phải chấp nhận trả tiền NH mới trao trả chứng từ.

1.1.3.4 Phương thức ghi sổ.

a/ Khái niệm

Là phương thức thanh toán, trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng kỳ hạn đã định người mua trả tiền cho người bán

b/ Đặc điểm của phương thức ghi sổ:

- Không có sự tham gia của NH với chức năng là người mở tài khoản và thực hiện thanh toán

- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và nhập khẩu

- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu người nhập khẩu mở tài khoản để ghi nợ thì tài khoản này chỉ là để theo dõi, không có hiệu lực thanh quyết toán

- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng lẫn nhau

- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng hay cho một loạt các chuyến hàng thường xuyên, định kỳ trong thời gian nhất định

- Giá hàng trong phương thức này thường cao hơn giá hàng bán trả tiền ngay vì có tính đến yếu tố lãi suất và rủi ro tín dụng

Hiện nay nước Anh và các nước EU hay sử dụng phương thức thanh toán ghi sổ bởi vì giữa các nước này có sự tương đồng về văn hoá, tập quán kinh doanh, luật lệ, các KH có mối quan hệ kinh doanh truyền thống, thường xuyên, lâu dài và tin tưởng lẫn nhau

Trang 22

c/ Trình tự tiến hành nghiệp vụ:

Ng

Sơ đồ 1.5: Quy trình nghiệp vụ ghi sổ

(1) Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá

(2) Báo nợ trực tiếp

(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến kỳ thanh toán.d/ Trường hợp cho áp dụng:

- Thường dùng cho thanh toán nội địa

- Hai bên mua, bán phải thực sự tin cậy lẫn nhau

- Dùng cho phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xuyên trong một thời kỳ nhất định (6 tháng, 1 năm)

- Phương thức này chỉ có lợi cho người mua

- Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài

- Dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho vay và đầu tư

e/ Những điều cần chú ý khi áp dụng là:

- Quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản

- Căn cứ ghi nợ của người bán thường là hoá đơn thương mại

- Căn cứ nhận nợ của người mua, hoặc là dựa vào trị giá hoá đơn giao hàng, hoặc là dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng

NH

(3)

(3)

(2)(1)

(3)

Trang 23

- Phương thức chuyển tiền hoặc là bằng thư, hoặc là bằng điện cần phải thoả thuận thống nhất giữa hai bên.

- Giá hàng trong phương thức ghi sổ này thường cao hơn giá hàng bán tiền ngay Chênh lệch này là tiền lãi phát sinh ra của số tiền ghi sổ trong khoảng thời gian bằng định kỳ thanh toán theo mức lãi suất được người mua chấp nhận

1.2 Phát triển thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Quan niệm về phát triển thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại

Để hiểu rõ phát triển TTQT là gì, phải bắt đầu từ khái niệm thế nào là phát triển Theo từ điển bách khoa Việt Nam, phát triển được hiểu là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Từ khái niệm này cho thấy muốn đề cập đến phát triển một đối tượng nào đó là thể hiện sự gia tăng cả về mặt chất lượng và số lượng đối tượng ấy

Ví dụ, khi nói đến phát triển kinh tế thì được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả

về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Vậy khái niệm phát triển TTQT là sự gia tăng về mặt số lượng và chất lượng của hoạt động này Phát triển TTQT về mặt số lượng cho thấy việc

thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty, các chủ thể khác nhau của các nước ngày càng tăng lên Sự tăng lên được thể hiện ở

số món, số tiền kỳ sau cao hơn kỳ trước, năm sau cao hơn năm trước Theo nghĩa này thì phát triển TTQT gần như là việc mở rộng quy mô hoạt động, phát triển theo chiều rộng Tuy nhiên, phát triển TTQT theo chiều rộng không thể nói lên chất lượng và độ an toàn của hoạt động này Do đặc thù của TTQT

có liên quan đến yếu tố nước ngoài nên mức độ rủi ro lớn, chính vì lẽ đó

Trang 24

ngoài việc mở rộng quy mô hoạt động các NHTM không thể bỏ qua khâu chất lượng Và đó chính là việc phát triển TTQT về mặt chất Để nâng cao chất lượng TTQT, các NHTM có nhiều biện pháp hữu hiệu, có thể nêu ra một số biện pháp như:

+ Thiết lập các NH đại lý ở các nước, vùng, lãnh thổ trên thế giới và coi đây như là một mắt xích quan trọng giúp NH trong nước tìm hiểu rõ đối tượng KH tại nước có đặt NH đại lý

+ Xây dựng một quy trình TTQT phù hợp với luật pháp trong nước và các tập quán, luật pháp quốc tế Điều này giúp cho hệ thống hoạt động trơn tru hơn, chuyên nghiệp hơn và do đó hạn chế được những rủi ro

+ Một yếu tố vô cùng quan trọng khác chính là nguồn nhân lực Bố trí, phân công cán bộ làm nghiệp vụ TTQT ngoài những tiêu chuẩn chung phải là những người có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ

Ngày nay, TTQT là một dịch vụ trở lên quan trọng đối với các NHTM,

nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà còn cả

về tỷ trọng TTQT còn là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của NH như kinh doanh ngoại

tệ, bảo lãnh NH, kiều hối, tăng cường nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ

Việc hoàn thiện và phát triển TTQT có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động NH, nó không chỉ là một dịch vụ thanh toán thuần tuý mà còn

là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của NH

Ngày nay, do nghiệp vụ NH quốc tế phát triển mạnh mẽ, thuận tiện, an toàn và hiệu quả nên hầu hết hoạt động TTQT đều diễn ra thông qua hệ thống

NH, đồng thời TTQT đã phát triển theo một tập quán thống nhất trên quy mô toàn thế giới thông qua các phương thức TTQT khác nhau

Trang 25

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh phát triển TTQT.

1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính

Phản ánh phát triển TTQT bằng chỉ tiêu định tính được thể hiện qua nhiều tiêu chí, trong đó phải nói đến các tiêu chí sau:

- Sự hài lòng của KH: Sự hài lòng của KH đối với mỗi sản phẩm, dịch

vụ của NH ngày càng được nâng cao, do đó mà uy tín, thương hiệu của NH ngày càng được nâng lên Việc mang đến cho KH sự hài lòng tuy không thể lượng hoá bằng con số cụ thể nhưng có thể được thể hiện thông qua việc gia tăng số lượng KH đến với NHTM hoặc số lượng giao dịch ngày càng tăng lên của mỗi một KH Để hài lòng KH và nâng cao uy tín của NHTM trong nước

và quốc tế thì trước hết nghiệp vụ TTQT phải đa dạng, phong phú Bên cạnh

đó, cán bộ NHTM còn phải am hiểu sâu về lĩnh vực ngoại thương từ đó tư vấn giúp KH hạn chế được những rủi ro, tổn thất Nhìn chung, muốn đem đến cho KH sự hài lòng, thoả mãn NH cần phải thực hiện tốt các vấn đề dưới đây:

+ Chính sách chăm sóc KH: Chính sách của NH để phát triển TTQT trong thời kỳ có sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM như hiện nay phải thực sự hấp dẫn nhằm thu hút KH sử dụng dịch vụ của NH mình Chính sách TTQT của NH được gọi là hấp dẫn khi nó hội đủ các vấn đề như khả năng cung cấp dịch vụ tín dụng xuất nhập khẩu, khả năng cung ứng nguồn ngoại tệ khi KH cần, phí thực hiện TTQT, mức ký quỹ mở L/C Thông thường, một

DN có nhu cầu TTQT tại một NHTM thì bao giờ cũng có nhu cầu kèm theo là tài trợ vốn NHTM cung ứng đầy đủ vốn ngoại tệ cho KH khi có yêu cầu, kể

cả trong điều kiện thị trường ngoại hối bấp bênh và khan hiếm thì chắc chắn

sẽ gây dựng trong lòng KH sự tin tưởng và hài lòng Hiện nay, do nguồn USD rất khó để mua nên việc nhập hàng của các DN nhập khẩu thực sự rơi vào khó khăn Trong khi đó DN xuất khẩu lại có động thái “găm” USD chờ giá tăng cao hơn nữa nhằm kiếm lời Đứng trước tình hình này, NHTM thực sự chờ

Trang 26

đợi ở NHNN sự can thiệp mạnh mẽ hơn nữa để ổn định thị trường ngoại hối,

từ đó mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu USD của DN nhập khẩu

Về mức ký quỹ L/C, các NHTM thường có hai tỷ lệ khác nhau, một tỷ

lệ thấp dành cho KH truyền thống và tỷ lệ cao áp dụng cho KH vãng lai Đó cũng là chính sách chăm sóc KH tốt cần phát huy Vì các KH truyền thống là những KH thường xuyên giao dịch, có quan hệ tín dụng tốt với NH nên nếu thu ký quỹ cao sẽ đọng vốn gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính của KH và kết quả là NH cũng chịu tác động NHTM nếu đã làm tốt khâu thẩm định, đánh giá, xếp loại KH thì có thể đề xuất Giám đốc cho phép mức ký quỹ của

KH bằng 0 hoặc cho phép KH để vào tài khoản tiền gửi kỳ hạn và phong toả tài khoản này lại tránh sự lãng phí nguồn vốn của KH Như vậy, KH sẽ thấy rằng NH luôn chăm lo cho lợi ích của họ và thực sự hài lòng với chính sách chăm sóc KH mà NH đã thực hiện

Đối với phí, cũng là vấn đề khiến các DN xuất nhập khẩu quyết lựa chọn NHTM nào khi tham gia thực hiện TTQT Biểu phí của mỗi NHTM phụ thuộc vào quy định của NHNN và NHTMTW quyết định, do vậy ở mỗi NH

có sự khác nhau Tuy nhiên, ngày nay do sự cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị trường giữa các NHTM nên hầu hết mức phí của các NH đều không khác nhau nhiều

Tóm lại, chính sách KH nếu làm tốt có thể thu hút ngày càng đông KH đến với NH và ngược lại, cũng có thể khiến cho KH “bỏ chạy” sang NH khác Người làm chính sách KH cần chú ý đến yếu tố phản ứng dây truyền theo cấp

số nhân, nghĩa là một KH không hài lòng thì sự không hài lòng đó sẽ được tuyên truyền đến rất nhiều KH tiếp sau Ngày nay, với sự “bùng nổ” các NH trong nước cũng như NH nước ngoài thì việc chăm sóc KH càng cần phải đặc biệt coi trọng

Trang 27

+ Cán bộ NH: Yếu tố con người là rất quan trọng trong bất kỳ hoạt động nào, đặc biệt đối với hoạt động TTQT của NHTM Vì TTQT là một hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia nên tính phức tạp và rủi ro cao Vì lẽ đó,

NH phải bố trí cán bộ đúng chuyên môn, ngành nghề được đào tạo, tránh việc phân công người không có trình độ ngoại thương làm trong lĩnh vực TTQT

Vì cán bộ tác nghiệp không tinh thông ngoại ngữ và am hiểu nghiệp vụ thì không thể thực hiện tốt hoạt động này dẫn đến sự mất uy tín với KH Bên cạnh năng lực, trình độ chuyên sâu còn đòi hỏi ở người cán bộ TTQT thái độ phục vụ và khả năng giao tiếp với KH

+ Thời gian thanh toán: Yếu tố thời gian thực hiện quy trình TTQT rất quan trọng vì nó đảm bảo tiến độ thực hiện hợp đồng đã ký kết giữa các bên Nếu ách tắc ở khâu thanh toán có thể dẫn đến việc KH bị phạt chậm trả (trong thanh toán L/C nhập khẩu, trả chậm) hoặc chậm giao hàng (trong chuyển tiền đặt cọc mua hàng nhập khẩu) Thời gian thanh toán không đúng như đã thoả thuận giữa các bên sẽ gây thiệt hại về mặt tài chính và lâu dần sẽ làm giảm uy tín đối với KH và trên thị trường NH quốc tế

+ Khả năng tư vấn cho KH: Với trình độ chuyên sâu trong lĩnh vực TTQT, cán bộ NH không những là người giúp KH thực hiện những yêu cầu của họ mà còn phải là người có khả năng phân tích những mặt lợi, bất lợi cho

KH của mình Trên thị trường quốc tế, các DN Việt Nam luôn bị các DN nước ngoài o ép về giá cả, về điều khoản trả tiền, quyền thuê vận tải Ví dụ các DN khi xuất khẩu hàng ra nước ngoài không mấy khi giành được quyền thuê tàu mà việc thuê tàu lại thuộc bên nhập khẩu nước ngoài Đến khi Việt Nam nhập khẩu hàng hoá thì quyền ấy vẫn thuộc về phía đối tác nước ngoài

dù lúc này họ ở vị trí nhà cung cấp Đứng trước thực trạng này, NH nên tư vấn cho KH của mình cố gắng đàm phán, ký kết hợp đồng với điều kiện giành được quyền thuê tàu Việc này có lợi là chủ động trong việc chọn được tàu

Trang 28

tốt, đảm bảo an toàn cho chuyến hàng và hơn nữa tạo công ăn việc làm, thu về nguồn ngoại tệ cho nước nhà Tóm lại, khâu tư vấn của cán bộ NH là rất thiết thực, nó giúp cho DN tránh rủi ro, tổn thất khi tham gia TTQT và do đó đem lại lợi ích cho bản thân DN cũng như NH.

- Uy tín, thương hiệu của NHTM được tăng lên: đồng nghĩa với TTQT

an toàn, hiệu quả, các điện đi qua mạng SWIFT đúng tiêu chuẩn, không bị sửa chữa hay trả lại, thanh toán tiền đúng thời hạn v v Đặc biệt, đối với việc

mở thư tín dụng nhập khẩu các NHTM phục vụ nhà nhập khẩu cần phải làm việc công tâm, cẩn trọng tránh xảy ra việc từ chối thanh toán không cần thiết; nhiều khi giá hàng nhập đột nhiên giảm xuống, nhà nhập khẩu không muốn nhận hàng nên tìm mọi cách kết hợp với NHPH L/C bắt lỗi bộ chứng từ (dù rằng những lỗi này có thể chấp nhận được) Đứng trên góc độ là NHPH nếu cũng a rua theo KH từ chối trả chứng từ và không nhận hàng trong trường hợp này sẽ bị NH đại lý đánh giá thấp, thậm chí sẽ dẫn đến tranh chấp Do vậy ngoài việc làm hài lòng KH, NHTM cũng phải chú trọng đến uy tín và sự

an toàn của bản thân NH từ đó mới có chỗ đứng lâu bền trên thị trường quốc tế

1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng.

Khác với các chỉ tiêu định tính, chỉ tiêu định lượng là những chỉ tiêu đo lường bằng con số cụ thể được Những chỉ tiêu định lượng phản ánh phát triển TTQT được biểu hiện ở sự gia tăng về quy mô và chất lượng

- Sự gia tăng trong quy mô TTQT: Quy mô TTQT tăng lên đồng nghĩa

với việc doanh số TTQT, số món thực hiện, số lượng KH và thị phần TTQT được tăng lên năm sau cao hơn năm trước

+ Sự gia tăng doanh số TTQT:

Doanh số TTQT là toàn bộ số tiền tham gia thực hiện hoạt động này

Nó bao gồm tổng số tiền thanh toán của các phương thức TTQT như chuyển tiền, tín dụng chứng từ, nhờ thu

Trang 29

Đo lường sự gia tăng doanh số TTQT theo thời gian bằng hai cách: Thứ nhất, tính thành số tuyệt đối trong thời gian này rồi đem so với thời gian trước Theo cách này không nói lên được tốc độ tăng trưởng thực tế Khắc phục hạn chế này có cách thứ hai, tính mức gia tăng theo tỷ lệ phần trăm Công thức tính:

H H

x 100%

Với H1 là sự gia tăng doanh số TTQT của năm t

Ht: Doanh số TTQT của năm t

Ht-1: Doanh số TTQT của năm t-1

Mức gia tăng theo tỷ lệ % phản ánh chính xác nhất doanh số mà TTQT đem lại tăng hay giảm và tốc độ tăng, giảm là nhanh hay chậm

Để biết được hoạt động TTQT có phát triển hay không phải xem xét chỉ tiêu H1 trong một giai đoạn nhất định Nếu H1 tăng trưởng liên tục chứng tỏ hoạt động TTQT của NH ngày càng phát triển

Các NHTM ngày nay ngoài chức năng đi vay để cho vay còn quan tâm đến mở rộng các hoạt động dịch vụ Chính những hoạt động dịch vụ đem lại nguồn thu lớn cho NH Các NHTM cạnh tranh nhau bằng cách đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, NH nào cung cấp được nhiều dịch vụ với chất lượng tốt hơn sẽ là NH giành được nhiều thị phần hơn Như đã biết TTQT là hoạt động dịch vụ mang lại nguồn thu lớn cho NH nên các NHTM luôn hoàn thiện sản phẩm dịch vụ này để đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng đa dạng của KH Khoa học công nghệ phát triển cũng là điều kiện tốt giúp NH nâng cao khả năng hiện đại hoá TTQT Nếu như trước đây việc truyền một bức điện từ hệ thống NHTM trong nước ra nước ngoài phải bằng con đường thư tín (thời gian tính bằng ngày) thì ngày nay mạng SWIFT cho phép chuyển điện từ quốc gia này sang quốc gia khác với tốc độ rất nhanh chóng (tính bằng phút)

Trang 30

Khi có sự trợ giúp của CNTT rõ ràng là độ an toàn, chính xác sẽ cao hơn và bên cạnh đó sẽ tiết kiệm thời gian hơn Tiết kiệm thời gian chính là tiết kiệm chi phí, sức lực con người Và đó cũng chính là những yếu tố tạo nên doanh

số TTQT gia tăng

+ Số món thực hiện hoạt động TTQT tăng lên: Doanh số TTQT năm sau cao hơn năm trước cũng không thể khẳng định số món thực hiện gia tăng Bởi vì có thể trong mỗi món số lượng tiền nhiều, ít khác nhau Vì vậy phản ánh sự phát triển TTQT bên cạnh mức gia tăng về doanh số còn phải đề cập đến việc tăng lên của số món thực hiện

+ Số lượng KH tham gia hoạt động TTQT tăng lên: Đối với mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thì KH là một yếu tố cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong cơ chế thị trường, mở của như ngày nay Các NHTM luôn cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút các “thượng đế” đến với NH của mình KH quyết định khối lượng và quy mô hoạt động của mỗi một NH

Muốn có số lượng KH tham gia hoạt động TTQT tăng lên trước hết NH phải có chính sách KH hợp lý, đa dạng hoá các sản phẩm TTQT, có đầy đủ nguồn lực ngoại tệ đáp ứng các nhu cầu của KH Nếu không làm tốt khâu quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ đến với KH thì các NHTM cũng không thể mở rộng thêm lượng KH

KH có ý nghĩa sống còn đối với NH vì chính họ mới là người đem lại lợi nhuận cho NH Cần thay đổi tư duy cho rằng NH là người mang đến cho

KH nguồn vốn và các dịch vụ nên KH là người cần NH Đổi mới cách nghĩ và cách làm sẽ mang lại cho NH cơ hội mở rộng quy mô do sự gia tăng số lượng các “thượng đế”

+ Mức gia tăng của thị phần: Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà DN chiếm lĩnh Vậy, có thể hiểu thị phần TTQT của NH chính là phần thị trường của hoạt động TTQT mà NH đã thực hiện Động cơ nào khiến

Trang 31

các NH phải mở rộng thị phần của mình Đó là vì NH có khả năng sinh lời cao bằng cách mở rộng thị phần cho dù quy mô thị trường không thay đổi Tuy nhiên các NH cần hiểu rõ không phải cứ tăng được thị phần trên thị trường mà mình phục vụ là mặc nhiên sẽ tăng được khả năng sinh lời Điều này còn phụ thuộc nhiều vào chiến lược tăng thị phần của NH, chi phí cho việc tạo ra một thị phần và giá trị thu nhập của nó Thị phần càng lớn sẽ có xu hướng tạo ra càng nhiều lợi nhuận trong hai trường hợp:

Giá cả đầu vào giảm khi thị phần tăng: Giá cả đầu vào của NH được hiểu là lãi suất cho vay, là phí dịch vụ giảm Như vậy, khi thị phần tăng lên với mức lớn hơn phần mất đi do sự giảm giá cả đầu vào sẽ làm tăng lợi nhuận

NH và kết quả là phát triển các hoạt động NH, trong đó có TTQT

Sản phẩm dịch vụ có chất lượng cực tốt và định giá cao hơn để trang trải chi phí cho việc tạo ra chất lượng cao hơn

Tóm lại, chỉ tiêu gia tăng thị phần TTQT là một trong các chỉ tiêu đo lường sự lớn mạnh về quy mô của hoạt động này Thị phần gia tăng sẽ đem lại cho NH nhiều lợi ích, mà trước hết là lợi nhuận tăng, cải thiện nguồn thu nhập cho người lao động Do tầm quan trọng như vậy nên cần phải có chiến lược để gia tăng thị phần NH trong thị trường NH trong nước và quốc tế

- Chất lượng hoạt động TTQT: Biểu hiện của chất lượng hoạt động

TTQT chính là mức độ gia tăng của thu nhập và mức độ rủi ro

+ Mức gia tăng của thu nhập trước thuế: Thu nhập trước thuế là phần

doanh thu sau khi trừ đi chi phí

Gọi TN là thu nhập trước thuế từ hoạt động TTQT năm t

DT là doanh thu từ hoạt động TTQT năm t

CP là chi phí hoạt động TTQT năm t

Có công thức sau: TN = DT – CP

Trang 32

Tuy nhiên, để biết tốc độ gia tăng của thu nhập trước thuế từ TTQT trong một giai đoạn nhất định, người ta cần phải tính mức gia tăng của nó với công thức sau:

TN

TN TN

+ Hạn chế mức độ rủi ro trong TTQT: Trong lĩnh vực kinh doanh luôn tiềm ẩn yếu tố rủi ro TTQT càng không thể tránh khỏi vì đặc thù riêng với yếu tố địa lý, văn hoá và luật pháp của các bên tham gia khác biệt nhau Chia rủi ro TTQT thành hai loại: rủi ro đối với hàng nhập khẩu và rủi ro đối với hàng xuất khẩu Trong TTQT hàng nhập khẩu, rủi ro thường xảy ra là việc bên bán giao hàng không đúng về số lượng và chất lượng như thoả thuận hoặc khi bên mua đã thanh toán tiền rồi mà bên bán không giao hàng (vì bộ chứng

từ xuất trình cho NH hoàn hảo nên đến hạn quy định buộc phải thanh toán trong khi đó bên bán không giao hàng) Ngược lại, TTQT hàng xuất khẩu, rủi

ro thường gặp là NHPH bị phá sản, bắt lỗi bộ chứng từ hoặc tìm cách dây dưa, trì hoãn việc thanh toán trong khi hàng đã gửi đi rồi Dù ở vai trò nào thì NH cũng là người cùng với DN XNK gánh vác tổn thất do rủi ro gây ra Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho KH luôn được các NH chú ý vì lợi ích của NH và KH luôn gắn với nhau Rủi ro trong TTQT của NHTM bao gồm:

Rủi ro trong thanh toán: Bao gồm những rủi ro như đã giao hàng nhưng không đòi được tiền thanh toán hoặc hàng nhận được không đủ quy cách,

Trang 33

phẩm chất như yêu cầu Loại rủi ro này do rất nhiều nhân tố gây nên như rủi

ro về hoạt động chính trị (chiến tranh, bạo loạn, cấm vận ), rủi ro về mặt kinh tế như phía đối tác nước ngoài khó khăn về tài chính không đảm bảo khả năng thanh toán hoặc tuyên bố phá sản, rủi ro đạo đức như đối tác không có thiện chí, có hành vi lừa đảo

Rủi ro về tỷ giá: là những thiệt hại do những biến động của tỷ giá hối đoái gây nên

Để TTQT đạt chất lượng tốt thì việc hạn chế rủi ro là vô cùng cần thiết

Để hạn chế được rủi ro cần phải thường xuyên theo dõi tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia có quan hệ thương mại, tư vấn cho KH khi ký kết hợp đồng lựa chọn phương thức và các điều kiện có lợi nhất, dự trữ ngoại tệ đa dạng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển TTQT

Nói đến sự ảnh hưởng của một nhân tố nghĩa là xem xét nhân tố đó có tác động tích cực hay tiêu cực đến chủ thể cần nghiên cứu TTQT chịu tác động bởi hai nhóm nhân tố là từ bản thân NH (nhân tố chủ quan) và nhóm nhân tố từ bên ngoài tác động vào (nhân tố khách quan)

1.3.1 Nhân tố chủ quan

TTQT là lĩnh vực đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM và cũng là hoạt động đem lại rủi ro lớn Các nhà quản lý phải đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Trong thực tế, có thể khẳng định rằng: nhân tố tác động đến TTQT xuất phát chủ yếu từ phía bản thân mỗi NH Các nhân tố đó bao gồm:

- Quy mô hoạt động của NH Một NH có quy mô lớn sẽ có lượng KH lớn và

sẽ có cơ hội, khả năng phát triển các hoạt động dịch vụ (trong đó có TTQT) Phát triển TTQT hay thu hẹp đều liên quan rất mật thiết với quy mô hoạt động của NH

- Chiến lược kinh doanh của NH: TTQT là một lĩnh vực chứa nhiều yếu tố rủi ro hơn các hoạt động trong nước vì yếu tố khoảng cách địa lý, luật lệ điều

Trang 34

chỉnh mua bán ngoại thương không đồng nhất vì không tồn tại một bộ luật thương mại quốc tế, ngôn ngữ bất đồng, hệ thống chính trị nên không phải NHTM nào cũng được phép thực hiện hoạt động này Khi NH hội đủ điều kiện về nguồn lực

và nhân lực để được phép kinh doanh trong lĩnh vực này thì cũng phải có chiến lược phát triển TTQT cụ thể để hoạt động này ngày càng có hiệu quả hơn

- Nhân tố con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác TTQT phải là những người có trình độ ngoại ngữ, chuyên môn nghiệp vụ Cán bộ NH phải là người tư vấn cho KH nhằm tránh xảy ra những điều bất lợi cho họ Ví dụ khi KH phát hành L/C hàng nhập mà có điều khoản đòi tiền bằng điện (T/T remittance allowed) thì NH nên tư vấn để họ bỏ điều khoản này Bởi nếu đòi tiền bằng điện thì khi NHPH chưa nhận được bộ chứng từ gốc mà nhận được điện đòi tiền sẽ phải thanh toán ngay

Cán bộ có trình độ giỏi là yếu tố rất quan trọng vì TTQT có tính rủi ro cao, nếu không tinh thông nghiệp vụ rất dễ dẫn đến tổn thất cho NH Nếu không giỏi ngoại ngữ, không thể hiểu đúng những giao dịch được gửi từ nước ngoài đến và hậu quả là hai bên không hiểu nhau, gây tranh chấp

- Nền tảng CNTT: Cùng với nhân tố con người thì CNTT là một trong những nhân tố thiết yếu, hàng đầu quyết định sự thành công của TTQT CNTT giúp các NH thực hiện giao dịch an toàn, chính xác và nhanh chóng hơn Với TTQT sự ra đời của mạng SWIFT kết nối toàn cầu cho phép tiết kiệm thời gian chuyển một bức điện nhanh hơn trước rất nhiều Hay sự ra đời của hệ thống thẻ Visa card, Master card cho phép con người rút tiền, thanh toán tiền vượt ra khỏi biên giới một quốc gia Qua một vài ví dụ điển hình như trên để thấy tầm quan trọng của CNTT ngày nay là rất lớn mạnh

Ngày nay, có thể nói CNTT là một trong những yếu tố sống còn quyết định

sự thành công của mỗi NHTM Bởi CNTT giúp cho con người giải phóng sức lao

Trang 35

động, cho phép kết nối trong hệ thống để thực hiện việc gửi rút nhiều nơi của KH

và đặc biệt nhờ có CNTT với những máy móc thiết bị hiện đại thì việc giao dịch của con người với nhau trên toàn cầu sẽ không mất thời gian, công sức Điều đó sẽ giúp NHTM giảm thiểu chi phí và tối đa hoá lợi nhuận kinh doanh của mình

- Chính sách KH: Kinh doanh NH là ngành đem lại siêu lợi nhuận, thế nên ngày càng có nhiều NH ra đời Không có chính sách thu hút KH thì không thể cạnh tranh với các NH khác do đó lượng KH sẽ ít dần, lượng tiền gửi và các dịch

vụ NH khác từ đó giảm sút Kết quả là lợi nhuận NH cũng giảm theo

Trong mỗi thời kỳ chính sách của các NHTM là khác nhau, điều đó còn tuỳ thuộc vào mục tiêu mà nó cần đạt đến Chính sách KH cũng có thể thúc đẩy hoạt động NH phát triển, nếu chính sách đó là để khuyến khích Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng không phải lúc cũng như vậy Hiện nay, do nguồn ngoại tệ USD khan hiếm nên các NHTM không thể bán USD giao ngay cho KH nhập khẩu mà chỉ bán

kỳ hạn Chính sách này đã kìm chế sự phát triển của hoạt động TTQT, cụ thể là việc

mở L/C, chuyển tiền thanh toán hàng nhập khẩu của KH không được thực hiện

- Các nghiệp vụ hỗ trợ khác: Các nghiệp vụ NH liên quan chặt chẽ với nhau

Để TTQT hoạt động tốt thì cần có sự hỗ trợ từ các nghiệp vụ khác như nghiệp vụ tín dụng, kế toán Thông thường, KH vay vốn ở NH nào thì sẽ thực hiện TTQT tại

NH đó NH cho vay ngoại tệ để DN nhập khẩu hàng hoá, ngược lại hoạt động xuất nhập khẩu của DN phát triển sẽ duy trì và thúc đẩy hoạt động tín dụng

Bên cạnh đó nghiệp vụ kế toán cũng giúp NHTM theo dõi, hạch toán có khoa học nghiệp vụ TTQT

Tóm lại, ngày nay các NHTM luôn coi trọng phát triển sản phẩm dịch vụ cùng với các nghiệp vụ truyền thống (như nghiệp vụ cho vay, huy động vốn) nên TTQT luôn được chú trọng Vì vậy, phát triển TTQT gặp nhiều thuận lợi hơn

Trang 36

1.3.2 Nhân tố khách quan:

1.3.2.1 Môi trường kinh tế.

Môi trường kinh tế tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của từng

DN, cá nhân Vì vậy nó sẽ tác động đến hoạt động TTQT Ví dụ như khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008, xuất phát từ khủng hoảng tài chính nhà đất ở Mỹ

đã làm cho hoạt động kinh doanh của các Dn khó khăn, thất nghiệp gia tăng nhanh chóng Đến “gã khổng lồ” General Motor hay NH đầu tư lớn nhất của Mỹ Lemon Brather cũng phải phá sản làm cho hàng ngàn người thất nghiệp

Trong giai đoạn hiện nay, khủng hoảng tài chính tác động đến toàn bộ nền kinh tế các nước trên thế giới, gây khó khăn cho các DN hoạt động và có thể dẫn đến phá sản Đây là khó khăn chung của toàn bộ nền kinh tế thế giới, vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của các DN Việt Nam Đó là việc xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, các đơn đặt hàng bị cắt giảm, vốn đầu tư nước ngoài giảm Chính những điều này tác động đến việc duy trì và phát triển TTQT của các NHTM

1.3.2.2 Môi trường chính trị:

Liên quan đến chiến tranh, bạo động, khủng bố, xung đột tôn giáo, đảo chính, biểu tình Môi trường chính trị rất quan trọng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và TTQT nói riêng, nó đảm bảo môi trường an toàn hay không để các hoạt động kinh tế có thể diễn ra một cách suôn sẻ Các nước bị Mỹ cấm vận như Cuba, Triều Tiên rõ ràng sẽ bị hạn chế phát triển kinh tế, không thông thương với các nước khác bình thường được Lý do là vì hoạt động thanh toán trên thế giới chủ yếu bằng đồng đôla Mỹ thì phải qua thị trường Mỹ Mặt khác Mỹ có vai trò quyết định trong các vấn đề kinh tế lớn trên toàn cầu Những quốc gia có sự nhạy cảm chính trị như vậy thường gặp khó khăn trong quan hệ kinh tế thế giới

Trang 37

1.3.2.3 Môi trường pháp lý:

Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanh bao gồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực thi và sự chấp hành pháp luật

Đối với TTQT ở đây liên quan đến các đạo luật và tập quán quốc tế, những hạn chế và kẽ hở của chúng cũng như các mâu thuẫn giữa luật quốc gia và luật pháp, tập quán quốc tế Khi áp dụng các quy tắc, tập quán trong TTQT như URC

522, UCP 600 thì cần chú ý tính chất tuỳ ý của chúng; nghĩa là nếu muốn áp dụng thì phải dẫn chiếu cụ thể Các quy tắc, tập quán trên nếu có mâu thuẫn với luật quốc gia thì phải áp dụng theo luật quốc gia đó Do đó, khi tham gia vào hoạt động ngoại thương không chỉ KH mà các NH cần tìm hiểu luật pháp của đối tác nhằm tránh tổn thất, rủi ro Đây cũng là điều giải thích tại sao các NHTM Việt Nam phải thiết lập quan hệ đại lý với các NH trên hầu khắp thế giới Các NH đại

lý sẽ hiểu rõ hơn về luật pháp tại nước họ hoạt động và sẽ giúp NHTM Việt Nam tránh được những rủi ro không đáng có

Trang 38

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH

2.1 Khái quát về chi nhánh NHNo và PTNT tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động

NHNo và PTNT tỉnh Bắc Ninh là NHTM có chức năng kinh doanh tiền

tệ, tín dụng, dịch vụ cho các thành phần kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp

và phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh

NHNo và PTNT tỉnh Bắc Ninh có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Là doanh nghiệp nhà nước

- Là chi nhánh thành viên của NHNo & PTNT Việt Nam

- Hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; theo Luật các TCTD

- Hướng dẫn thực hiện các chế độ, thể lệ, quy định về hoạt động của NHNo & PTNT cho các chi nhánh loại III (cấp huyện, thành phố)

NH vừa thực thi sự chỉ đạo của NHNo & PTNT Việt Nam, vừa thực hiện chủ trương, chính sách của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh

về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh

Với chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và làm dịch vụ NH đối với các thành phần kinh tế, làm uỷ thác các chương trình đầu tư vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế – xã hội, cá nhân trong và ngoài nước

NH có nhiệm vụ tổ chức hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính theo phân cấp uỷ quyền, bảo đảm sự tăng trưởng các hoạt động kinh doanh của NH

Trang 39

với nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn để cho vay, kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ NH và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác.

Để đưa NHNo và PTNT tỉnh Bắc Ninh phát triển toàn diện, chi nhánh luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố mạng lưới của mình là các NH loại III ngày càng vững mạnh, đồng thời giao quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh cơ sở

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nhiều diễn biến phức tạp, chi nhánh đã thực hiện đồng bộ ba biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản, quản lý rủi ro lãi suất, quản lý rủi ro hoạt động, tăng cường quản lý nguồn vốn, sử dụng vốn, xác định được quỹ an toàn chi trả Chỉ đạo điều hành quỹ tiền mặt ở các NH loại III, đảm bảo mức tồn quỹ theo quy định, nắm chắc lãi suất của NHNN công bố từng thời kỳ, diễn biến lãi suất huy động của các NHTM, các TCTD, điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng sản xuất kinh doanh theo các địa bàn trong tỉnh

NHNo & PTNT chi nhánh tỉnh Bắc Ninh là một thành viên trực thuộc NHNo & PTNT Việt Nam Với mô hình tổ chức theo kiểu tổng công ty nên người đứng đầu chi nhánh là Giám đốc, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của chi nhánh Dưới đó là các Phó Giám đốc phụ trách các phòng chuyên môn trên Hội sở tỉnh và các NH loại III Trải qua nhiều năm hoạt động, cơ cấu tổ chức ngày càng được hoàn thiện phù hợp với đặc thù của

hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của NH có hiệu quả hơn và điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 40

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức cán bộ chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh

Hành chính -

Tổ chức

Tín dụng

Kinh doanh - Ngoại hối

CNloại 3

Kế toán – Ngân Quỹ

Kế hoạch - Nguồn vốn

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà – PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thảo (2007), “Ngân hàng thương mại - Quản trị và Nghiệp vụ”, NXB Thống kê, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngân hàng thương mại - Quản trị và Nghiệp vụ”
Tác giả: PGS.TS. Phan Thị Thu Hà – PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thảo
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
10. GS. Đinh Xuân Trình (2002), “Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương”, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương”
Tác giả: GS. Đinh Xuân Trình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
11.PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến (2007), “Cẩm nang thanh toán quốc tế bằng L/C. UCP 600 song ngữ Anh - Việt”, NXB Thống kê , 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang thanh toán quốc tế bằng L/C. UCP 600 song ngữ Anh - Việt”
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
12.GS.TS. Hoàng Văn Châu – Th.S Tô Bình Minh (2005),“Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000) giải thích và hướng dẫn sử dụng”, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000) giải thích và hướng dẫn sử dụng”
Tác giả: GS.TS. Hoàng Văn Châu – Th.S Tô Bình Minh
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
13.Nguyễn Trọng Thuỳ (2003), “Toàn tập UCP – Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ”, NXB Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn tập UCP – Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ”
Tác giả: Nguyễn Trọng Thuỳ
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
14.Th.S. Dương Hữu Hạnh (1999), “Thanh toán quốc tế - Nguyên tắc và thực hành”, NXB Tài chính, 1999.15. Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thanh toán quốc tế - Nguyên tắc và thực hành”
Tác giả: Th.S. Dương Hữu Hạnh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1999
1. Chính phủ (2006), Pháp lệnh ngoại hối, nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối Khác
3. NHNo & PTNT Bắc Ninh (2006), Báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại năm 2006, định hướng hoạt động năm 2007 Khác
4. NHNo & PTNT Bắc Ninh (2007), Báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại năm 2007, định hướng hoạt động năm 2008 Khác
5. NHNo & PTNT Bắc Ninh (2008), Báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại năm 2008, định hướng hoạt động năm 2009 Khác
6. NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh (2005, 2006, 2007, 2008), Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007, 2008 Khác
7. NHNo & PTNT Việt Nam (2005), Quyết định số 1998/QĐ-NHNo-QHQT ngày 15/12/2005 của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam ban hành qui định về Qui trình và kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam Khác
8. NHNo & PTNT Việt Nam (2005), Quyết định số 2008/QĐ-NHNo-QHQT ngày 16/12/2005 của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam. Ban hành quy định về quy trình mua bán ngoại tệ trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam Khác
9. NHNo & PTNT Việt Nam (2005), Quyết định số 388/HĐQT-QHQT ngày 05/09/2005 của Chủ tịch hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam. Ban hành Qui định quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ L/C - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiệp vụ L/C (Trang 11)
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1.2 Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền (Trang 15)
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1.3 Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn (Trang 18)
Sơ đồ 1.4: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1.4 Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ (Trang 19)
Sơ đồ 1.5: Quy trình nghiệp vụ ghi sổ - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1.5 Quy trình nghiệp vụ ghi sổ (Trang 22)
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức cán bộ chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức cán bộ chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh (Trang 40)
Bảng 2.1: Tổng hợp nguồn vốn huy động - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Bảng 2.1 Tổng hợp nguồn vốn huy động (Trang 41)
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế (Trang 43)
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán quốc tế - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Bảng 2.4 Doanh số thanh toán quốc tế (Trang 56)
Bảng 2.5: Thu nhập từ thanh toán quốc tế - phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh bắc ninh
Bảng 2.5 Thu nhập từ thanh toán quốc tế (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w