Theo định nghĩa chung nhất, đầu tư là việc sửdụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục đích thu về lợi nhuận hoặccác lợi ích kinh tế xã hội.Hoạt động đầu tư được tiến hành tron
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA KẾ TOÁN
Giáo viên hớng dẫn: TS NGUYỄN THỊ HÀ
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN VĂN PHƠNG
Líp : CQ 46/11.14
Hà Nội - 2012
Trang 2CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH TÀI
CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1 Tổng quan về ngân hàng TM và dự án đầu tư.
Đầu tư và tăng cường hoạt động đầu tư luôn là một yêu cầu cấp thiết của bất
kỳ một nền kinh tế phát triển nào Thế nhưng, muốn có hoạt động đầu tư thì phải có
đủ các nguồn lực cần thiết, và đặc biệt là phải có đủ vốn Vì vậy, để có cơ sở nghiêncứu sâu về vấn đề này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về ngân hàng và dự ánđầu tư
1.1.1 Ngân hàng TM và vai trò của Ngân hàng TM đối với nền kinh tế.
1.1.1.1 Khái niệm
Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian Ở mỗinước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: Ở Mỹ: ngânhàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính
và họat động trong ngành dịch vị tài chính Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những
xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kớthỏc hay hình thức khỏc cỏc số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiếtkhấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhậncác khoản kớ thỏc để cho vay hay tài trợ và đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàngthương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kớ thỏc
và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và nhữnghình thức vay mượn khỏc…
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nướcViệt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat
Trang 3động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán.
1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng đối với nền kinh tế, hoạt động của NHTM
- Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế
Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sửdụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưuthông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và cónhững chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh Nhưng những chủ thể này khôngquen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưuthông Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ ngườimuốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗitrong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốncủa nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch
có được nó sẽ duy trì họat động của mình
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu,trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyểngiao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu côngty…
- Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chitrả tiền theo lệnh của chủ tài khoản Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ
sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanhchóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh túan có giá trị lớn, ở mọi địa phương
mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phílưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và
Trang 4độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiếtkiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn,thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toánđược thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngânhàng thương mại Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanhnghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thựchiện các nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiềnbằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụngsec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nối mạng cácmáy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn
từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng
- Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàngkhông còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trungương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng Cácngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đãtạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanhtúan trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trungương mỗi nước
1.1.2 Đầu tư và dự án đầu tư - Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư
1.1.2.1 Đầu tư và dự án đầu tư.
a Đầu tư:
Thuật ngữ đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sự hy sinh cái gì
đó để tác động đến kết quả trong tương lai Xuất phát nguồn gốc của đầu tư, PaulSamuelson chỉ ra rằng: "Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùngcho tương lai" Các nhà kinh tế vĩ mô lại cho rằng: "Đầu tư là đưa thêm một phầnsản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhập của quốc gia hay thaythế các tài sản vật chất đã hao mòn" Và David Begg cho rằng: "Đầu tư là việc cỏc
Trang 5hóng mua sắm tư liệu sản xuất mới" Theo định nghĩa chung nhất, đầu tư là việc sửdụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục đích thu về lợi nhuận hoặccác lợi ích kinh tế xã hội.
Hoạt động đầu tư được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh
tế quốc dân, nó không chỉ bó hẹp trong đầu tư tài sản vật chất và sức lao động màcòn tham gia cả đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, với nhiều hình thức đa dạng
Ở Việt Nam, theo nghị định số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và
xây dựng, dự án đầu tư được định nghĩa như sau: “ Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.”
Bất cứ một dự án đầu tư nào kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc đều phảitrải qua giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Giai đoạn 1 có quy trình như sau:
Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư.
Sau khi ra Quyết định đầu tư, công việc tiếp theo là cụ thể hoá nguồn vốn,hình thành vốn đầu tư và triển khai dự án đầu tư
Nghiên
cứu cơ hội
đầu tư
Báo cáoNCKT
Lập dự ánđầu tư
Thẩm định
dự án đầutư
Quyết địnhđầu tư
Đàm phán và ký
kết hợp đồng thi
Xây dựng+công máy mócLắp đặt Vận hành
Trang 6 Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động.
Đõy là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và đưa
ra tiêu thụ trên thị trường
1.1.2.2 Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư.
Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên thamgia, dự án đó phải thoả món cỏc yêu cầu sau:
- Dự án phải có tính khoa học: khoa học của dự án được thể hiện: về số liệuthông tin phải đảm bảo trung thực, chính xác
- Dự án phải có tính pháp lý, tức là dự án phải phản ánh quyền lợi quốc giatrong dự án Nói một cách khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợpvới chính sách và Pháp luật của Nhà nước
- Dự án phải có tính thực tiễn Tính thực tiễn của dự án đầu tư thể hiện ở chỗ,
nú cú khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế Mỗi dự án thuộc một ngànhnghề cụ thể, có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể, chonên các nội dung, các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể được nghiêncứu một cách chung chung mà phải dựa trên những căn cứ hợp lý
- Dự án phải có tính thống nhất Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất vềlợi ích giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án
- Dự án phải có tính phỏng định Trong nhiều trường hợp, những nội dung,những tính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận,… trong dựa án chỉ
có tính chất dự trù, dự báo do thực tế xảy ra khác xa với dự kiến ban đầu trong dự
án Vì vậy, dự án phải có tính phỏng định, tuy nhiên, sự phỏng định này phải dựatrên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quan
1.2 Thẩm định dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.
1.2.1 Khái niệm thẩm định và thẩm định tài chính dự án đầu tư
Dự án đầu tư chỉ là bước đầu của quá trinh đầu tư Vấn đề quan trọng đối vớinhà đầu tư, nhà tài trợ và quản lý trước khi bỏ vốn đầu tư, cho phép đầu tư là cần
Trang 7xem xét lại một cách cẩn trọng hơn về tính khả thi của dự án Muốn vậy, cần có sựphân tích, đánh giá một cách độc lập, khách quan với quá trình soạn thảo dự ỏn.Tức
là phải thẩm định dự án
Thẩm định dự án đầu tư của NHTM là việc ngân hàng tổ chức, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án đầu tư nhất định, để ra quyết định đầu tư.
Cỏc ngân hàng thẩm định dự án đầu tư nhằm đánh giá chính xác về tính khảthi của dự án, qua đó để xét đoán về hiệu quả kinh tế và khả năng hoàn trả nợ của
dự án Việc thẩm định cũng nhằm mục đích là lường trước được các rủi ro có thểxảy đến khi thực hiện dự án để quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay Trong quátrình thẩm định, ngân hang còn có thể tham gia đóng góp ý kiến cho chủ đầu tư vớimục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của dự án đầu tư
Từ khái niệm thẩm định dự án đầu tư nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa vềthẩm định tài chính như sau:
Thẩm định tài chính DAĐT của NHTM là việc ngân hàng tổ chức, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản về phương diện tài chính ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án đầu tư nhất định để ra quyết định đầu tư.
1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các NHTM
Thứ nhất, thẩm định tài chính DA ĐT giúp ngân hàng định lượng chính xác về
quy mô, cơ cấu vốn đầu tư, thời hạn thu hồi vốn, hiệu quả đầu tư, rủi ro,…
Thư hai, thẩm định tài chính dự án đầu tư giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín
dụng nói chung
Đối với các NHTM nói chung thì thu nhập cảu ngân hàng chủ yếu vẫn từ hoạtđộng tín dụng Vì vậy, chất lượng tín dụng nói chung ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhậpcủa ngân hàng Do đa phần các khoản tín dụng trung, dài hạn do ngân hàng cung cấpcho khách hàng là thực hiện dưới hình thức cho vay DA ĐT nên chất lượng tín dụngcho vay dự án đầu tư sẽ ảnh hưởng quyết định đến thu nhập và rủi ro cảu ngân hàng
Trang 8Để có danh mục tín dụng có chất lượng tín dụng tốt thì phải dựa trên cơ sở các dự ánđầu tư tốt, có hiệu quả tài chính, khả năng thu hồi vốn nhanh… để tìm ra cá dự án nàythì nhất thiết phải thẩm định dự án.
Thư ba, thẩm định tài chính DA ĐT giúp ngân hàng phân loại được các dự án do
khách hàng mang tới, tỡm cỏc dự án phù hợp với dự án đầu tư của ngân hàng trongtương lai
Thứ tư, thẩm định tài chính DA ĐT của ngân hàng góp phần quan trọng vào việc
hỗ trợ các cơ quan quan lý hoạt đàu tư, hỗ trợ khách hàng trong việc xây dựng và thựchiện DAĐT
Thẩm định tài chính DAĐT có tầm quan trọng như vậy, nên việc thẩm định tàichính tại các ngân hàng là rất cần thiờt để thực hiện hoạt động tín dụng, tư vấn với chấtlượng cao, giữ vững và nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, đảm bảo sựtồn tại và phát triển của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh với nhiều ngân hàng vàcác công ty tài chính khác
1.2.3 Yêu cầu trong thẩm định tài chính dự án đầu tư.
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, củađịa phương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựngcủa nhà nước
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình vàtrình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới Nắmvững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, cácquan hệ tài chính - tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các doanhnghiệp khác hoặc chủ đầu tư khác, với cỏc ngõn hàng…
- Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoặcchủ đầu tư, các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt độngchung của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư, từ đó cú thờm căn cứ vững chắc để quyếtđịnh đầu tư
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng của
dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức
Trang 9kinh tế - kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định.
- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung của dự án, có sựphối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoàingành có liên quan cả trong và ngoài nước
- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ dự án
- Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định
1.2.4 Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư.
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩmđịnh khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tinđáng tin cậy Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khácnhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án.Sau đây là những phương pháp thẩm định thường gặp nhất
1.2.4.1 Phương pháp so sánh các chỉ tiêu.
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủyếu của dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt động.Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệquốc gia, quốc tế
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư
- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiệnhành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại
- Các chỉ tiêu mới phát sinh…
1.2.4.2 Phương pháp thẩm định theo trình tự.
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình
tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luận
Trang 10kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ýhay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được Khi tiến hành thẩm định chitiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác bỏ toàn
bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án
1.2.4.3 Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chínhcủa dự án Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thẩyxảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố đó đếnhiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của
dự án để xem xét Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiềubất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao.Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc đềxuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế
1.2.4.4 Phương pháp dự báo.
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tracung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ,thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của dự án
1.3 Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.
Trang 111.3.1 Quy trỡnh thẩm định dự ỏn đầu tư tại cỏc NHTM.
Quy trỡnh thẩm định tài chớnh dự ỏn đầu tư là một tập hợp cỏc hoạt động đỏnhgiỏ xem xột phõn tớch cỏc chi phớ và lợi ớch tài chớnh dự toỏn của dự ỏn Thụngthường NHTM thẩm định tài chớnh dự ỏn theo quy trỡnh sau:
Sơ đồ 1: Quy trỡnh thẩm định tài chớnh DAĐT tại cỏc NHTM.
Để thực hiện được cụng tỏc thẩm định về mặt tài chớnh một cỏch chuẩn xỏc vàchặt chẽ, cú tớnh thuyết phục cao, cỏc ngõn hàng thương mại phải xỏc định đượcnguồn thụng tin dựng để phõn tớch Thụng tin bao gồm:
- Thụng tin hành chớnh: Nắm bắt được hiệu quả tài chớnh dự ỏn (khả năng thu,
Phân tích dự báo
về nhu cầu thị tr ờng
Phân tích đánh giá
về nhu cầu sản xuất
Phân tích kế hoạch tài chính
Phân tích kế hoạch thu chi hàng năm
Tính dòng tiền thu chi hàng năm của dự ỏn
Thẩm định hiệu quả tài chính
Chấp nhận hay bác bỏ quyết định cho vay
Trang 12chi, trả nợ, nguồn trả…) Các kết luận tài chớnh…
- Thông tin phi tài chính: Bao gồm các thông tin về tên doanh nghiệp, văn phòngđại diện, ban giám đốc, số giấy phép đăng ký, cơ cấu vốn pháp định, tài khoản…Nếu thẩm định dự án một cách nghiêm túc đúng thủ tục và biện pháp thì quyếtđịnh đầu tư, tài trợ hợp lý của ngân hàng sẽ đảm bảo tăng lợi nhuận cho ngân hàng,tránh rủi ro, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư kinh doanh
1.3.2 Thẩm định tài chính định dự án đầu tại NHTM.
1.3.2.1 Nội dung thẩm định
Trong hoạt động thẩm định DAĐT, Thẩm định tài chinh DAĐT là một trongnhững nội dung quan trọng và phức tạp nhất vỡ nú đòi hỏi phải sử dụng tổng hợpcác kết quả của quá trình thẩm định trên nhiều phương diện khác nhau như thẩmđịnh khả năng tài chi chính cảu dự án đầu tư, thẩm định thị trường, thẩm định kỹthuật… kết quả thẩm định tài chính DAĐT là cơ sở để Ngân hàng ra quyết định tàitrợ đổng thời cũng là để đẩm bảo tránh được rủi ro chi các khoản vay, tạo sự an toàn
và lành mạnh trong hoạt động tín dụng
1.3.2.2 Xác định tổng nguồn vốn đầu tư và tính khả thi của nguồn vốn
Khái niệm: tổng vốn đầu tư bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựngmới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng hay trang bị kỹ thuật công trình
Vốn đầu tư của dự án được biểu thị qua các chỉ tiêu:
- Tổng mức đầu tư là khái toán chi phí của DAĐT được xác định trong giaiđoạn lập dự án hoặc trong giai đoạn lập báo cáo kinh tế kỹ thuật làm cơ sở để lập kếhoạch và quản lý nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án
Tổng mức đầu tư bao gồm:
Chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư và xây dựng, chiphí chuẩn bị cho sản xuất, lãi vay ngân hàng của chủ đầuu tư trong thời gian thựchiện đầu tư, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất (đối với dự án sản xuất), chi phí bảohiểm, chi phí dự phòng
- Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tưxây dựng công trình thuộc dự án, được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật
Trang 13Tổng dự toán công trình bao gồm các khoản chi phí liên quan đến khảo sát, thiết kế,xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí sử dụng đất đai, đền bù và giải phóng mặt bằng,chi phí khác và chi phí dự phòng.
Việc thẩm định dự án đầu tư là rất quan trọng để tránh việc khi thực hiện,vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu, dẫn đến việckhông cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án.Xác định tổng nguồn vốn đầu tư sát với thực tế sẽ là cơ sở để tính toán hiệu quả tàichính và dự kiến khả năng trả nợ của dự án
Cán bộ thẩm định phải xem xét, đánh giá tổng nguồn vốn đầu tư của dự án
đã được tính toán hợp lý chưa, tổng nguồn vốn đầu tư đó tớnh đủ các khoản cầnthiết chưa, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khốilượng, dự phòng việc tháy dổi tỉ giá ngoại tệ… Cán bộ thẩm định sau khi so sánhnếu thấy có sự khác biệt lớn ở bất kỳ nội dung nào thì phải tậ trung phân tích, tìmhiểu nguyên nhân và đưa ra nhận xét
1.3.2.3 Đỏnh giỏ hiờu quả về mặt tài chính của dự án
Sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá để kết luận tính khả thi và tính hiệuquả của dự án Thẩm định tài chính có ý nghia đặc biệt quan trọng đối với việcquyết định tài trợ hay không tài trợ dự án Đối với một NHTM thẩm định tài chính
là công tác trung tâm, quan trọng nhất khi tài trợ dự án
a) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của dự án
Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Chỉ tiêu NPV dùng để phản ánh lợi nhuận tuyệt đối của dự án có tính đến giátrị về mặt thời gian của tiền Đó là sự chênh lệch giữa thu nhập và toàn bộ chi phícần thiết để xây dựng, vận hành dự án
0 1
) (
Trong đó: TNt: dòng tiền vào năm t của dự án
CFt: dòng tiền ra năm t của dự án t: Năm thứ t của dự án
r: tỷ lệ chiết khấu
Trang 14n: Thời gian hoạt động của dự ánChỉ tiêu NPV là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá lựa chọn DA ĐT phù Hợpvới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Nếu NPV > 0: Dự án có tỷ suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn, dự
án co NPV càng lớn thì hiệu quả tài chính càng cao
Nếu NPV <0: Dự án đầu tư không có hiệu quả tài chính và không có khảnăng trả nợ theo quy định
Nếu NPV = 0: DA ĐT hòa vốn, tùy theo tính chất của dựa án đầu tư mà xem
có quyết định đầu tư hay không
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Là tỷ suất chiết khấu mà với mức lãi suất đó giá trị hiện tại các khoản thu trongtương lai mang lại bằng với giá trị hiện tại của vốn đầu tư
Ta có phương trình dùng để tính toán IRR:
0 1
) (
= 0IRR được xác định bằng 2 cách sau:
Cách 1: thử và sử lý sai số
Cách 2: sử dụng phương pháp nội suy
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu vỡ nú dễ dàng tính toán và cho kết quảchính xác hơn Các bước tiến hành:
Tìm r1 sao cho ứng với r1 có NPV1 > 0
r2 sao cho ứng với r2 có NPV2 < 0
Để IRR chính xác thì chênh lệch giữa hai lãi suất chiết khấu r1 và r2 không quá 5%.Khi đó IRR sẽ được tính theo công thức:
IRR = r1 + (r2 – r1 ) NPV NPV11 NPV2Chỉ tiêu IRR cho phép so sánh giữa mức sinh lời của DA ĐT với chi phí sử dụngvốn của dự án đảm bảo DA ĐT
Nếu IRR < chi phí sử dụng vốn của dự án: dự án đầu tư bị lỗ Dự án không đượcchấp nhận
Trang 15Nếu IRR = chi phí sử dụng vốn của dự án: DA ĐT hòa vốn
Nếu IRR > chi phí sử dụng vốn của dự án: dự án đầu tư có lãi
Tỷ số lợi ích – chi phí (BCR)
Tỷ số lợi ích – chi phí được tính bằng cách đem chia giá trị hiện tại của các khoảnthu nhập cho giá trị hiện tại của các chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm tỷ lệchiết khấu
Trong đó:
Bt: Thu nhập trong năm t
Ct: Chi phí trong năm tN: Thời gian hoạt động dự ánr: tỷ lệ chiết khấu (chi phí cơ hội)Nguyên tắc sử dụng tỷ số lợi ích – chi phí: dùng tỷ số này để xếp hạng các dự
án đầu tư là quy tắc được nhiều nhà phân tích đầu tư áp dụng rộng rãi nhất Một dự
án chấp nhận được nếu tỷ số lợi ích – chi phí lớn hơn 1 (Phản ánh chi phí bỏ ratrong năm nhỏ hơn thu nhập trong năm đó) Và trong việc lựa chọn các dự án loạitrừ lẫn nhau, quy tắc là chọn dự án nào có tỷ số chi phí – lợi ích lớn nhất
b) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoàn vốn của dự án
Thời gian hoàn vốn đầu tưThời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để thu thập và khấu haothu được vừa đủ để hoàn trả vốn ban đầu của dự án
- Thời gian hoàn vốn giản đơn: là thời gian thu hồi vốn không tính đến giá trịtheo thời gian của dòng tiền
Nếu lợi nhuận và khấu hao hàng năm như nhau, thì thời gian hoàn vốn đầu tưđược xác định theo công thức:
Bt BCR
0
0
11
Trang 16KH LNR
Chỉ tiêu này không quan tâm đến thời điểm phát sinh dòng tiền dự án, vì vậy đểxác định thời gian hoàn vốn đầu tư người ta sử dụng một chỉ tiêu nữa là thời gianhoàn vốn chiết khấu
- Thời gian hoàn vốn chiết khấu:
Là thời gian hoàn vốn trong đó, tổng vốn đầu tư vào tài sản cố định được thu lạibằng lợi nhuận và khấu hao hàng năm khi đã quy đổi cỏc dũng tiền này về giá trịhiện tại
Thời gian hoàn vốn chiết khấu được xác định thông qua việc tính toán giá trị hiệntại của các khoản thu nhập ròng hàng năm của dự án và trừ dần vào giá trị hiện tạivốn đầu tư cho đến khi đạt mức cân bằng đú chớnh là thời gian hoàn vốn chiết khấucủa dự án
Thông thường, chủ đầu tư và các ngân hàng thích những dự án đầu tư có thờigian hoàn vốn ngắn Do đó, DA ĐT nào có thời gian hoàn vốn đầu tư vượt thời gianhoàn vốn đặt ra sẽ bị loại Đây cũng là một hạn chế của chỉ tiêu này, vỡ cú những
DA ĐT mới ra nhập thị trường thì khả năng sinh lời trong những năm đầu còn thấpnhưng lại hứa hẹn một quy mô lãi cao ở những năm sau
Khả năng thanh toán nợ (DSCR)
Chỉ số khả năng thanh toán nợ của dự án được tớnh trờn cơ sở so sánh giữanguồn trả nợ hàng năm của DA ĐT gồm: khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận sauthuế (thực tế, chỉ một phần lợi nhuận sau thuế được dùng để trả nợ, phần kia được
sử dụng để trích lập các quỹ theo quy định và dùng cho các mục đích khác), mức lãi
Trang 17vay vốn cố định và các khoản thu khác từ dự án.
DSCR =
Nguồn trả nợ năm thứ i
Nợ phải trả năm thứ iNếu DSCR < 1: DA ĐT không có khả năng trả nợ vay theo kế hoạch trả nợ vàthời gian trả nợ dự kiến
Nếu DSCR > 1: DA ĐT đảm bảo khả năng trả hoàn nợ vay theo dự kiến
c) Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro của dự án
Điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó Tổng doanh thu bằng Tổng chi phí Hay nóicách khác thì tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp bắt đầu thu được lợi nhuận.Xác định điểm hòa vốn nhằm:
Trang 18* Q H : Là sản lượng hòa vốn kinh tế
* F: Chi phí cố định (chưa gồm lãi vay)
* v: Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm
* P: Giá bán sản phẩm
- Điểm hòa vốn tài chính: là điểm mà tại đó lợi nhuận trước thuế bằng khôngCông thức:
v P
I F
* Q HTC : Là sản lượng hòa vốn tài chính
* F: Chi phí cố định (chưa gồm lãi vay)
* I: lãi tiền vay
* v: Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm
* P: Giá bán sản phẩm
d) Phân tích mức độ rủi ro của dự án
Trong quá trình đầu tư xây dựng xảy ra nhiều rủi ro có ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp tới hiệu quả dự án đầu tư, do đó đánh giá mức độ rủi ro có ý nghĩquan trọng trong công tác thẩm định tài chính Thông thường người ta sử dụngphân tích độ nhạy và phân tích tình huống để đánh giá mức độ rủi ro:
Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy: là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án(NPV, IRR…) khi các yếu tố có liên quan đến các chỉ tiêu đó không thay đổi
Trang 19Phân tích độ nhạy cho phép lựa chọn những dự án có độ an toàn hơn cho nhữngkết quả dự tính Dự án có độ an toàn cao là dự án vẫn đạt được hiệu quả khi nhữngyếu tố tác động đến biến động theo chiều hướng bất lợi.
Nhược điểm của phương pháp này là chưa tính đến xác suất có thể xảy ra củacác biến rủi ro và không đánh giá được cựng lỳc sự tác động của tất cả các biến rủi
ro đến sự án
Phân tích tình huống
Phân tích tình huống: là kỹ thuật phân tích rủi ro kết hợp cả hai nhân tố là tínhđến xác suất xảy ra của các biến rủi ro và sự tác động của chính biến đó đối với dựán
Khi phân tích tình huống, cần phải xem xét một tập hợp những tình hình tàichính tụt xấu, từ đó so sánh với trường hợp cơ sở Tức là phải tính toán lại NPV vàIRR trong điều kiện tụt xấu, sau đó so sánh với các giá trị hoàn chuẩn
Tuy nhiên phương pháp này không thể xác định được tất cả các trường hợp kếthợp lẫn nhau cả các yếu tố và chỉ phân tích được một vài khả năng rời rạc trong khithực tế có rất nhiều khả năng kết hợp có thể xảy ra giữ các biến của dự án, Vì vậy,hiện nay phương pháp này vẫn chưa được áp dụng nhiều trong các Ngân hàng
1.3.3 CLTĐ tài chính DA ĐT của NHTM
1.3.3.1 Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Chất lượng của việc thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nóiriêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng, từ đó ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng
Chất lượng thẩm định tài chính dự án dưới góc độ Ngân hàng là xem xét dự án đú
cú đáp ứng tốt nhất những yếu cầu cảu ngân hang, thông qua các chỉ tiêu như quy trìnhthẩm địn có khoa học và toàn diện không, thời gian thẩm định nhanh hay chậm, chophí thẩm dịnh cao hay thõp, việc lựa chọn các phương pháp thẩm định có phù hợp với
dự án khụng…
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM là việc tính toán xác địnhdòng tiền trong tương lai của DAĐT mà thực tế khi triển khai DAĐT nó sẽ xảy ra nhưtính toán Nếu thực tế dòng tiền của dự án đàu tư xảy ra càng gần với kết quả thẩm
Trang 20định (báo cáo thẩm định tài chính DAĐT khi thẩm định DA ĐT) thỡ cú nghĩa là chấtlượng thẩm định DAĐT càng cao.
1.3.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao CLTĐ tài chính DAĐT của ngân hàng
Thẩm định tài chinh dự án đầu tư là một công cụ quản lý và kiểm tra quan trọngcủa ngân hàng nhằm đưa ra những quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đồngthời tham gia góp ý kiến cho các chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay,thu đủ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất Mặt khác, thẩm định tàichính dự án còn là cơ sở để xác định số tiền cho vay, mức thu nợ, thời hạn hợp lý,tạo tiền đề cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của mình Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án khôngnhững cần thiết với ngân hàng mà còn cần thiết với khách hàng cũng như đối với cảnền kinh tế
tư Việc nâng cao chất lượng thẩm định DA ĐT có ý nghĩa:
- Hạn chế rủi ro tín dụng: khi cho vay điều ngân hàng quan tâm đầu tiên là tuhồi nợ Những dự án mà chất lượng thẩm định không tốt, dẫn đến quyết định chovay sai lầm, do đó nguy cơ mất vốn có thể xảy ra Để hạn chế điều này ngân hàngcần nâng cao chất lượng thẩm định đấu với từng dự án
- Đảm bảo lợi nhuận co ngân hàng: Vì ngân hàng là một doanh nghiệp nêncũng hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi Đồng vốn đầu tư phải mang được lợinhuận Việc nâng cao chất lượng thẩm định sẽ cho biết dự án nào mang lại lợinhuận, khả năng trả nợ cao
Đối với khách hàng:
Việc nâng cao chất lượng thẩm định dự án đâu tư để thấy được ưu nhược điểmcủa dự án, khắc phục những vấn đề còn tồn tại, sửa đổi dự án có tính khả thi hơn.Mặt khác, công tác thẩm định tốt sẽ giúp ngân hàng tư vấn cho khach hàng của
Trang 21mình bổ sung giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi trong khi triển khai dự án, hạnchế rủi ro.
Đối với nền kinh tế:
Chất lượng thẩm định dự án được nâng cao mới xác định được vai trò và tầmquan trọng của dự án đối với sự phát triển của nền kinh tế, dự án có thật sự phù hợpvới nền kinh tế hay không?
Qua đó khẳng định dự án hoạt động có hiệu quả, sản xuất ra những sản phẩmđáp ứng nhu cầu của xã hội, tạo công ăn việc làm hay không?
1.3.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá CLTĐ tài chính DAĐT của NHTM
Việc đo lường chất lượng thẩm định DAĐT trong hoạt động cho vay củaNHTM là rất khó khăn và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì vậy khi đánh giáCLTĐ DAĐT chúng ta căn cứ vào cỏc tiờu thức sau:
Một là, Mức độ khoa học, chính xác, toàn diện và sâu sắc của các kết quả thẩm
định, đặc biệt là kết quả thẩm định tài chính trờn cỏc phương diện phân tích kếhoạch vốn đầu tư, nguồn tài trợ, mức độ rủi ro của dự ỏn… và vai trò của các kếtquả đó đối với việc đưa ra quyết định đúng đắn của ngân hàng
Hai là, Sự phù hợp của các dự án so với thực tế khi dự án được thực hiện Điều
này ảnh hưởng trực tiếp tới dòng tiền và khả năng trả nợ của dự án Vì vậy, kinhnghiêm và khả năng phán đoán xu hướng thị trường của vật liệu đầu vào và sảnphẩm đầu ra của cán bộ thẩm định là yếu tố quyết định đến sự phù hợp này
Ba là, Thời gian thẩm định, đây là chỉ tiêu thường được sử dụng khi đánh giá
chất lượng thẩm định DA ĐT của Ngân hàng Trên giác độ Ngân hàng, thời gianthẩm định phải đủ dài đẻ ngân hàng có cái nhìn toàn diện và đầy đủ về dự án nhằmđưa ra các quyết định cho vay hiệu quả Tuy nhiên, nếu thời gian thẩm định quá dài
sẽ mất cơ hội kinh doanh của khách hàng Vì vậy, chất lượng thẩm định DAĐT cầnphải có sự phù hợp giữa sự an toàn của Ngân hàng và cơ hội kinh doanh của kháchhàng
Bốn là, Chất lượng thẩm định DAĐT còn được đánh giá qua các chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng trung dài hạn và chất lượng các khoản tín dụng trung dài hạn này.Kết quả thẩm định DAĐT chính là cơ sở để ra quyết định rằng có cho vay hay
Trang 22không? Việc quyết định cho vay hay không ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng hay thuhẹp quy mô tín dụng trung dài hạn Đằng sau quyết định cho vay là sự tính toán, cânnhắc cẩn thận của cán bộ thẩm định đối với các dự án đầu tư.
Những sai lầm trong công tác thẩm định dự án đầu tư cũng gây tác động lớn tớiviệc dự đoán, dự tính doanh thu, chi phí, hiệu quả của dự án mang lại từ đó ảnhhưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Vì vậy, đõy là tiêu chí quan trọng đểđánh giá chất lượng thẩm định dự án đầu tư
1.3.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLTĐ tài chính DA ĐT của NHTM
xử lý thông tin một cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định
Hiện nay để có được thông tin về khách hàng của mỡnh khụng khú đối với ngânhàng nhưng làm sao để có những thông tin chớnh xỏc mới là vấn đề ngân hàngphải quan tâm Thông thường để thuận lợi cho việc đi vay, dự án mà chủ đầu tưđưa đến NH đều khả th và mang tính chủ quan của người lập, cỏc báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp đều cho thấy tình hình tài chính là lành mạnh Nếu NH chỉ dựavào các thông tin này thì kết quả thẩm định sẽ không phản ánh đúng thực chất hiệuquả của dự án Như vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác luônđược đặt ra như một nhu cầu cấp bách đối với công tác thẩm định dự án, thiết lậpđược một hệ thống thông tin như vậy sẽ giúp cho NH rất nhiều trong việc nâng caochất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH
- Cán bộ thẩm định:
Trong quá trình thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói
Trang 23riêng cán bộ thẩm định luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng Bởi lẽ họ chính lànhững người trực tiếp tiến hành hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, vàthẩm định tài chính dự án đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi cán
bộ thẩm định không những phải có kiến thức sâu về nghiệp vụ, phải am hiểu cáclĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải có những hiểu biết về các vấn
đề liên quan như: Thuế, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ… Do vậy phầnnào hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ phụ thuộc vào chấtlượng nhân tố con người Sự hiểu biết và toàn bộ những kiến thức về khoa học, kinh
tế, xã hội mà người thẩm định có được dều phải thông qua đào tạo hay sự bồidưỡng kiến thức mà có; kinh nghiệm, kỹ năng là những gì tích luỹ được thông quahoạt động thực tiễn; năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở các trithức, kiến thức đã được tích luỹ Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt của cán bộthẩm định là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định và ngược lại, ngườithẩm định không có kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc, không đánhgiá đúng được tính khả thi của dự án
Để đạt được chất lượng tốt trong thẩm định tài chính dự án, yêu cầu quan trọngđầu tiên đối với cán bộ thẩm định là phải nắm vững chuyên môn nghiệp vụ Phảinắm vững các văn bản pháp luật, các chế độ chính sách do Nhà nước quy định đốivới các lĩnh vực: Ngân hàng, xây dựng cơ bản, tài chính kế toỏn…
Như vậy cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định chất lượngthẩm định tài chính dự án đầu tư Lấy thông tin gì? Ở đâu? Áp dụng chỉ tiêu nào đểđánh giá đều được tiến hành bởi cán bộ thẩm định Do vậy muốn nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trước hết bản thân trình độ kiến thức, nănglực đạo đức của cán bộ thẩm định phải cao
- Phương pháp thẩm định và các tiêu chuẩn thẩm định:
Phương pháp thẩm định là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án Với nguồn thông tin đã có được, vấn đề đặt ra với ngân hàng làlàm thế nào? Lựa chọn phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định dự án có hiệuquả tốt nhất Mỗi dự án có một đặc trưng nhất định, không phải bất cứ dự án nàocũng cần phải áp dụng và tính toán tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống thẩm định
Trang 24Việc sử dụng phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định phụ thuộc vào quyết địnhcủa mỗi ngân hàng Với mỗi dự án, phương pháp tốt nhất là phương pháp phù hợpnhất nhưng chưa chưa chắc chắn rằng phương pháp đấy là hiện đại nhất Nhưngtrong giai đoạn hiện nay, những phương pháp thẩm định tài chính dự án hiện đại đógiỳp cho việc phân tích, đánh giá dự án được toàn diện, chính xác và hiệu quả hơn.Song điều quan trọng là ngân hàng phải biết áp dụng đồng bộ các chỉ tiêu đảm bảotính toàn diện và cũng phải lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất phù hợp vớitình hình thực tế của ngành, dự án cũng như khả năng điều kiện cụ thể của ngânhàng.
Khi dùng một phương pháp, một chỉ tiêu để thẩm dịnh cán bộ thẩm định phảihiểu rõ phương pháp ấy có những ưu nhược điểm gỡ, cú phù hợp để thẩm định dự
án không? Ví dụ như dùng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để thẩm định tài chính dự ánđầu tư, phương pháp này không quan tâm đến dòng tiền sau năm thu hồi vốn, do đókhông lường trước được những rủi ro trong tương lai ảnh hưởng đến hiệu quả tàichính của dự án như thế nào? Do vậy nó thích hợp cho những dự án nhỏ, hao mònnhanh, phải thu hồi vốn nhanh Cán bộ thẩm định phải nắm chắc những nhược điểm
ấy của chỉ tiêu để thẩm định những dự án phù hợp với nó Rõ ràng ở đây nếu ngânhàng chỉ áp dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cho các dự án có thời gian dài, quy môlớn thì không hiệu quả
Lạm phát là yếu tố bất định ảnh hưởng đến việc thẩm định tài chính dự án Lạmphát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian, do vậy nó làm biến đổi dòng tiền
kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi đánh giá tài chính dự án đầu tư Mức lạm phátkhông thể dự đoán một cách chính xác vỡ nú phụ thuộc vào nhiều nhân tố: quy luậtcung cầu, tâm lý người tiêu dùng, sức mạnh nền kinh tế Các biến số tài chính trong
dự án, các yếu tố đầu vào của các chỉ tiêu NPV, IRR đều chịu tác động của lạmphát Do vậy để đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó cần phải xác định mộtcách chính xác hợp lý giá cả của các yếu tố trong chi phí hay doanh thu của dự án.Nếu giá được cung cấp trong dự án là giá cố định, không thay đổi theo thời gian vànếu có được áp dụng trong suốt thời gian hoạt động của dự án thì một mặt người lập
dự án đã đơn giản hoá việc xây dựng các bảng tóm tắt tài chính của dự án, mặt khác
Trang 25nú đó loại ra khỏi dự án sự phân tích các thông tin kinh tế, tài chính có thể ảnhhưởng đến kết quả của dự án Nếu giá cả đầu vào đầu ra của dự án được điều chỉnhtrong suốt thời gian hoạt động của dự án theo một xu hướng mà nhà thẩm định giảđịnh cho các thời kỳ trong tương lai thì đó là giá thực Đó là giá có thể có trongtương lai, được dự đớn trên mức cung cầu hàng hoá hay sản phẩm của dự án trongmột khoảng thời gian với các nguồn cung cấp sẵn có và các yếu tố bên ngoài khác
có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất Sử dụng giá này giúp cho việc tính toán xâydựng các biến số của bảng tài chính sẽ đáng tin cậy hơn, chính xác hơn, giúp chocông tác thẩm định có hiệu quả hơn
Lãi suất chiết khấu là yếu tố quan trọng trong thẩm định tài chính dự án đầu tư.Việc thay đổi lãi suất có ảnh hưởng đến giá trị hiện tại của các khoản thu nhập vàchi phí Nếu lãi suất này quá thấp sẽ khuyến khích đầu tư vào các dự án kém hiệuquả, nếu nó quá cao sẽ hạn chế đầu tư Hiện nay chúng ta chưa có một quy địnhthống nhất nào về tỷ lệ này đối với từng ngành nghề cụ thể cũng như không có mộtchuẩn mực nào để xác định lãi suất chiết khấu dẫn đến dựng cỏc tỷ lệ khác nhau đểđánh giá, so sánh dự án gõy lờn sự khó khăn không chính xác trong công tác thẩmđịnh
- Một số nhân tố khác:
Tổ chức điều hành:
Thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nhiều hoạt động liên quan chặt chẽvới nhau, kết quả của nó phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức, điều hành, sự phối hợpcác bộ phận trong quá trình thẩm định sẽ tránh được sự chồng chéo, phát huy đượcnhững mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu của mỗi tác nhân và trên cơ sở đó giảmbớt chi phí cũng như thời gian thẩm định Tổ chức thẩm định hợp lý khoa học sẽkhai thác được các nguồn lực cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, qua
đó nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH
Trang thiết bị công nghệ:
Hiện nay khoa học kỹ thuật hiện đại đã ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống
xã hội Đặc biệt là công nghệ thông tin đã được ứng vào trong ngành ngân hàng làmtăng khả năng thu thập, xử ký và lưu trữ thông tin một cách hiệu quả hơn Trên cơ
Trang 26sở đó cung cấp thông tin cho việc thẩm định tài chính dự án đầu tư một cách hiệuquả hơn Hiện nay, có rất nhiều phần mềm chuyên dùng cho ngân hàng nói chung
và cho công tác thẩm định nói riêng được thuận tiện hơn Các cán bộ thẩm định cóthể truy cập và xử lý một lượng thông tin lớn mà vẫn tiết kiệm thời gian, các chỉtiêu tính toán đã được cài đặt chỉ cần nạp số liệu vào máy sẽ cho các chỉ tiêu như:NPV, IRR Nhưng nếu máy hoặc chương trình có sự cố thì sẽ cho kết quả thẩm địnhkhông chính xác, đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải xem xét lại kết quả thẩm định
để cho một kết luận chính xác
Về phía khách hàng
Đối vơi khách hàng, các dự án mà khách hàng mang tới ngân hàng phải đưa racác con số tương đối chính xác về khoản chi phí, doanh thu của khách hàng bởinhiều khi khách hàng đưa ra những con số không chính xác về giá cả, chi phí,doanh thu, các cán bộ ngân hàng phải mất nhiều thời gian và công sức điều tra lại
để có những con số chính xác hoặc ít nhất là tương đối chính xác Nhưng nếu gặpnhững cán bộ không có trách nhiệm nghề nghiệp họ sẽ chẳng cần phải kiểm tra lạikhi đú tớnh thiếu chính xác trong những con số mà khách hàng đưa ra sẽ dẫn đếnmột hậu quả nghiêm trọng là kết luận sai về tính khả thi của dự án và nếu ngân hàngcho vay thì sẽ dẫn đến thua lỗ Do đó chất lượng thẩm định dự án của ngân hàng sẽ
bị đánh giá là thấp
Về chính sách của nhà nước
Cơ quan hữu quan – đó là những cơ quan quản lý ngân hàng hoặc những vănbản chính sách của các cơ quan này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngânhàng Khi các cơ quan này đưa ra những văn bản mới thì sự kịp thời, tính hợp lý củachúng và của các văn bản hướng dẫn kèm theo có ảnh hưởng đến hoạt động củangân hàng nói chung và công tác thẩm định của ngân hàng nói riêng Các văn bảnnày có thể kể tới các văn bản hướng dẫn tính khấu hao, tính tiền thuế đất đai củanhà nước, tính giá trị của tài sản, hay những hướng dẫn về thuế là những văn bản cóảnh hưởng trực tiếp tới công tác thẩm định của ngân hàng
Các yếu tố về phía ngân hàng, khách hàng hay cơ quan hữu quan dù có mức độ
Trang 27ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàngnhưng chúng đều là cơ sở để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án của cácngân hàng.
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐễNG HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Chi nhánh Đông
Hà Nội
2.1.1 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.
2.1.1.1. Lịch sử hình thành:
Tên doanh nghiệp và các thông tin cơ bản
Tên Tiếng Việt : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Tên Tiếng Anh: Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development
of Vietnam
Tên thương hiệu: BIDV
Trụ sở chính : Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
1957 Được thành lập với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, trực
thuộc Bộ Tài Chính, 100% sở hữu Nhà nước
1981 Đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (trực
thuộc Ngân hàng Nhà nước)
1990 Đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1992 Bắt đầu hoạt động với các đối tác nước ngoài
1995 Chuyển sang hoạt động như một Ngân hàng thương mại
1996 Là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam thực hiện kiểm
Trang 29toán báo cáo tài chính theo 2 chuẩn mực Việt Nam và quốc tế, và
áp dụng liên tục cho tới nay (15 năm)
2001 Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam nhận chứng chỉ ISO
9001:2000
2001 - 2006 Thực hiện đề án tái cơ cấu ngân hàng
2006 Là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thuê tổ chức định hạng Quốc
tế Moody’s để thực hiện xếp hạng tín nhiệm BIDV và các chỉ sốxếp hạng đều đạt mức trần quốc gia
2008 Chuyển đổi mô hình tổ chức theo dự án hỗ trợ kỹ thuật giai đoạn 2
2011 Chuyển đổi NH ĐT&PT Việt Nam từ doanh nghiệp nhà nước
thành loại hình Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước làmchủ sở hữu và tiến hành cổ phần hóa
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ:
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cú cỏc chức năng và nhiệm vụ sau:
- Huy động vốn ngắn – trung – dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư pháttriển
- Kinh doanh đa năng tổng hợp về tài chính, tiền tệ, tín dụng và các dịch vụngân hàng
- Làm ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ đầu tư phát triển từ các nguồnvốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức kinh tế – xã hội, cánhân và đoàn thể trong và ngoài nước theo quy định về Pháp luật ngân hàng…
Trong những năm vừa qua, mặc dù nền kinh tế trong và ngoài nước có nhiềubiến động và bất ổn, nhưng với sự cố gắng của mình, Ngân hàng Đầu tư & Pháttriển Việt Nam đã sáng tạo, nỗ lực triển khai các giải pháp trong hoạt động kinhdoanh, đạt kết quả toàn diện tích cực trên cả 3 mặt: hoàn thành kế hoạch kinhdoanh, lộ trình cơ cấu lại và xây dựng ngành, góp phần cùng toàn ngành ngân hàngthực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước
2.1.2 Chi nhánh Đông Hà Nội Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.
2.1.2.1 Sự hình thành và phát triển của BIDV Đông Hà Nội
Thuộc hệ thống NHĐT & PT Việt Nam, BIDV Đông Hà Nội được thành lập
Trang 30vào năm 1967 với tên gọi là Chi điếm 4 Đông Anh trực thuộc ngân hàng kiến thiết
Hà Nội, với số cán bộ ban đầu chỉ có 10 người Chức năng của Chi điếm lúc này làthực hiện quản lý cấp phát và cho vay các công trình ở hai huyện Đông Anh và SócSơn Năm 1983 tách ra làm phòng đầu tư và xây dựng Đông Anh và Chi nhánhngân hàng Sóc Sơn Năm 1987 nhập về thành Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và xâydựng Đông Anh Cho đến năm 1990, chi nhánh đổi tên thành NHĐT & PT ĐôngAnh, và là chi nhánh cấp II trực thuộc NHĐT & PT Hà Nội, thực hiện các hoạtđộng trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng với các nghiệp vụ cơ bản:nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
Từ tháng 1/2005, NHĐT & PT Đông Anh được nâng cấp lên thành Chi nhánhcấp I trực thuộc NHĐT & PT Việt Nam theo quyết định số 241/QĐ-HĐQT ngày25/11/2005 của HĐQT NHĐT & PT Việt Nam Việc nâng cấp này phù hợp với tiếntrình thực hiện chương trình cơ cấu lại, gắn liền với đổi mới toàn diện và phát triểnvững chắc với nhịp độ tăng trưởng cao, nâng cao hiệu quả toàn hệ thống theo đòihỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập
Tháng 10/2008, theo chỉ đạo chung của BIDV, chi nhánh BIDV Đông Anhcựng cỏc chi nhánh BIDV trên cả nước đã hoàn tất việc chuyển đổi sang hoạt độngtheo mô hình tổ chức theo dự án TA2
Ngày 28/11/2008, được sự chấp thuận của NHĐT & PT Việt Nam, NHĐT &
PT chi nhánh Đông Anh đổi tên thành NHĐT & PT chi nhánh Đông Hà Nội theoquyết định số 983/QĐ-HĐQT, khẳng định quy mộ hoạt động rộng lớn hơn và vị thếmới của mỡnh trờn địa bàn
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Hà Nội
BIDV Đông Hà Nội là một đơn vị thành viên trực thuộc NHĐT & PT ViệtNam, được phân cấp hoạt động theo mô hình chi nhánh cấp I
Với mô hình tổ chức đến đầu năm 2011, BIDV Đông Hà Nội có tổng số hơn
100 cán bộ công nhân viên với tuổi đời bình quân là 28 tuổi, trong đó trình độ đạihọc và trên đại học là hơn 80 người, còn lại là cao đẳng và trung cấp
Đến thời điểm hiện tại, BIDV Đông Hà Nội có mạng lưới ngân hàng gồm:
Trang 31- Trụ sở chính tại đường Cao Lỗ, Thị trấn Đông Anh, Hà Nội.
- 04 phòng giao dịch và 01 quỹ tiết kiệm
Theo quyết định số 828/QĐ-HĐQT được HĐQT NHĐT & PT Việt Nam phêduyệt ngày 23/9/2008, cơ cấu tổ chức (phòng, tổ) của BIDV Đông Hà Nội thực hiệntheo mô hình TA2, được mô tả như dưới đây:
Trang 32BAN GIÁM ĐỐC
KHỐI
QHKH KHỐI
QUẢN LÝ RỦI RO
KHỐI TÁC NGHIỆP
KHỐI QUẢN LÝ NỘI BỘ
Phòng tổ chức hành chính
KHỐI TRỰC THUỘC
Phòng quản trị tín dụng
Phòng Quản
lý và dịch
vụ kho quỹ
Tổ thanh toán quốc tế
Phòng giao dịch số 1,2,3,6.
Phòng quan
hệ khách
hàng 2
Phòng tài chính kế toán
Phòng kế hoạch tổng hợp
Trang 33NHTM Có thể nói, vốn là chìa khóa, là yếu tố hàng đầu của mọi quá trình pháttriển.
Nhận thức được tầm quan trọng nói trên của vốn, BIDV Đông Hà Nội luôn coitrọng công tác huy động vốn nhằm đảm bảo quy mô nguồn vốn luôn tăng trưởngtheo kế hoạch đã định cũng như đảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh của chinhánh diễn ra một cách hiệu quả nhất
Để thấy được tình hình thực hiện công tác huy động vốn tại BIDV Đông HàNội một cách rõ ràng hơn, chúng ta hãy xem xét biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.1: Tổng vốn huy động giai đoạn 2008 - 2011 (Đơn vị: tỷ đồng)
sốtiền tăng/giảm
tỷ lệ(%)
sốtiền tăng/giảm
tỷ lệ(%)
(Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp)
Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy rằng nguồn vốn huy động của BIDV Đông
Hà Nội đều có xu hướng tăng qua các năm, từ 2,255 tỷ đồng năm 2008 lên 2,823 tỷđồng năm 2009 (tăng 568 tỷ đồng so với năm 2008, tương ứng với tỷ lệ 25.2%) và
Trang 343,766 tỷ đồng năm 2010 (tăng 943 tỷ đồng so với năm 2009, tương ứng với tỷ lệ33.4%) Đặc biệt năm 2011, tổng vốn huy động của Ngân hàng tăng 1039 tỷ đồng
so với năm 2010 tương ứng tỷ lệ 27.6%
Để đạt được tốc độ tăng trưởng nguồn vốn trên, cùng với chính sách lãi suất chủđộng, linh hoạt, chi nhánh luôn phối hợp hài hòa với nhiều yếu tố tích cực như: hìnhthức huy động linh hoạt, hấp dẫn, lãi suất tiền gửi hợp lý cho từng đối tượng kháchhàng, đẩy mạnh việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích song song việcđổi mới phong cách giao tiếp văn minh, tận tình, chu đáo
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động giữ vai trò chủ đạo, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuấtkinh doanh, dịch vụ, đời sống, các dự án đầu tư và phát triển kinh tế xã hội, các nhucầu hợp pháp khác đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình dưới các hình thứcdài hạn, trung hạn, ngắn hạn, bằng VNĐ và bằng ngoại tệ, phù hợp với quy định củapháp luật, của NHNN Việt Nam và ủy quyền của NHĐT & PT Việt Nam
Thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV Đông Hà Nội được thể hiện thông quabảng 2.1
Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy được sự tăng trưởng tín dụng qua các năm
Cụ thể, năm 2010 tăng trưởng tín dụng là 12,9% so với năm 2009 và năm 2011 tăngtrưởng tín dụng là 15% so với năm 2010
Xét theo thời hạn khoản vay, cả cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn đều
có xu hướng tăng và tỷ trọng của chúng trên tổng dư nợ khá ổn định trong giai đoạn
2009 - 2011 Năm 2011 tỷ trọng cho vay trung dài hạn có phần tăng lên nhiều hơn,đạt 26,1% trên tổng dư nợ Các khoản cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao, dovới các khoản vay ngắn hạn, chu kỳ sản xuất ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh vẫn
là giải pháp an toàn và hiệu quả mà các ngân hàng lựa chọn
Xét theo loại ngoại tệ, dư nợ cho vay bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếutrọng tổng dư nợ Dư nợ cho vay bằng cả VNĐ và ngoại tệ đều có xu hướng tănglên trong giai đoạn 2009 - 2011, đặc biệt trong năm 2010 dư nợ cho vay bằng ngoại
tệ tăng mạnh Nguyên nhân của sự biến động này là do trong năm 2010, chi nhánh
Trang 35đã tiếp thị được một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu(Phân bón, kinh doanh ô tô nhập khẩu nguyên chiếc và nhập khẩu linh kiện).
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động tín dụng giai đoạn 2009 - 2011
c.Dư nợ theo đối tượng
- Cho vay doanh nghiệp 1,894 88 2,025 83.4 2,231 81.0
- Cho vay cá nhân, hộ gia
dư nợ là thấp, cả về tỷ trọng và số tuyệt đối Mặc dù đó cú chủ trương, chỉ đạo trong
Trang 36toàn hệ thống BIDV về đẩy mạnh phát triển tín dụng bán lẻ, dư nợ bán lẻ có tănglên qua các năm, song giá trị vẫn còn nhỏ so với tổng dư nợ.
Trong 3 năm qua, bên cạnh việc tăng trưởng về quy mô tín dụng, chất lượng tíndụng của chi nhánh cũng không ngừng tăng lên Nợ xấu năm 2009 là 45,2 tỷ đồng,chiếm 2.1% , năm 2010 là 43,7 tỷ đồng, chiếm 1.8%; và đến năm 2011 nợ xấu củangân hàng tăng lên 44,6 tỷ đồng nhưng tỷ lệ tăng này nhỏ hơn tỷ lệ tăng của tổng dư
nợ năm 2011 so với năm 2010 nên tỷ lệ nợ xấu/tổng dự nợ giảm xuống còn 1,6%.Với những cố gắng, nỗ lực của chi nhánh trong việc phát triển quy mô cũng nhưchất lượng tín dụng, đã đưa thị phần tín dụng của chi nhánh lên vị trí số một tại địabàn trong các năm gần đây
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ và phát triển sản phẩm
Với tư duy đổi mới, sáng tạo, chi nhánh xác định dịch vụ ngân hàng và cácsản phẩm tiện ích là một lĩnh vực sẽ đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng.Trong 3 năm gần đây công tác dịch vụ và phát triển sản phẩm được chi nhánh chútrọng phát triển, và đó cú sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng
Về kết quả thu phí dịch vụ: Tổng thu phí dịch vụ ròng năm sau luôn cao hơn
năm trước:
- Năm 2010 tăng so với năm 2009: 14.584 triệu đồng (tương ứng tăng 47%)
- Năm 2011 tăng so với năm 2010: 13.004 triệu đồng (tương ứng tăng 28,5%)
Về công tác phát triển khách hàng, sản phẩm mới và chất lượng dịch vụ:
Chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Lượng khách hàng đếngiao dịch tại ngân hàng, sử dụng các tiện ích của ngân hàng ngày càng nhiều Ngânhàng đã thực hiện tiếp thị, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ mới trên địa bàn Hiệnnay ngân hàng đã thực hiện chi trả lương tự động qua thẻ ATM cho toàn bộ các đơn
vị hưởng lương ngân sách trên địa bàn (huyện ủy, UBND huyện, tòa án nhân dân,Viện kiểm sát, Đài phát thanh, Bệnh viện đa khoa Đông Anh, Sóc Sơn, Bưu điệnSóc Sơn, các trường THPT, THCS, và nhiều doanh nghiệp trên địa bàn) Bên cạnh
đó, chi nhánh đã triển khai thành công và bước đầu đem lại kết quả các dịch vụ như:dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ ngân hàng tại nhà Homebanking, dịch vụ vấntin tài khoản trên Internet: BIDVDirect-banking, BSMS,…
Trang 37Bảng 2.2: Kết quả thu phí dịch vụ trong gian đoạn 2009 – 2011:
về cung ứng, phát triển các dịch vụ ngân hàng trên địa bàn
2.1.3.4 Kết quả kinh doanh
Giai đoạn 2009 - 2011 là giai đoạn có nhiều biến động trên thị trường tiền tệ, vàcác ngân hàng chịu ảnh hưởng lớn từ sự biến động đó Tuy nhiên, kết quả kinhdoanh của chi nhánh trong giai đoạn này vẫn tăng trưởng qua các năm Năm 2010,tổng thu nhập của Chi nhánh tăng 144,6 tỷ đồng (từ 425,8 tỷ lên 570,4 tỷ) ứng với
tỷ lệ 34% so với năm 2009 Đến năm 2011, tổng thu nhập của BIDV Đông Hà Nội
đã tăng thêm 151,7 tỷ từ 570,4 tỷ lên 722,1 tỷ tương ứng tỷ lệ 26,6% Lợi nhuậntrước thuế của BIDV Đông Hà Nội năm 2010 tăng 45.7% (tương ứng là 25.3 tỷđồng) so với năm 2009 và năm 2011 tăng 44% so với năm 2010 tương ứng 35,5 tỷđồng
Trang 38Bảng 2.3: Tình hình kinh doanh giai đoạn 2009 – 2011
(Nguồn: Báo cáo KQKD các năm 2009, 2010, 2011)
Những con số trên đã nói lên phần nào sự nỗ lực của chi nhánh trong quá trìnhphát triển và hoàn thiện nghiệp vụ kinh doanh, quy mô hoạt động của chi nhánhđang được mở rộng, sự tín nhiệm của khách hàng ngày càng tăng lên, hứa hẹn tiềmnăng phát triển lớn của BIDV Đông Hà Nội trong tương lai
2.2 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại Chi nhánh Đông Hà Nội Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.
2.2.1 Đánh giá tình hình đầu tư theo dự án tại Chi nhánh
2.2.1.1.Tỡnh hình cho vay theo dự án đầu tư
Trong cả 3 năm từ 2009 đến 2011, doanh số thu nợ luôn thấp hơn mức dư nợ
và sự chênh lệch này có xu hướng gia tăng Nguyên nhân chính là do Ngân hànggiải ngân đối với những dự án đầu tư quy mô lớn, đòi hỏi nhiều vốn những dự ánđầu tư này đang trong thời gian ân hạn hoặc mới đi vào hoạt động nên chưa thu vềđược nhiều vốn Năm 2009 doanh số cho vay theo dự án đầu tư là 325 tỷ/11 dự ánthì sang năm 2010 đã tăng thêm 3 dự án với doanh số cho vay là 370 tỷ Đến năm
2011, Ngân hàng tiếp nhận thêm 4 hồ sơ vay vốn nữa với tổng số tiền xin vay là 81
tỷ đồng
(Đơn vị: tỷ đồng)