1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần đại dương - chi nhánh vinh – nghệ an giai đoạn 2007 – 2020 (2)

108 573 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Dương - Chi Nhánh Vinh – Nghệ An Giai Đoạn 2007 – 2020
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Nghệ An
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 722,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống ngân hàngthương mại mới nổi với nhiều lĩnh vực hoạt động và có nhiều chi nhánh rộngkhắp cả nước trong những năm gần đây là Ngân hàng Thương mại Cổ phầnĐại dương Oceanbank,

Trang 1

LIÊN QUAN 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Tình hình nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa lý luận và tính thực tiễn 2

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

2.1 Một số vấn đề về ngân hàng thương mại 4

2.1.1 Khái niệm và chức năng của ngân hàng thương mại 4

2.1.2 Các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại 7

2.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong các ngân hàng thương mại .10

2.2.1 Khái niệm về cạnh tranh và đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 10

2.2.2 Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng thương mại 14

2.2.3 Năng lực cạnh tranh 18

2.3 Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại .20

2.3.1 Khái niệm đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại 20

2.3.2 Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM 20

2.3.3 Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại 24

Trang 2

2.4 Các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư nâng cao năng lực

cạnh tranh trong của các ngân hàng thương mại 37

2.4.1 Các nhân tố khách quan 37

2.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan 39

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI DƯƠNG – CHI NHÁNH VINH – NGHỆ AN 41

3.1 Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương – Chi nhánh Vinh (Oceanbank Vinh) 41

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Oceanbank Vinh 41

3.1.2 Hoạt động kinh doanh của Oceanbank – Vinh 44

3.2 Năng lực cạnh tranh của NH TMCP Đại dương chi nhánh Vinh 48

3.2.1 Năng lực cạnh tranh của NH TMCP Đại dương chi nhánh Vinh 48

3.2.2 Chiến lược và công cụ cạnh tranh của NH TMCP Đại dương chi nhánh Vinh 49

3.3 Thực trạng về hoạt đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank – Vinh 54

3.3.1 Hoạt động đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank – Vinh 54

3.3.2 Kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Oceanbank – Vinh 66

3.4 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank – Vinh 81

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI DƯƠNG – CHI NHÁNH VINH 85

Trang 3

4.1.2 Định hướng phát triển của Oceanbank – Vinh đến 2020 86

4.2 Một số giải pháp đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank – Vinh đến 2020 88

4.2.1 Giải pháp về vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh 88

4.2.2 Giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng tín dụng 89

4.2.3 Giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90

4.2.4 Giải pháp đầu tư nâng cao hiệu quả cơ sở vật chất và đổi mới công nghệ .92

4.2.5 Giải pháp đầu tư phát triển dịch vụ và khai thác sản phẩm dịch vụ khác biệt, có lợi thế để nâng cao khả năng cạnh tranh 93

4.2.6 Giải pháp về đầu tư nâng cao nghiên cứu thị trường, đầu tư vào hoạt động marketing và phát triển thương hiệu 96

4.2.7 Những giải pháp khác 99

4.3 Một số kiến nghị đối với ngân hàng trung ương 100

4.3.1 Đối với Quốc hội, Chính phủ 100

4.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước 101

KẾT LUẬN 103

Trang 4

55Bảng 3.2 Vốn đầu tư nâng cao năng lực cơ sở vật chất của Oceanbank –

Vinh giai đoạn 2007 – 2011 56Bảng 3.3 Vốn đầu tư nâng cao năng lực công nghệ của Oceanbank –

Vinh giai đoạn 2007 – 2011 58Bảng 3.4 Vốn đầu tư vào nguồn nhân lực của Oceanbank – Vinh giai

đoạn 2007 – 2011 60Bảng 3.5 Vốn đầu tư vào mở rộng đa dạng sản phẩm dịch vụ của

Oceanbank – Vinh giai đoạn 2007 – 2011 62Bảng 3.6 Vốn đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới hoạt

động của Oceanbank – Vinh giai đoạn 2007 – 2011 65Bảng 3.7 Tổng nguồn vốn huy động và tổng giá trị tài sản giai đoạn 2007 - 2011

66Bảng 3.8: Tình hình tín dụng của Oceanbank – Vinh giai đoạn 2007 – 2011

69Bảng 3.9: Cơ cấu CBNV của Oceanbank – Vinh tính đến 2011 79Bảng 3.10: Kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh của 32 NHTM 82

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, hệ thống trung gian tàichính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng cũng từng bước pháttriển ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn Hệ thống ngân hàng thương mại hiệnnay phát triển theo xu thế của thời đại và để có thể tồn tại và phát triển thì cácngân hàng thương mại cần phải khẳng định vị thế của mình Do đó, các ngânhàng thương mại cần phải xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình Tuy nhiên, mỗi ngân hàng thương mại đều có những điều kiện vàkhả năng nhất định về nguồn lực và nguồn lực lớn nhất của các ngân hàngthương mại được ưu tiên hàng đầu là vốn đầu tư Trong hệ thống ngân hàngthương mại mới nổi với nhiều lĩnh vực hoạt động và có nhiều chi nhánh rộngkhắp cả nước trong những năm gần đây là Ngân hàng Thương mại Cổ phầnĐại dương (Oceanbank), là một thành viên thuộc hệ thống ngân hàng này làNgân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương chi nhánh Thành phố Vinh –Nghệ an (Oceanbank Vinh)

Hiện nay, với sự biến động liên tục của thị trường tài chính – tiền tệ, hệthống ngân hàng thương mại nói chung và Oceanbank Vinh nói riêng luôn phảiđối mặt với những sự thay đổi đó và cùng với nó là có nhiều ngân hàng buộcphải sát nhập để có thể tồn tại và phát triển được, cũng như để cạnh tranh vớicác đối thủ trong hệ thống ngân hàng Oceanbank Vinh đã có những hoạt độngđầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, mặc dù đã đạt được một

số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế trong công tác đầu tưdẫn đến hiệu quả chưa đạt được như mong muốn Do đó, Oceanbank Vinh cần

có thêm những giải pháp phù hợp với tình hình thị trường tài chính hiện nay để

Trang 6

nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương - chi nhánh Vinh – Nghệ an giai đoạn 2007 – 2020”.

1.2.Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của một

số ngân hàng và doanh nghiệp, tuy nhiên đối với nâng cao năng lực cạnhtranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương chi nhánh Vinh – Nghệ

an thì chưa thấy đề tài nào đề cập đến Vì vậy, bản luận văn này có thể đónggóp một phần vào lý luận và thực tiễn nhằm tăng thêm hiệu quả cho công tácđầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank Vinh

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ vấn đề lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trongngân hàng thương mại

Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư nâng cao năng lựccạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương – Chi nhánh Vinh– Nghệ an

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tưnâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương– Chi nhánh Vinh – Nghệ an

1.4 Ý nghĩa lý luận và tính thực tiễn

Đề tài đã dựa trên cơ sở những lý luận liên quan đến đầu tư nâng caonăng lực cạnh tranh và vận dụng lý luận đó để phân tích những ưu điểm, mặthạn chế trong đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Oceanbank Vinh, từ

đó đề ra các giải pháp để thực hiện hoạt động đầu tư này

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh

tại Oceanbank Chi nhánh TPV – Tỉnh Nghệ an

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng về hoạt động đầu tư nâng cao năng lực

cạnh tranh tại Oceanbank - Chi nhánh TPV – Tỉnh Nghệ an trong giai đoạn

2007 – 2011 và định hướng đến năm 2020

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài các phương pháp được sử dụng làphương pháp duy vật biện chứng, cùng với sự kết hợp của các phương phápthống kê, so sánh, phân tích, khái quát,… đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn

để giải quyết và làm rõ mục đích đặt ra trong luận văn

1.7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm ba phần là phần mở đầu, phần nội dung

và phần kết luận Trong đó, phần nội dung cơ bản của luận văn được chiathành các chương như sau:

Chương 1 Lý luận chung về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tạicác ngân hàng thương mại

Chương 2 Thực trạng hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại dương – Chi nhánh TPV – TỉnhNghệ an

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngânhàng Thương mại Cổ phần Đại dương – Chi nhánh TPV – Tỉnh Nghệ an

Trang 8

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Một số vấn đề về ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm và chức năng của ngân hàng thương mại

2.1.1.1.Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng có thể định nghĩa đơn giản là tổ chức hoạt động kinh doanhcung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận

Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động như nhận tiềngửi, cho vay, đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán, phát hành các loại kìphiếu, hối phiếu Một số ngân hàng còn có khả năng phát hành tiền

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm cóngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàngchính sách, ngân hàng hợp tác

Hệ thống NHTM được ra đời được coi là kết quả của quá tŕnh lâu dàih́nh thành và phát triển của kinh tế hàng hoá, của quan hệ hàng hoá tiền tệ Ởnhiều nước tuy khái niệm về NHTM có những đặc điểm khác nhau nhưng đều

cho rằng NHTM là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ, là tổ chức

trung gian tài chính, là nơi dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn

Ngân hàng thương mại kinh doanh trên cơ sở điều kiện kinh tế và quyđịnh của pháp luật Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chínhcung ứng vốn cho những nơi thiếu vốn Vốn của NHTM có được ngoài vốnpháp định mà ngân hàng cần có để thành lập, NHTM huy động tiền nhàn rỗi,tiền gửi của dân cư, tổ chức với một mức lăi suất nhất định Số tiền thu đượcnày ngân hàng sẽ cho cỏc bờn thiếu vốn vay phải có cam kết hoản trả sau một

Trang 9

thời gian số tiền gốc và lăi Ngân hàng cũn dựng số vốn huy động được làmcác dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và các dịch vụ khỏc Lói thu được từ cáckhoản cho vay, làm các dịch vụ liên quan đến tiền và khoản đầu tư vào chứngkhoán tạo ra nguồn thu nhập của ngân hàng Với mục tiêu tăng cường hoạtđộng kinh doanh, nâng cao uy tín của ngân hàng để tối đa hoá lợi nhuận ngânhàng luôn muốn khai thác những nguồn vốn chỉ phải trả với chi phí thấp để

mở rộng cho vay, đầu tư, cung ứng dịch vụ,…

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và chocác công ty, cá nhân vay lại Tiền huy động được của người gửi gọi là "tài sảnnợ" của ngân hàng Tiền cho công ty và cá nhân vay cũng như tiền gửi ở cácngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là "tài sản có" của ngânhàng Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền cho vay, gửingân hàng khác và mua trái phiếu gọi là "vốn tự có" của ngân hàng thươngmại Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề phòng trường hợp tiềngửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là "tỷ lệ dự trữ" của ngân hàng Toàn

bộ số vốn của ngân hàng được chia thành 2 loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Vốncấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận khôngchia, các quĩ dự trữ được lấp trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tíndụng Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá tài sảncủa tổ chức tín dụng, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài và dựphòng chung cho rủi ro tín dụng

2.1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

a Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhấtcủa ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu vềvốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi

Trang 10

vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênhlệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất

cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

b Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tàikhoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theolệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanhtoán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phươngthức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiềntrong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gầnhay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoảnthanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thờigian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúcđẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn,

từ đó góp phần phát triển kinh tế

c Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngânNHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sựtồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mangtính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nềnkinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác củaNHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năngtrung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, sốtiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán

Trang 11

dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫnđược coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hànghóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăngtổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,chi trả của xã hội ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữbắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngânhàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.

2.1.2 Các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại

2.1.2.1 Huy động vốn

Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:

 Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụngkhác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và cácloại tiền gửi khác

 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác đểhuy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi đượcThống đốc NHNN chấp thuận

 Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam

và của tổ chức tín dụng nước ngoài

 Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn

 Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN

Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:

 Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh

Trang 12

doanh, dịch vụ, đời sống.

 Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư pháttriển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống

2.1.2.4 Xét duyệt cho vay, kiểm tra và xử lý

 Ngân hàng được quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệuchứng minh phương án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính của mình

và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; có quyền chấm dứtviệc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khác hàng cung cấpthông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng

 Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của kháchhàng vay, tài sản của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảolãnh để thu hồi nợ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảođảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; khởi kiện khách hàng vi phạmhợp đồng tín dụng và người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định của pháp luật

 Ngân hàng được miễn, giảm lãi suất cho vay, phí ngân hàng; giahạn nợ; mua bán nợ theo quy định của NHNN

2.1.2.5 Bảo lãnh

 Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiệnhợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng kháccho các tổ chức tín dụng, cá nhân theo quy định của NHNN

 Ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế được thựchiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngânhàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức cá nhân nước ngoài theoquy định của NHNN

2.1.2.6 Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

Trang 13

 Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thươngphiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiệnhành Người chủ sở hữu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác phải chuyển giao ngay mọi quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ cácgiấy tờ đó cho Ngân hàng.

 Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố thươngphiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiệnhành Ngân hàng được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp phát sinhtrong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ đó không thực hiện đầy đủnhững cam kết trong hợp đồng tín dụng

 Ngân hàng được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy

tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác theo quy địnhpháp luật hiện hành

 Ngân hàng có thể được Ngân hàng Nhà nước tái chiết khấu vàcho vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác đã được chiết khấu theo quy định pháp luật hiện hành

2.1.2.7 Công ty cho thuê tài chính

Ngân hàng phải thành lập Công ty cho thuê tài chính khi hoạt động chothuê tài chính

2.1.2.8 Tài khoản tiền gửi của Ngân hàng

 Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại NHNN (Sở giao dịch hoặcchi nhánh NHNN tỉnh, thành phố) nơi Ngân hàng đặt trụ sở chính và duytrì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN;

 Chi nhánh của Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánhNHNN tỉnh, thành phố, nơi đặt trụ sở của sở giao dịch, chi nhánh

 Ngân hàng mở tài khoản cho khác hàng trong nước và ngoàinước theo quy định của pháp luật

Trang 14

2.1.2.9 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

 Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

 Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệthống thanh toán liên ngân hàng trong nước Tham gia các hệ thốngthanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép

2.1.2.10 Các hoạt động khác

Ngân hàng thực hiện các hoạt động khác sau

 Dùng Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần củadoanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của phápluật

 Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tíndụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức vàhoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam

 Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN

 Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thịtrường quốc tế khi được NHNN cho phép

 Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vựcliên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tưcủa tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đạilý

 Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộchoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

 Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinhdoanh có liên quan tới hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luậtTất cả các Ngân hàng thương mại cổ phần được phép hoạt động đầy đủcác nghiệp vụ ngân hàng

2.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong các ngân hàng thương mại

Trang 15

2.2.1 Khái niệm về cạnh tranh và đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

2.2.1.1.Khái niệm về cạnh tranh

Có nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến cạnh tranh, theo từ điển

kinh doanh của Anh thì cạnh tranh được hiểu là “ Sự ganh đua, kình địch

giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh dành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì “Cạnh tranh (kinh tế) là

giành lấy thị phần” Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản

lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kếtquả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiềuhướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Ở góc độ thương mại thì cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh

nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các

ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phươngthức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ

Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể

có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùngquan tâm Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế(nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối trongsản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất chomình Trong nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là một quy luật khách quan, làmột yếu tố trong cơ chế vận động của thị trường

Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất

nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hànghoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động

xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi

Trang 16

hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giaothông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm mức hao phí laođộng cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu đượcnhiều lãi Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnhtranh.

Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơchế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sảnphẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất

Cạnh tranh xuất phát từ hai điều kiện cơ bản là phân công lao động xãhội và tính đa nguyên chủ thể lợi ích kinh tế, điều này làm xuất hiện các cuộcđấu tranh giành lợi ích kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch

vụ và các tổ chức trung gian, thực hiện phân phối lại các sản phẩm hàng hóa,dịch vụ Cuộc đấu tranh này dựa trên sức mạnh về tài chính, công nghệ, chấtlượng đội ngũ lao động, quy mô hoạt động của từng chủ thể Mục đích cuốicùng của các chủ thể kinh tế là tối đa hóa lợi ích, của người sản xuất kinhdoanh là lợi nhuận và của người tiêu dùng là tối đa hóa lợi ích khi tiêu dùng

2.2.1.2.Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc điểm cơ bản của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

NHTM cũng là một doanh nghiệp cũng giống như mọi doanh nghiệp và

là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuốicùng là lợi nhuận Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấpsản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, vớimức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác,

độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần đểđạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Do vậy, cạnh tranh trong NHTM

là cũng là sự tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng

mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp

Trang 17

những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình sovới các NHTM khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợinhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường

“Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ratrên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thịphần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bấtlợi của môi trường kinh doanh” (Theo:http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com)

Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lựctài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành;mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó,năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quantrọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM

Năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng trong ngành về cơ bản cũnggiống như năng lực cạnh tranh của các công ty sản xuất nhưng do sản phẩmcủa ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ, vì vậy các yếu tố ảnh hưởng đến nănglực cạnh tranh của ngân hàng có sự khác biệt so với một doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh thông thường

Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những đặc điểm khác biệt so vớicác loại cạnh tranh khác như sau:

 Hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống rất cao, nếu năng lựccạnh tranh của một ngân hàng yếu thì dẫn đến hoạt động kinh doanh của

hệ thống gặp khó khăn và có thể tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ,gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Do đó, hoạt động cạnh tranh của cácngân hàng thương mại cần phải tuân thủ theo pháp luật

 Hoạt động ngân hàng có liên quan đến nhiều tổ chức kinh tế,chính trị, xã hội và cá nhân, nếu một ngân hàng nào đó đổ vỡ thì sẽ ảnhhưởng tiêu cực đến các ngân hàng khác và khách hàng Do đó, trong mọi

Trang 18

hoạt động của các ngân hàng thương mại, đi liền với cạnh tranh lẫn nhau

là sự hợp tác với nhau để hướng đến một môi trường cạnh tranh lànhmạnh hơn

 Từ hai đặc điểm trên, để tránh những nguy cơ đổ vỡ của cả hệthống ngân hàng thương mại thì ngân hàng Nhà nước phải có sự giámsát chặt chẽ thị trường tiền tệ, để có những giải pháp can thiệp kịp thờitránh những yếu tố là suy yếu và thôn tính lẫn nhau trong hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại

 Ngoài ra, hoạt động ngân hàng không giới hạn phạm vi trongnước mà còn liên quan đến các nước khác trong hoạt động kinh tế đốingoại Do đó hoạt động của ngân hàng thương mại còn chịu sự chi phốicủa các yếu tố nước ngoài Vì thế, sự cạnh tranh của các ngân hàngthương mại đòi hỏi những chuẩn mực quốc tế rất cao và cần phải tuânthủ theo đúng thông lệ quốc tế

2.2.2.Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng thương mại

2.2.2.1 Cạnh tranh bằng chất lượng

Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ pháttriển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợicho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà sản xuất trước các áp lực cạnhtranh ngày càng gay gắt và để chiến thắng trong cạnh tranh thì buộc các nhàsản xuất phải nghiên cứu vận dụng nhiều phương thức và công cụ cạnh tranhkhác nhau Một công cụ quan trọng hay được vận dụng hiện nay là nâng caochất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp Nhưng đối với một số ngành, thì “chấtlượng” lại có tính chất định tính hơn là định lượng và nó được xác định chủyếu thông qua sự kiểm định đánh giá của chính khách hàng sử dụng sản phẩmdịch vụ đó Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải từng bướcthoả mãn cao nhất những yêu cầu, đòi hỏi từ phía khách hàng

Trang 19

Đối với các NHTM, để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thậttốt chiến lược bằng công nghệ và chiến lược nguồn nhân lực bên cạnh vớiviệc kết hợp chiến lược thị trường, chiến lược kinh doanh phù hợp Chỉ cónhư vậy, các sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung ứng mới đáp ứng đúng vàđầy đủ, kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng.

2.2.2.2 Cạnh tranh bằng giá cả

Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đối vớiquyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cả chính là lãi suất vàmức phí áp dụng cho các DV cung ứng cho các KH của mình Trong việc xácđịnh mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn:Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần, thìcần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các KH của mình, tuynhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có thể khiến NH

bị lỗ Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãisuất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điều này

có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong KD, bởi suy chocùng thì KH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng trong KD trên thươngtrường làm tối đa hoá lợi nhuận, mà để đạt được điều đó thì cần tiết giảm cácchi phí đầu vào Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thànhmột biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làm giảm bớt lợi nhuận tiêu thu được củacác NHTM Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giátrị thị trường sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và pháttriển thị trường Trên thực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phùhợp khi xâm nhập thị trường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTMthường đưa ra mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéokhách hàng và chiếm lĩnh thị trường Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tìnhhình biến động của thị trường, là thông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt

Trang 20

được khả năng thanh toán của KH cũng như khả năng cạnh tranh của các đốithủ trên thương trường Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quantrọng, song theo dõi thông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết đểNHTM đưa ra mức lãi suất và phí có tính cạnh tranh Đôi khi lãi suất và phí

mà các NHTM xác định chỉ thu được lợi nhuận nhỏ, hoà vốn thậm chí chịuthua lỗ tạm thời Khi thực sự chiếm lĩnh thị trường, cũng là lúc NHTM lấy lạinhững gì đã chi phí trong cạnh tranh

2.2.2.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối

Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinhdoanh Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả vàgây ra sự chú ý và thu hút khách hàng Sản phẩm DV của NH có một trongnhững đặc tính là nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ, nên việc xây dựng cáckênh phân phối (mạng lưới bán hàng) trở thành một vấn đề hết sức trọng yếutrong kinh doanh ở các NH Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sảnphẩm DV của NH đến KH, đồng thời giúp NH nắm bắt chính xác và kịp thờinhu cầu của KH, qua đó, NH chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện sảnphẩm DV, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm DV cho KH

Để mở rộng thị phần bán lẻ, các NH phát triển các hình thức phân phối cùngnhiều tiện ích:

 Kênh phân phối truyền thống gồm: (1) Hệ thống các Chi nhánh; (2) NHĐại lý (Thường được áp dụng đối với các NHTM chưa có chi nhánh)

 Kênh phân phối hiện đại: Trước năm 1950, các NH thường phát triểnmạnh mẽ mạng lưới chi nhánh để mở rộng thị phần và gây sức ép lên cácđối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, từ năm 1980 trở lại đây, các kênh phânphối hiện đại với ưu thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hướngchung Bao gồm:

 Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn Đặc điểm của kênh phân phối

Trang 21

này là hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bịđiện tử Nó có những ưu thế to lớn về chi phí giao dịch và tốc độ thực hiệnnghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của KH.

 Chi nhánh ít nhân viên Chi nhánh ít nhân viên có vị trí quan trọngtrong hệ thống NH, nhất là các chi nhánh lưu động Ưu điểm của chúng là chiphí thấp, hoạt động linh hoạt

 NH điện tử (E Banking) Phương thức phân phối này thông qua đườngđiện thoại hoặc máy vi tính Nó cung cấp cho KH rất nhiều tiện ích, tiết kiệmchi phí và thời gian, hoạt động được ở mọi lúc, mọi nơi Các giao dịch đượcthực hiện thông qua các phương tiện giao dịch điện tử bao gồm:

(i) Máy thanh toán tại điểm bán hàng (EFTPOS), cho phép KH thựchiện TT bằng thẻ một cách nhanh gọn ngay tại nơi mua hàng;

(ii) Máy rút tiền tự động (ATM), hoạt động 24/24 giờ, cung cấp cho

KH các DV như rút tiền mặt, chuyển khoản, vấn tin số dư và nhiều DV khác;

(iii) NH qua điện thoại (Tel Banking), thông qua các nhân viên trựcmáy hoặc hộp thư thoại, KH có thể thực hiện giao dịch dễ dàng với NH

 NH qua mạng Được chia làm 2 loại:

(i) NH qua mạng nội bộ (mạng LAN): Hệ thống này hoạt động dựa trên

cơ sở KH có tài khoản tại NH, có máy tính cá nhân nối mạng với NH và đăng

ký thuê bao với NH để được cấp mã số truy nhập và mật khẩu KH có thể dùngmáy tính của mình truy nhập vào máy chủ của NH để thực hiện các giao dịch,tìm kiếm thông tin;

(ii) NH qua mạng internet: Đây là loại hình NH ở cấp cao hơn KHchỉ cần có máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch được với

NH mà không cần phải đến NH Ngoài chức năng kiểm tra tài khoản, KH cóthể sử dụng hàng loạt DV trực tuyến khác như vay, mua hợp đồng bảo hiểm,đầu tư chứng khoán, chuyển ngân, mở L/C, mở thư bảo lãnh,…

Trang 22

Ngoài công cụ cạnh tranh bằng chất lượng, bằng giá và tổ chức hợp

lý mạng lưới phân phối SPDV, các NHTM còn áp dụng các công cụ phi giá

để tăng năng lực cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ bánhàng (quảng cáo, khuyến mãi…) Đây là hình thức nhằm gây sự chú ý và thuhút khách hàng

2.2.3.Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhưng

nó vẫn mang tính chung chung và khó đo lường, theo kinh tế học thì “ năng

lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”

Theo OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thì “năng lực cạnh

tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”

Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh là công nghệ, tài chính,nhân lực, tổ chức, …Năng lực cạnh tranh có thể chia làm ba cấp:

Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của

một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư,đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân.Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số hay còn gọi là chỉ

số năng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI - Global Competitiveness Index)được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố lần đầu tiên trong Báocáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004-2005 Các chỉ số này đượcphân làm chín nhóm, còn được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất vànăng lực cạnh tranh quốc gia Chín trụ cột đó gồm: (1) thể chế; (2) kết

Trang 23

cấu hạ tầng; (3) kinh tế vĩ mô; (4) y tế và giáo dục cơ bản; (5) đào tạo vàgiáo dục bậc cao; (6) hiệu quả thị trường; (7) mức độ sẵn sàng về côngnghệ; (8) trình độ kinh doanh; (9) đổi mới và sáng tạo

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cáchthống nhất, có một số khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp như sau:

 Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm kháphổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa,dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quanniệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998),Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước nhưcủa CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế) Cách quan niệmnhư vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên.Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưaphản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp

 Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịutrước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sáchnăng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế vềhàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tácKinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của mộtdoanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó cóthể định lượng

 Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh

Trang 24

nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tốsản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điềukiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thức đoduy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn vớiviệc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thếcạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới cáclợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tươngtự: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnhtranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh,chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: Được đo bằng thị

phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường Khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó Nó dựavào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệchứa trong sản phẩm dịch vụ đó

2.3 Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

2.3.1 Khái niệm đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là quá trình bỏ vốn đầu

tư nhằm tiến hành các hoạt động làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vậtchất (máy móc, thiết bị công nghệ…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩ năng…),gia tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

đó trên thị trường

2.3.2.Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM

Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh thực hiện của ngân hàng

Trang 25

thương mại là tổng số tiền ngân hàng đã chi để tiến hành các hoạt động củacông cuộc đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Vốn đầu tư gồm:

 Vốn tự có đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Vốn tự có cung cấp vùng đệm bù đắp tổn thất và cho phép ngân hàng tựtồn tại Với chức năng này, vốn tự có là yếu tố quan trọng về mặt an toàn chocác ngân hàng thương mại Chức năng chống đỡ rủi ro thể hiện theo nhữnggóc độ khác nhau: Sự hiện hữu của vốn tự có cho phép ngân hàng bù đắpthiếu hụt trong huy động để cho vay và đầu tư Chính vì vậy, nếu tỷ lệ vốn tự

có so với tài sản bằng 50% thì thiếu hụt không được phép tăng quá 50% sovới tài sản, xét ở mọi góc độ, vì nếu vượt tỷ lệ này ngân hàng sẽ mất khả năngthanh toán Nói rộng hơn, vốn tự có cung cấp sự bảo đảm đối với khách hànggửi tiền không có bảo hiểm và những chủ nợ khác về khả năng tiếp tục tồn tại

và phát triển của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh Ngoài ra, vốn tự có

sẽ bù đắp tạm thời các khoản lỗ cho đến khi phát sinh lợi nhuận và được giữlại để tạo nên vốn bổ sung

Vốn tự có của ngân hàng là cơ sở tạo niềm tin của công chúng vào hoạtđộng của ngân hàng Bởi lẽ, một ngân hàng có quy mô vốn lớn sẽ được kháchhàng tin tưởng hơn so với một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, nếu các điềukiện khác là giống nhau

Ngân hàng thương mại là một sản phẩm xã hội, song xét về nhiềuphương diện, ngân hàng thương mại không giống với các tổ chức kinh tếkhác, bởi nó kết nối nhiều mối liên hệ với các tổ chức kinh tế - xã hội và vớiđông đảo công chúng trong các quan hệ vay và cho vay Ngân hàng vay trongcùng một cộng đồng hoặc nhiều cộng đồng, vay ở các ngân hàng thương mạibạn, vay ở ngân hàng trung ương để cho số chủ thể vay còn đa dạng hơn thế.Chính vì ngân hàng là điểm kết nối các mối quan hệ, nên nếu ngân hàng

Trang 26

thương mại sụp đổ, thì có thể gây ra không biết bao nhiêu tổn thất cho xã hội.Khi khách hàng tin tưởng rằng, ngân hàng không sụp đổ họ sẽ gửi tiền và muacác dịch vụ đặc biệt của ngân hàng, như trông giữ tài sản, thanh toán…

Vốn tự có càng lớn thì vốn huy động càng lớn và khả năng cho vay cũngcàng lớn và ngược lại Xét trên ý nghĩa này, vốn tự có thực sự là yếu tố quantrọng để thu hút tiền gửi

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng dư nợ cho vaycủa một ngân hàng thương mại đối với một khách hàng không được vượt quá15% vốn tự có của ngân hàng thương mại đó Vì vậy, muốn đáp ứng vốn đầy

đủ cho một khách hàng thì ngân hàng thương mại phải có vốn tự có gấp nhiềulần vốn cho một khách hàng vay So sánh giữa các ngân hàng thương mại vớinhau, ngân hàng thương mại nào có vốn tự có cao thì khả năng đáp ứng tíndụng cho khách hàng cũng cao, hệ quả là ngân hàng thương mại đó có nănglực cạnh tranh cao

Tóm lại, vốn tự có của các ngân hàng thương mại đóng vai trò to lớntrong xác lập vị thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, như

đã phân tích ở trên, việc phòng, hạn chế rủi ro và nâng cao năng lực cạnhtranh của các ngân hàng thương mại không thể và không nên chỉ dựa vào duynhất yếu tố là vốn tự có mà còn cần sử dụng vốn huy động trong nền kinh tế

 Vốn huy động là yếu tố tài chính quan trọng trong cạnh tranh củacác ngân hàng thương mại

Do bản chất của ngân hàng thương mại là một định chế tài chính kinhdoanh bằng tiền của người khác nên vốn huy động chiếm vị trí quan trọngtrong cạnh tranh Hiệu quả của việc sử dụng vốn huy động cùng năng lựcquản trị tài sản có và tài khoản nợ của ngân hàng thương mại quyết định phầnlớn năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Vốn huy động phụ thuộc vào vốn tự có và giới hạn tỷ lệ cấp tín dụng đối

Trang 27

với ngân hàng thương mại Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam, ngân hàng thương mại chỉ được sử dụng 80% nguồn vốn huy động đểcấp tín dụng Chính vì vậy ngân hàng thương mại muốn có vốn để cấp tíndụng thì phải không ngừng huy động vốn Vốn huy động càng cao thì khảnăng cấp tín dụng càng nhiều và ngược lại Quy định này càng làm tăng vaitrò của vốn huy động trong năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thươngmại hiện nay.

 Các yếu tố phi tài chính và sức cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Các yếu tố phi tài chính thực chất là các hoạt động ngân hàng nằmngoài bảng cân đối kế toán Việc mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động phitài chính không chỉ mang ý nghĩa là tạo ra và mở rộng quy mô của lợi nhuận

mà còn là yếu tố quan trọng để chiến thắng trong cạnh tranh theo hướng đadạng hóa các sản phẩm

Nếu coi toàn bộ hoạt động của một ngân hàng thương mại thực chất làhoạt động dịch vụ thì cũng có thể chia các dịch vụ đó thành các dịch vụ sửdụng các yếu tố tài chính và các dịch vụ sử dụng các yếu tố phi tài chính Xéttrên phạm vi của bảng cân đối, các dịch vụ sử dụng các yếu tố phi tài chínhnày chính là dịch vụ ngoại bảng

Khác với các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, hoạt động của ngânhàng thương mại hiện đại phản ảnh rõ nét những đặc trưng sau: mở rộng cungứng dịch vụ ngân hàng hiện đại; chủ yếu thực hiện nghiệp vụ ngân hàng bánbuôn; mở rộng hoạt động ra ngoài bảng cân đối; mở rộng các hoạt động ngânhàng quốc tế v.v

Các yếu tố phi tài chính được thể hiện thông qua 2 dịch vụ cơ bản Đó làdịch vụ môi giới, được biểu hiện bằng các hoạt động của người môi giới vàngười hoạt động thị trường, sàng lọc thông tin và cung cấp thông tin Đây là

Trang 28

một phần quan trọng của bất kỳ tổ chức trung gian nào Người môi giới giúpcho người đi vay và người cho vay trong các vùng khác nhau của đất nước,hoặc những vùng khác nhau trên thế giới, hoặc trong từng lĩnh vực của đờisống gặp được nhau Trong khi tiến hành việc đó, dịch vụ môi giới ngân hàngkhông làm thay đổi thời hạn và điều kiện của các loại công cụ tài chính riêng

lẻ Nói cách khác, các dịch vụ môi giới tồn tại do có khả năng thu hẹp khoảngcách và tính không hoàn hảo của thị trường thể hiện qua bất cân xứng vềthông tin Nói cách khác, không có những dịch vụ như thế, thị trường có thểkhông tồn tại hoặc vận hành quá thưa vắng do chi phí tham gia là quá lớn.Tóm lại, với việc tận dụng tối đa những yếu tố phi tài chính, các ngânhàng thương mại đã từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ đa dạng chongười tiêu dùng và doanh nghiệp Chính vì vậy, muốn nâng cao năng lực cạnhtranh, từng ngân hàng thương mại phải biết tận dụng các yếu tố cả tài chính

và phi tài chính, trong đó yếu tố tài chính tạo nền tảng, yếu tố phi tài chính tạonên sự khác biệt, linh hoạt và đa dạng để thích nghi với nhu cầu thị trường

2.3.3 Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

2.3.3.1.Đầu tư cơ sở vật chất và đổi mới công nghệ

Các NHTM đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại,nhất là công nghệ thông tin, bởi vì chỉ trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đạithì các NHTM mới có điều kiện triển khai các loại hình dịch vụ mới, mở rộngđối tượng và phạm vi khách hàng Công nghệ thông tin cho phép các NHTMnắm bắt cập nhật và đầy đủ các thông tin từ phía khách hàng, cho phép giảmthiểu rủi ro từ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Công nghệ hiện đại cũngcho phép các NHTM giảm chi phí, giảm thời gian trong giao dịch, tăng độ antoàn cho khách hàng - đây vốn là những yêu cầu bắt buộc trong kinh doanhcủa các NHTM

Trang 29

Thực tế cũng cho thấy rằng dịch vụ ngân hàng mang tính đồng nhất rấtcao, do đó vấn đề quan trọng là ngân hàng nào biết tạo ra sự khác biệt trongdịch vụ, tính tiện ích cao thì ngân hàng đó sẽ có lợi thế mạnh trong cạnhtranh Để ứng dụng được các dịch vụ hiện đại thì bắt buộc phải thực hiện trênnền tảng công nghệ hiện đại Điều đó, bất cứ một nhà quản lý, nhà quản trịngân hàng nào cũng biết, cũng hiểu, nhưng để thực hiện được điều đó khôngphải là vấn đề đơn giản, bởi vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện Xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ và việc hiện đại hoá côngnghệ là một trong những điều kiện cơ bản để hướng tới việc đảm bảo cácchuẩn mực quốc tế của các NHTM Việt nam trong quá trình cạnh tranh và hộinhập Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng là điều tất yếu phù hợp với tiềm lựctài chính của ngân hàng, phù hợp với mặt bằng chung về công nghệ của đấtnước, đảm bảo xu thế chung của khu vực và quốc tế

Ngày nay các NHTM cạnh tranh với nhau theo hướng phát triển đa dạnghoá các dịch vụ ngân hàng đi kèm với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, màchất lượng dịch vụ ngân hàng luôn phụ thuộc và trình độ công nghệ ngânhàng Nếu trình độ công nghệ ngân hàng không tiên tiến , hiện đại thì chấtlượng dịch vụ cũng không thể nâng cao được Do đó một xu thế tất yếu là cácNHTM phải ứng dụng công nghệ tiên tiến để phát triển và nâng cao chấtlựong dịch vụ ngân hàng

Việc phát triển hệ thống thanh toán nội bộ các ngân hàng, thanh toán liênngân hàng, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại hướng tới hội nhập kinh

tế quốc tế và thương mại điện tử; vấn đề bảo mật, an ninh, an toàn các hệthống thông tin trong ngành NH cũng chính là tiền đề và là cơ sở pháp lý choviệc ứng dụng công nghệ mới phát triển

Đối với một ngân hàng hiện đại mà nói, việc tạo dựng và thiết lập đượcmột hệ thống cơ sở vật chất và công nghệ tiên tiến là điều vô cùng quan trọng

Trang 30

Ngày nay, trước những sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, cơ sở vật chất vàcông nghệ hiện đại chính là một thứ vũ khí lợi hại trong việc nâng cao nănglực cạnh tranh của ngân hàng Nó cũng chính là một yếu tố giúp ngân hàngvươn lên tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế so với các đối thủ cạnh tranhkhác nếu như những yếu tố này được sử dụng một cách hiệu quả Có thể nhấnmạnh rằng, một khi ngân hàng tạo dựng được một hệ thống cơ sở vật chấtkhang trang và ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại, nhất là côngnghệ thông tin trong ngân hàng, thì đây chính là cơ sở để các NHTM có điềukiện triển khai và mở rộng mạng lưới giao dịch, từ đó cho phép mở rộng đốitượng và phạm vi khách hàng, đồng thời triển khai thêm được các loại hìnhdịch vụ mới.

2.3.3.2 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đối với một ngành kinh doanh dịch vụ như ngân hàng thì chất lượng độingũ nhân viên là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của tổ chức Tronghoạt động kinh doanh của ngân hàng, khách hàng thường xuyên tiếp xúc giaodịch với nhân viên, mọi thái độ–, phong cách làm việc của nhân viên có ảnhhưởng quyết định đến hình ảnh và uy tín của ngân hàng và là một phần đểkhách hàng đánh giá về chất lượng dịch vụ ngân hàng Vì vậy, với kiến thức,kinh nghiệm, thái độ phục vụ, khả năng thuyết phục khách hàng, ngoại hình,trang phục nhân viên… có thể làm tăng thêm chất lượng dịch vụ hoặc cũng cóthể sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ Hiện nay, với sự xuất hiện của nhiềungân hàng trong và ngoài nước, trình độ công nghệ, sản phẩm gần như không

có sự khác biệt, các ngân hàng chỉ có thê ̉nâng cao tính cạnh tranh bằng chấtlượng phục vụ của đội ngũ nhân viên Chất lượng nhân viên càng cao thì lợithế cạnh tranh của ngân hàng càng lớn Do đó, để duy trì và phát triển quan hệvới khách hàng hiện tại cũng như khách hàng trong tương lai cần phải khôngngừng đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên của mình

Trang 31

2.3.3.3 Đầu tư nâng cao năng lực tài chính

Trong đó quan trọng nhất là vốn điều lệ Vốn điều lệ của NHTM đượcxem là chiếc “đệm” để đối phó có hiệu quả với các cú sốc từ bên ngoài, bảođảm một sự an toàn trong kinh doanh ngân hàng Nếu vốn điều lệ quá thấp sẽkhiến các NHTM hoạt động luôn bị bất cập, bởi vì sẽ bị hạn chế trong mởrộng thị phần cho vay và huy động vốn, sẽ bị hạn chế trong mở các chi nhánh,phòng giao dịch, và do vậy, sẽ khó có cơ hội ngày càng tiến gần hơn đến cáckhách hàng mục tiêu và trên tất cả thì điều này đồng nghĩa với một sự thuakém, bất lợi về khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, tăng vốn điều lệ bằng cáchnào và đạt đến qui mô nào là tối ưu? Đây luôn là vấn đề không đơn giản, nhất

là đối với các NHTM ở các nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyểnđổi Về nguyên tắc, các NHTM có thể tăng vốn thông qua các kênh: (1) Tăngvốn Ngân sách Nhà nước cấp (đối với các NHTM nhà nước); (2) Cổ phần hóaNHTM Nhà nước; (3) Phát hành thêm cổ phiếu mới (đối với các NHTMCP);(4) Sáp nhập, hợp nhất các NHTM Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc tăngvốn phải đi kèm với tăng cường năng lực quản trị thì mới lợi dụng được tínhkinh tế nhờ qui mô Nếu không đảm bảo được yêu cầu này thì việc tăng vốn

sẽ rất có thể dẫn tới làm giảm hiệu quả, suy yếu năng lực cạnh tranh củachính NHTM

2.3.3.4 Đầu tư đa dạng mở rộng sản phẩm dịch vụ

Với đặc tính riêng của ngành ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu nhưkhông có sự khác biệt thì các NHTM phát huy khả năng cạnh tranh không chỉbằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng củasản phẩm dịch vụ của mình Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệtriêng cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyềnthống sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này

sẽ đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ

Trang 32

dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng.

2.3.3.5 Đầu tư vào tài sản vô hình gồm đầu tư vào hoạt động Marketing, phát triển thương hiệu và nghiên cứu thị trường

Đầu tư vào tài sản vô hình có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triểncủa ngân hàng Trong xu thế hội nhập, việc cạnh tranh giữa các ngân hàngngày trở nên gay gắt hơn, vì thế đầu tư vào tài sản vô hình còn đóng vai tròquan trọng hơn nữa Tuy các tài sản vô hình không trực tiếp tạo ra sản phẩmvật chất, nhưng nó gián tiếp thúc đẩy hoạt động SXKD tạo ra giá trị cho ngânhàng thông qua đó tạo lập được uy tín cho NH Đầu tư vào tài sản vô hình chủyếu tập trung vào hoạt động marketing, phát triển thương hiệu và tìm kiếmnắm bắt thông tin

Để tăng cường hiệu quả công tác marketing, các NHTM cần phân đoạnchính không xác thị trường, xác định đúng đối tượng khách hàng mục tiêu, từ

đó có biện pháp chủ động tiếp cận khách hàng để giới thiệu các sản phẩmdịch vụ của mình Các biện pháp truyền thống thường được sử dụng là quảngcáo qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, truyền hình, mạnginternet ), áp dụng marketing Four Mix (Product, Price, Place, Promotion)trong đó tích cực thực hiện các hoạt động quan hệ với KH nhằm đi sâu tìmhiểu KH và thu nhận các thông tin từ phía KH để có những phương hướng,biện pháp điều chỉnh thích hợp, từ đó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh củaNHTM Hoạt động Marketing tốt không những tăng tuy tín, thương hiệu màcòn góp phần giúp NHTM thu được lợi nhuận nhiều hơn, vững mạnh hơn vàphát triển hơn

Thực tế kinh doanh cho thấy, một doanh nghiệp nếu gia tăng được 5%khách hàng trung thành thì lợi nhuận sẽ tăng lên được khoảng 25-85%, hoặc

cứ trung bình một khách hàng hài lòng họ sẽ kể sự khó chịu đó cho tận chínngười nghe và một khách hàng được thoả mãn sẽ kể cho năm người khác về

Trang 33

những cảm nhận tốt đẹp đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy,khi một doanh nghiệp không làm thoả mãn khách hàng thì không nhữngdoanh nghiệp đánh mất khách hàng đó mà còn làm mất đi rất nhiều kháchhàng tiềm năng Các doanh nghiệp điều hiểu rằng để luôn đạt được thànhcông, muốn có sự tăng trưởng trong doanh nghiệp thì chỉ có thể định hướngtheo thị trường, có nghĩa là các công ty phải đầu tư và kinh doanh dựa trên cơ

sở nắm bắt nhu cầu của khách hàng với mục tiêu thỏa mãn tốt nhất nhu cầu vàmong muốn của họ Ngân hàng cũng không nằm trong ngoại lệ các doanhnghiệp đó Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thì việc nghiên cứu thịtrường, nắm bắt được thông tin kịp thời và chính xác là điều quan trọng Điềunày không những nâng cao được năng lực cạnh tranh mà còn giúp ngân hànggiảm thiểu được rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng, tránh được những tácđộng xấu

2.3.4 Các chỉ tiêu bản cơ để đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

2.3.4.1 Gia tăng về năng lực tài chính

Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng.Năng lực tài chính của một NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi rotrong hoạt động ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của NHTM trênthị trường càng cao Do vậy, Năng lực tài chính của NHTM phải khôngngừng được nâng cao và hoàn thiện và là điều kiện không thể thiếu được ở bất

cứ NHTM nào

Một NHTM có năng lực tài chính tốt phải là NHTM luôn duy trì đượchoạt động bình thường và phát triển 1 cách ổn định, bền vững trong mọi điềukiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới NHTM có khảnăng cung cấp tín dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế.NHTM luôn đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân

Trang 34

hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới.NHTM còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của mình một cách antoàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản.

Năng lực tài chính của một NHTM thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tàisản có, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, khả năng tồn tại và pháttriển một cách an toàn không để xảy ra đổ vỡ hay phá sản

a Quy mô vốn và chất lượng tài sản có

Quy mô vốn tự có: Vốn tự có cung cấp năng lực tài chính cho quá trìnhtăng trưởng, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động cũng như cho sự phát triểncủa các sản phẩm dịch vụ mới của NHTM Vốn tự có được hình thành từnguồn: Vốn điều lệ (Vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2) – Các quỹ dự trữ bổsung các tài sản nợ khác như lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do đánhgiá lại tài sản, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi… Vốn tự có có chứcnăng bảo vệ NHTM, giúp NHTM chống lại rủi ro phá sản, bù đắp những thua

lỗ về tài chính và nghiệp vụ; Bảo vệ người gửi tiền khi gặp rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh: Nâng cao uy tín của NHTM với khách hàng, các nhà đầu tư

Vì vậy có thể khẳng định: Vốn là yếu tố quan trọng tạo đối với NHTM, vì vốn

tự có của NHTM đã nói nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của NHTMtrên thị trường trong nước Đồng thời, vốn tự có đó cũng là cơ sở để NHTM

mở rộng hoạt động tới các thị trường tài chính khu vực và quốc tế

Chất lượng tài sản: Tài sản của 1 NHTM thể hiện ở bên tài sản có trênBảng cân đối kế toán của NHTM đó Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có

sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM mà tài sản có bao gồmtài sản sinh lời (Chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời(chiếm từ 10-20% tổng tài sản có) Tài sản sinh lời gồm các khoản cho vay,cho thuê tài chính và các khoản đầu tư vào giấy tờ có giá chứng khoán, gópvốn liên doanh liên kết… Chất lượng tài sản của NHTM là 1 chỉ tiêu tổng hợp

Trang 35

nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một tổ chức tíndụng Hầu hết rủi ro trong kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài sản có.

Khả năng sinh lời của NHTM gắn liền với chất lượng tài sản và hiệu quả sửdụng tài sản của NHTM Nâng cao chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn cũngchính là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Khả năng sinh lời

là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của 1NHTM Để đánh giá khả năng sinh lời của NHTM – người ta thường sử dụng cácchỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA); chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự

có (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên doanh thu

b Chất lượng tín dụng

Chất lượng Tín dụng là một khái niệm không thông dụng, bởi tín dụngbao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảolãnh, phát hành L/C, chiết khấu, bao thanh toán, Ở Việt Nam, Ngân hàngNhà nước Việt Nam đưa chất lượng tín dụng vào làm một chỉ tiêu trong nhómchỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các tổ chức tín dụng năm 2006

Áp dụng tỷ lệ chung theo quyết định 112/2006/QĐ –TTG (của Thủtướng chính phủ về chỉ tiêu hoạt động NH giai đoạn 2006 – 2010), nợ xấu của

NH là dưới 5% trên tổng dư nợ

2.3.4.2.Năng lực hoạt động kinh doanh

Năng lực hoạt động của một NHTM thông thường được xem xét trênnhiều phương diện, nhưng tập trung chủ yếu ở các mặt sau:

Năng lực huy động vốn: Do nhu cầu vốn hoạt động từ các khách hàng

một số năm gần đây khá lớn, nên các NHTM đã đưa ra nhiều chính sáchkhuyến mãi, hậu mãi để huy động vốn, sự cạnh tranh nhìn chung là khá quyếtliệt Tuy nhiên, có thể thấy là các NHTM Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng công

cụ giá thấp để huy động vốn Một số NHTM cũng sử dụng biện pháp mở rộngchi nhánh để tiến gần hơn tới khách hàng, tuy nhiên, việc mở chi nhánh hiện

Trang 36

nay là khá ồ ạt, chưa thực sự tính đến hiệu quả, gây khó khăn cho công tácquản trị, gia tăng rủi ro Rõ ràng là, với đối sách tăng lãi suất để huy động vốn

ít nhiều sẽ làm suy giảm lợi nhuận của các NHTM

Năng lực đầu tư tín dụng: Do nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế tăng

cao, dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM rất lớn, dư nợ chovay tăng rất mạnh một số năm gần đây

2.3.4.3.Gia tăng năng lực công nghệ

Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệthông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng Trong lĩnh vựcngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sứcmạnh cạnh tranh của các NHTM Để năng cao chất lượng sản phẩm dịch vụnhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùngquan trọng Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độcđáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM Nhưng đây là một lĩnh vực đòi hỏi

sự đầu tư rất lớn, ví dụ như để xây dựng hệ thống thông tin quản lý cho mộtNHTM Nhà nước cần phải chi phí tới 500 - 600 tỷ đồng VND Đây cũngchính là bất cập đối với hệ thống NH Việt Nam do qui mô vốn điều lệ thấp.Phần mềm mới giúp cho ngân hàng có thể thực hiện tới 1000 giaodịch/giây, quản trị tới 50 triệu tài khoản khách hàng và hỗ trợ thực hiện giaodịch qua hệ thống 24h/ngày Quy trình giao dịch về séc, lệnh thanh toán vàhạch toán các tài khoản khách hàng được xử lý theo hướng tập trung hoá và

tự động hoá, giảm rủi ro, đảm bảo xử lý nhanh gọn và khoa học Bên cạnhnhững sản phẩm cơ bản của hoạt động ngân hàng như gửi, rút tiền thì vớinhững chỉnh sửa nhỏ trong hệ thống phần mềm sẽ giúp ngân hàng thiết kếtriển khai được nhiều sản phẩm đa dạng, cung cấp nhiều dịch vụ mới như:thanh toán hoá đơn, mua thuê bao trả trước, quản lý tài khoản qua InternetBanking Trong thời gian qua, một số ngân hàng thương mại đã đầu tư hàng

Trang 37

triệu USD để tiếp tục phát triển giai đoạn hai của chương trình hiện đại hoávới mục tiêu hỗ trợ phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới, trên cơ sởứng dụng và phát triển hệ thống ngân hàng lõi.

2.3.4.4 Năng lực mở rộng và phát triển sản phẩm dịch vụ

Đa dạng hóa sản phẩm được xác định là thế mạnh và mũi nhọn để pháttriển dịch vụ ngân hàng, cần tập trung vào những sản phẩm có hàm lượngcông nghệ cao, có đặc điểm nổi trội so với các sản phẩm trên thị trường nhằmtạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh Khả năng cung cấp được nhiều sản phẩm,nhất là sản phẩm mới thông qua sự đa dạng về sản phẩm và kênh phân phối sẽgiúp ngân hàng tranh thủ cơ hội phát triển dịch vụ ngân hàng tại một thịtrường mới như Việt Nam Các NHTM cần hoàn thiện sản phẩm, dịch vụnhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo khách hàng

Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sảnphẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mụcsản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hếtcác nhu cầu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếmlĩnh thị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng

2.3.4.5.Phát triển thương hiệu

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống con người ngày càngđược nâng cao thì sự cạnh tranh về thương hiệu sẽ ngày càng mạnh mẽ Bảnchất thương hiệu chính là uy tín về chất lượng dịch vụ mà một ngân hàng sẵnsàng cung ứng cho xã hội Tuy nhiên xây dựng thương hiệu cho một loại sảnphẩm hay dịch vụ hoàn toàn không phải là chuyện của ngày một ngày hai, lạicàng không phải chỉ là việc tạo ra cho hàng hóa, dịch vụ một cái tên với mộtbiểu tượng hấp dẫn rồi tiến hành đăng ký bảo hộ và … yên tâm trông chờnhững cái tên, biểu tượng đó mang lại cho doanh nghiệp Xây dựng thànhcông thương hiệu cho một hoặc một nhóm sản phẩm là cả một quá trình gian

Trang 38

nan, một quá trình tự khẳng định chính mình với sự đầu tư hợp lý trên cơ sởhiểu một cách cặn kẽ các nội hàm của thương hiệu.

2.3.4.6 Tài sản cố định huy động và năng lực cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng tăng thêm

Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, máymóc thiết bị có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình, xâydựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục chẳng hạn như công trình nhà văn phòngcủa một chi nhánh hay một phòng giao dịch mới, số lượng máy ATM đã lắpđặt,…

Năng lực cung cấp sản phẩm dịch vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhucầu phục vụ của tài sản cố định đã được huy động vào để cung cấp các sảnphẩm theo kế hoạch đầu tư Năng lực này thể hiện thông qua các sản phẩmdịch vụ mới mà ngân hàng thương mại có thể cung cấp hay số lượng, khốilượng và chất lượng giao dịch sản phẩm tăng thêm

Các tài sản cố định được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăngthêm là sản phẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư

2.3.4.7.Phát triển mở rộng mạng lưới

Đối với các ngân hàng, nhất là những đơn vị còn non trẻ, việc mở rộng mạnglưới chi nhánh, phòng giao dịch là điều kiện tiên quyết để tăng thị phần trong bốicảnh cạnh tranh trên thị trường tài chính - ngân hàng ngày càng gay gắt

Cách đây 2 năm, tốc độ mở rộng mạng lưới của các ngân hàng tăng lênchóng mặt và đây cũng là việc làm được cơ quan chức năng ủng hộ Đặc biệt

là khi thị trường tài chính Việt Nam đang dần mở cửa theo lộ trình cam kếtWTO Để có thể nâng cao sức cạnh tranh khi thị trường tài chính - ngân hàng

có nhiều đơn vị tham gia, nhất là sự xuất hiện của các ngân hàng con 100%vốn nước ngoài ngày một gia tăng, thì kế hoạch "bành trướng" mạng lưới hoạtđộng luôn được hầu hết ngân hàng coi trọng

Trang 39

Việc mở rộng mạng lưới nhanh như hiện nay nằm trong kế hoạch sửdụng hiệu quả nguồn vốn điều lệ mới Đồng thời, đây còn là chiến lược pháttriển kênh phân phối bán lẻ của nhà băng.Các ngân hàng làm việc này nhằmđạt được nhiều mục đích như tạo thêm sức mạnh để củng cố thị phần, củng cốthương hiệu, mở rộng dịch vụ và tăng thêm năng lực tài chính.

Theo Quyết định 13/2008/QĐ-NHNN về mạng lưới hoạt động của ngânhàng thương mại (NHTM), các ngân hàng phải đảm bảo vốn điều lệ đạt mứctrên 100 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại TP HCM và Hà Nội, trênmức 50 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi nhánh được mở tại các địa phương khác

Mở rộng mạng lưới là vấn đề có tính chiến lược ở mỗi NHTM, việc mở

ra điểm giao dịch kèm theo đó là đầu tư chi phí lớn, nên ngân hàng phải tínhtoán Kể cả đã mở ra các chi nhánh mà hoạt động không hiệu quả thì ngânhàng chắn chắn cũng đóng cửa và ngược lại, một khi mở ra vẫn có hiệu quảthì không có lý do gì dừng lại

Quyết định mở rộng hay không mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàngphản ánh năng lực quản trị của mỗi ngân hàng trong việc bành trướng vềmạng lưới hay phát triển các loại hình dịch vụ

Tuy nhiên, khi mở rộng hoạt động, các rủi ro cũng sẽ phát sinh tươngứng Và câu hỏi đầu tiên là năng lực về vốn, về quản trị con người của ngânhàng liệu có phù hợp, thích ứng, theo kịp cùng quá trình phát triển mạng lưới

Do vậy, việc quy định vốn điều lệ phải là bao nhiêu mới được mở phòng giaodịch/chi nhánh là không cần thiết

Theo đó, trong vòng một năm kể từ ngày khai trương hoạt động, ngânhàng thương mại chỉ được mở sở giao dịch, chi nhánh khi đáp ứng đủ 7 điềukiện sau:

 Thứ nhất, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo tuân thủ các quy định

về an toàn tại thời điểm đề nghị: kinh doanh có lãi trong năm trước liền

Trang 40

kề năm đề nghị mở sở giao dịch, chi nhánh; tỷ lệ nợ xấu dưới 3% so vớitổng dư nợ; đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; phânloại nợ, trích lập đủ dự phòng rủi ro theo quy định; có bộ phận kiểm toánnội bộ và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo quy định của Ngânhàng Nhà nước.

 Thứ hai, có bộ máy quản trị, điều hành hoạt động có hiệu quả:hội đồng quản trị, ban kiểm soát có số lượng thành viên và cơ cấu đảmbảo theo quy định của pháp luật; thành viên hội đồng quản trị, thành viênban kiểm soát và người điều hành đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quyđịnh, không vi phạm nghiêm trọng các quy định có liên quan đến quảntrị, kiểm soát, điều hành ngân hàng trong thời gian đương nhiệm

 Thứ ba là có hệ thống công nghệ thông tin theo yêu cầu quản lýcủa ngân hàng thương mại, đảm bảo trụ sở chính kết nối trực tuyến với

sở giao dịch, chi nhánh dự kiến được mở

 Thứ tư, không bị thanh tra Ngân hàng Nhà nước xử phạt hànhchính tổng cộng từ 15 triệu đồng trở lên trong thời gian một năm, tínhđến thời điểm đề nghị mở sở giao dịch, chi nhánh

 Thứ năm là số chi nhánh ngân hàng thương mại được mở phải

đảm bảo theo công thức: 200 tỷ x N1 + 100 tỷ x N2 + C1 + C2 < C (C là

vốn điều lệ của ngân hàng thương mại (tính bằng tỷ đồng Việt Nam; N1

là số sở giao dịch, chi nhánh đã mở và đề nghị mở tại thành phố Hà Nội

và Tp.HCM; N2 là số sở giao dịch, chi nhánh đã mở và đề nghị mở tạitỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngoài thành phố Hà Nội vàTp.HCM; C1: khoản vốn góp, mua cổ phần theo quy định hiện hành; C2:

số vốn cấp cho đơn vị sự nghiệp)

 Thứ sáu, giám đốc sở giao dịch, chi nhánh dự kiến mở đủ điềukiện, tiêu chuẩn quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định 59/2009/NĐ-

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.10. Kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh của 32 NHTM - đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần đại dương - chi nhánh vinh – nghệ an giai đoạn 2007 – 2020 (2)
Bảng 3.10. Kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh của 32 NHTM (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w