Nghệ an là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa và nằm ở tốp 10 tỉnh có mứ
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là sản phẩm độc lập của của bản thân, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, tháng12 /2012
Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
Trang 2Trong suốt quý trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên khuyến khích, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp.
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa sau Đại học, Khoa Khoa học Quản lý - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội; Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý Kinh tế K19 Vinh (2010-2012); Tổng cục DS-KHHGĐ, SỞ Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Cục Thống kê, Trung tâm Giáo dục -
Truyền thông, Trung tâm CSSKSS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An; Trung tâm DS-KHHGĐ
20 huyện, thành phố, thị xã, Trung tâm Tư vấn – dịch vụ DS-KHHGĐ tỉnh đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ Nghệ
An đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế và chính sách của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng12 /2012
Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH NHẰM GIẢM MỨC SINH VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+ 7
1.1 Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 7
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 7
1.1.2 Hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 11
1.2 Các công cụ của Chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 15
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu Chính sách DS - KHHGĐ 15
1.2.2 Nguyên tắc của chính sách Dân số - KHHGĐ 16
1.2.2.1 Bảo vệ quyền lợi và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân 16
1.2.2.2 Thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội 17
1.2.2.3 Kết hợp giữa các biện pháp vĩ mô và vi mô,giữa biện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính – tổ chức, giáo dục – tâm lý 18
1.2.3 Các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 19
1.2.3.1 Công cụ tâm lý - giáo dục và truyền thông: 19
1.2.2.2 Công cụ kinh tế: 20
1.2.2.3 Công cụ hành chính - tổ chức: 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 22
1.3.1 Các yếu tố chủ quan 22
1.3.2 Các yếu tố khách quan 25
Trang 4GIẢM MỨC SINH VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+ 26
2.1 Khái quát về công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ An 26
2.1.1 Lịch sử công tác DS-KHHGĐ của Nghệ An 26
2.1.2 Kết quả đạt được trong công tác DS-KHHGĐ Nghệ An 27
2.2 Thực trạng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ giai đoạn 2008 đến 2011 30
2.2.1 Quy mô dân số và cơ cấu giới tính từ năm 2008 đến 2011 30
2.2.2 Mức sinh từ năm 2008 đến 2011 30
2.2.3 Tỷ lệ sinh con thứ 3+ từ năm 2008 đến 2011 31
2.2.4 Đánh giá chung về mức sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An trong giai đoạn 2008 đến 2011 31
2.2.4.1 Mức sinh 31
2.2.4.2 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 32
2.3 Thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An 33
2.3.1 Công cụ giáo dục- truyền thông 33
2.3.2 Công cụ kinh tế 34
2.3.2.1 Ngân sách Nhà nước chi cho chính sách DS-KHHGĐ 36
2.3.2.2 Khuyến khích, khen thưởng đối với các xã, phường, thị trấn 37
2.3.2.3 Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân 38
2.3.3 Công cụ hành chính - tổ chức 39
2.3.3.1 Tổ chức bộ máy 39
2.3.3.2 Thiết chế khác 41
2.3.3.3 Pháp luật, thể chế, quy định 42
2.3.3.4 Kỷ luật, xử lý vi phạm 42
2.3.4 Công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật) 44
2.4 Đánh giá các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An 45
2.4.1.Điểm mạnh 45
2.4.2 Điểm yếu 46
2.4.3 Nguyên nhân 47
Trang 53.1 Quan điểm và mục tiêu của chính sách DS- KHHGĐ 51
3.1.1 Mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ Việt Nam 51
3.1.1.1 Mục tiêu tổng quát 51
3.1.1.2 Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể 51
3.1.2 Quan điểm và mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ Nghệ An 52
3.1.2.1 Quan điểm 52
3.1.2.2 Mục tiêu tổng quát của chính sách DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 53
3.1.2.3 Mục tiêu cụ thể của chính sách DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 54
3.1.2.4 Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt vào năm 2012-2015 56
3.2 Hoàn thiện các công cụ của chính sách Dân số - KHHGĐ tỉnh Nghệ An 56
3.2.1 Các công cụ tâm lý - giáo dục và truyền thông 56
3.2.2 Các công cụ kinh tế 59
3.2.2.1 Đầu tư kinh phí và sử dụng kinh phí 59
3.2.2.2 Khuyến khích, khen thưởng đối với các xã, phường, thị trấn: 62
3.2.2.3 Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân 63
3.2.3 Các công cụ hành chính - Tổ chức 64
3.2.4 Các công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật) 67
3.3 Kiến nghị 69
3.3.1 Đối với chính quyền Trung ương 69
3.3.2 Đối với chính quyền địa phương 70
3.3.3 Đối với các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội khác ( Hội LHPN, Đoàn thanh niên, Liên đoàn lao động, Báo chí, Sở Giáo dục – Đào tạo, Đài PT-TH, Sở Tư pháp, Ban Dân vận, Hội Nông dân, Ban Tuyên giáo, UBMT tổ quốc, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh )
71
3.3.4 Đối với người dân 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
Trang 8Bảng 2.1: Quy mô dân số và cơ cấu giới tính hàng năm 30
Bảng 2.2: Số trẻ sinh ra hàng năm trên địa bàn tỉnh 30
Bảng 2.3: Mức sinh hàng năm 31
Bảng 2.4: Tỷ lệ sinh con thứ 3 + hàng năm của cả tỉnh 31
Bảng 2.5: Ngân sách đầu tư cho hoạt động chuyên môn của chính sách Dân số - KHHGĐ hàng năm 36
Bảng 2.6: Kết quả khen thưởng công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm 37
Bảng 2.7: Các hình thức xử lý đối với số người vi phạm chính sách dân số-KHHGĐ hàng năm 44
Bảng 3.1: Danh sách chi trả lương và các khoản đóng góp cho cán bộ chuyên trách dân số cấp xã năm 2013 60
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Gia tăng dân số ngày càng nhanh đã đưa nước ta trở thành nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonexia và Philipin) và đứng thứ 13 thế giới Theo các nhà khoa học của Liên Hiệp Quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km 2 chỉ nên có từ 35 đến 40 người Ở Việt Nam mật độ dân số gần 260 người/km 2 , gấp 6-7 lần so với mật độ chuẩn và gấp 5 lần so với mật độ thế giới, so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần Hiện nay, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm xấp xỉ 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu người trở xuống) Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều Đây
là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc làm còn nhiều Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác DS-KHHGĐ Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-
KHHGĐ đã chỉ rõ: “ Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội” Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: “Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”.
Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-
Trang 10KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ an là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa) và nằm ở tốp 10 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước (Kon tum, Hà Giang, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Trị, Lào Cai, Đắc Nông, Sơn La, Điện Biên), ngày càng có xu hướng gia tăng trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế, trong 10 tỉnh trên thì Nghệ an là tỉnh có quy mô dân
Công tác Dân số của Nghệ an trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đã có tiến bộ như mức sinh con thứ 3 + đã giảm nhưng vẫn còn cao Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 03 năm 2011, vừa ban hành Quyết định 09-QĐ/TW của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung điều 7, Quy định số 94 -QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số kế hoạch hóa gia đình tức nới lỏng xử lý
vi phạm sinh con thứ 3 + Trong thực tế lâu nay sinh con thứ 3 + trong cả nước chủ yếu xuất phát từ việc mong muốn sinh con trai với mục đích nối dõi tông đường, là lao động chính, là trụ cột gia đình thì giờ đây, sau khi Quyết định 09 - QĐ/TW ban hành, hàng loạt phụ nữ đang mang thai và đang có ý định mang thai là con thứ 3 + Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì khó tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng
nổ dân số Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo ra thị trường lớn với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải
Trang 11thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm đang là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Một
số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội Cơ cấu dân số đang
có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số trẻ” sang “cơ cấu dân số vàng” và xuất hiện “già hóa dân số” Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức được quan tâm…
Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ là rất cần thiết Giải quyết tốt đề tài trên có ý
nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ,
từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS
-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+” làm luận văn tốt nghiệp.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu :
Những nội dung liên quan đến chính sách đối với DS-KHHGĐ nói chung đã được một số nhà nghiên cứu dưới những góc độ, đối tượng, phạm vi và thời điểm khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài, chuyên đề, khảo sát và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách, báo Nhìn chung, trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đây là nguồn tư liệu quí giá giúp tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện các công cụ chính sách
DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.
Trang 123 Mục tiêu :
- Làm rõ cơ sở lý luận của các công cụ chính sách DS-KHHGĐ.
- Phân tích thực trạng các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ
An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của địa
phương
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Công cụ của chính sách DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ An
nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + của Nghệ An
+ Thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2006 - 2011 + Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.
5 Câu hỏi nghiên cứu:
- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?
- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?
- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào
để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết:
Kết qủa:Mức sinh
Và tỷ
lệ sinhcon thứ 3+
:
- Mức sinh giảm TB hàng năm là: 0,4‰-0,6‰
Đến năm 2015
tỷ suất sinh thô 13,5‰
- Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3+hàng năm từ 1,5%-2%
Đến năm 2015
tỷ lệ sinh con thứ 3+ giảm xuống dưới 15%
Tâm lý Giáo dục
Kinh tế
Hành chính
-Tổ chức
Nghiệp vụ(Kỹ thuật)
Trang 14- Nghiên cứu định tính: Phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thu
thập, đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê.
- Nghiên cứu định lượng:
+ Phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội về chính sách DS- KHHGĐ và tác động của chính sách đó đối với mức sinh và tỉ lệ sinh con thứ 3 tại Nghệ An.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương và có những đóng góp sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
- Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta; là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những văn bản pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dân số theo một kỷ cương, trật tự nhất định và đảm bảo mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con để nuôi dạy cho tốt.
- Để thực hiện thành công mục tiêu trên, giải pháp cơ bản là phải giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , muốn vậy, cần phải hoàn thiện các công cụ của Chính
Trang 15sách KHHGĐ Tuy nhiên, trong thời gian qua các công cụ của Chính sách KHHGĐ của cả nước nói chung và của Nghệ An nói riêng còn nhiều hạn chế, vì thế
DS-mà mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + đang cao và đang có xu hướng gia tăng Nghiên cứu hoàn thiện các công cụ chính sách DS -KHHGĐ hiện nay là rất cần thiết nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
- Trên cơ sở đi sâu tìm hiểu một số vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu, những vấn đề về các công cụ chính sách DS –KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ
lệ sinh con thứ 3 + , nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện các công cụ này Đồng thời nghiên cứu cũng nêu rõ hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , tìm ra nguyên nhân làm tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , những yếu tố ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn các huyện điển hình đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn- đồng bằng, miền núi của tỉnh Nghệ An.
Chương 2: Với những phân tích cụ thể về thực trạng và nhận xét về mức
sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011, thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + của Nghệ An, có thể thấy được trong thời gian qua, các công cụ chính sách DS- KHHGĐ của Nghệ An đã tác động không nhỏ tới công tác DS-KHHGĐ, đã làm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đã xử lý vi phạm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn đe, làm gương cho những người dân vi phạm và đang có ý định vi phạm chính sách DS-KHHGĐ.
- Nghiên cứu đã đánh giá các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ở Nghệ An
* Điểm mạnh: Trong thời gian qua, các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của
Nghệ An đã tác động không nhỏ tới công tác DS-KHHGĐ, đã làm giảm mức sinh
và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , cụ thể như, Công cụ kinh tế: Mặc dù Nghệ An đang là một tỉnh nghèo, nhưng đã đầu tư kinh phí cho hoạt động chuyên môn, đồng thời hỗ trợ kinh phí khen thưởng cho những tập thể và cá nhân thực hiện tốt chính sách DS-
Trang 16KHHGĐ; Công cụ giáo dục – tuyên truyền: Đã phần nào làm cho người dân hiểu được tác động của tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ; Công cụ hành chính – tổ chức: Đã xử lý vi phạm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn
đe, làm gương cho những người dân vi phạm và đang có ý định vi phạm chính sách DS-KHHGĐ; Công cụ kỹ thuật: Các thủ thuật , các PTTT, dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ đã được chú trọng và đầu tư tương đối hiệu quả.
Công tác DS-KHHGĐ ở Nghệ An đã được Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh hết sức quan tâm Đồng thời có sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể nên tạo sự đồng thuận, thống nhất trong thực hiện chính sách DS-KHHGĐ.
* Điểm yếu:
Trong thời gian qua, các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An đã tác động không nhỏ tới công tác DS-KHHGĐ, đã làm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , cụ thể như, Công cụ kinh tế: Mặc dù Nghệ An đang là một tỉnh nghèo, nhưng đã đầu tư kinh phí cho hoạt động chuyên môn, đồng thời hỗ trợ kinh phí khen thưởng cho những tập thể và cá nhân thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ; Công cụ giáo dục – tuyên truyền: Đã phần nào làm cho người dân hiểu được tác động của tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ; Công cụ hành chính – tổ chức: Đã
xử lý vi phạm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn đe, làm gương cho những người dân vi phạm và đang có ý định vi phạm chính sách DS- KHHGĐ; Công cụ kỹ thuật: Các thủ thuật , các PTTT, dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ
đã được chú trọng và đầu tư tương đối hiệu quả.
Công tác DS-KHHGĐ ở Nghệ An đã được Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh hết sức quan tâm Đồng thời có sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể nên tạo sự đồng thuận, thống nhất trong thực hiện chính sách DS-KHHGĐ.
* Nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Về phía chính quyền Trung ương:
Việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp hành chính, việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách xã hội khác thiếu chặt chẽ, đã làm cho người dân hiểu sai về các quy định đối tượng được sinh con thứ 3 + ;
Trang 17Bộ máy làm công tác Dân số/KHHGĐ và đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số/KHHGĐ ở cơ sở thiếu ổn định Từ năm 1989 đến nay, 3 lần thay đổi tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là việc giải thể Uỷ ban DS-GĐ-TE từ tháng 8/2007 ở TW, nhưng 10 tháng sau mới kiện toàn ở địa phương có ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ tới kết quả thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ.
Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, nhất là ở cơ sở, những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền vận động, chưa được ổn định, các điều kiện đảm bảo, nhất là chính sách cho cán bộ cơ sở quá thấp; cán bộ chuyên trách cấp xã còn làm việc theo chế độ hợp đồng thời vụ (chưa có các chế độ bảo hiểm), Cộng tác viên dân số chế độ phụ cấp quá thấp nên chưa thật sự gắn bó, tâm huyết, nhiệt tình với công việc được giao.
Nguồn lực đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở còn thấp, chưa tương xứng với các yêu cầu và mục tiêu đặt ra trong công tác DS- KHHGĐ.
+ Về phía chính quyền địa phương
Do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược, tính chất khó khăn, phức tạp của công tác Dân số nên một số cấp uỷ Đảng, chính quyền đã quan tâm chưa đúng mức, đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác Dân số; Một số địa phương có biểu hiện chủ quan thoả mãn với những thành công của công tác Dân số; Đầu tư nguồn lực cho công tác Dân số chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế
Chưa triển khai ký cam kết không vi phạm chính sách DS-KHHGĐ trên toàn địa bàn của địa phương, chỉ có quy định về xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ nên chưa thật sự có phương pháp răn đe người dân có ý định sinh con thứ 3 +
Chế độ khen thưởng về thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ còn thấp làm giảm động lực phấn đấu ở các địa phương đồng thời hình thức xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ quá nhẹ.
Hỗ trợ kinh phí địa phương cho hoạt động DS - KHHGĐ còn quá hạn hẹp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác DS-KHHGĐ.
Trang 18+ Về phía các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chứcchính trị - xã hội khác
Đến nay, một số tổ chức chưa ban hành nội quy, quy chế hoặc bằng các hình thức khác để thực hiện mục tiêu chính sách dân số trong cơ quan, trong hệ thống tổ chức của mình, một số địa phương chưa cụ thể hoá một số chính sách, chế độ phù hợp với đặc điểm của địa phương để thực hiện mục tiêu chính sách dân số, các cơ quan, tổ chức nói chung chưa tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật về dân số, như xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác, tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp, đưa chỉ tiêu thực hiện công tác dân số vào kế hoạch hoạt động thường xuyên, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện mục tiêu, chưa đưa việc ký cam kết thực hiện tốt chính sách dân số -KHHGĐ vào đầu năm nên không có căn cứ để xử lý vi phạm.
Tác dụng tiêu cực do việc chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền Pháp lệnh Dân số của các tổ chức khác đã tác động đến nhận thức của nhân dân
và cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu giảm sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Việc bình luận thiên lệch về quyền không gắn liền với nghĩa vụ công dân đã tạo dư luận xã hội, làm cho nhân dân chỉ chú ý đến quyền do mình tự nguyện quyết định Việc suy diễn quyền đồng nghĩa với thoải mái, tự do, không hạn chế và không
bị phạt đã tạo dư luận xã hội, làm cho các cơ quan, tổ chức dao động, chần chừ trong việc ban hành chính sách khuyến khích, không khuyến khích và thực hiện các biện pháp hành chính, chưa xử lý nghiêm, triệt để cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ đang là yếu tố thúc đấy gia tăng mức sinh, điều này đã tác động xấu đến phong trào vận động quần chúng nhân dân thực hiện chính sách Dân
số - KHHGĐ
Mặc dù việc suy diễn là không đúng với bản chất về quyền của công dân được quyết định tự nguyện và có trách nhiệm, với tính thống nhất của hệ thống pháp luật nước ta Mặc dù các hành vi là cố tình hay vô ý trong phạm vi hẹp, song cũng tạo nên dư luận xã hội không thuận cho việc thực hiện mục tiêu chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian qua Song việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật vẫn chưa được thực hiện tốt.
Trang 19+ Về phía người dân
Tư tưởng trọng nam khinh nữ, t âm lý tập quán muốn có đông con, nhiều cháu, phải có con trai để nối dõi tông đường (tư tưởng nhất nam viết hữu thập nữ viết vô, có con trai để đi vào nơi thờ tự), làm nương rẫy, chăm sóc bố mẹ khi về già Bên cạnh đó, hiện nay ở nước ta chế độ an sinh người già chưa đảm bảo.
Đồng thời, những yếu tố kinh tế - xã hội và lối sống vẫn tạo ra nhu cầu đông con, có con trai (thực tế thời gian qua, những cặp vợ chồng có con một bề, có hai con gái đã sinh con thứ ba trở lên chiếm tỷ lệ chủ yếu).
Chẩn đoán thai nhi bất hợp pháp, đặc biệt là siêu âm loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính, và điều kiện kinh tế thấp là nguyên nhân khó khăn phức tạp và lâu dài trong việc thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng cao chất lượng dân số
Số phụ nữ bước vào chu kỳ sinh đẻ tăng đột biến ở nhóm tuổi có tỷ lệ mắn
đẻ "20-29 tuổi" cao nhất, trung bình cứ một phụ nữ bước ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì
có 2,5 phụ nữ bước vào.
Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mức sinh và sinh con thứ 3 + cao và còn có xu hướng tăng nhanh.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do tâm lý muốn có đông con nhiều cháu, tập quán, điều kiện kinh tế thấp, dịch vụ xã hội chưa phát triển, Đời sống của người dân thấp, số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ hàng năm lớn (cứ 1 phụ nữ bước ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì có 2,5 phụ nữ bước vào) Tất cả những vấn đề này đã làm cho mức sinh và tỷ
lệ sinh con thứ 3 +
Chương 3: Từ phân tích điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân trên và căn cứ
vào p hương hướng hoàn thiện các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ như sau:
- Hoàn thiện các công cụ tâm lý - giáo dục và truyền thông:
+ Tăng cường, đổi mới truyền thông vận động, giáo dục chuyển đổi hành vi
Trang 20+ Tăng cường đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số ở cơ sở.
+ Nâng cao động lực cho cán bộ Dân số-KHHGĐ cơ sở.
- Hoàn thiện các công cụ kinh tế:
+ Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân
+ Khuyến khích, khen thưởng đối với các xã, phường, thị trấn:
+ Đầu tư kinh phí và sử dụng kinh phí
- Hoàn thiện các công cụ hành chính - Tổ chức:
+ Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức & quản lý
+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách Dân số-KHHGĐ
+ Xử lý vi phạm
- Hoàn thiện các công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật):
- Dịch vụ Dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Xã hội hóa trong thực hiện công tác DS-KHHGĐ
Để có thể thực hiện thành công các giải pháp trên cần đảm bảo những điều kiện sau:
- Đối với chính quyền Trung ương
+ Chính Phủ:
+ Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ
- Đối với chính quyền địa phương
- Đối với các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chứcchính trị - xã hội khác
- Đối với người dân
Trang 21LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Gia tăng dân số ngày càng nhanh đã đưa nước ta trở thành nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonexia và Philipin) và đứng thứ 13 thế giới Theo các nhà khoa học của Liên Hiệp Quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km 2 chỉ nên có từ 35 đến 40 người Ở Việt Nam mật độ dân số gần 260 người/km 2 , gấp 6-7 lần so với mật độ chuẩn và gấp 5 lần so với mật độ thế giới, so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần Hiện nay, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm xấp xỉ 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu người trở xuống) Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều Đây
là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc làm còn nhiều Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác DS-KHHGĐ Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-
KHHGĐ đã chỉ rõ: “ Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội” Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: “Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”.
Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-
Trang 22KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa) và nằm ở tốp 10 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước (Kon tum, Hà Giang, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Trị, Lào Cai, Đắc Nông, Sơn La, Điện Biên), ngày càng có xu hướng gia tăng trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế, trong 10 tỉnh trên thì Nghệ An là tỉnh có quy mô dân
Công tác Dân số của Nghệ an trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đã có tiến bộ như mức sinh con thứ 3 + đã giảm nhưng vẫn còn cao Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 03 năm 2011, vừa ban hành Quyết định 09-QĐ/TW của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung điều 7, Quy định số 94 -QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số kế hoạch hóa gia đình tức nới lỏng xử lý
vi phạm sinh con thứ 3 + Trong thực tế lâu nay sinh con thứ 3 + trong cả nước chủ yếu xuất phát từ việc mong muốn sinh con trai với mục đích nối dõi tông đường, là lao động chính, là trụ cột gia đình thì giờ đây, sau khi Quyết định 09 - QĐ/TW ban hành, hàng loạt phụ nữ đang mang thai và đang có ý định mang thai là con thứ 3 + Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì khó tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng
nổ dân số Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo ra thị trường lớn với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải
Trang 23thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm đang là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Một
số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội Cơ cấu dân số đang
có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số trẻ” sang “cơ cấu dân số vàng” và xuất hiện “già hóa dân số” Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức được quan tâm…
Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm
giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ là rất cần thiết Giải quyết tốt đề tài trên có ý
nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ,
từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS
-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+” làm luận văn tốt nghiệp.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những nội dung liên quan đến chính sách đối với DS-KHHGĐ nói chung đã được một số nhà nghiên cứu dưới những góc độ, đối tượng, phạm vi và thời điểm khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài, chuyên đề, khảo sát và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách, báo Nhìn chung, trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đây là nguồn tư liệu quí giá giúp tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện các công cụ chính sách
DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn
Trang 24góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.
3 Mục tiêu
- Làm rõ cơ sở lý luận của các công cụ chính sách DS-KHHGĐ.
- Phân tích thực trạng các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ
An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của địa
phương
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Công cụ của chính sách DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ An
nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + của Nghệ An
+ Thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 – 2011, vì
năm 2008 có thay đổi tổ chức bộ máy.
+ Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?
- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?
- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào
để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?
Trang 256 Phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết:
Kết qủa:Mức sinh
Và tỷ
lệ sinhcon thứ 3+
:
- Mức sinh giảm TB hàng năm là: 0,4‰-0,6‰
Đến năm 2015
tỷ suất sinh thô 13,5‰
- Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3+hàng năm từ 1,5%-2%
Đến năm 2015
tỷ lệ sinh con thứ 3+ giảm xuống dưới 15%
Tâm lý Giáo dục
Kinh tế
Hành chính
-Tổ chức
Nghiệp vụ(Kỹ thuật)
Trang 26- Nghiên cứu định tính: Phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thu
thập, đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê.
- Nghiên cứu định lượng:
Phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội về chính sách DS- KHHGĐ và tác động của chính sách đó đối với mức sinh và tỉ lệ sinh con thứ 3 tại Nghệ An.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Chương 2: Phân tích thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Chương 3: Hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Trang 27CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH NHẰM GIẢM MỨC SINH
VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+
1.1 Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan
- Dân số: là một cộng đồng dân cư (hay cộng đồng người) sống trong
một địa phương, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xácđịnh tại một thời điểm cụ thể
Sự hình thành của dân số mang tính lịch sử trong quá trình sản xuất vàtái sản xuất ra con người
Các đặc trưng cơ bản của dân số:
Dân số luôn được tái sinh nhờ quá trình thay thế liên tục các thế hệ cũbằng thế hệ mới do sinh đẻ và tử vong Quá trình tái sinh liên tục gọi là tái sảnxuất dân số
Dân số luôn biến động, có thể tăng hoặc giảm do tác động của yếu tốsinh đẻ, chết, chuyển đi và chuyển đến
Dân số vừa là lực lượng sản xuất nhưng lại vừa là lực lượng tiêu dùngnhững sản phẩm do chính con người làm ra Vì vậy, dân số là chủ thể của xãhội và là động lực của sự phát triển
- Quy mô dân số: là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng
địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định
- Cơ cấu dân số: là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân
tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác
- Kế hoạch hóa gia đình:
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì KHHGĐ bao gồm
Trang 28những hành động giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt đượcnhững mục tiêu sau đây: Tránh những trường hợp có thai và sinh con ngoài ýmuốn, dự định; Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh; Chủ động thời điểmsinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.
Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằmđiều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không nhữngchỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT nhằm tránh thai ngoài ý muốn
mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con
Theo định nghĩa của Bộ Y tế: KHHGĐ là nỗ lực của Nhà nước, xã hội
để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thờigian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôidạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống củagia đình
Biện pháp KHHGĐ là những thực hành giúp cá nhân hay các cặp vợchồng đạt được các mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh con không mongmuốn; Quyết định được thời gian và khoảng cách sinh con; Sinh một hoặc haicon, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định
Phạm vi của KHHGĐ không đồng nghĩa với kiểm soát và hạn chế sinh
đẻ mà còn bao gồm nội dung điều chỉnh khả năng sinh sản, giải quyết vấn đề
vô sinh đối với các cặp vợ chồng do có những vấn đề thuộc bộ máy và chứcnăng sinh sản
- Công tác dân số: là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động
tác động đến quy mô, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượngdân số
- Mức sinh và các thước đo mức sinh
Để đo lường mức sinh, người ta không so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối về
số trẻ em được sinh ra mà thường dùng các chỉ tiêu tương đối, như: " Tỷ suất
Trang 29sinh thô"; "Tỷ suất sinh chung", "Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi phụ nữ",
"Tổng tỷ suất sinh" , nghĩa là so sánh số trẻ sinh ra với số dân
+ Tỷ suất sinh thô (Crude Birth Rate, viết tắt là CBR) có đơn vị đo làphần nghìn, biểu thị số trẻ được sinh ra và sống được, tính bình quân trên1.000 người dân trong thời gian một năm Tỷ suất sinh thô tính theo côngthức sau:
+ Tỷ suất sinh chung: Do đặc điểm tự nhiên, việc sinh đẻ liên quan trực tiếpđến phụ nữ chỉ trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi Vì vậy, để đo mức sinh chínhxác hơn, cần so sánh số trẻ em được sinh ra trong năm và số phụ nữ trong độtuổi sinh đẻ, tức là tính "Tỷ suất sinh chung" (General Fertility Rate, viết tắtGFR) GFR có đơn vị đo là phần nghìn và được xác định bởi công thức sau:
+ Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate, viết tắt là TFR): là số contrung bình của một phụ nữ (hay nhóm phụ nữ) có thể sinh ra sống trong cảcuộc đời của mình nếu họ sinh con theo các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổihiện thời ở một năm xác định
+ Mức sinh thay thế: Là mức sinh mà một nhóm phự nữ ( hay 1 phụnữ) có vừa đủ số con gái để thay thế mình trong dân số, nghĩa là mỗi một bà
mẹ sẽ sinh ra 1 người con gái đạt đến tuổi sinh đẻ để thay thế mình Khi đạtmực sinh thay thế, TFR tương đương khoảng 2,1 con
- Tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Mục tiêu của Chương trình KHHGĐ Việt Nam là mỗi cặp vợ chồng
Số trẻ em sinh ra, sống được trong năm
Số dân trung bình trong năm
Số trẻ em được sinh ra trong năm
Số phụ nữ(15-49)tuổi trung bình
Trang 30chỉ nên có 1 đến 2 con, do vậy thường tính tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên để đánhgiá tình hình thực hiện KHHGĐ của một địa phương, đơn vị.
Cách tính như sau:
sinh sè Tæng
n lª trë
ba thø con
lµ sinh Sè
- Trong Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 của Thủ tướngChính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnhDân số và Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 17/3/2011 của Chính Phủ vềsửa đổi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnhDân số đã quy định những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặchai con như sau:
+ "Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai ngườithuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suygiảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thứccủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư
+ Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên
+ Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai contrở lên
+ Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có mộtcon đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi
+ Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cảhai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đãđược Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.+ Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):
Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng(con đẻ)
Trang 31Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả haingười đã có con riêng (con đẻ) Quy định này không áp dụng cho trường hợphai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.
+ Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng mộtlần sinh"
1.1.2 Hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +
Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ tăng dẫn tới hậu quả vô cùng to lớn
và tác động xấu đến tất cả mọi mặt, như thu thập bình quân đầu người thấp,khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu thập, đặc biệt làm trầm trọngthêm trong việc cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, tệ nạn xã hội , tainạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngàycàng ô nhiễm cụ thể như sau:
- Tác động đến kinh tế:
Khi mức sinh cao, trẻ em (nhóm tuổi 0-14) chiếm tỷ trọng lớn trongdân số, dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc cao nên khả năng đầu tư thấp, khả năng sảnxuất kém, thu nhập bình quân đầu người không tăng hoặc tăng rất chậm.Muốn tăng thu nhập bình quân đầu người thì tốc độ tăng GDP phải cao hơntốc độ gia tăng dân số GDP phụ thuộc vào các yếu tố: Tỷ lệ người trong độtuổi lao động, tỷ lệ người hoạt động kinh tế; tỷ lệ người làm việc trong lĩnhvực sản xuất vật chất so với tổng số người đang làm việc
Đối với nước đang phát triển, để tăng thu nhập bình quân đầu người thìviệc hạ thấp tỷ lệ tăng dân số có ý nghĩa vô cùng quan trọng Các nước đangphát triển hiện nay ở tình trạng thiếu vốn, trình độ khoa học kỹ thuật và quản
lý còn thấp, năng suất lao động thấp, số người chưa có việc làm cao là nhữngyếu tố dẫn đến GDP theo đầu người thấp Nếu tỷ suất sinh vẫn giữ ở mức caothì thời gian để họ vượt qua đói nghèo càng dài
+ Tác động đến tiêu dùng: Ở các nước đang phát triển, quy mô dân số,
Trang 32nhu cầu tiêu dùng cao nhưng lại thiếu vốn, trình độ khoa học kỹ thuật côngnghệ thấp, thiếu lao động có tay nghề cao và năng lực quản lý điều hành cònyếu kém nên sản lượng hàng hóa chưa đáp ứng được nhu cầu.
+ Tác động đến tích lũy: Dân số tăng nhanh, mức tiêu dùng lớn, nhất lànhững nước có tỷ lệ phụ thuộc cao Đây là gánh nặng đối với từng gia đìnhcũng như xã hội, bởi tỷ lệ tiêu dùng lớn thì tỷ lệ tích lũy sẽ giảm xuống Tíchlũy giảm sẽ làm giảm khả năng đầu tư Mặt khác, do tỷ lệ dân số phụ thuộclớn nên phải tăng đầu tư cho y tế, giáo dục và các loại phúc lợi xã hội khác
mà lượng đầu tư trực tiếp cho sản xuất giảm đi
- Tác động đến an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo:
Vấn đề an ninh lương thực nước ta hiện nay đang đứng trước khó khăn
và thách thức không nhỏ Quy mô dân số vẫn còn tiếp tục tăng, số ngườitrong độ tuổi lao động tăng lên nhưng lại thiếu việc làm nên thu nhập củangười dân tăng chậm Mặc dầu Việt nam đã đạt được những thành tựu rất ấntượng về xóa đói giảm nghèo nhưng tỷ lệ các hộ nghèo đói vẫn còn cao, đặcbiệt là ở vùng sâu, vùng xa Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta không thể xemnhẹ vấn đề an ninh lương thực của quốc gia
Hiện tại, Việt nam đứng hàng thứ 2 về xuất khẩu gạo nhưng các nhà
Trang 33khoa học đã dự báo đến năm 2020 do năng suất đã đạt mực tối đa mà dân sốngày càng tăng thì Việt Nam sẽ không còn khả năng xuất khẩu gạo.
Như vậy, trong thời gian tới, tốc độ tăng lương thực và tốc độ tăng dân
số nước ta sẽ xấp xỉ nhau, nên lương thực bình quân đầu người sẽ khó có thểtăng như những năm trước đây Do đó con đường tốt nhất để khắc phục nghèođói, suy dinh dưỡng và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là phải tiếp tụcgiảm tốc độ gia tăng dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số
Trong những năm qua, có thể nói hầu hết các bệnh viện nhất là cácbệnh viện tuyến trên, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến trung ương đềuquá tải, tỷ lệ sử dụng giường ở các bệnh viện hầu hết đều vượt qua con số100%, không ít trường hợp có 2 đến 3 người phải nằm chung 1 giường bệnh
Mật độ dân số quá cao cũng gây trở ngại cho công tác dự phòng của y
tế và công tác phục vụ của hệ thống y tế Những nơi mật độ dân số quá cao,không đủ cán bộ và các phương tiện y tế cần thiết sẽ xẩy ra tình trạng nhiềubệnh nhân không được chăm sóc đầy đủ
Trang 34Như vậy, quy mô và tốc độ gia tăng dân số tác động tới hệ thống y tế vàchăm sóc sức khỏe ở cả hai khía cạnh: Thứ nhất, nó đặt ra nhu cầu chăm sócsức khỏe của người dân mà ngành y tế phải đáp ứng; thứ hai cùng với các nhân
tố khác nó tạo những gánh nặng về bệnh tật đòi hỏi ngành y tế phải đáp ứng
- Tác động đến giáo dục
Quy mô dân số, tốc độ gia tăng dân số hàng năm phản ánh nhu cầu đihọc của người dân Nếu tốc độ gia tăng dân số ổn định, số lượng trẻ em đếntuổi đi học tương đối ổn định thì việc mở rộng quy mô giáo dục sẽ tạo điềukiện thu hút thêm nhiều trẻ em đến trường Khi đó, tỷ lệ người đi học caohơn, đòi hỏi phải mở rộng quy mô giáo dục với một tốc độ tướng ứng mới cóthể giữ được tỷ lệ người đi học như trước, mặc dù về mặt tuyệt đối, số người
đi học có tăng lên Dân số tăng nhanh không những làm tăng số trẻ em đếntuổi đi học, tăng số học sinh phổ thông mà còn làm tăng nhu cầu học nghề vàđại học Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh sẽ tác động tiêu cực đối với giáodục, tăng tỷ lệ trẻ em thất học, bỏ học
Mặt khác, khi dân số đông, tốc độ tăng dân số quá nhanh, tốc độ tăngtrưởng kinh tế chậm hơn tốc độ tăng dân số nên mức thu nhập bình quân thấp,khả năng đầu tư cho giáo dục thấp và do đó quy mô giáo dục bị hạn chế, chấtlượng giáo dục giảm sút Do số trường, lớp phải mở lớn và gấp, giáo việnphải đào tạo gấp, nhu cầu trang thiết bị giảng dạy quá lớn, sản xuất không đápứng được cả về số lượng lẫn chất lượng nên đã làm giảm sút chất lượng dạy
và học
- Tác động đến môi trường:
Dân số tăng dẫn đến tăng số người tiêu thụ, đòi hỏi phải khai thác tàinguyên nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, do vậy cũng làm môi trường ô nhiễmtrầm trọng hơn Ngược lại, việc hủy hoại môi trường có tác động xấu đến sảnxuất, đến chất lượng của cuộc sống con người
Trang 35Một hậu quả nữa của gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa nhanhchóng là việc mất đi một cách đáng báo động của quỹ đất nông nghiệp Tăngdân số làm nảy sinh nhu cầu sử dụng đất cho nhà ở và các mục tiêu phục vụcuộc sống của dân cư Sự di cư từ vùng này đến vùng khác và đặc biệt là sự di
cư từ nông thôn ra thành thị cũng là một nguyên nhân quan trọng làm tăng sự
ô nhiễm môi trường Tốc độ đô thị hóa diễn ra quá nhanh cũng tạo ra một mốihọa khác cho môi trường Mật độ dân số tập trung quá đông khiến vấn đề chấtthải ở thành phố bị ứ đọng và môi trường sẽ bị ô nhiễm
Dân số tăng kéo theo ba nạn đói: đói ăn, đói việc và đói chữ, khiếnngười dân phải sống trong cảnh nghèo khó, thiếu việc làm, dốt nát nhanh vàtheo đó là bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc, khủng bố,.…Dễ thấy khidân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn,
và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, kể cảphạm tội Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tớiviệc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xungđột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả khôn lường
Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh,
ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc giántiếp Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnhhưởng tới sự tồn vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gì nghi ngờnữa, vấn đề bùng nổ dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc,rộng lớn tới tương lai của cả nhân loại
1.2 Các công cụ của Chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ
lệ sinh con thứ 3 +
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu Chính sách DS - KHHGĐ
Chính sách DS - KHHGĐ hiểu theo nghĩa rộng, đó là toàn bộ quanđiểm, mục tiêu và phương thức hành động của nhà nước liên quan đến DS-
Trang 36KHHGĐ Theo nghĩa hẹp, là những mục tiêu, giải pháp và công cụ của Nhànước điều tiết quá trình phát triển DS - KHHGĐ Hệ thống công cụ của chínhsách bao gồm: các công cụ tuyên truyền, tâm lý, giáo dục; công cụ kinh tế;Công cụ hành chính – tổ chức và công cụ về kỹ thuật chuyên môn Mỗi nhómcông cụ có thể coi như một chính sách bộ phận của chính sách DS-KHHGĐ.
Chính sách DS -KHHGĐ thuộc về chính sách xã hội Mục tiêu tổng quátcủa chính sách này là nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người, mỗi giađình và toàn thể xã hội, đảm bảo điều chỉnh các yếu tố dân số phù hợp với chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng giống nòi
Để đạt được các mục tiêu tốt đẹp đó, Đảng và Nhà nước ta đề ra nhữngchủ trương, biện pháp, hướng dẫn, quy định cụ thể về DS -KHHGĐ phù hợpvới điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nhằm làm thay đổi các yếu tố và quátrình dân số Các mục tiêu cụ thể của chính sách là: giảm mức sinh và giảm tỷ
lệ sinh con thứ 3+
1.2.2 Nguyên tắc của chính sách Dân số - KHHGĐ
Chính sách DS-KHHGĐ nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích của cơ quan, tổchức, cá nhân và thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội,đồng thời kết hợp giữa các biện pháp vĩ mô và vi mô, giữa biện pháp kinh tế -
kỹ thuật, hành chính - tổ chức, giáo dục – tâm lý cụ thể như sau:
1.2.2.1 Bảo vệ quyền lợi và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân
+ "Bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cộng đồng trong lĩnhvực dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sốngcủa cá nhân, gia đình và toàn xã hội" (khoản 1 điều 2 PLDS) là nguyên tắccủa công tác dân số Điều này có nghĩa là, Nhà nước và xã hội bảo vệ các quychế, điều lệ, hương ước, quy ước của cơ quan, tổ chức, cộng đồng, nhưng cácquy định đó chỉ được bảo vệ nếu là lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,cộng đồng
Trang 37+ "Bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, giađình trong kiểm soát sinh sản, CSSKSS, lựa chọn nơi cư trú và thực hiện cácbiện pháp nâng cao chất lượng dân số" (khoản 2 điều 2 PLDS) là nguyên tắccủa công tác dân số, nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, quyềnđược bảo vệ sức khỏe, quyền sinh sản, quyền học tập, vui chơi, giải trí và pháttriển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
+ Kết hợp giữa quyền, lợi ích của cá nhân, gia đình với tổ chức, cộngđồng và toàn xã hội để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,cộng đồng phù hợp với bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi
cá nhân, gia đình trong việc thực hiện mục tiêu dân số Sự kết hợp dựa vàochuẩn mực xã hội "Thực hiện quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc và bền vững" (khoản 3 điều 2 PLDS) là nguyên tắc của côngtác dân số
1.2.2.2 Thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội
+ Về tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác dân số
Việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế để sớm ổn định quy mô dân
số trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội nước ta chưa phát triển là hết sức khókhăn, phức tạp và lâu dài Tâm lý, tập quán, tư tưởng nho giáo của đa số nhândân muốn có đông con, phải có con trai còn rất nặng nề và điều kiện thấp kémcủa nền kinh tế chưa đủ đảm bảo độ tin cậy cho người dân thực hiện gia đình
có 1 đến 2 con Vì vậy, phải luôn quán triệt tư tưởng chống chủ quan, thỏamãn và buông lỏng công tác dân số khi thấy mức sinh thấp, kiên trì thực hiệnmục tiêu mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con
+ Về lợi ích của gia đình ít con, bình đẳng và chất lượng dân số
Thực hiện gia đình ít con, bình đẳng giới và nâng cao chất lượng dân sốmang lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân, gia đình, tạo điều kiện cho mỗi thànhviên gia đình có sức khỏe, được học tập, vui chơi, giải trí và phát triển toàn
Trang 38diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần Bình đẳng giới tạo điều kiện nâng cao địa
vị phụ nữ, phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Sự gia tăng dân số nhanh, quy mô dân số lớn là yếu tố cản trở mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân của nhànước, các ngành, đoàn thể, cộng đồng và xã hội Vì vậy, thực hiện gia đình ítcon, bình đăng giới và nâng cao chất lượng dân số mang lại lợi ích cho toàn
xã hội và do đó yêu cầu mọi cá nhân, gia đình phải tôn trọng lợi ích của nhànước, các ngành, đoàn thể, cộng đồng và xã hội
+ Về chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số
Tuy mức sinh của cả nước là đang tiệm cận mức sinh thay thế, nhưngchưa vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khách quan, chủ quan làm tăngnhanh mức sinh và mức sinh của các khu vực, vùng miền còn có sự khác biệtkhá lớn Kiểm soát mức sinh và tăng chất lượng dân số có tác động trực tiếpvới nhau Vì vậy, cần có mức độ ưu tiên giải quyết mục tiêu kiểm soát quy
mô và tăng chất lượng dân số đối với mỗi khu vực, vùng miền, địa phương
Thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về chủ độngkiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phải là nguyên tắc nhất quán củachính sách, pháp luật về dân số Nguyên tắc này được áp dụng đối với banhóm tỉnh: Nhóm có mức sinh thấp, nhóm có mức sinh chưa ổn định và nhóm
có mức sinh cao
1.2.2.3 Kết hợp giữa các biện pháp vĩ mô và vi mô,giữa biện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính – tổ chức, giáo dục – tâm lý
Việc kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số thông qua biện pháp
vĩ mô là phát triển kinh tế - xã hội, xói đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượngcuộc sống nhân dân và thông qua việc lồng ghép vấn đề dân số vào cácchương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, các bộ, ngành
và địa phương
Trang 39Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình DS - KHHGĐ ở các cấp,đặc biệt ở cấp cơ sở Các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội phải đưacông tác dân số thành một nội dung quan trọng trong chương trình công tácthường kỳ và lấy kết quả thực hiện công tác dân số - KHHGĐ là một tiêuchuẩn để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.
Các biện pháp được thực hiện bằng các công cụ trình bày trong phần 1.2.3
1.2.3 Các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ
lệ sinh con thứ 3 +
Cũng giống như các chính sách khác, chính sách DS-KHHGĐ nhằmgiảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+có 4 nhóm công cụ sau:
1.2.3.1 Công cụ tâm lý - giáo dục và truyền thông:
Là công cụ tác động về mặt tinh thần nhằm thay đổi phong tục, tậpquán, tâm lý của con người thông qua nhận thức, nhằm làm cho người dânhiểu được mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách DS-KHHGĐ, hiểu được tráchnhiệm của mình đóng góp vào sự nghiệp DS-KHHGĐ và cũng là để mang lạilợi ích cho chính gia đình và bản thân đối tượng
Tuyên truyền, vận động và giáo dục là giải pháp cơ bản của công tác dân
số Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của công tác dân số là nhằm làmchuyển biến nhận thức, thái độ và chuyển đổi hành vi của người dân trong việcthực hiện quy mô gia đình ít con, trong việc phát triển toàn diện con người
Vì vậy việc áp dụng công cụ này đòi hỏi một quá trình thường xuyên,
từ từ mới thấm nhuần với đối tượng, và có tác dụng bền vững
- Hệ thống giáo dục bao gồm các trường học phổ thông, các trường đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp…Mỗi hệ thống trường học có cáchtruyền thông khác nhau Hệ thống tiểu học và trung học cơ sở thì giáo dụcgiới tình Hệ thống trung học phổ thông và khối đại học, chuyên nghiệp thìtuyên truyền sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên…
Trang 40- Hệ thống truyền thông: gồm thông tin đại chúng, đài, báo chí, phimảnh Thông tin chuyên ngành dân số, y tế và xã hội học.
1.2.2.2 Công cụ kinh tế:
Là công cụ tác động đến lợi ích kinh tế nhằm kích thích hoặc hạn chếhành vi của đối tượng trong quá trình thực hiện công tác DS-KHHGĐ Bởi vì,xét cho cùng thì lợi ích kinh tế là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới tư duy vàhành động của con người
Các công cụ kinh tế cụ thể được sử dụng cho chính sách DS-KHHGĐnhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ gồm:
- Ngân sách nhà nước
- Tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm
- Phụ cấp
- Tài trợ của các tổ chức phi Chinh phủ
1.2.2.3 Công cụ hành chính - tổ chức:
Là công cụ mang tính bắt buộc, mệnh lệnh, cưỡng bức Là việc sử dụngquyền lực đặc biệt của Nhà nước bắt buộc các đôi tượng phải thực hiện đúngchính sách DS-KHHGĐ
Nhóm công cụ hành chính – tổ chức gồm:
a Công cụ hành chính
- Pháp luật là các quy tắc xử sự chung trong toàn xã hội, pháp luậttạo ra hành lang pháp lý cho người dân, gia đình và các chủ thể trong việcthực hiện thống nhất hành vi, quan hệ xã hội và tổ chức các biện pháp, hoạtđộng nhằm đạt mục tiêu chung là thực hiện quy mô gia đình ít con, no ấm,bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững và nâng cao chất lượng của toàn
bộ dân số
+ Các công cụ pháp luật: như Luật Dân số; Hôn nhân và gia đình; Pháplệnh dân sô…