1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3

115 798 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghệ an là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa và nằm ở tốp 10 tỉnh có mứ

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là sản phẩm độc lập của của bản thân, số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà nội, tháng12 /2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thắng

Trang 2

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên khuyến khích, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp.

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa sau Đại học, Khoa Khoa học Quản lý - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội; Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý Kinh tế K19 Vinh (2010-2012); Tổng cục DS- KHHGĐ, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Cục Thống kê, Trung tâm Giáo dục -

Truyền thông, Trung tâm CSSKSS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An; Trung tâm DS-KHHGĐ

20 huyện, thành phố, thị xã, Trung tâm Tư vấn & dịch vụ DS-KHHGĐ tỉnh đã giúp

đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ Nghệ

An đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế và chính sách của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, tháng12 /2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thắng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH NHẰM GIẢM MỨC SINH VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+ 7

1.1 Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 7

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 7

1.1.2 Hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 11

1.1.3 Các yếu tố làm tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 16

1.2.Chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 19

1.2.1 Khái niệm và mục tiêu Chính sách DS - KHHGĐ 19

1.2.2 Nguyên tắc của chính sách Dân số - KHHGĐ 20

1.2.3 Các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 23

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ 27

1.3.1 Các yếu tố chủ quan 27

1.3.2 Các yếu tố khách quan 31

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ – KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH NHẰM GIẢM MỨC

Trang 4

2.1 Khái quát về công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ An 32

2.1.1 Lịch sử công tác DS-KHHGĐ của Nghệ An 32

2.1.2 Kết quả đạt được trong công tác DS-KHHGĐ Nghệ An 33

2.2 Thực trạng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ giai đoạn 2008 đến 2011 36

2.2.1 Quy mô dân số và cơ cấu giới tính từ năm 2008 đến 2011 36

2.2.2 Mức sinh từ năm 2008 đến 2011 37

2.2.3 Số trẻ sinh ra là con thứ 3+ và tỷ lệ sinh con thứ 3+ từ năm 2008 đến 2011 38

2.2.4 Đánh giá chung về mức sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An trong giai đoạn 2008 đến 2011 39

2.3 Thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An 41

2.3.1 Công cụ truyền thông- giáo dục và tâm lý 41

2.3.2 Công cụ kinh tế 43

2.3.3 Công cụ hành chính - tổ chức 48

2.3.4 Công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật) 53

2.4 Đánh giá các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở Nghệ An 55

2.4.1 Điểm mạnh 55

2.4.2 Điểm yếu 56

2.4.3 Nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DS-KHHGĐ NHẰM GIẢM MỨC SINH VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+ TẠI NGHỆ AN 63 3.1 Quan điểm và mục tiêu của chính sách

Trang 5

DS-3.1.1 Mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ ở Việt Nam 63

3.1.2 Quan điểm và mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ Nghệ An 64

3.2 Hoàn thiện các công cụ của chính sách Dân số -KHHGĐ tỉnh Nghệ An 68

3.2.1 Công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý 68

3.2.2 Công cụ kinh tế 72

3.2.3 Công cụ hành chính - Tổ chức 77

3.2.4 Các công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật) 80

3.3 Kiến nghị 82

3.3.1 Đối với chính quyền Trung ương 82

3.3.2 Đối với chính quyền địa phương 83

3.3.3 Đối với các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội khác .84

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 7

Bảng 2.1: Quy mô dân số và cơ cấu giới tính hàng năm 36

Bảng 2.2: Số trẻ sinh ra hàng năm trên địa bàn tỉnh 37

Bảng 2.3: Mức sinh hàng năm 38

Bảng 2.4: Số trẻ sinh ra là con thứ 3 + hàng năm trên địa bàn tỉnh 38

Bảng 2.5: Tỷ lệ sinh con thứ 3 + hàng năm của cả tỉnh 39

Bảng 2.6: Ngân sách đầu tư cho hoạt động chuyên môn của chính sách Dân số -KHHGĐ hàng năm 45

Bảng 2.7: Kết quả khen thưởng công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm 46

Bảng 2.8: Các hình thức xử lý đối với số người vi phạm chính sách dân số-KHHGĐ hàng năm 53

Bảng 3.1: Danh sách chi trả lương và các khoản đóng góp cho cán bộ chuyên trách dân số cấp xã năm 2013 73

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Gia tăng dân số ngày càng nhanh đã đưa nước ta trở thành nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonexia và Philipin) và đứng thứ 13 thế giới Theo các nhà khoa học của Liên Hiệp Quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km 2 chỉ nên có từ 35 đến 40 người Ở Việt Nam mật độ dân số gần 260 người/km 2 , gấp 6-7 lần so với mật độ chuẩn và gấp 5 lần so với mật độ thế giới, so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần Hiện nay, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm xấp xỉ 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu người trở xuống) Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều Đây

là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc làm còn nhiều Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh

Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác DS-KHHGĐ Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-

KHHGĐ đã chỉ rõ: “ Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội” Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: “Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”.

Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-

Trang 9

KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ an là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa) và nằm ở tốp 10 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước (Kon tum, Hà Giang, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Trị, Lào Cai, Đắc Nông, Sơn La, Điện Biên), ngày càng có xu hướng gia tăng trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế, trong 10 tỉnh trên thì Nghệ an là tỉnh có quy mô dân

Công tác Dân số của Nghệ an trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đã có tiến bộ như mức sinh con thứ 3 + đã giảm nhưng vẫn còn cao Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 03 năm 2011, vừa ban hành Quyết định 09-QĐ/TW của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung điều 7, Quy định số 94 -QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số kế hoạch hóa gia đình tức nới lỏng xử lý

vi phạm sinh con thứ 3 + Trong thực tế lâu nay sinh con thứ 3 + trong cả nước chủ yếu xuất phát từ việc mong muốn sinh con trai với mục đích nối dõi tông đường, là lao động chính, là trụ cột gia đình thì giờ đây, sau khi Quyết định 09 - QĐ/TW ban hành, hàng loạt phụ nữ đang mang thai và đang có ý định mang thai là con thứ 3 + Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì khó tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng

nổ dân số Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo ra thị trường lớn với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải

Trang 10

thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm đang là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Một

số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội Cơ cấu dân số đang

có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số trẻ” sang “cơ cấu dân số vàng” và xuất hiện “già hóa dân số” Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức được quan tâm…

Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm

giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ là rất cần thiết Giải quyết tốt đề tài trên có ý

nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ,

từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS

-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An ” làm luận văn tốt nghiệp.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Những nội dung liên quan đến chính sách đối với DS-KHHGĐ nói chung đã được một số tác giả nghiên cứu dưới những góc độ, đối tượng, phạm vi và thời điểm khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài, chuyên đề, khảo sát và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách, báo Nhìn chung, trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đây là nguồn tư liệu quí giá giúp tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện các công cụ chính sách

DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.

Trang 11

3 Mục tiêu

- Làm rõ cơ sở lý luận của các công cụ chính sách DS-KHHGĐ.

- Phân tích thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của tỉnh Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ của địa

phương

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung: Công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức

sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An

+ Thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2006 - 2011 + Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?

- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?

- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào

để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

- Khung lý thuyết:

Thực hiện mục tiêu:

- Giảm mức sinh

- Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3+

Truyền thông Giáo dục

Trang 13

- Nghiên cứu định tính: Phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thu

thập, đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê.

- Nghiên cứu định lượng:

+ Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội, tổng hợp báo cáo thống kê chuyên ngành về mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An? Nguyên nhân? Ảnh hưởng của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An?

+ Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội về chính sách DS- KHHGĐ

và tác động của chính sách đó đối với mức sinh và tỉ lệ sinh con thứ 3 tại Nghệ An.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương và có những đóng góp sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm

giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

- Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta; là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những văn bản pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dân số theo một kỷ cương, trật tự nhất định và đảm bảo mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con để nuôi dạy cho tốt.

- Để thực hiện thành công mục tiêu trên, giải pháp cơ bản là phải giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , muốn vậy, cần phải hoàn thiện các công cụ của Chính sách DS-KHHGĐ Tuy nhiên, trong thời gian qua các công cụ của Chính sách DS- KHHGĐ của cả nước nói chung và của Nghệ An nói riêng còn nhiều hạn chế, vì thế

mà mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + đang cao và đang có xu hướng gia tăng Nghiên cứu hoàn thiện các công cụ chính sách DS -KHHGĐ hiện nay là rất cần thiết nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Trang 14

- Trên cơ sở đi sâu tìm hiểu một số vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu, những vấn đề về các công cụ chính sách DS –KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ

lệ sinh con thứ 3 + , nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện các công cụ này Đồng thời nghiên cứu cũng nêu rõ hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , tìm ra nguyên nhân làm tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , những yếu tố ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn các huyện điển hình đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn- đồng bằng, miền núi của tỉnh Nghệ An.

Chương 2: Với những phân tích cụ thể về thực trạng và nhận xét về mức

sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011, thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An, có thể thấy được trong thời gian qua, các công cụ chính sách DS- KHHGĐ của Nghệ An đã tác động không nhỏ tới công tác DS-KHHGĐ, đã làm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đã xử lý vi phạm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn đe, làm gương cho những người dân vi phạm và đang có ý định vi phạm chính sách DS-KHHGĐ.

- Nghiên cứu đã đánh giá các công cụ chính sách DS-KHHGĐ của Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ở Nghệ An

* Điểm mạnh

- Công cụ kinh tế

Mặc dù Nghệ An đang là một tỉnh nghèo, dân số chủ yếu là giáo dân, vùng biển, vùng núi nhưng các địa phương trong tỉnh cũng như UBND tỉnh Nghệ An đã đầu tư kinh phí cho hoạt động chuyên môn, đồng thời hỗ trợ kinh phí khen thưởng cho những tập thể và cá nhân thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ

- Công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý

Đã phần nào làm cho người dân hiểu được tầm quan trọng của công tác KHHGĐ; lợi ích của gia đình có từ 1 đến 2 con; Tác hại của mất cân bằng giới tính khi sinh; hậu quả của tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Tổ chức được nhiều

Trang 15

DS-lớp tập huấn, giáo dục cho các đối tượng, tủy theo từng độ tuổi, từng vùng miền về DS-KHHGĐ Đã phối hợp với nhiều ban, ngành, đoàn thể trong tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách DS-KHHGĐ Tổ chức giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, thanh niên…Nâng cao nhận thức, hiểu biết của VTN về SKSS/SKTD/KHHGĐ, từ đó các em chủ động giảm các tác động kích thích quan

hệ tình dục, nếu có quan hệ tình dục sẽ biết cách chủ động sử dụng các BPTT để phòng tránh có thai, sẽ giảm tình trạng nạo phá thai VTN chủ động phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục và HIV/AIDS; đồng thời tăng cường phát triển hài hòa

về thể chất, trí tuệ và tinh thần cho VTN để có lối sống lành mạnh và an toàn.

- Công cụ hành chính – tổ chức

Đã xử lý vi phạm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên nhằm răn

đe, làm gương cho những người dân vi phạm và đang có ý định vi phạm chính sách DS-KHHGĐ;

Sử dụng hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ từ tỉnh đến thôn bản trong tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách DS-KHHGĐ.

* Điểm yếu

Mặc dù các công cụ chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian qua đã tác động không nhỏ tới giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , nhưng do quy mô dân số Nghệ an đang quá lớn, lại đang có mức sinh cao, tỷ lệ sinh con thứ 3 + đang cao và đang có xu hướng gia tăng Chính vì vậy, các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ hiện nay của Nghệ An không còn phù hợp với thời đại, cụ thể:

- Công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý

Công tác truyền thông chưa được triển khai toàn diện và chưa đồng bộ trên

Trang 16

các kênh thông tin đại chúng Vì vậy chưa tạo thành sự đồng bộ trong hoạt động truyền thông trên mọi địa bàn, dân cư và trong mọi thơi gian

Các chương trình giáo dục về Dân số - SKSS tuy đã được triển khai nhưng mới mang tính thí điểm, chưa được phủ kín khắp các trường PTTH và chuyên nghiệp.

Hình thức truyền thông trực tiếp tuy đã đổi mới, song cần chú trọng đến nội dung, chất lượng và kỹ năng truyền thông cho đối tượng.

Dư luận xã hội cón có thành kiến với vị thành niên trong việc tìm hiểu về SKSS/SKTD Còn có các ý kiến khác nhau trong việc cung cấp thông tin SKSS/SKTD cho vị thành niên Nhiều người cho rằng việc cung cấp thông tin và tư vấn cho VTN về chăm sóc SKSS/SKTD và KHHGĐ là vẽ đường cho hươu chạy; Các bạc cha mẹ của VTN né tránh, không chú ý cung cấp thông tin cho con cái, thậm chí không quan tâm đến những thây đổi tâm lý, sinh lý của con…

Truyền thông đại chúng tuy đã đổi mới, xây dựng nhiều mô hình, nhiều cách thức, nhiều nội dung song chưa kịp thời và chưa cập nhật tính thời sự Nhiều lúc làm cho người dân hiểu sai các chính sách về DS-KHHGĐ.

- Công cụ kinh tế

Trong thời gian qua Nghệ An đã chú trọng đến đầu tư cho công tác dân số, nhưng nguồn kinh phí còn quá ít, chỉ đủ để tổ chức các mô hình mang tính thí điểm, chưa đủ để chi cho mô hình nhân rộng và mang tính chiều sâu; khen thưởng và xử phạt chưa phù hợp với giá cả thị trường nên chưa thu hút được người dân và các tổ chức thực hiện nghiêm túc Chế độ, phụ cấp cho đội ngũ làm công tác Dân số cơ sở quá thấp, trong khi yêu cầu công việc cấp trên là rất cao, vì vậy thường không đạt được mục tiêu đề ra

Bên cạnh đó, Việt nam hiên nay đã thoát nghèo, nên các chường trình đầu tư

từ các tổ chức nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ đã bị cắt giảm, trong đó có chương trình đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ cũng bị cắt giảm Chính vì vậy, nguồn kính phí sử dụng để mua các BPTT phi lâm sàng và lâm sàng dùng để cấp miễn phí cho đối tượng sử dụng cũng hạn chế hơn.

- Công cụ hành chính – tổ chức

Trang 17

Hiện nay chưa ban hành được Luật dân số, chưa có sự ràng buộc chặt chẽ giữa những người sử dụng lao động và người lao động, đặc biệt là sự quản lý đội ngũ cộng tác viên, chuyên trách Dân số xã Đồng thời, hình thức xử lý vi phạm cán

bộ, đảng viên và ngươi dân chưa thật nghiêm minh, còn để một số bộ phận không nhỏ Đảng viên, cán bộ vi phạm chính sách rồi lách luật và không làm gương nên người dân vi phạm chính sách DS-KHHGĐ cũng rất nhiều.

Song đội ngũ cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ cấp xã, phường, thị trấn vẫn chưa được tuyển dụng thành viên chức y tế nên đã tác động không nhỏ tới tâm lý, thái độ và động lực làm việc của đội ngũ trực tiếp làm công tác tuyên truyền vận động này.

- Công cụ kỹ thuật

Thời gian qua, các dịch vụ kỹ thuật về CKSKSS-KHHGĐ đã được chú trọng, song chất lượng các dịch vụ chăm sóc SKSS, chất lượng các thủ thuật, các BPTT lâm sàng và phi lâm sàng chưa cao và chưa bao phủ được tất cả các đối tượng, mới chỉ quan tâm hơn đến các vùng giáo, vùng biển, vùng có mức sinh cao Các PTTT miễn phí như bao cao su và viên uống tránh thai phải tiến tới tiếp thị xã hội, trong khi đó Nghệ An vẫn đang là tỉnh ngheo thì công tác tiếp thị xã hội sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

* Nguyên nhân

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Về phía chính quyền Trung ương

Việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp hành chính, việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách xã hội khác thiếu chặt chẽ, đã làm cho người dân hiểu sai về các quy định đối tượng được sinh con thứ 3 + ;

Bộ máy làm công tác Dân số/KHHGĐ và đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số/KHHGĐ ở cơ sở thiếu ổn định Từ năm 1989 đến nay, 3 lần thay đổi tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là việc giải thể Uỷ ban DS-GĐ-TE từ tháng 8/2007 ở TW, nhưng 10 tháng sau mới kiện toàn ở địa phương có ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ tới kết quả thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ.

Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, nhất là ở cơ sở, những người trực tiếp

Trang 18

làm công tác tuyên truyền vận động, chưa được ổn định, các điều kiện đảm bảo, nhất là chính sách cho cán bộ cơ sở quá thấp; cán bộ chuyên trách cấp xã còn làm việc theo chế độ hợp đồng thời vụ (chưa có các chế độ bảo hiểm), Cộng tác viên dân số chế độ phụ cấp quá thấp nên chưa thật sự gắn bó, tâm huyết, nhiệt tình với công việc được giao.

Nguồn lực đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở còn thấp, chưa tương xứng với các yêu cầu và mục tiêu đặt ra trong công tác DS- KHHGĐ.

+ Về phía chính quyền địa phương

Do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược, tính chất khó khăn, phức tạp của công tác Dân số nên một số cấp uỷ Đảng, chính quyền đã quan tâm chưa đúng mức, có nơi đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác Dân số; Một số địa phương có biểu hiện chủ quan thoả mãn với những thành công của công tác Dân số; Đầu tư nguồn lực cho công tác Dân số chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế

Chưa triển khai ký cam kết không vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đối với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, cán bộ, công nhân viên chức, đảng viên trên toàn địa bàn của Nghệ An, chỉ có quy định về xử lý vi phạm chính sách DS- KHHGĐ và hình thức chủ yếu là vận động người dân không vi phạm chính sách DS-KHHGĐ nên chưa thật sự có phương pháp răn đe người dân có ý định sinh con thứ 3 +

Chế độ khen thưởng về thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ còn thấp làm giảm động lực phấn đấu ở các địa phương đồng thời hình thức xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ quá nhẹ.

Hỗ trợ kinh phí địa phương cho hoạt động DS - KHHGĐ còn quá hạn hẹp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác DS-KHHGĐ.

+ Về phía các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội khác

Đến nay, một số tổ chức chưa ban hành nội quy, quy chế hoặc bằng các hình thức khác để thực hiện mục tiêu chính sách dân số trong cơ quan, trong hệ thống tổ chức của mình, một số địa phương chưa cụ thể hoá một số chính sách, chế độ phù

Trang 19

hợp với đặc điểm của địa phương để thực hiện mục tiêu chính sách dân số, các cơ quan, tổ chức nói chung chưa tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật về dân số, như xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác, tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp, đưa chỉ tiêu thực hiện công tác dân số vào kế hoạch hoạt động thường xuyên, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện mục tiêu, chưa đưa việc ký cam kết thực hiện tốt chính sách dân số -KHHGĐ vào đầu năm nên không có căn cứ để xử lý vi phạm.

Tác dụng tiêu cực do việc chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền Pháp lệnh Dân số của các tổ chức khác đã tác động đến nhận thức của nhân dân và cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu giảm sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Việc bình luận thiên lệch về quyền không gắn liền với nghĩa vụ công dân đã tạo dư luận xã hội, làm cho nhân dân chỉ chú ý đến quyền do mình tự nguyện quyết định Việc suy diễn quyền đồng nghĩa với thoải mái, tự do, không hạn chế và không

bị phạt đã tạo dư luận xã hội, làm cho các cơ quan, tổ chức dao động, chần chừ trong việc ban hành chính sách khuyến khích, không khuyến khích và thực hiện các biện pháp hành chính, chưa xử lý nghiêm, triệt để cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ đang là yếu tố thúc đấy gia tăng mức sinh, điều này đã tác động xấu đến phong trào vận động quần chúng nhân dân thực hiện chính sách Dân

số - KHHGĐ.

Mặc dù việc suy diễn là không đúng với bản chất về quyền của công dân được quyết định tự nguyện và có trách nhiệm, với tính thống nhất của hệ thống pháp luật nước ta Mặc dù các hành vi là cố tình hay vô ý trong phạm vi hẹp, song cũng tạo nên dư luận xã hội không thuận cho việc thực hiện mục tiêu chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian qua Song việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật vẫn chưa được thực hiện tốt.

+ Về phía người dân

Tư tưởng trọng nam khinh nữ, tâm lý tập quán muốn có đông con, nhiều cháu, phải có con trai để nối dõi tông đường (tư tưởng nhất nam viết hữu thập nữ

Trang 20

viết vô, có con trai để đi vào nơi thờ tự), làm nương rẫy, chăm sóc bố mẹ khi về già Bên cạnh đó, hiện nay ở nước ta chế độ an sinh người già chưa đảm bảo.

Đồng thời, những yếu tố kinh tế - xã hội và lối sống vẫn tạo ra nhu cầu đông con, có con trai (thực tế thời gian qua, những cặp vợ chồng có con một bề, có hai con gái đã sinh con thứ ba trở lên chiếm tỷ lệ chủ yếu).

Chẩn đoán thai nhi bất hợp pháp, đặc biệt là siêu âm loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính, và điều kiện kinh tế thấp là nguyên nhân khó khăn phức tạp và lâu dài trong việc thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng cao chất lượng dân số

Số phụ nữ bước vào chu kỳ sinh đẻ tăng đột biến ở nhóm tuổi có tỷ lệ mắn

đẻ "20-29 tuổi" cao nhất, trung bình cứ một phụ nữ bước ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì

có 2,5 phụ nữ bước vào.

Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mức sinh và sinh con thứ 3 + cao và còn có xu hướng tăng nhanh.

- Nguyên nhân khách quan

+Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Phương thức sản xuất còn lạc hậu và một số công việc nặng nhọc các ngành kinh tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp đòi hỏi sức lao động động của nam giới.

Chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi còn hạn chế, chưa đồng bộ Chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho gia đình sinh con một bề là gái.

Vai trò vị trí người phụ nữ trong gia đình và xã hội còn hạn chế, còn tình trạng mất bình đẳng giới trong xã hội Nhiều cơ quan khi tuyển dụng cán bộ thường đưa ra tiêu chí lựa chọn giới tính như “ưu tiên nam giới”.

Gia đình quy mô nhỏ cũng tạo áp lực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 – 2 con, điều này đã tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng: vừa mong muốn có

ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai.

+ Sự phát triển của khoa học công nghệ

Khả năng chẩn đoán giới tính thai nhi sớm qua các hình thức: siêu âm, chọc

ối, sinh thiết gai rau và các biện pháp áp dụng kỹ thuật cao khác; khả năng lựa chọn

Trang 21

phôi trong quá trình thụ tinh nhân tạo đang diễn ra khá phổ biến nên làm tăng mất cân bằng giới tính khi sinh.

+ Văn hóa truyền thống

Do tâm lý ưa thích con trai của người dân sòn phổ biến; phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên, có con trai để nối dõi tông đường, tư tưởng trọng nam khinh nữ, sinh con dự phòng mà không nghĩ tới hệ lụy sâu xa Bên cạnh đó, điều kiện tự nghiên khắc nghiệt, cuộc sống của con người khổ sở, quanh năm vất vả nên cứ nghĩ có thêm con để nương tựa tuổi già…Tất cả những vấn đề này đều ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và

tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Chương 3: Từ phân tích điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân trên và căn cứ vào

phương hướng hoàn thiện các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ tại Nghệ An nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + , tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ như sau:

- Hoàn thiện các công cụ truyền thông – giáo dục và tâm lý:

+ Tăng cường, đổi mới truyền thông vận động, giáo dục chuyển đổi hành vi

+ Tăng cường đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số ở cơ sở.

+ Nâng cao động lực cho cán bộ Dân số-KHHGĐ cơ sở.

- Hoàn thiện các công cụ kinh tế:

+ Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân

+ Khuyến khích, khen thưởng đối với các xã, phường, thị trấn:

+ Đầu tư kinh phí và sử dụng kinh phí

- Hoàn thiện các công cụ hành chính - Tổ chức:

+ Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức & quản lý

+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách Dân số-KHHGĐ

+ Xử lý vi phạm

- Hoàn thiện các công cụ nghiệp vụ (kỹ thuật):

- Dịch vụ Dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Xã hội hóa trong thực hiện công tác DS-KHHGĐ

Trang 22

Để có thể thực hiện thành công các giải pháp trên cần đảm bảo những điều kiện sau:

- Đối với chính quyền Trung ương

+ Chính Phủ:

+ Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ

- Đối với chính quyền địa phương

- Đối với các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chứcchính trị - xã hội khác

Kết luận: Từ thực tiễn công tác tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An và

đặc biệt trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã thực hiện được các kết quả sau:

- Đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về các công cụ chính sách KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

DS Đã phân tích thực trạng về mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đặc biệt là thực trạng về các công cụ của chính sách DS-KHHGĐ Nghệ An

- Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và

tỷ sinh con thứ 3 + của Nghệ An.

Trang 23

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Gia tăng dân số ngày càng nhanh đã đưa nước ta trở thành nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonexia và Philipin) và đứng thứ 13 thế giới Theo các nhà khoa học của Liên Hiệp Quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km 2 chỉ nên có từ 35 đến 40 người Ở Việt Nam mật độ dân số gần 260 người/km 2 , gấp 6-7 lần so với mật độ chuẩn và gấp 5 lần so với mật độ thế giới, so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần Hiện nay, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm xấp xỉ 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu người trở xuống) Đến nay, diện tích đất canh tác bình quân đầu người ở nước ta chỉ còn dưới 0,1 ha/người, xếp vào những quốc gia có diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp, dưới mức đảm bảo an ninh lương thực rất nhiều Đây

là thách thức lớn khi nước ta có dân số nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và chưa có việc làm còn nhiều Quy mô dân số lớn cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh kèm theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết như nạn phá rừng ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường trầm trọng, giao thông ách tắc, dịch bệnh tăng nhanh

Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác DS-KHHGĐ Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-

KHHGĐ đã chỉ rõ: “ Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội” Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: “Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”.

Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Bên cạnh những thành tựu đó, công tác DS-

Trang 24

KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số rất lớn, dân số Nghệ An hiện nay hơn 3,1 triệu người, đứng thứ 4 so với cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa) và nằm ở tốp 10 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước (Kon tum, Hà Giang, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Trị, Lào Cai, Đắc Nông, Sơn La, Điện Biên), ngày càng có xu hướng gia tăng trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế, trong 10 tỉnh trên thì Nghệ An là tỉnh có quy mô dân

Công tác Dân số của Nghệ An trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, xử lý vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đã có tiến bộ như mức sinh con thứ 3 + đã giảm nhưng vẫn còn cao Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 03 năm

2011, vừa ban hành Quyết định 09-QĐ/TW của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung điều 7, Quy định số 94 -QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xử

lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số kế hoạch hóa gia đình tức nới lỏng

xử lý vi phạm sinh con thứ 3 + Trong thực tế lâu nay sinh con thứ 3 + trong cả nước chủ yếu xuất phát từ việc mong muốn sinh con trai với mục đích nối dõi tông đường, là lao động chính, là trụ cột gia đình thì giờ đây, sau khi Quyết định 09 - QĐ/TW ban hành, hàng loạt phụ nữ là cán bộ, đảng viên đang mang thai và đang có

ý định mang thai là con thứ 3 + Nếu chúng ta không có giải pháp kịp thời thì khó tránh khỏi nguy cơ từ vấn đề bùng nổ dân số Việc gia tăng dân số nhanh có thể tạo

ra thị trường lớn với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, song cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết

Trang 25

việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn

xã hội, tai nạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm đang là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Một số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh

xã hội Cơ cấu dân số đang có những biến đổi quan trọng, chuyển từ “ cơ cấu dân số trẻ” sang “cơ cấu dân số vàng” và xuất hiện “già hóa dân số” Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là những vấn đề hết sức được quan tâm…

Do vậy, hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức

sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ tại Nghệ An là rất cần thiết Giải quyết tốt đề tài trên có

ý nghĩa thiết thực nhằm giảm quy mô dân số, giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ

3 + , từ đó giúp cho chất lượng dân số Nghệ An ngày càng được nâng cao về mọi mặt.

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “hoàn thiện các công cụ chính sách DS

-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An ” làm luận văn tốt nghiệp.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Những nội dung liên quan đến chính sách đối với DS-KHHGĐ nói chung đã được một số tác giả nghiên cứu dưới những góc độ, đối tượng, phạm vi và thời điểm khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài, chuyên đề, khảo sát và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách, báo Nhìn chung, trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + Đây là nguồn tư liệu quí giá giúp tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện các công cụ chính sách

DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An vẫn chưa có tác

Trang 26

giả nào thực hiện Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.

3 Mục tiêu

- Làm rõ cơ sở lý luận của các công cụ chính sách DS-KHHGĐ.

- Phân tích thực trạng các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An.

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các công cụ Chính sách DS-KHHGĐ tại địa

phương

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung: Công cụ của chính sách DS-KHHGĐ tại tỉnh Nghệ An nhằm

giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

+ Thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 – 2011, vì năm

2008 có thay đổi tổ chức bộ máy.

+ Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Chính sách DS-KHHGĐ gồm các công cụ gì?

- Nghệ An đã sử dụng các công cụ chính sách DS- KHHGĐ như thế nào nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?

- Nghệ An cần hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ như thế nào

để giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + ?

Trang 27

6 Phương pháp nghiên cứu

- Khung lý thuyết:

Thực hiện mục tiêu:

- Giảm mức sinh

- Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3+

Truyền thông Giáo dục

Trang 28

- Nghiên cứu định tính: Phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thu

thập, đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê.

- Nghiên cứu định lượng:

Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội, tổng hợp báo cáo thống kê chuyên ngành về mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An? Nguyên nhân? Ảnh hưởng của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An?

Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ người dân, các tổ chức chính quyền, tổ chức y tế địa phương, tổ chức chính trị xã hội về chính sách DS- KHHGĐ

và tác động của chính sách đó đối với mức sinh và tỉ lệ sinh con thứ 3 tại Nghệ An.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Chương 2: Phân tích thực trạng các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An.

Chương 3: Hoàn thiện các công cụ chính sách DS-KHHGĐ nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 + tại Nghệ An.

Trang 29

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH NHẰM GIẢM MỨC SINH

VÀ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3+

1.1 Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan

- Dân số: là một cộng đồng dân cư (hay cộng đồng người) sống trong

một địa phương, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xácđịnh tại một thời điểm cụ thể

Sự hình thành của dân số mang tính lịch sử trong quá trình sản xuất vàtái sản xuất ra con người

Các đặc trưng cơ bản của dân số:

Dân số luôn được tái sinh nhờ quá trình thay thế liên tục các thế hệ cũbằng thế hệ mới do sinh đẻ và tử vong Quá trình tái sinh liên tục gọi là tái sảnxuất dân số

Dân số luôn biến động, có thể tăng hoặc giảm do tác động của yếu tốsinh đẻ, chết, chuyển đi và chuyển đến

Dân số vừa là lực lượng sản xuất nhưng lại vừa là lực lượng tiêu dùngnhững sản phẩm do chính con người làm ra Vì vậy, dân số là chủ thể của xãhội và là động lực của sự phát triển

- Quy mô dân số: là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng

địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định

- Cơ cấu dân số: là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân

tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác

- Kế hoạch hóa gia đình:

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì KHHGĐ bao gồm

Trang 30

những hành động giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt đượcnhững mục tiêu sau đây: Tránh những trường hợp có thai và sinh con ngoài ýmuốn, dự định; Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh; Chủ động thời điểmsinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.

Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằmđiều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không nhữngchỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT nhằm tránh thai ngoài ý muốn

mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con

Theo định nghĩa của Bộ Y tế: KHHGĐ là nỗ lực của Nhà nước, xã hội

để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thờigian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôidạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống củagia đình

Biện pháp KHHGĐ là những thực hành giúp cá nhân hay các cặp vợchồng đạt được các mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh con không mongmuốn; Quyết định được thời gian và khoảng cách sinh con; Sinh một hoặc haicon, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định

Phạm vi của KHHGĐ không đồng nghĩa với kiểm soát và hạn chế sinh

đẻ mà còn bao gồm nội dung điều chỉnh khả năng sinh sản, giải quyết vấn đề

vô sinh đối với các cặp vợ chồng do có những vấn đề thuộc bộ máy và chứcnăng sinh sản

- Công tác dân số: là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động

tác động đến quy mô, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượngdân số

- Mức sinh và các thước đo mức sinh

Để đo lường mức sinh, người ta không so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối về

số trẻ em được sinh ra mà thường dùng các chỉ tiêu tương đối, như: " Tỷ suất

Trang 31

sinh thô"; "Tỷ suất sinh chung", "Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi phụ nữ",

"Tổng tỷ suất sinh" , nghĩa là so sánh số trẻ sinh ra với số dân

+ Tỷ suất sinh thô (Crude Birth Rate, viết tắt là CBR) có đơn vị đo làphần nghìn, biểu thị số trẻ được sinh ra và sống được, tính bình quân trên1.000 người dân trong thời gian một năm Tỷ suất sinh thô tính theo côngthức sau:

+ Tỷ suất sinh chung: Do đặc điểm tự nhiên, việc sinh đẻ liên quan trựctiếp đến phụ nữ chỉ trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi Vì vậy, để đo mức sinhchính xác hơn, cần so sánh số trẻ em được sinh ra trong năm và số phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ, tức là tính "Tỷ suất sinh chung" (General Fertility Rate,viết tắt GFR) GFR có đơn vị đo là phần nghìn và được xác định bởi côngthức sau:

+ Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate, viết tắt là TFR): là số contrung bình của một phụ nữ (hay nhóm phụ nữ) có thể sinh ra sống trong cảcuộc đời của mình nếu họ sinh con theo các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổihiện thời ở một năm xác định

+ Mức sinh thay thế: Là mức sinh mà một nhóm phự nữ (hay 1 phụ nữ)

có vừa đủ số con gái để thay thế mình trong dân số, nghĩa là mỗi một bà mẹ

sẽ sinh ra 1 người con gái đạt đến tuổi sinh đẻ để thay thế mình Khi đạt mứcsinh thay thế, TFR tương đương khoảng 2,1 con

- Tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Số trẻ em sinh ra, sống được trong năm

Số dân trung bình trong năm

Số trẻ em được sinh ra trong năm

Số phụ nữ(15-49)tuổi trung bình

Trang 32

Mục tiêu của Chương trình KHHGĐ Việt Nam là mỗi cặp vợ chồngchỉ nên có 1 đến 2 con, do vậy thường tính tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên để đánhgiá tình hình thực hiện KHHGĐ của một địa phương, đơn vị.

Cách tính như sau:

sinh sè Tæng

n lª trë

ba thø con

lµ sinh Sè

- Trong Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 của Thủ tướngChính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnhDân số và Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 17/3/2011 của Chính Phủ vềsửa đổi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnhDân số đã quy định những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặchai con như sau:

+ "Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai ngườithuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suygiảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thứccủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư

+ Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên

+ Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai contrở lên

+ Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có mộtcon đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi

+ Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cảhai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đãđược Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.+ Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):

Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng(con đẻ)

Trang 33

Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả haingười đã có con riêng (con đẻ) Quy định này không áp dụng cho trường hợphai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.

+ Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng mộtlần sinh"

- Cơ cấu dân số theo giới tính là tỷ trọng số nam trên số nữ của một

tập hợp dân số Cơ cấu dân số theo giới tính được biểu thị bằng tỷ số giớitính Tỷ số giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ em là trai sinh ra sống so với

số trẻ em là gái sinh ra sống trong cũng khoảng thời gian trên cũng một địabàn nhân với 100

Cách tính như sau:

Tỷ số giới tính = x100

÷ nSè

namSèTheo quy luật tự nhiên, tỷ số giới tính khi sinh năm trong khoảng 103đến 107 bé trai trên 100 bé gái là mức bình thường Do tỷ lệ chết của trẻ emtrai cao hơn trẻ em gái (trong trường hợp không có phân biệt đối xử) nên đếntuổi trưởng thành số thanh niên nam và nữ là tương đương nhau

1.1.2 Hậu quả của việc tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ tăng dẫn tới hậu quả vô cùng to lớn

và tác động xấu đến tất cả mọi mặt, như thu thập bình quân đầu người thấp,khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu thập, đặc biệt làm trầm trọngthêm trong việc cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, tệ nạn xã hội , tainạn giao thông, đất rừng, đất ở ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngàycàng ô nhiễm cụ thể như sau:

- Tác động đến kinh tế:

Khi mức sinh cao, trẻ em (nhóm tuổi 0-14) chiếm tỷ trọng lớn trongdân số, dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc cao nên khả năng đầu tư thấp, khả năng sảnxuất kém, thu nhập bình quân đầu người không tăng hoặc tăng rất chậm

Trang 34

Muốn tăng thu nhập bình quân đầu người thì tốc độ tăng GDP phải cao hơntốc độ gia tăng dân số GDP phụ thuộc vào các yếu tố: Tỷ lệ người trong độtuổi lao động, tỷ lệ người hoạt động kinh tế; tỷ lệ người làm việc trong lĩnhvực sản xuất vật chất so với tổng số người đang làm việc.

Đối với nước đang phát triển, để tăng thu nhập bình quân đầu người thìviệc hạ thấp tỷ lệ tăng dân số có ý nghĩa vô cùng quan trọng Các nước đangphát triển hiện nay ở tình trạng thiếu vốn, trình độ khoa học kỹ thuật và quản

lý còn thấp, năng suất lao động thấp, số người chưa có việc làm cao là nhữngyếu tố dẫn đến GDP theo đầu người thấp Nếu tỷ suất sinh vẫn giữ ở mức caothì thời gian để họ vượt qua đói nghèo càng dài

+ Tác động đến tiêu dùng: Ở các nước đang phát triển, quy mô dân số,nhu cầu tiêu dùng cao nhưng lại thiếu vốn, trình độ khoa học kỹ thuật côngnghệ thấp, thiếu lao động có tay nghề cao và năng lực quản lý điều hành cònyếu kém nên sản lượng hàng hóa chưa đáp ứng được nhu cầu

+ Tác động đến tích lũy: Dân số tăng nhanh, mức tiêu dùng lớn, nhất lànhững nước có tỷ lệ phụ thuộc cao Đây là gánh nặng đối với từng gia đìnhcũng như xã hội, bởi tỷ lệ tiêu dùng lớn thì tỷ lệ tích lũy sẽ giảm xuống Tíchlũy giảm sẽ làm giảm khả năng đầu tư Mặt khác, do tỷ lệ dân số phụ thuộclớn nên phải tăng đầu tư cho y tế, giáo dục và các loại phúc lợi xã hội khác

mà lượng đầu tư trực tiếp cho sản xuất giảm đi

Trang 35

15-59 tuổi cũng tăng lên nhanh chóng" Do vậy, số người trong độ tuổi laođộng tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng dân số.

- Tác động đến an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo:

Vấn đề an ninh lương thực nước ta hiện nay đang đứng trước khó khăn

và thách thức không nhỏ Quy mô dân số vẫn còn tiếp tục tăng, số ngườitrong độ tuổi lao động tăng lên nhưng lại thiếu việc làm nên thu nhập củangười dân tăng chậm Mặc dầu Việt nam đã đạt được những thành tựu rất ấntượng về xóa đói giảm nghèo nhưng tỷ lệ các hộ nghèo đói vẫn còn cao, đặcbiệt là ở vùng sâu, vùng xa Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta không thể xemnhẹ vấn đề an ninh lương thực của quốc gia

Hiện tại, Việt nam đứng hàng thứ 2 về xuất khẩu gạo nhưng các nhàkhoa học đã dự báo đến năm 2020 do năng suất đã đạt mực tối đa mà dân sốngày càng tăng thì Việt Nam sẽ không còn khả năng xuất khẩu gạo

Như vậy, trong thời gian tới, tốc độ tăng lương thực và tốc độ tăng dân

số nước ta sẽ xấp xỉ nhau, nên lương thực bình quân đầu người sẽ khó có thểtăng như những năm trước đây Do đó con đường tốt nhất để khắc phục nghèođói, suy dinh dưỡng và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là phải tiếp tụcgiảm tốc độ gia tăng dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số

Trang 36

chật chội, các điều kiện vệ sinh không đảm bảo, nhất là về nguồn nước sinhhoạt Dinh dưỡng kém và môi trường bị ô nhiễm là những điều kiện thuận lợicho bệnh tật tăng lên.

Trong những năm qua, có thể nói hầu hết các bệnh viện nhất là cácbệnh viện tuyến trên, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến Trung ươngđều quá tải, tỷ lệ sử dụng giường ở các bệnh viện hầu hết đều vượt qua con số100%, không ít trường hợp có 2 đến 3 người phải nằm chung 1 giường bệnh

Mật độ dân số quá cao cũng gây trở ngại cho công tác dự phòng của y

tế và công tác phục vụ của hệ thống y tế Những nơi mật độ dân số quá cao,không đủ cán bộ và các phương tiện y tế cần thiết sẽ xẩy ra tình trạng nhiềubệnh nhân không được chăm sóc đầy đủ

Như vậy, quy mô và tốc độ gia tăng dân số tác động tới hệ thống y tế vàchăm sóc sức khỏe ở cả hai khía cạnh: Thứ nhất, nó đặt ra nhu cầu chăm sócsức khỏe của người dân mà ngành y tế phải đáp ứng; thứ hai cùng với các nhân

tố khác nó tạo những gánh nặng về bệnh tật đòi hỏi ngành y tế phải đáp ứng

- Tác động đến giáo dục

Quy mô dân số, tốc độ gia tăng dân số hàng năm phản ánh nhu cầu đihọc của người dân Nếu tốc độ gia tăng dân số ổn định, số lượng trẻ em đếntuổi đi học tương đối ổn định thì việc mở rộng quy mô giáo dục sẽ tạo điềukiện thu hút thêm nhiều trẻ em đến trường Khi đó, tỷ lệ người đi học caohơn, đòi hỏi phải mở rộng quy mô giáo dục với một tốc độ tướng ứng mới cóthể giữ được tỷ lệ người đi học như trước, mặc dù về mặt tuyệt đối, số người

đi học có tăng lên Dân số tăng nhanh không những làm tăng số trẻ em đếntuổi đi học, tăng số học sinh phổ thông mà còn làm tăng nhu cầu học nghề vàđại học Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh sẽ tác động tiêu cực đối với giáodục, tăng tỷ lệ trẻ em thất học, bỏ học

Mặt khác, khi dân số đông, tốc độ tăng dân số quá nhanh, tốc độ tăng

Trang 37

trưởng kinh tế chậm hơn tốc độ tăng dân số nên mức thu nhập bình quân thấp,khả năng đầu tư cho giáo dục thấp và do đó quy mô giáo dục bị hạn chế, chấtlượng giáo dục giảm sút Do số trường, lớp phải mở lớn và gấp, giáo việnphải đào tạo gấp, nhu cầu trang thiết bị giảng dạy quá lớn, sản xuất không đápứng được cả về số lượng lẫn chất lượng nên đã làm giảm sút chất lượng dạy

và học

- Tác động đến môi trường:

Dân số tăng dẫn đến tăng số người tiêu thụ, đòi hỏi phải khai thác tàinguyên nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, do vậy cũng làm môi trường ô nhiễmtrầm trọng hơn Ngược lại, việc hủy hoại môi trường có tác động xấu đến sảnxuất, đến chất lượng của cuộc sống con người

Một hậu quả nữa của gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa nhanhchóng là việc mất đi một cách đáng báo động của quỹ đất nông nghiệp Tăngdân số làm nảy sinh nhu cầu sử dụng đất cho nhà ở và các mục tiêu phục vụcuộc sống của dân cư Sự di cư từ vùng này đến vùng khác và đặc biệt là sự di

cư từ nông thôn ra thành thị cũng là một nguyên nhân quan trọng làm tăng sự

ô nhiễm môi trường Tốc độ đô thị hóa diễn ra quá nhanh cũng tạo ra một mốihọa khác cho môi trường Mật độ dân số tập trung quá đông khiến vấn đề chấtthải ở thành phố bị ứ đọng và môi trường sẽ bị ô nhiễm

Dân số tăng kéo theo ba nạn đói: đói ăn, đói việc và đói chữ, khiếnngười dân phải sống trong cảnh nghèo khó, thiếu việc làm, dốt nát nhanh vàtheo đó là bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc, khủng bố,.…Dễ thấy khidân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn,

và để đảm bảo sinh tồn cho mình, người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, kể

cả phạm tội Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tớiviệc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xungđột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả khôn lường

Trang 38

Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh,

ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc giántiếp Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnhhưởng tới sự tồn vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gì nghi ngờnữa, vấn đề bùng nổ dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc,rộng lớn tới tương lai của cả nhân loại

1.1.3 Các yếu tố làm tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 +

1.1.3.1 Yếu tố chủ quan

- Về phía các cơ quan quản lý nhà nước

Việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp hành chính, việc ban hànhPháp lệnh Dân số và một số chính sách xã hội khác thiếu chặt chẽ, đã làm chongười dân hiểu sai về các quy định đối tượng được sinh con thứ 3+; Tình trạng

xử lý những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên, người dân vi phạm chínhsách DS-KHHGĐ ở một số địa phương, một số thời điểm chưa được chỉ đạo

xử lý nghiêm túc đã có tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện

kế hoạch hóa gia đình và là yếu tố thúc đẩy gia tăng mức sinh và tỷ lệ sinhcon thứ 3+

Tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ từ trung ương đến cơ sởthiếu ổn định: Cụ thể là từ năm 1961 đến nay thì đã có 5 lần đổi tên Saunhững lần thay đổi tổ chức bộ máy như vậy, đã làm cho tâm lý của đội ngũlàm công tác DS-KHHGĐ từ TW đến cơ sở bị xáo trộn cũng như gây hoangmang cho người dân về tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ từ đó đãlàm gia tăng mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+

Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, nhất là ở cơ sở, những người trựctiếp làm công tác tuyên truyền vận động, chưa được ổn định, các điều kiệnđảm bảo, nhất là chính sách cho cán bộ cơ sở quá thấp; cán bộ chuyên trách

Trang 39

cấp xã còn làm việc theo chế độ hợp đồng thời vụ (chưa có các chế độ bảohiểm), Cộng tác viên dân số chế độ phụ cấp quá thấp nên chưa thật sự gắn bó,tâm huyết, nhiệt tình với công việc được giao.

Nguồn lực đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở còn thấp,chưa tương xứng với các yêu cầu và mục tiêu đặt ra trong công tác DS-KHHGĐ

- Về phía chính quyền địa phương

Do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược, tínhchất khó khăn, phức tạp của công tác Dân số nên một số cấp uỷ Đảng, chínhquyền đã quan tâm chưa đúng mức, đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo đối vớicông tác Dân số; Một số địa phương có biểu hiện chủ quan thoả mãn vớinhững thành công của công tác Dân số; Đầu tư nguồn lực cho công tác Dân

số chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế

Chưa triển khai ký cam kết không vi phạm chính sách DS-KHHGĐtrên toàn địa bàn của địa phương, chỉ có quy định về xử lý vi phạm chính sáchDS-KHHGĐ nên chưa thật sự có phương pháp răn đe người dân có ý địnhsinh con thứ 3+

Chế độ khen thưởng về thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ còn thấplàm giảm động lực phấn đấu ở các địa phương đồng thời hình thức xử lý viphạm chính sách DS-KHHGĐ quá nhẹ

Hỗ trợ kinh phí địa phương cho hoạt động DS - KHHGĐ còn quá hạnhẹp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác DS-KHHGĐ

- Về phía các Ban, ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội khác

Đến nay, một số tổ chức chưa ban hành nội quy, quy chế hoặc bằng cáchình thức khác để thực hiện mục tiêu chính sách dân số trong cơ quan, trong

hệ thống tổ chức của mình, một số địa phương chưa cụ thể hoá một số chínhsách, chế độ phù hợp với đặc điểm của địa phương để thực hiện mục tiêu

Trang 40

chính sách dân số, các cơ quan, tổ chức nói chung chưa tổ chức tốt việc thựchiện pháp luật về dân số, như xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế, điều lệhoặc các hình thức khác, tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp, đưa chỉtiêu thực hiện công tác dân số vào kế hoạch hoạt động thường xuyên, kiểmtra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện mục tiêu, chưa đưa việc ký camkết thực hiện tốt chính sách dân số -KHHGĐ vào đầu năm nên không có căn

cứ để xử lý vi phạm

Tác dụng tiêu cực do việc chưa có nhiều kinh nghiệm trong công táctuyên truyền Pháp lệnh Dân số của các tổ chức khác đã tác động đến nhậnthức của nhân dân và cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu giảm sinh vàgiảm tỷ lệ sinh con thứ 3+

Việc bình luận thiên lệch về quyền không gắn liền với nghĩa vụ côngdân đã tạo dư luận xã hội, làm cho nhân dân chỉ chú ý đến quyền do mình tựnguyện quyết định Việc suy diễn quyền đồng nghĩa với thoải mái, tự do,không hạn chế và không bị phạt khi vi phạm chính sách DS-KHHGĐ đã tạo

dư luận xã hội, làm cho các cơ quan, tổ chức dao động, chần chừ trong việcban hành chính sách khuyến khích, không khuyến khích và thực hiện các biệnpháp hành chính, chưa xử lý nghiêm, triệt để cán bộ, đảng viên vi phạm chínhsách Dân số - KHHGĐ đang là yếu tố thúc đẩy gia tăng mức sinh, điều này đãtác động xấu đến phong trào vận động quần chúng nhân dân thực hiện chínhsách Dân số - KHHGĐ

Mặc dù việc suy diễn là không đúng với bản chất về quyền của côngdân được quyết định tự nguyện và có trách nhiệm, với tính thống nhất của hệthống pháp luật nước ta Mặc dù các hành vi là cố tình hay vô ý trong phạm vihẹp, song cũng tạo nên dư luận xã hội không thuận cho việc thực hiện mụctiêu chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian qua Song việc tuyên truyền, phổbiến pháp luật vẫn chưa được thực hiện tốt

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (2006), Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (2006), "Giáo trình Chính sách kinhtế xã hội
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
Năm: 2006
2. Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (2010), Giáo trình Chính sách kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (2010), "Giáo trình Chính sách kinhtế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
Năm: 2010
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2009), Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS- KHHGĐ trong tình hình mới, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2009), "Nghị quyết số 20-NQ/TUngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 2009
4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2012), Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 19/9/2012 của BTV Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2012), "Chỉ thị số 09-CT/TU ngày19/9/2012 của BTV Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thựchiện Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếptục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 2012
5. Tỉnh ủy Nghệ An (2012), Báo cáo số 156-BC/TU ngày 19/9/2012 của Tỉnh ủy Nghệ An về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS- KHHGĐ trong tình hình mới, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh ủy Nghệ An (2012), "Báo cáo số 156-BC/TU ngày 19/9/2012 củaTỉnh ủy Nghệ An về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TUngày 26/6/2009 của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới
Tác giả: Tỉnh ủy Nghệ An
Năm: 2012
6. UBND tỉnh Nghệ An (2010), Quyết định 58/2010/QĐ-UBND ngày 11/8/2010 về chế độ phụ cấp của cán bộ Chuyên trách DS-KHHGĐ cấp xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Nghệ An (2010)
Tác giả: UBND tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
7. Bộ Chính trị (1993), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VII) về chính sách DS-KHHGĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (1993), "Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 củaHội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VII) vềchính sách DS-KHHGĐ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1993
8. Bộ Chính trị (1995), Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bí thủ về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS,KHHGĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (1995), "Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bíthủ về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chínhsách DS,KHHGĐ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1995
9. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Ban Chấp hành Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS & KHHGĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2005), "Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 củaBan Chấp hành Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chínhsách DS & KHHGĐ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
10. Bộ Chính trị (2009), Kết luận số 44 KL/TW, ngày 1/4/2009 của Bộ Chính trị (Khóa X) về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47- NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS & KHHGĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2009), "Kết luận số 44 KL/TW, ngày 1/4/2009 của BộChính trị (Khóa X) về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc tiếp tụcđẩy mạnh thực hiện chính sách DS & KHHGĐ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2009
11. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 4669/QĐ-BYT ngày 13/12/2011 của Bộ Y tế phê duyệt Chương trình hành động truyền thông chuyển đổi hành vi về Dân số - Ké hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế (2011), "Quyết định số 4669/QĐ-BYT ngày 13/12/2011 của BộY tế phê duyệt Chương trình hành động truyền thông chuyển đổi hànhvi về Dân số - Ké hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
12. Bộ Y tế (2004), Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT ngày 06/10/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt chương trình hành động TTGD về chăm sóc sức khỏa và KHHGĐ đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế (2004), "Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT ngày 06/10/2004của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt chương trình hành động TTGD vềchăm sóc sức khỏa và KHHGĐ đến năm 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2004
13. Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), Công tác DS-KHHGĐ Việt Nam – 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), "Công tác DS-KHHGĐ ViệtNam – 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011)
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ
Năm: 2011
14. Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), "Dân số là một trong nhữngyếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ
Năm: 2011
15. Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An (2011), 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011), Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An (2011), "50 năm xây dựng và pháttriển (1961-2011)
Tác giả: Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An
Năm: 2011
16. Trần Thị Trung Chiến (Chủ biên), (2003), Dân số Việt Nam bên thềm thế kỷ XXI, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Trung Chiến (Chủ biên), (2003), "Dân số Việt Nam bên thềmthế kỷ XXI
Tác giả: Trần Thị Trung Chiến (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
17. Nguyễn Đình Cử (2008), Đặc điểm dân số nước ta hiện nay và những khuyến nghị về chính sách, truyền thông. Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường Đại học KTQD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cử (2008), "Đặc điểm dân số nước ta hiện nay và nhữngkhuyến nghị về chính sách, truyền thông
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Năm: 2008
18. Nguyễn Đình Cử - Hà Anh Tuấn (2009),Thay đổi cấu trúc dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số“vàng“ ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về biến đổi cơ cấu dân số, Hà Nội, 6-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cử - Hà Anh Tuấn (2009),"Thay đổi cấu trúc dân số vàdự báo giai đoạn cơ cấu dân số“vàng“ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Cử - Hà Anh Tuấn
Năm: 2009
19. Nguyễn Đình Cử (2011), 50 năm chính sách giảm sinh ở Việt Nam (1961-2011)Thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cử (2011), "50 năm chính sách giảm sinh ở Việt Nam(1961-2011)Thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Nhà XB: NXB Đạihọc Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Năm: 2011
20. Đàm Khải Hoàn (2010), Giáo trình Dân số - Chăm sóc sức khỏe sinh sản, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm Khải Hoàn (2010)
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Mức sinh hàng năm - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.3 Mức sinh hàng năm (Trang 57)
Bảng 2.4: Số trẻ sinh ra là con thứ 3 +  hàng năm trên địa bàn tỉnh - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.4 Số trẻ sinh ra là con thứ 3 + hàng năm trên địa bàn tỉnh (Trang 58)
Bảng 2.3 cho thấy, tỷ suất sinh thô của Nghệ An đang cao và đang tăng nhanh. Theo quy luật tự nhiên, để đạt được mức sinh thay thế thì Tỷ suất sinh thô phải xấp xỉ từ 10 đến 11 ‰ và tương đương với Tổng tỷ suất sinh là 2,1 con - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.3 cho thấy, tỷ suất sinh thô của Nghệ An đang cao và đang tăng nhanh. Theo quy luật tự nhiên, để đạt được mức sinh thay thế thì Tỷ suất sinh thô phải xấp xỉ từ 10 đến 11 ‰ và tương đương với Tổng tỷ suất sinh là 2,1 con (Trang 58)
Bảng 2.5: Tỷ lệ sinh con thứ 3 +  hàng năm của cả tỉnh - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.5 Tỷ lệ sinh con thứ 3 + hàng năm của cả tỉnh (Trang 59)
Bảng 2.6: Ngân sách đầu tư cho hoạt động chuyên môn của chính sách  Dân số - KHHGĐ hàng năm - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.6 Ngân sách đầu tư cho hoạt động chuyên môn của chính sách Dân số - KHHGĐ hàng năm (Trang 65)
Bảng 2.7 : Kết quả khen thưởng công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.7 Kết quả khen thưởng công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm (Trang 66)
Bảng 2.8: Các hình thức xử lý đối với số người vi phạm chính sách dân số-KHHGĐ hàng năm - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 2.8 Các hình thức xử lý đối với số người vi phạm chính sách dân số-KHHGĐ hàng năm (Trang 73)
Bảng 3.1: Danh sách chi trả lương và các khoản đóng góp cho cán bộ  chuyên trách dân số cấp xã năm 2013 - hoàn thiện các công cụ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nghệ an nhằm giảm mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
Bảng 3.1 Danh sách chi trả lương và các khoản đóng góp cho cán bộ chuyên trách dân số cấp xã năm 2013 (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w