1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả vận tải đa phương thức tại xí nghiệp đại lý vận tải và vật tư kỹ thuật – công ty cổ phần dịch vụ vận tải tw

94 440 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 508,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam ÁBOT Xây dựng – hoạt động – chuyển giao EDI Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử IATA Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế FIATA Liên đoàn quốc tế các hiệp h

Trang 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN

TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC 4

1.1 Khái niệm và vai trò của vận tải đa phương thức quốc tế 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của VTĐPT : 5

1.1.3 Vai trò của VTĐPT 7

1.1.4 Các hình thức của VTĐPT trên thế giới: 10

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật trong VTĐPT quốc tế 13

1.1.6 Sự ra đời và phát triển của VTĐPT là một quá trình tất yếu trong sự nghiệp phát triển ngành vận tải 19

1.2 Nội dung của phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức đối với doanh nghiệp 26

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức của doanh nghiệp 26

1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 26

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 29

Sự phát triển của công nghệ thông tin 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI NGOẠI THƯƠNG 32

2.1 Những đặc điểm của công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương có ảnh hưởng đến vận tải đa phương thức 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương 32 2.1.2 Chức năng, lĩnh vực kinh doanh và nhiệm vụ chính của Công ty

Trang 2

2.1.4 Quy trình kinh doanh, quy trình cung cấp dịch vụ 36

2.1.5 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh 38

2.2 Những đặc điểm của Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương có ảnh hưởng đến việc phát triển vận tải đa phương thức 40

2.2.1 Cơ sở vật chất kho bãi 40

2.2.2 Nguồn nhân lực 41

2.2.3 Hệ thống đại lý 42

2.3 Các nhân tố bên ngoài tác động tới việc phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức của công ty cổ phần giao nhận vận tải ngoại thương. .43

2.3.1 Hệ thống kho vận 43

2.3.2 Hệ thống cảng hàng không 44

2.3.3 Hệ thống đường bộ (sắt - ô tô) 46

2.3.4 Hệ thống đường sông 48

2.3.5 Môi trường pháp lý 49

2.3.6 Sự phát triển của công nghệ thông tin 50

2.3.7 Nguồn nhân lực thực hiện kinh doanh 50

2.3.8 Hội nhập kinh tế quốc tế 51

2.4 Thực trạng phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức tại Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương 52

2.4.1 Phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức theo chiều sâu 52

2.4.2 Phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức theo chiều rộng 56

2.5 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức của Công ty 57

Trang 3

2.5.2 Mặt tồn tại trong phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức của

Công ty 57

2.5.3 Nguyên nhân của mặt tồn tại 59

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẬN GIAO NHẬN VẬN TẢI NGOẠI THƯƠNG ĐẾN NĂM 2015 66

3.1.Chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty cổ phần giao nhận ngoại thương trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 66

3.2.Định hướng phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức của Công ty cổ phần giao nhận ngoại thương đến năm 2015 67

3.3 Các giải pháp phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức tại Công ty cổ phần giao nhận ngoại thương trong giai đoạn 2011-2015 69

3.3.1 Nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có và cung cấp thêm các dịch vụ mới 69

3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp 70

3.3.3 Tăng cường hoạt động marketing 73

3.3.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động vận tải đa phương thức 75

3.3.5 Liên kết với doanh nghiệp cùng ngành ở trong và ngoài nước 77

3.4.Một số kiến nghị với Nhà nước 77

3.4.1 Ưu tiên về vốn 77

3.4.2 Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải, xếp dỡ phục vụ cho Vận tải đa phương thức 78

3.4.3 Hoàn thiện chính sách và luật pháp nhằm phát triển có hiệu quả Vận tải đa phương thức 79

Trang 5

Hình 1.1 Cơ cấu mạng vận chuyển đa phương thức 13

Hình 1.2 Hệ thống phân phối vật chất Logistics 20

Hình 2.1 Kết quả doanh thu và lợi nhuận cung cấp dịch vụ vận tải của công ty 35

Hình 2.3 Cơ cấu lao động theo trình độ lao động 42

Hình 2.4 Kết quả doanh thu và lợi nhuận cung cấp dịch vụ vận tải của công ty 53

Hình 2.5 Doanh thu dịch vụ vận tải đa phương thức : đvt: tỷ đồng 53

Hình 2.6 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ VTĐPT: 54

Hình 3.1 Xếp hạng lượng hàng xuất của Công ty với một số hãng hàng không 68

Hình 3.2 Cơ cấu lao động theo trình độ lao động 72

Trang 6

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BOT Xây dựng – hoạt động – chuyển giao

EDI Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử

IATA Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế

FIATA Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận

ICD Cảng thông quang hàng hóa nội địa

ODA Vốn viện trợ phát triển chính thức

MTO Người kinh doanh vận tải đa phương thức

VINATRAN

S

Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương

VIFAFFAS Hiệp hội giao nhận Việt Nam

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hoá nền kinh tế đã khiến cho người gửi hàng và người nhậnhàng hợp nhất và liên kết trở thành những công ty đa quốc gia, kinh doanhvới phạm vi trên toàn cầu Những công ty đa quốc gia này có ảnh hưởngmạnh mẽ tới nhu cầu hàng hoá cần trao đổi trên toàn thế giới Chính vì vậy,khi kinh doanh, điều mà những công ty này cần là một hệ thống vận chuyển

và mạng lưới kho vận được thực hiện một cách hoàn hảo và mau chóng.Ngày nay,những công ty giao nhận nhận thấy sự cần thiết phải hình thànhnên một mạng lưới kết hợp với những công ty giao nhận khác cũng như làcác công ty giao nhận đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa để phục vụtốt hơn và đầy đủ hơn những khách hàng lớn này, bởi vì vai trò trọng yếucủa hệ thống hậu cần (Logistics system) là hỗ trợ trong quá trình sản xuất,tiêu dùng và phân phối Mạng lưới vận chuyển này đã dẫn đến một sự tậptrung trong sản xuất không chỉ phát triển quy mô của những người kinhdoanh lĩnh vực vận tải mà còn giúp kiểm soát các dịch vụ Logigstics Điều

này cho phép các công ty giao nhận có thể thực hiện dịch vụ kho tới kho

(door to door) một cách hoàn hảo

Luận văn này sẽ thể hiện phần nào những nghiên cứu về vận tải đaphương thức và phát triển dịch vụ này tại Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tảiNgoại Thương Trong khi các nước trong khu vực và trên thế giới khôngngừng cải tiến công nghệ vận tải, đầu tư phát triển Vận tải đa phương thức thì

có thể nói, hiện nay Vận tải đa phương thức ở Việt Nam và tại Công ty Cổphần Giao nhận Vận tải Ngoại Thương chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầuhội nhập kinh tế quốc tế Với việc hội nhập kinh tế thế giới ngày càng mạnh

mẽ , nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả của dịch vụ vận tải nước ta, thìviệc nghiên cứu phát triển hình thức này ở Việt Nam là rất cần thiết

Trang 8

Tình hình nghiên cứu đề tài:

Hiện tại đã có một số đề tài nghiên cứu về vận tải đa phương thức như:

Nâng cao hiệu quả vận tải đa phương thức tại Xí nghiệp đại lý vận tải và vật tư kỹ thuật – Công ty cổ phần dịch vụ vận tải TW, Luận văn tốt nghiệp

đại học Ngoại Thương, năm 2004 của Lê Hữu Trung , và Giải pháp phát triểndịch vụ vận tải đa phương thức ở công ty cổ phần giao nhận vận tải vàthương mại Vinalink, Luận văn tốt nghiệp đại học Ngoại Thương, năm 2009của Nguyễn Thị Vân

Trong các đề tài này đã đưa ra được lý thuyết về vận tải đa phương thứctuy nhiên, phân tích thực trạng và giải pháp còn sơ sài, cho đến nay chưa cóbài luận văn nào viết về VTĐPT tại Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tảiNgoại Thương

Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ khái niệm đặc điểm và và vai trò VTĐPT để từ đó phân tíchnhững ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế, pháp luật trong và ngoài nướcảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngành vận tải đa phương thức nóichung và của Công ty Cổ phần Giao Nhận Vận tải Ngoại Thương

Phân tích thực trạng kinh doanh VTĐPT tại Công ty Cổ phần Vận tải giaonhận Ngoại Thương , từ đó đưa ra giả pháp phát triển VTĐPT của Công ty

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là dịch vụ vận

tải đa phương thức, phạm vi nghiên cứu của đề tài này là dịch vụ vận tải đaphương thức tại công ty vận tải ngoại thương và tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: bằng việc thu thập các thông tin qua sách

báo, qua phương tiện truyền thông, tra cứu trên các trang web điện tử củacác tổ chức, qua các báo cáo và dữ liệu nội bộ của công ty, từ đó đưa ra giảipháp phát triển vận tải đa phương thức tại Công ty cổ phần giao nhận vận tảingoại thương

Trang 9

Luận văn được chia làm 3 phần:

Chương I : Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức Chương II: Thực trạng dịch vụ vận tải đa phương thức ở Việt Nam và Công ty cổ phần giao nhận vận tải ngoại thương

Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức tại Công ty cổ phận giao nhận vận tải ngoại thương đến năm 2015

Trang 10

ký nhiều hợp đồng vận tải khác nhau đồng thời được cung cấp nhiều loạichứng từ vận tải khác nhau ( hình thức vận tải này còn gọi là vận tải đứt đoạn-Segmenter Transport) Tuy nhiên, hình thức tổ chức vận tải trên đã có nhiềubiến đổi, VTĐPT ra đời và được định nghĩa theo Công ước quốc tế của Liênhợp quốc về chuyên chở hàng hoá bằng VTĐPT quốc tế năm 1980 như sau:

“Vận tải đa phương thức quốc tế là chuyên chở hàng hoá bằng ít nhất hai phương tiện vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, từ một địa điểm của một nước, nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức nhận trách nhiệm về hàng hoá, đến một địa điểm được chỉ định

để giao hàng ở một nước khác Các công việc lấy hàng, giao hàng để thực hiện một hợp đồng vận tải đơn phương thức như đã được xác định trong hợp đồng đó, không được coi là vận tải đa phương thức quốc tế”.

Trong khia đó, nghị định số 87/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày ngày

Trang 11

19 tháng 10 năm 2009 quy định: “Vận tải đa phương thức” là việc vận chuyểnhàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở hợp đồngvận tải đa phương thức Ngoài ra nghị định này cũng chia vận tải đa phươngthức thành hai loại:

“Vận tải đa phương thức quốc tế” là vận tải đa phương thức từ nơi ngườikinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam đến mộtđịa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại

“Vận tải đa phương thức nội địa” là vận tải đa phương thức được thựchiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Như vậy, theo Công ước này, VTĐPT được thực hiện chỉ trên một cơ sởchứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chịu trách nhiệm

về hàng hoá trong suốt hành trình chuyên chở từ một địa điểm nhận hàng đểchở ở nước này đến một địa điểm giao hàng ở nước khác, và người này chính

là người kinh doanh VTĐPT Mặt khác, nếu trong một hành trình, dù hànghoá cũng được vận chuyển bằng hai hay nhiều phương thức vận tải nhưng lại

sử dụng hai hay nhiều chứng từ và hai hay nhiều chế độ trách nhiệm củaphương thức vận tải tương ứng thì đó sẽ không còn là VTĐPT nữa mà là vậntải đứt đoạn như đã nêu ở trên

Tuy nhiên, trên thực tế, để đảm bảo cho việc kinh doanh được hiệu quả,chủ hàng vẫn có thể quyết định việc sử dụng phương thức vận tải nào dựa trênyêu cầu chuyên chở của từng loại hàng hoá Chính hiệu quả mà phương thứcvận tải đó mang lại mới là điều mà chủ hàng quan tâm

1.1.2 Đặc điểm của VTĐPT :

Từ định nghĩa về VTĐPT đã nêu ở trên, ta có thể rút ra những đặc điểm

cơ bản khác biệt giữa VTĐPT với các phương thức vận tải truyền thống:

- Trong VTĐPT, có ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau tham giavận chuyển hàng hoá

Trang 12

- Nơi nhận hàng và nơi giao hàng trong VTĐPT thường là ở những nướckhác nhau.

- Trong VTĐPT quốc tế hàng hoá thường được vận chuyển bằng nhữngcông cụ vận tải như Container, pallet, trailer

- VTĐPT quốc tế dựa trên một hợp đồng đơn nhất và được thể hiện trênmột chứng từ đơn nhất, chứng từ đó có thể có những tên gọi khác nhau như:chứng từ vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Document), vận đơnvận tải đa phương thức (Multimodal Transport Bill of Lading) vận đơn vận tảiliên hợp (Combined Transport Bill of Lading) hoặc (B/L for combinedtransport shipment of port to port shipment)

- Trong hành trình VTĐPT chỉ có một người chịu trách nhiệm về hànghoá trong một quá trình vận chuyển – MTO ( Multimodal TransportOperator, người kinh doanh VTĐPT ) – kể từ khi đã nhận hàng để chở cho tớikhi giao xong hàng cho người nhận ở nơi đến, kể cả việc giao hàng chậm ởnơi đến

Như vậy, MTO chịu trách nhiệm đối với hàng hoá theo một chế độ tráchnhiệm nhất định Chế độ trách nhiệm của MTO có thể là chế độ trách nhiệmthống nhất (Uniform Liability System) hoặc chế độ trách nhiệm từng chặng(Network Liability System) tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên

- Trong VTĐPT, MTO hành động như một người uỷ thác chứ khôngphải như đại lý của người gửi hàng hay đại lý của người chuyên chở tham giavào VTĐPT

Như vậy, với những đặc điểm trên, VTĐPT đã dần dần phát triển và đápứng những nhu cầu của chủ hàng cũng như các nhà kinh doanh vận tải tronggiai đoạn khoa học công nghệ vận tải phát triển như hiện nay Một mặt, nógiúp chủ hàng chỉ cần thông qua một đại lý vận tải duy nhất mà vẫn có thểgiao hàng tới tận tay người nhận trong một quá trình vận chuyển qua nhiều

Trang 13

chặng, như qua đường sông, đường biển, đường thuỷ, hàng không Nhờ vậy,mọi chi phí trong quá trình làm thủ tục cũng như các chi phí phụ thêm đượcgiảm bớt một cách đáng kể, đồng thời hạn chế đến mức tối đa các rủi ro cóthể phát sinh Mặt khác, đối với người kinh doanh vận tải đa phương thức,bằng việc kết hợp các phương thức vận tải lại, tổ chức lại thành một phươngthức thống nhất, việc tổ chức vận chuyển trở nên đơn giản hơn, mọi thủ tụctiến hành khi làm việc với hải quan, với chủ hàng cũng không còn phức tạpnhư trước Về mặt kinh doanh, người kinh doanh VTĐPT còn có thêm mộtphương thức vận chuyển mới để đáp ứng một cách nhanh chóng và thuận tiệntrong hoạt động phục vụ khách hàng.

1.1.3 Vai trò của VTĐPT

Không chỉ đối với các bên tham gia trong quá trình vận tải (người chủhàng, người giao nhận, người vận chuyển) nói riêng và với xã hội nói chung,VTĐPT có một vai trò hết sức quan trọng bởi những hiệu quả mà nó manglại Bằng cách tổng hợp các ưu điểm, lợi ích của việc chuyên chở hàng hoábằng container, của việc gom hàng (Consolidation) và phương pháp chở suốt(Through Transport), vai trò của VTĐPT thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

- Tạo ra một đầu mối duy nhất trong việc vận chuyển từ cửa đến cửa(door to door) Người gửi hàng chỉ cần liên hệ với một người duy nhất làMTO trong mọi việc liên quan đến vận chuyển hàng hoá bằng nhiều phươngthức vận tải khác nhau, kể cả việc khiếu nại đòi bồi thường, mất mát, hư hỏngcủa hàng hoá

- Tăng nhanh thời gian giao hàng Đạt được điều này do giảm được thờigian chuyển tải và thời gian hàng hoá lưu kho tại các nơi chuyển tải nhờ có kếhoạch phối hợp nhịp nhàng giữa các phương thức vận tải tạo thành một thaotác duy nhất (Single Operation) Trên nhiều tuyến đường VTĐPT, tổng thờigian vận tải được giảm đáng kể so với vận tải đơn phương thức

Trang 14

- Giảm chi phí vận tải Nhờ sự kết hợp của hai hay nhiều phương thứcvận tải mà giảm được thời gian hay chi phí vận tải Đặc biệt, việc kết hợpgiữa vận tải đường biển và vận tải hàng không đang được nhiều công ty sửdụng Việc giảm chi phí vận tải được thực hiện bởi các tiết giảm sau:

+ Giảm cước vận tải: giảm cước vận tải đường sắt, đường bộ theonguyên tắc cước được tính theo từng đơn vị xe, không phân biệt loại hàng.Trong vận tải biển cũng vậy, cách tính giá cước chung FAK(Freight for allkinds) cũng dần dần trở thành thông dụng, có lợi cho người gửi hàngContainer, giá cước có thể không lệ thuộc vào loại hàng hoá Với sự phát triểncủa vận tải Container, vận tải đường bộ được nối với vận tải đường biển từkho bãi đến kho bãi (CY to CY), vì vậy có cơ hội để giảm chi phí vận tảixuyên qua biển và đất liền

+ Giảm chi phí đóng gói: do hàng hoá VTĐPT chủ yếu chuyên chở làhàng Container, vì vậy Container hoá đã dẫn đến việc giảm thiểu chi phí đónggói Tuy nhiên, điều quan trọng là vẫn phải lưu ý đúng mức đến cách chất xếphàng bên trong, cách đóng riêng lẻ có lưu ý đặc tính riêng của hàng hoá, sựthay đổi trong quá trình vận chuyển để tránh hư hỏng

+ Giảm phí bảo hiểm hàng hoá đường biển Một cách tổng quát, chuyênchở bằng VTĐPT có công dụng tránh hoặc giảm những thiệt hại, rủi ro như mấtcắp, không giao hàng, ẩm, bẩn Từ đó, người gửi hàng hoặc người nhận hàng đãđạt được kết quả tốt trong vận tải bằng cách chất hàng và có kế hoạch đóng góicẩn thận, đồng thời phí bảo hiểm phải chịu cũng vì thế sẽ hạ thấp theo

+ Tiết kiệm phí lưu kho ở cảng: vận chuyển bằng VTĐPT đã loại bỏđược những công việc như lưu trữ hoặc gom nhóm hàng ở kho cảng, dẫn đếngiảm phí lưu kho và những chi phí phát sinh khác

+ Giảm được lãi phải nộp và tích tụ được vốn sẵn có Trong VTĐPT,MTO thường sử dụng tàu Container có tốc độ nhanh và đến đúng lịch trình,

Trang 15

kết quả là thời gian vận tải ngắn hơn Từ đó, người nhập khẩu có thể thu hồivốn đã đầu tư do việc mua hàng tiến hành nhanh hơn, thêm vào đó, tiết giảmđược lãi phát sinh phải trả Người xuất khẩu có thể được hưởng thủ tục hảiquan nhanh hơn, đơn giản hơn và thời gian tàu chạy chính xác cho phép họnhận chứng từ vận tải và rút hối phiếu chứng từ sớm hơn, tất cả đều có lợi cho

họ để được thu nhập xuất khẩu nhanh hơn trước

- Đơn giản hoá chứng từ và thủ tục VTĐPT sử dụng một chứng từ duynhất là chứng từ VTĐPT hoặc vận đơn đa phương thức Các thủ tục hải quan

và quá cảnh cũng được đơn giản hoá trên cơ sở các hiệp định, công ước quốc

tế hoặc khu vực hai bên hay nhiều bên

- VTĐPT tạo ra điều kiện tốt hơn để sử dụng các phương thức vận tải,công cụ xếp dỡ và cơ sở hạ tầng, tiếp nhận công nghệ vận tải mới và quản lýhiệu quả hơn hệ thống vận tải

- Cải tiến dịch vụ khách hàng VTĐPT là dịch vụ tốt hơn cho kháchhàng, cho những đối tác làm xuất nhập khẩu nói chung và đặc biệt là: giaohàng nhanh hơn Sau khi kí một hợp đồng thương mại với nước ngoài, điềuquan tâm chính của khách hàng là hàng hoá có đến đúng lịch, trong tình trạngtốt hay không? Để đảm bảo thời gian vận tải, sự cạnh tranh giữa những ngườikhai thác VTĐPT để có hàng hoá ngày càng mạnh hơn Những người khaithác đã đưa cam kết trong thương vụ để đảm bảo thời hạn nhất định

- VTĐPT tạo ra những dịch vụ vận tải mới, góp phần giải quyết công ănviệc làm cho xã hội

Để tính toán hiệu quả của VTĐPT trên một hành trình nào đó so với vậntải đơn phương thức (Unimodal Transport) hoặc vận tải đứt đoạn (SegmentedTransport), người ta không chỉ đơn thuần so sánh chi phí đã bỏ ra mà còn phảitính toán đến tính an toàn của hàng hoá, khả năng giao hàng kịp thời và tínhthuận tiện mà mỗi phương án vận tải đem lại VTĐPT đáp ứng được nhu cầu

Trang 16

của đa số chủ hàng là chỉ muốn quan hệ với một người chuyên chở, mộtchứng từ vận tải và một chế độ trách nhiệm.

Tuy vậy, phát triển VTĐPT đòi hỏi phải đầu tư khá lớn cho cơ sở hạtầng như đường sá, cầu cống, ga cảng, bến bãi, trạm đóng gói, giao nhậnContainer, phương thức vận tải xếp dỡ Đây là một trở ngại lớn đối với cácnước đang phát triển Bởi, ví dụ như, để xây dựng một trung chuyển cảngContainer quốc tế, nếu không có sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và liêndoanh với nước ngoài thì một nước đang phát triển có nền công nghiệp lạchậu, kỹ thuật công nghệ còn non kém thì việc xây dựng một công trình lớnnhư vậy là hết sức khó khăn

1.1.4 Các hình thức của VTĐPT trên thế giới:

- Hình thức vận tải đường biển – vận tải hàng không (Sea – Air )

Hình thức này là hình thức được sử dụng phổ biến trên thế giới, vàthường áp dụng khi vận chuyển hàng hoá có khối lượng lớn Nó kết hợpđược tính kinh tế của vận tải biển và sự ưu việt về tốc độ trong vận tải hàngkhông Hơn nữa, nó đặc biệt hữu ích trong việc vận chuyển những hàng hoáđảm bảo tính thời vụ, giá trị cần được giữ nguyên Ví dụ những hàng hoá cógiá trị cao như đồ điện, điện tử hay những hàng hoá có tính thời vụ cao nhưquần áo, đồ chơi, giày dép

Mô hình này đặc biệt được sử dụng trên tuyến đường Viễn Đông – Châu

Âu, tuyến đường có khối lượng vận chuyển hàng hoá lớn Để chở hàng từ cáccảng biển ở các vùng Viễn Đông tới trung tâm thương mại, công nghiệp vàcác thành phố lớn ở Châu Âu được nhanh chóng, kịp thời, bắt buộc chủ hàngphải sử dụng máy bay để chuyên chở Thay vì mất 8 đến 10 ngày vận chuyểnbằng tàu hoả qua vùng Sibêri rộng lớn, với hình thức này chỉ cần 8 đến 10tiếng khi đi bằng máy bay

Tuy nhiên, để có thể áp dụng mô hình này đòi hỏi phải có một hệ thống

Trang 17

hạ tầng cơ sở phát triển, đó là phải xây dựng các trung tâm chuyển tải Ari Hub) hiện đại về mặt kỹ thuật và trình độ quản lý Điều đó chỉ có thể thựchiện được ở các nước có nền công nghiệp phát triển Chính vì vậy, hiện nayViệt Nam vẫn chưa áp dụng được hình thức vận chuyển này do còn hạn chế

(Sea-về mặt kỹ thuật và khoa học công nghệ

- Hình thức vận tải hàng không – vận tải ô tô (Air - Road)

Trong hình thức vận tải này, người ta sử dụng ô tô để tập trung hàng vềcác cảng hàng không hoặc từ các cảng hàng không chở đến nơi giao hàng ởcác địa điểm khác Hoạt động của vận tải ô tô thực hiện ở đoạn đầu và đoạncuối của quá trình vận tải theo hình thức này có tính linh hoạt cao, đáp ứngcho việc thu gom, tập trung hàng về đầu mối là sân bay phục vụ cho các tuyếnbay đường dài xuyên qua Thái Bình Dương, Đại Tây Dương hoặc liên lục địanhư từ Châu Âu sang Châu Mỹ

- Hình thức vận tải đường sắt – vận tải ô tô (Rail – Road )

Trong hình thức vận tải này, người ta đóng gói hàng trong các trailerđược kéo đến nhà ga bằng các xe kéo gọi là tractor Tại ga, các trailer đượckéo đến các toa xe và chở đến ga đến Khi đến đích, người ta lại sử dụng cáctractor để kéo các trailer xuống và chở đến các địa điểm để giao cho ngườinhận Hình thức này cũng được sử dụng rộng rãi nhờ khả năng kết hợp đượctính an toàn và tốc độ của vận tải đường sắt và tính cơ động của vận tải ô tô

- Hình thức vận tải đường sắt - đường bộ – vận tải nội thuỷ – vận tải đường biển (Rail – Road – Inland waterway – Sea )

Đây là một một hình thức rất phổ biến trong VTĐPT bằng Container,dùng để chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu mà không có yêu cầu gấp vềthời gian vận chuyển Hàng hoá được vận chuyển bằng đường sắt, đường bộhoặc đường nội thuỷ đến cảng biển của nước xuất khẩu sau đó được vậnchuyển bằng đường biển tới cảng của nước nhập khẩu, rồi từ đó vận chuyển

Trang 18

đến người nhận ở tận sâu trong nội địa bằng đường bộ, đường sắt hoặc vận tảinội thuỷ.

- Hình thức vận tải hàng không - đường bộ - đường sắt - đường biển (Air – Road – Rail – Sea )

- Hình thức hàng không - đường sắt - đường biển (Air – Rail – Sea )

- Hình thức vận tải đường bộ - đường biển - đường bộ (Road – Sea – Road )

Hình thức này tương tự với hình thức vận tải Rail – Road – InlandWaterway – Sea

- Hình thức cầu lục địa (Land Bridge)

Theo hệ thống này, hàng hoá được vận chuyển giữa hai vùng biển (đạidương) qua một lục địa như là một cầu đất liền nối liền hai vùng biển đó vớinhau, tức là theo hình thức đường biển - đường bộ - đường biển Ưu điểm củahình thức này là giảm được đáng kể thời gian và quãng đường vận chuyểnhàng hoá Trên thế giới hiện nay, khi vận chuyển hàng hoá giữa Châu Âuhoặc Trung Đông và Viễn Đông qua lãnh thổ các nước thuộc Liên Xô cũ,người ta sử dụng hệ thống vận tải Container bằng đường sắt xuyên quaSiberia Theo tuyến đường này, khoảng cách giữa Châu Á và Châu Âu đượcrút ngắn còn 13.000 km vận chuyển bằng đường biển qua kênh đào Xuyê

- Hình thức Mini Bridge

Đây là một hình thức vận chuyển các Container bằng tàu biển đi từ mộtcảng của nước này đến cảng của nước khác sau đó lại vận chuyển bằng đườngsắt đến một thành phố cảng thứ hai của nước đến theo một vận đơn đi suốt dongười chuyên chở đường biển cấp

- Hình thức Micro Bridge

Hình thức này tương tự như Mini Bridge, chỉ khác là nơi kết thúc hànhtrình không phải là một thành phố cảng mà là trung tâm công nghiệp,thương mại trong nội địa

Trang 19

Qua các hình thức trên của VTĐPT, ta có thể thấy cơ cấu mạng vậnchuyển đa phương thức được thực hiện như sau:

Nội địa Cảng Đường biển Cảng Nội địa

Hình 1.1 Cơ cấu mạng vận chuyển đa phương thức.

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật trong VTĐPT quốc tế

1.1.5.1 Các phương thức vận tải trong VTĐPT

- Vận tải Container trong VTĐPT

Có thể nói việc ra đời của vận tải Container là một cuộc cách mạng trongvận tải quốc tế, là chiếc cầu nối để liên kết các phương thức vận tải thành mộtthể thống nhất phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá trong Container Quátrình vận chuyển hàng hoá từ kho người gửi hàng đến kho cảng xuất hàng sau

đó vận chuyển đến ga cảng nhận và đến kho người nhận hàng (như sơ đồ ởphần 1.1.4 đã miêu tả) thường có sự tham gia của vận tải ô tô, đường sắt,đường sông, đường biển, hàng không

Sự tham gia của các phương thức vận tải trong quá trình vận chuyểnhàng hoá bằng Container tạo nên những mối quan hệ và tác động lẫn nhaugiữa chúng, đặc biệt ở đầu mối vận tải Việc phối hợp chặt chẽ giữa cácphương thức vận tải có một ý nghĩa quan trọng Để đạt hiệu quả kinh tế caocũng như đáp ứng được yêu cầu của người gửi hàng, người nhận hàng trongquá trình vận chuyển Container với sự tham gia của nhiều phương thức phảiphối hợp sử dụng hợp lý các phương tiện kỹ thuật ở cảng xếp dỡ, tổ chức hợp

lý các luồng ô tô, toa tàu, đảm bảo hệ thống thông tin thông suốt để quản lýtoàn bộ quá trình vận chuyển một cách thống nhất

Người

gửi hàng

Người nhận hàng

Trang 20

Vận tải Container có tính ưu việt rõ ràng so với phương pháp vận chuyểnbằng bao gói thông thường do đó nó chiếm một vị trí quan trọng không thểthiếu được trong VTĐPT Hiệu quả mà vận tải Container mang lại cũng chính

là hiệu quả kinh tế của VTĐPT

- Vận tải đường bộ trong VTĐPT:

Để đảm bảo an toàn và chất lượng trong vận chuyển hàng hoá của hệthống VTĐPT trên đường bộ, các tuyến đường phải đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.Trong điều kiện của nước ta, theo tiêu chuẩn thiết kế cầu đường Việt Nam, cáctuyến đường bộ phục vụ cho VTĐPT phải đạt từ cấp 3 trở lên mới đảm bảo antoàn cho việc vận chuyển các Container 20’, 40’ (tức là mặt đường được trảinhựa hoặc bê tông có thể chịu được trọng tải của các loại xe từ 20 tấn trởxuống); còn trọng tải cho phép của cầu phải đạt tiêu chuẩn H.30 đi qua (tức làcầu phải đủ khả năng cho phép ô tô chở hàng có tải trọng 35 tấn đi qua)

Trên các tuyến đường bộ, để đảm bảo an toàn cho xe cộ đi lại khi chở hàngthì khoảng không từ mặt cầu, mặt đường tới vật cản thấp nhất (ví dụ như thanhngang cầu chạy dưới đáy hầm cầu vượt đường bộ, cổng cầu hãm, các loạiđường ống, máng dẫn nước) phải đủ tiêu chuẩn có độ cao từ 4,5 m trở lên

Những tiêu chuẩn của cơ sở hạ tầng đường bộ còn phải chú ý tới cả bánkính cong và độ dốc của đường Đối với các tuyến đường núi, bán kính congtối thiểu là 130 m, độ dốc khoảng từ 6-7%

Như vậy cơ sở hạ tầng của vận tải đường bộ phải đảm bảo các độ tiêuchuẩn, quy định về mặt kĩ thuật mới đem lại hiệu quả cho VTĐPT

- Vận tải đường sắt trong VTĐPT

Cơ sở hạ tầng của vận tải đường sắt liên quan đến VTĐPT là các côngtrình đường sắt như: đường ray, nhà ga, thiết bị, bãi chứa hàng

- Các tuyến đường sắt: thường xây dựng theo các khổ khác nhau: loạikhổ hẹp 1 m và loại khổ rộng 1,435 m Loại khổ đường nào cũng thích ứngđược trong VTĐPT

Trang 21

- Thiết bị vận chuyển là các toa xe đường sắt cần phải đảm bảo tiêuchuẩn tải trọng trục tối đặc điểm Sức chở của toa xe phụ thuộc vào trục của

nó, mặt khác tác động tới nền đường cũng ảnh hưởng ở mức độ khác nhau tuỳtheo số lượng trục toa xe

- Trong các đối tượng thuộc cơ sở hạ tầng của vận tải đường sắt còn cócác ga phân loại và chứa hàng, các bãi chứa Container đường sắt nội địa Cácbãi chứa hàng cần phải trang bị đầy đủ phương tiện và bố trí khu vực chuyểntải thích hợp để khi xếp các Container lên các toa xe hoặc khi dỡ xuống nhanhchóng, thuận tiện với thời gian tối thiểu Toàn bộ diện tích bãi thải phải đượctính toán đầy đủ về sức chịu tải, xác định số Container có thể chất được, phânchia bãi chứa Container

Như vậy, trong VTĐPT thì những yêu cầu tiêu chuẩn hoá quan trọngnhất là sử dụng các toa xe chuyên dụng, các thiết bị phục vụ thích hợp trêncác ga và bãi chứa hàng

- Vận tải biển trong VTĐPT

Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành vận tải biển liên quan nhiều đến kếtquả hoạt động của VTĐPT cơ sở hạ tầng ở cảng biển, các kho chứa hàng, các

cơ sở phục vụ khác

Cảng biển là một đầu mối giao thông, nơi tập trung, nơi giao lưu của tất

cả các phương tiện vận tải: đường sắt, đường sông, đường bộ, đường biển và

cả đường không Trong VTĐPT, các cảng biển, đặc biệt là các bến Containergiữ vai trò quan trọng Từ các bến Container, hàng được chuyển từ phươngtiện vận tải biển sang các phương tiện vận tải khác lưu lại Các bến cảngContainer khác hẳn các bến khác ở chỗ: hàng lưu kho lưu bãi tại cảng rất ít

mà chủ yếu được chuyển ra khỏi bến càng nhanh càng tốt, tới những trạmchứa Container hoặc tới các cảng nội địa Do yêu cầu của hệ thống VTĐPT,

để có thể di chuyển các Container có năng suất cao, sử dụng quy trình công

Trang 22

nghệ xếp dỡ, vận chuyển thích hợp Xu hướng hiện nay là đưa các bãi chứaContainer cách xa cảng.

- Vận tải thuỷ nội địa trong VTĐPT

Nếu sử dụng các tuyến đường thuỷ nội địa phục vụ cho VTĐPT thì cầnđặc biệt lưu ý đến các luồng rạch trên sông và các bến cảng sông Các luồngphải đủ độ sâu cho các tàu và sà lan chở Container với tốc độ đảm bảo, đểthời gian vận chuyển Container bằng đường thuỷ nội địa không chậm hơn vậnchuyển bằng các phương tiện vận chuyển khác

Các bến cảng sông được sử dụng làm bến chuyên dùng bốc xếpContainer phải được trang bị đầy đủ các thiết bị cần cẩu, xe nâng Nếu lưulượng Container qua bến không nhiều (ít hơn 3.000 chiếc/năm) thì không nên

sử dụng bến Container chuyên dụng mà chỉ kết hợp bốc xếp ở cảng tổng hợp,bởi vì chi phí để xây dựng bến Container là rất lớn

1.1.5.2 Các đầu mối chuyển tiếp và thông tin trong VTĐPT

Cảng cạn (Inland Clearance Deport - ICD)

Đây là loại cảng nằm sâu trong nội địa, có vai trò lớn trong vận tảiContainer và VTĐPT Tiến trình Container hoá đã phát triển rất nhanh cáccảng chuyên dụng Sự ra đời của ICD không hề có tính cạnh tranh ở các cảngbiển chuyên dùng Container, ngược lại nó còn có vai trò quan trọng trong việc

hỗ trợ các cảng chuyên dùng Container

Thực tiễn hoạt động của ICD trên thế giới đã chứng tỏ tầm quan trọngcủa nó đối với các thương cảng lớn, đặc biệt là những cảng có vùng hậuphương trung chuyển (hàng quá cảnh) với lượng hàng thông qua cảng ngàycàng tăng như Hamburg (CHLB Đức), Antwerp (Bỉ), Rotterdam (Hà Lan).Các hoạt động cơ bản của ICD là:

- Hoàn thành các thủ tục hải quan, các Container khi nhập cảng sẽ đượcchuyển ngay tới cảng nội địa để làm thủ tục

Trang 23

- Lưu kho bảo quản hàng hoá trong thời gian đặt dưới sự giám sát củaHải quan.

- Chuyển tiếp các Container sang các phương tiện khác, nơi gom hàng lẻvào Container

- Đóng gói và dỡ hàng

- Giao và nhận hàng

- Bảo quản Container rỗng

- Dịch vụ sửa chữa Container

- Dịch vụ vận chuyển nội địa

- Dịch vụ giao hàng đến tận kho chủ hàng trong khu vực nội địa

- Giám định số lượng hàng hoá

- Đóng gói hàng hoá và phá kiện hàng hoá

- Đánh dấu và kí hiệu hàng hoá, giám định chất lượng và các dịch vụ khác

- Dịch vụ truyền thông

- Hoàn chỉnh các thủ tục chờ xuất cảng

Với những chức năng đó, các cảng Container nội địa vẫn được trang bịnhững thiết bị chuyên dùng phục vụ cho việc đóng và dỡ hàng khỏiContainer

tế về lưu lượng Container cần xếp dỡ thông qua bến cảng, cũng như những

Trang 24

điều kiện riêng của mỗi địa phương mà thiết kế diện tích bến cảng Containercho phù hợp.

Độ sâu của bến cầu tàu đối với cảng Container cỡ lớn phải đảm bảo chotàu Container có sức chở lớn (trên 2000 TEU) vào làm hàng Khả năng tiếpnhận tàu cũng như khả năng thông quan ở các bến cảng Container phải tínhtoán để không xảy ra tình trạng tàu phải chờ xếp dỡ

Trên bến cảng Container chuyên dụng thường được trang bị các thiết bịbốc xếp, nâng chuyển có năng suất xếp dỡ cao Tổ hợp cơ giới hoá xếp dỡContainer trên các bến Container chuyên dụng được thiết kế đồng bộ, đảmbảo quá trình làm hàng cho tàu, bốc xếp, bảo quản và phân loại trên cơ sởmột sơ đồ hợp lý

Thiết lập hệ thống truyền thông dữ liệu (Electronic Data Interchange – EDI )

Hệ thống EDI là phương tiện phục vụ cho việc xử lý, lưu trữ dữ liệu vàliên lạc Trong VTĐPT, việc truyền tin dữ liệu là rất cần thiết Do đó, mỗinước cần phải thiết lập một hệ thống EDI để khai thác và cập nhật tới tất cảcác đại lý trong nước có liên quan, mà còn có thể nối mạng với các nướctrong khu vực, cũng như với mạng của hệ thống thông tin toàn cầu (GlobalInternational Infrastrucure)

Khái niệm về EDI hiện nay còn mới mẻ với các nước đang phát triển.Tuy nhiên, hiện nay hệ thống này đang dần được lắp đặt giữa các công ty, các

bộ phận kiểm toán hoặc những bộ phận có liên quan như hải quan, giao nhận,hãng hàng không, nhà khai thác vận tải Container, các chủ tàu

Có thể thấy rằng, nhu cầu tất yếu để đảm bảo cho hoạt động của VTĐPTđạt hiệu quả là phải thiết lập được hệ thống truyền tin dữ liệu ở mỗi nước vànối mạng với nước khác Đây là những yếu tố không thể thiếu được trong việcphát triển cơ sở hạ tầng của VTĐPT

Trang 25

Thủ tục hải quan trong VTĐPT:

Mục đích của VTĐPT là tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí vận tải.VTĐPT quốc tế là vận tải đi suốt qua lãnh thổ của nhiều nước khác nhau Vìvậy, nếu thủ tục hải quan ở nước gửi, nước đến, nước quá cảnh quá phiền hà

và phức tạp thì mục đích của VTĐPT không những không đạt được mà cònkìm hãm sự phát triển của vận tải và buôn bán quốc tế

1.1.6 Sự ra đời và phát triển của VTĐPT là một quá trình tất yếu trong sự nghiệp phát triển ngành vận tải

Từ khi xuất hiện sự mua bán, trao đổi hàng hoá, con người luôn tìm cáchvận chuyển hàng hoá một cách nhanh chóng và hiệu qủa bằng mọi phươngtiện có thể Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, vận tải cũng đã pháttriển nhanh chóng Con người cũng đã biết sử dụng những loài vật như: lừa,ngựa, voi, lạc đà để làm những phương tiện vận chuyển và đi lại, biết đóngtàu vượt biển để buôn bán với các lục địa khác Đặc biệt là sau khi cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật bùng nổ, các phương tiện chuyên chở hiện đại hơn,hiệu quả hơn lần lượt ra đời như: ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu thuỷ chạy bằngđộng cơ Sự ra đời của những loại phương tiện mới này đã mang lại chongành vận tải một sự phát triển vượt bậc trong chuyên chở những hàng hoá cókhối lượng lớn và với vận tốc ưu việt hơn hẳn

Chính những phương tiện trên đã hình thành những ngành vận tải cụ thểnhư đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, hàng không nhu cầu cần trao đổihàng hoá của con người vẫn không ngừng gia tăng, và ngành vận tải luônluôn cần phải đổi mới để đáp ứng được những nhu cầu đó Trong buôn bánquốc tế, do những yếu tố như vị trí địa lý, hàng hoá thường phải trải qua nhiềuchặng vận chuyển bằng đường thuỷ, hàng không mới đến tay người nhận.Càng nhiều phương thức vận chuyển, các thủ tục khi kí kết hợp đồng vận tảicàng trở nên phức tạp, đồng thời kéo theo mọi chi phí và rủi ro đối với hàng

Trang 26

hoá ngày càng tăng Vì vậy, để đáp ứng một nhu cầu về việc đảm bảo hàngđược giao tận tay cho người nhận trong một khoảng thời gian đã quy định,đơn giản hoá các thủ tục ký kết, thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian và tiềnbạc, phương pháp tốt nhất là tập trung các phương tiện vận tải lại, tổ chứcthành một phương thức thống nhất, và do một người duy nhất chịu tráchnhiệm kể từ khi nhận hàng để chuyên chở cho tới khi giao hàng, VTĐPT đã

và thành phẩm

Hệ thống phân phối vật chất hay còn gọi là “Logistics” là nghệ thuậtquản lý sự vận động của nguyên vật liệu của thành phẩm từ nơi sản xuất đếnnơi tiêu thụ cuối cùng Nói cách khác, Logistics là nghệ thuật quản lý sự vậnđộng của hàng hoá, nguyên vật liệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưukho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa đến tay người tiêu dùng Có thể kháiquát quá trình này theo sơ đồ dưới đây:

Sản xuất

Hỗ trợ sản phẩm

Phân phối

Bán Bán Bán

Trang 27

Hệ thống này gồm 4 yếu tố sau:

đã làm được điều này

VTĐPT ra đời trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá thương mại

và vận tải:

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại thế giới phát triển mạnh

mẽ và xuất hiện những phân công lao động mới Thị trường rộng mở và dịch

vụ phát triển, mối liên kết giữa vận tải, thị trường, phân phối và quản lý làmột lĩnh vực mới mà các phương thức vận tải thông thường chưa đáp ứngđược VTĐPT ra đời đã đổi mới cách kinh doanh vận tải, hạn chế thời gianlưu kho, giảm bớt phiền hà về thủ tục, chất lượng và an toàn vận tải đượcnâng cao

VTĐPT bắt đầu được áp dụng tại các nước tư bản công nghiệp phát triểnnhằm cân đối giữa chủ tàu và chủ hàng và được các nước đang phát triển ápdụng nhanh chóng vì phù hợp với quyền lợi xuất khẩu và kinh doanh dịch vụvận tải của các nước này Mô hình VTĐPT tàu biển – máy bay được áp dụng

Trang 28

đầu tiên trên tuyến Viễn Đông – Châu Âu vào năm 1960 Sau đó, VTĐPTbằng đường biển - đường sắt cũng được phát triển trên tuyến này, đồng thờicòn ở Châu Mỹ, Châu Úc và châu Á Việc chọn liên kết phương thức vận tảiphụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mạng lưới giao thông, yêu cầu thươngmại, chi phí vận tải và chất lượng vận tải.

Khối lượng hàng hoá tăng đã dẫn đến việc tập trung hoá các luồng hàng,

sử dụng tàu có kích thước lớn hơn, thời gian quay vòng ngắn hơn

Quá trình toàn cầu hoá ngành vận tải và các dịch vụ kho vận đã đẩy cácliên minh vận tải ra đời, hình thành các nhóm và tạo xu hướng sáp nhập, tậptrung quyền lực vào trong giới hàng hải Nó rất phù hợp với xu thế của cácnhà sản xuất muốn dành thời gian để tập trung vào các hoạt động chính củamình, còn việc vận chuyển và các dịch vụ kèm theo thường được giao cho các

công ty giao nhận kho vận chuyên cung cấp các dịch vụ từ cửa đến cửa Các

hoạt động giao nhận kho vận thường được tập trung vào một số địa điểm nhấtđịnh, như các cảng ICD Do nhu cầu tập trung hàng hoá nên các tàu chở hàngchỉ đi đến một số cảng nhất định Xu hướng này đã buộc nhiều hãng tàuContainer phải hợp tác với nhau và tạo thành các liên minh lớn Nhằm đápứng chất lượng dịch vụ ở trong và ngoài phạm vi cảng, và trong thực tế, toàn

bộ quá trình vận chuyển, giao và nhận hàng hoá đã trở thành một chuỗi mắtxích phụ thuộc rất nhiều vào nhau đấy chính là sự đa phương thức hoá ngànhvận tải hàng hoá Với cách này, hàng hoá được đưa vào vận chuyển sẽ đượcxếp lên phương tiện vận chuyển tại điểm xuất phát nằm sâu trong đất liền vàđược vận chuyển thông qua nhiều phương thức vận tải khác nhau để đến đíchcuối cùng là nơi giao hàng

Cảng biển ngày nay không phải chỉ là nơi mà hàng hoá được chuyển từphương thức vận tải này sang phương thức vận tải khác, mà nó còn được coinhư một mắt xích trong “một dây chuyền liên hoàn của các dịch vụ vận

Trang 29

chuyển – giao nhận” Và như vậy, sự cạnh tranh giữa các cảng biển là điềukhông thể tránh khỏi Trong cuộc cạnh tranh này, ngoài mức độ hiện đại củacác trang thiết bị xếp dỡ, tàu kéo v.v , còn phải tính đến giá nhân công vàtrình độ tay nghề của đội ngũ nhân viên của cảng, cước phí kho bãi, cầu cảng,thậm chí các điều kiện sinh hoạt và điều kiện xã hội của khu vực có cảng, sựđơn giản và thông thoáng của các thủ tục tại cảng.

Bên cạnh đó, để đảm bảo về lợi nhuận kinh doanh, các chủ tàu càngngày càng đầu tư đóng những con tàu có kích cỡ lớn hơn Nhiều hãng tàuContainer lớn đang sử dụng hoặc đang đặt đóng các tàu có sức chứa vượt quá5000TEU Các tàu lớn này xuất hiện ngày càng nhiều trên các tuyến giữa Bắc

Mỹ, Châu Á và Châu Âu Để đảm bảo hiệu quả khai thác, các tàu cỡ lớn nàychỉ được ghé vào vài cảng hoặc thậm chí chỉ một cảng duy nhất ở mỗi châulục Những cảng chính như vậy cần phải có đủ điều kiện đáp ứng được nhucầu của các loại tàu thuộc thế hệ mới này, mà điều kiện trước hết là mớnnước Sự cạnh tranh của các cảng loại này để thu hút các con tàu cỡ lớn đangxảy ra rất quyết liệt Một trong những yếu tố được tính đến trong cuộc cạnhtranh chính là chất lượng và sự đa dạng của các tuyến giao thông nội địa nốiliền với cảng Hàng hoá phải được vận chuyển một cách tốt nhất đến các điểmgiao hàng nằm sâu trong đất liền thông qua tất cả các phương thức vận tải.Các phương thức ở đây không chỉ là đường bộ, đường sắt và đường sông màcòn là các tuyến vận tải ngắn trên biển và các tuyến feeder Ngoài ra, các cảngbiển còn phải được trang bị các phương tiện hiện đại kể cả các hệ thống thôngtin tại cầu tàu để đảm bảo xếp dỡ một cách an toàn và nhanh chóng số lượngContainer rất lớn của các tàu này

VTĐPT ra đời dưới sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ vận tải Container.

Thời La Mã, người ta đã sử dụng những chiếc thùng và cần phải xếp dỡ

Trang 30

hàng nhiều lần nhằm giải phóng các phương tiện vận chuyển một cách nhanhchóng Đến chiến tranh Thế giới lần thứ 2, những chiếc thùng 6 feet đã đượcHải quân Mỹ đưa vào khai thác và trong những năm 50 đã có hơn 100 nghìnchiếc được đưa vào sử dụng Tuy nhiên, những chiếc thùng này đã khôngđược sử dụng tiếp trong thời gian sau đó vì chúng đã không nâng cao đượcnăng suất của tàu Điều đó đã thúc đẩy sự ra đời của Container hiện nay.Những năm 1960 – 1970 được xem như bước khởi đầu của cuộc Cách mạngContainer Hiện nay, kích thước của Container đã được tiêu chuẩn hoá vớichiều cao 8’6’’ hoặc 9’6’’, chiều rộng là 8’ và chiều dài là 20’, 40’, 45’,53’.Sức chứa của tàu và kho bãi vì thế cũng được đo bằng số lượng Containerhoặc bằng TEU (Twenty feet Equivalent Unit) – tương đương với mộtContainer 20’ Tuyến vận tải Container thường xuyên đầu tiên đã được hìnhthành giữa New York, Los Angeles và San Fransisco vào năm 1961 Thươngmại quốc tế bằng Container được khởi xướng khi công ty vận tải biển Bắc ĐạiTây Dương đưa Container từ Mỹ sang Châu Âu năm 1966 Các tuyến thươngmại được thực hiện chủ yếu giữa Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Australia.Đến năm 1972, các tuyến đường trên đã được Container hoá và tàu chuyêndụng chở Container, tàu RO – RO, cần cẩu giàn đã ra đời Chính những thànhtựu trong cuộc Cách mạng Container này đã tạo ra năng suất lao động caotrong ngành vận tải đường biển, giải quyết được tình trạng ùn tắc tàu ở cảng.Tuy nhiên, thay vào đó là tình trạng ùn tắc Container tại các đầu mối giaothông khác Điều này đòi hỏi phải tạo ra một phương thức vận tải mới để đưahàng hoá từ nơi gửi đến nơi nhận, hay nói cách khác là tạo một mối hệ thốngvận tải từ cửa đến cửa với sự tham gia của nhiều phương thức vận tải (đườngbiển, đường sắt, ô tô, đường thuỷ nội địa, hàng không ) Như vậy, chính doyêu cầu và điều kiện mà cuộc cách mạng Container đã là một trong nhữngnguyên nhân trực tiếp thúc đẩy sự ra đời và phát triển của VTĐPT ngày nay.

Trang 31

Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng là một trong những tiền đề cho sự ra đời của VTĐPT

Có thể nói, sự ra đời của máy tính điện tử và các kỹ xảo viễn thông kháctrong hệ thống EDI đã tăng hiệu quả quá trình vận chuyển hàng hoá, đặc biệtvới các tổ chức VTĐPT, khi mà họ phải chịu trách nhiệm trong tất cả cáckhâu của dây chuyền vận tải từ kho đến kho Nhờ việc sử dụng hệ thống liênlạc bằng giấy tờ, các công ty ngày càng giảm bớt được chi phí thông tin liênlạc với khách hàng, người cung cấp và ngân hàng Nhờ tiếp cận được vớithông tin nhanh chóng mà họ có thể nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng,tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

Tác động của các Công ước quốc tế và khu vực cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của VTĐPT

VTĐPT phát triển đòi hỏi phải có luật lệ điều chỉnh thích hợp, các Côngước quốc tế về từng phương thức vận tải không còn hoàn toàn phù hợp Côngước quốc tế về VTĐPT ký ngày 24 tháng 5 năm 1980, tuy đến nay chưa cóhiệu lực nhưng đã góp phần thúc đẩy VTĐPT về việc hình thành các Côngước khu vực về VTĐPT Các nước Nam Mỹ đã tiến hành ký Hiệp định vềVTĐPT ngày 4 tháng 3 năm 1993 (Cartagena Agreement) Đây là Hiệp địnhkhu vực đầu tiên được ký kết về VTĐPT Trên cơ sở thành công đó, Liên hiệpquốc khuyến nghị các khu vực khác học tập Đến nay, ESCAP đã tổ chức hộithảo về VTĐPT nhằm thúc đẩy VTĐPT khu vực Châu Á Từ năm 1995, cácnước ASEAN cũng đã tiến hành đàm phán và đến nay đã hoàn thành việc xâydựng Hiệp định khung ASEAN về VTĐPT Từng nước thành viên đang xây

dựng pháp luật điều chỉnh VTĐPT theo tinh thần của Hiệp định

Tóm lại, kể từ khi ra đời cho đến nay, VTĐPT gắn liền với quá trìnhthương mại hoá toàn cầu, nó đã và đang ngày càng khẳng định được ưu thếcủa mình trong ngành vận tải nói riêng và ngành kinh tế quốc dân nói chungnhờ tiếp cận nhanh chóng với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới

Trang 32

1.2 Nội dung của phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức đối với

doanh nghiệp

Trước hết phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theochiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đờithay thế cái lạc hậu

Nội dung phát triển vận tải đa phương thức đối với doanh nghiệp baogồm phát triển vận tải đa phương thức theo chiều sâu và theo chiều rộng Pháttriển Vận tải đa phương thức theo chiều sâu là phát triển nâng cao chất lượngdịch vụ, tăng năng suất lao động, làm giảm chi phí đầu vào Bên cạnh đó làcác biện pháp khách hàng mới, nâng cao doanh thu, mở rộng kho bãi trong vàngoài nước, phát triển và hoàn thiện hệ thống đại lý trên toàn thế thế giới.Phát triển theo chiều rộng là phát triển thêm các dịch vụ mới, qua đó làm tăngdoanh thu và đồng thời thu hút thêm khách hàng mới

Để đánh giá về vận tải đa phương thức của doanh nghiệp, cần dựa trêncác chỉ số về doanh thu vận tải đa phương thức, tốc tăng trưởng tuyệt đốihàng năm và tốc độ tăng trưởng tương đối so với tổng doanh thu dịch vụ công

ty cung cấp Bên cạnh đó còn có các chỉ tiêu về số lượng khách hàng, sốlượng thị trường mới mở, số lượng dịch vụ mới…

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải đa phương

thức của doanh nghiệp

1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Cơ sở vật chất kho bãi

Cơ sở vật chất và kho bãi là yếu tố rất quan trọng trong vận tải đaphương thức, để phát triển tốt dịch vụ này doanh nghiệp cần có hệ thống xetải container, xe tải chở hàng rời và hàng siêu trường siêu trọng Hệ thốngkho bãi tại các cảng biển, cảng hàng không và cảng trong nội địa với các

Trang 33

máy móc thiết bị đồng bộ như xe nâng, băng tải , pallet, hệ thống máy tínhquản lý kho…

Nguồn nhân lực

Đội ngũ nhân sự của Công ty với kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vữngvàng, không ngừng được bồi dưỡng, phong cách làm việc chuyên nghiệp, tạođược ấn tượng và duy trì mối quan hệ tốt với khác hàng cũng như các ngànhliên quan, nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực vận tải là nhân tố chủ chốt đảmbảo hoạt động ổn định và phát triển bền vững của của công ty

Vận tải đa phương thức là hình thức vận tải phức tạp và yêu cầu phải cóđỗi ngũ nhận sự điều hành chất lượng cao đồng thời có đội ngũ cán bộ, côngnhân kho bãi chuyên nghiệp, đo đó các Công ty hoạt động VTĐPT cần tiếnhành xây dựng các chương trình đào tạo cụ thể, phù hợp với từng nhân viênđảm bảo công tác này được thực hiện một cách thường xuyên, sát với nhu cầucông việc thực tế

Hệ thống đại lý

Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả cácphương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hoá trong buôn bánquốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền vận tải hàng hoá, mà trong quá trình

mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liênkết các công ty vận tải giữa trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tảiđược thông suốt Việc liên kết các công ty vận tải lại giúp cho việc khai thácphương tiện vận tải đi về nhiều chiều trên các đại dương theo những tuyếnđường phù hợp và ổn định thông qua các công ty vận tải hoặc trung tâm giaonhận - vận chuyển đặt ở một số nước Việc liên kết Vận tải đa phương thứcgiúp cho người kinh doanh Vận tải đa phương thức thâu tóm được tất cả mọikhâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở củangười mua

Trang 34

Các công ty tập đoàn lớn trên thế giới cung cấp dịch vụ logistics& vậntải đa phương thức đều có hệ thống công ty con 100% sở hữu và công ty liêndoanh, liên kết mà công ty có tỷ lệ sở hữu cao, thông qua đó các công ty này

sẽ chủ động nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm giá thành và cung cấp các dịch

vụ có giá trị gia tăng cho khách hàng Các công ty trong nước cần phải từngbước thành lập công ty con và công ty liên kết tại các nước có lượng hàng hóatrung chuyển cao để từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh với các tậpđoàn logistics trên thế giới

Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn mới mẻ, song lại có tốc

độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới Sốngười dân sử dụng máy vi tính và kết nối mạng internet ngày càng gia tăng.Các chương trình đào tạo từ tiểu học đến đại học đều có đề cập tới kiến thứctin học với các câp độ khác nhau Các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vịsản xuất kinh doanh đều ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trongviệc duy trì và quản lý mọi hoạt động của đơn vị mình Ở Việt Nam hiện nay,

số doanh nghiệp sử dụng và khai thác mạng internet để phục vụ hoạt động sảnxuất kinh doanh ngày càng phổ biến, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tếcao Một số đã áp dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực marketing, kýkết hợp đồng mua bán, giao nhận vận tải hàng hóa, bào hiểm, thanh toán…Với hiện trạng và xu hướng phát triển công nghệ thông tin cũng nhưthương mại điện tử của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội và khả năng áp dụngcông nghệ vào hoạt động VTĐPT trong họat động sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệpvận tải giao nhận Vị trí của công nghệ trong toàn bộ quátrình phân phối vật chất, thực chất là sử dụng và xử lý thông tin để tổ chức vàquản lý chu trình di chuyển hàng hóa qua nhiều cung đoạn, chặng đường,phương tiện, địa điểm khác nhau đáp ứng yêu cầu kịp thời, đúng lúc

Trang 35

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Việc Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới trong lĩnh vực vận tải

đa phương thức đem lại nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít khó khăn cho cácdoanh nghiệp Việt Nam

Hệ thống kho vận, cảng biển, cảng hàng không

Hiện trạng kết cấu hạ tầng, phương tiện giao thông vận tải phục vụ chovận tải đa phương thức thiếu đồng bộ của cơ sở hạ tầng, chất lượng và sốlượng phương tiện vận tải có vai trò quan trọng trong VTĐPT Hệ thống kếtcấu hạ tầng đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng khôngcủa Việt Nam nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu vận tải đa phương thức, đặcbiệt là vận tải đa phương thức quốc tế Hệ thống thông tin phục vụ cho hoạtđộng vận tải đa phương thức còn kém và lạc hậu, chưa nối mạng được trong

cả hệ thống vận hành: đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa

và đường hàng không Cơ sỏ vật chất ,phương tiện vận tải cũng chỉ ở mứcđáp ứng nhu cầu vận chuyển trong nươc chứ chua đủ để đáp ứng yêu cầu củathế giới Đây là một trong những nguyên nhân xuất phát từ phía nội tại nhưng

sẽ là thách thức rất lớn đối với ngành vận tải của ta khi bước vào hội nhậpkinh tế

Toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại trên toàn thế giới

Quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại kéo theo đó là việc camkết mở cửa thị trường dịch vụ vận tải của Việt Nam nên doanh nghiệp gặpphải cạnh tranh của các công ty quốc tế ngay trên thị trường nội địa Mặt khác

về tương quan so sánh với các doanh nghiệp nước ngoài thực lực cũng nhưkinh nghiêm của các doanh nghiệp Việt Nam con nhiều han chế Đây là nguy

cơ và cũng là thách thức rât lớn đối với các doanh nghiệp vân tải trong nước.Bởi nó co thể ảnh hưởng đến thi phần của chung ta không chỉ trên trườngquốc tế mà cả trong nội địa

Trang 36

Tham gia thỉ trường quốc tế buộc chúng ta phải tuân theo các thông luậtquốc tế việc không nắm vững hệ thông luật pháp quốc tế có thể khiên cácdoanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn hay rủi ro trong kinh doanh quốc tế Hơn nữa hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳthuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường cácnước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước ,đặc biệt ngành vân tải đaphương thức chịu ảnh hưởng nhiều của biến đông giá cả và tỉ giá hốiđoái ,điều này đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, cónăng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nềnkinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cựctrước những biến động trên thị trường thế giới.

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa , tu do hóa thương mại sự giao lưu giữacác nền kinh tế ngày càng mạnh mẽ đặc biệt là thông qua các hoạt dộngthương mại và đầu tư quốc tế Với vị trí địa lý thuận lợi , là nơi tập trungnhiều đầu mối giao thông quan trọng đặc biệt là giao thông trên biển đây sẽ là

cơ hội phát triển mạnh cho ngành vận tải biển ,và vận tải đa phương thức

Xu hướng phát triển của VTĐPT

Xu hướng sử dụng vận tải đa phương thức trong việc chuyên chở hànghoá quốc tế là một xu thế đang thịnh hành trên thế giới Thêm vào đó sự hộinhập giao lưu hàng hóa quốc tế mạnh mẽ đạt ra yêu cầu cao đối với dich vụvận tải đa phương thức quốc tế sao cho quá trình hoạt động diễn ra đơn giản

và hiệu quả nhất Nhận biết được nhu cầu này, ngay từ khi thành lập, Công ty

đã triển khai sản phẩm Giải pháp vận tải trọn gói (Total LogisticsManagement – TLM) Giải pháp dịch vụ này là một tổng thể thống nhất baogồm 12 yếu tố cấu thành nhằm đem lại hiệu quả tối đa trong giao nhận, vậnchuyển, quản lý hàng hóa cho khách hàng và đảm bảo sự hài lòng cao nhấtcủa khách hàng Đây là một hướng đi đúng đắn của công ty nhằm bắt kịp với

xu thê hiện đại

Trang 37

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý trong nước và quốc tế là một trong những nhân tốquan trọng ảnh hưởng và chi phối hoạt động VTĐPT của doanh nghiệp Hoạtđộng logistics có mang lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào môi trườngpháp lý có đầy đủ và đảm bảo sự thông thoáng hay không Ngày nay hoạtđộng của các doanh nghiệp hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luậtđầy đủ và chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho họ trên các lĩnh vực sản xuấtkinh doanh

Sự phát triển của công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn mới mẻ, song lại có tốc

độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới Sốngười dân sử dụng máy vi tính và kết nối mạng internet ngày càng gia tăng

Hệ thống thông tin điện tử EDI là điều kiện tối quan trọng để phát triểnvận tải đa phương thức nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng khả năng điềuphối và tốc độ chu chuyển hàng hóa, tối ưu hóa chi phí…

Trang 38

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI

Năm 2003, chi nhánh Vinatrans HàNội tiến hành cổ phần hoá theo quyếtđịnh 1685/2002/QĐ/BTM ngày 30/12/2002 của Bộ Thương mại và chuyểnthành “Công ty cổ phần giao nhận vận tải Ngoại Thương”, tên tiếng anh là

“The Foreign Trade Forwarding And Transportation Joint Stock Company”.Tên giao dịch là Vinatrans Hà Nội theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

số 0103002086 do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày

07 tháng 04 năm 2003, thay đổi lần 6 ngày 03 tháng 09 năm 2008

- Địa chỉ trụ sở chính : Số 2 Bích Câu- Quốc Tử Giám- Đống Đa- Hà Nội

- Website: : www.vinatranhn.com

- Vốn điều lệ: 54.720.000.000 đồng

Trải qua hơn 15 năm hoạt động, môi trường hoạt động của Công ty ngàycàng cạnh tranh gay gắt cả về dịch vụ và nhân sự bởi số lượng các đơn vịcùng ngành nghề trên địa bàn tăng nhanh Với lợi thế xuất phát từ một đơn vịkinh doanh của công ty Giao nhận kho vận ngoại thương Thành phố Hồ ChíMinh, một công ty lớn trong lĩnh vực giao nhận vận tải, Vinatrans được thừa

Trang 39

hưởng những thuận lợi về cơ sở ban đầu như: tổ chức, nhân sự và cơ sở vậtchất cũng như kinh nghiệm nghiệp vụ và mạng lưới khách hàng Tập thểCông ty đã định hướng và tiếp tục kiên trì định hướng phát triển đa dạng dịch

vụ, xây dựng và phát triển hệ thống đại lý mới trên toàn cầu với nhiều biệnpháp cụ thể đồng bộ nên đã hoàn thành toàn diện vượt mức các chỉ tiêu chủyếu của những năm vừa qua

Trong các loại hình dịch vụ của công ty, dịch vụ vận tải hàng khôngchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu của Công ty Tại khu vực phíaBắc, Vinatrans là đơn vị đại lý vận tải đường không có lượng hàng xuất hàngnăm thuộc nhóm dẫn đầu Về Dịch vụ giao nhận vận tải đường biển, trongnhiều năm liền, Vinatrans Hà Nội được đánh giá là 1 trong 5 doanh nghiệphàng đầu của ngành Đặc biệt, dịch vụ thu gom hàng lẻ đóng container chungchủ đi các cảng trên thế giới, Vinatrans luôn duy trì, phát triển và dẫn đầu thịtrường miền Bắc Đối với Dịch vụ đại lý tàu, hiện tại, Công ty làm đại lý chohai hãng tàu lớn là Hãng tàu container RCL Singapore từ năm 1993 và Hãngtàu Richmer của Đức Đây là hai hãng tàu có quy mô lớn và uy tín trên thịtrường quốc tế, góp phần làm tăng uy tín của Vinatrans và đem lại nguồn cầudịch vụ ổn định và tiềm năng cho Công ty

Cùng với các đơn vị liên doanh liên kết là Vinafreight, Vinalink,Vinatrans Đà Nẵng, Vinatrans đã tạo nên tập đoàn Vinatrans Group lớn mạnhnhất hiện nay về giao nhận với mạng lưới phủ khắp cả nước

2.1.2 Chức năng, lĩnh vực kinh doanh và nhiệm vụ chính của Công ty

* Chức năng:

Là một trong những đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực giao nhận vận tảingoại thương, Công ty đang ngày một khẳng định uy tín và đáp ứng được nhucầu của khách hàng trong nước và quốc tế với các chức năng vận chuyển giaonhận vận tải, kinh doanh,tư vấn, môi giới cho các doanh nghiệp trong và

Trang 40

ngoài nước hoạt động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận chuyển và giao nhậnhàng hóa.

* Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu:

- Kinh doanh các dịch vụ giao nhận vận tải hàng xuất nhập khẩu, bốcxếp, giao nhận, vận chuyển hàng siêu trường, hàng quá khổ, quá tải theo đaphương thức;

- Đại lý giao nhận cho các hãng giao nhận và vận tải nước ngoài;

- Môi giới thuê và cho thuê tàu cho các chủ hàng và chủ tàu trong vàngoài nước thuê;

- Kinh doanh vận tải hàng hoá nội địa và quá cảnh;

- Kinh doanh cho thuê văn phòng làm việc, kho bãi theo quy định đúngpháp luật;

- Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp và nhận uỷ thác xuất nhập khẩu

- Dịch vụ thương mại và dịch vụ có liên quan tới giao nhận vận chuyểnhàng hoá xuất nhập khẩu;

- Tổ chức hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo, trưng bày, giới thiệu sảnphẩm hàng hoá;

- Môi giới hàng hải, Ðại lý tàu biển

an toàn trên các tuyến vận tải

- Đảm bảo việc an toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảođảm tự chủ về tài chính, sử dụng hợp lý, theo đúng chế độ, sử dụng có hiệuquả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách với nhà nước

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Triệu Hồng Cẩm (2009), Vận tải quốc tế bảo hiểm vận tải quốc tế.NXB thống kê, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải quốc tế bảo hiểm vận tải quốc tế
Tác giả: Triệu Hồng Cẩm
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2009
2. Công ty cổ phần giao nhận vận tải ngoại thương, báo cáo tài chính năm 2009,2010,2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tài chínhnăm
3. Dương Hữu Mạnh (2004), Giao nhận quốc tế và bảo hiểm hằng hải.NXB Thống Kê, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao nhận quốc tế và bảo hiểm hằng hải
Tác giả: Dương Hữu Mạnh
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2004
4. Nghị định 87/2009/NĐ-CP vận tải đa phương thức của chính phủ ngày 19/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: /2009/NĐ-CP
5. Nghị định số: 89/2011/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định Nghị định 87/2009/NĐ-CP vận tải đa phương thức của chính phủ ngày 19/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: /2009/NĐ-CP
6. Nguyễn Hồng Đàm (2005), Vận tải và giao nhận trong ngoại thương.NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải và giao nhận trong ngoại thương
Tác giả: Nguyễn Hồng Đàm
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
Năm: 2005
8. Võ Thanh Thu (2008), Incoterm 2010 và hỏi đáp về Incoterm, NXB Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterm 2010 và hỏi đáp về Incoterm, NXBTổng hợp
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: NXBTổng hợp"
Năm: 2008
9. Đoàn Thị Hồng Vân (2010), Logistics những vấn đề cơ bản, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics những vấn đề cơ bản
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXBLao Động
Năm: 2010
10. Đoàn Thị Hồng Vân (2006), Quản trị Logistics, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Logistics
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
11. Hoàng Văn Châu (2003), Vận tải-Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải-Giao nhận hàng hoá xuất nhậpkhẩu
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
7. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2007), Cam kết gia nhập WTO về phân phối – logistics Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Hệ thống phân phối vật chất Logistics - nâng cao hiệu quả vận tải đa phương thức tại xí nghiệp đại lý vận tải và vật tư kỹ thuật – công ty cổ phần dịch vụ vận tải tw
Hình 1.2. Hệ thống phân phối vật chất Logistics (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w