1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020

86 828 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thái lan cũng đưa ra định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ: “các doanh nghiệpsản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp” Ratana E., 19

Trang 1

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

Họ và tên sinh viên : Vũ Bùi Quỳnh

Mã sinh viê : 0852010164 Lớp : Anh 5 – Khối 2 QT Khóa : 47

Người hướng dẫn khoa học : ThS Nguyễn Thị Thu Trang

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Trang 2

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY 4

1.1 Công nghiệp hỗ trợ 4

1.1.1 Định nghĩa 4

1.1.2 Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ 7

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ 10

1.2 Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may 14

1.3 Vai trò của CNHT đối với sự phát triển ngành dệt may nói riêng và kinh tế xã hội Việt Nam nói chung 18

1.3.1 Nâng cao giá trị và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp dệt may 18

1.3.2 Khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu máy móc, nguyên liệu góp phần cân đối cán cân xuất nhập khẩu 19

1.3.3 Phát huy “sức mạnh lan tỏa” cho hệ thống công nghiệp Việt Nam 20

1.3.4 Tạo thêm nhiều việc làm góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và ổn định xã hội 20

1.3.5 Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp dệt may 21

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam 22

1.4.1 Quy mô thị trường 22

1.4.2 Tiến bộ khoa học kỹ thuật 22

1.4.3 Nguồn lực tài chính 23

1.4.4 Cơ chế chính sách của Chính phủ có liên quan 24

1.5 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số quốc gia trên thế giới 24

Trang 3

1.5.2 Đài Loan 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM 28

2.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 28

2.1.1 Lịch sử hình thành 28

2.1.2 Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam 29

2.2 Thực trạng phát triển một số ngành CNHT dệt may 35

2.2.1 Ngành sản xuất nguyên liệu 35

2.2.2 Ngành sản xuất xơ, sợi tổng hợp 41

2.2.3 Ngành cơ khí dệt may 43

2.2.4 Ngành công nghiệp hóa chất 43

2.2.5 Ngành sản xuất phụ liệu may 48

2.3 Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam 49

2.3.1 Những kết quả đạt được 49

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 50

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 51

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 53

3.1 Cơ sở hình thành các giải pháp 53

3.1.1 Cơ hội, thách thức đối với ngành CNHT dệt may Việt Nam 53

3.1.2 Định hướng phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2020 của Chính Phủ 56

3.1.3 Định hướng phát triển CNHT dệt may đến năm 2020 60

3.2 Giải pháp phát triển CNHT dệt may đến năm 2020 63

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Chính Phủ 63

3.2.2 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp 71

3.2.3 Nhóm các giải pháp khác 74

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp 4

Hình 1.2: Sơ đồ mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ 6

Hình 1.3: Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may 13

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam qua các năm 1995-2011 30

Hình 2.2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 .31

Hình 2.3: Tình hình nhập khẩu sợi của Việt Nam năm 2010 và 2011 41

Trang 5

Bảng 2.1: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất

khẩu cả nước 30

Bảng 2.2: Lượng nhập khẩu bông xơ của Việt Nam qua từng năm 35

Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu bông vải của Việt Nam từ Hoa Kỳ 36

Bảng 2.4: Chỉ tiêu phát triển cây bông vải Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 37

Bảng 2.5: Diện tích dâu tằm cả nước qua các năm 38

Bảng 2.6: Diện tích dâu tằm phân chia theo vùng sinh thái 39

Bảng 2.7: Các nguồn thu nhập của nông hộ trồng dâu nuôi tằm 40

Bảng 2.8: Tình hình cung cấp thuốc nhuộm của Việt Nam năm 2008 44

Bảng 2.9: Các loại thuốc nhuộm được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam 45

Bảng 2.10: Các chất trợ sử dụng phổ biến trong ngành dệt may 46

Bảng 2.11: Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam 48

Bảng 2.12: Giá trị nhập khẩu phụ liệu dệt may của Việt Nam 49

Bảng 3.1: Mục tiêu tăng trưởng của ngành dệt may giai đoạn 2008-2020 57

Bảng 3.2: Chỉ tiêu sản xuất ngành dệt may giai đoạn 2010 - 2020 57

Bảng 3.3: Các mục tiêu cụ thể về sản phẩm của ngành CNHT dệt may 63

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Sau hơn 25 năm tiến hành đổi mới, mở cửa thị trường thúc đẩy xuất khẩu,nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Nền kinh tế từ mức khôngđáp ứng được nhu cầu nội địa nay đã phát triển trở thành quốc gia có tốc độ tăngtrưởng hàng năm thuộc hàng cao nhất thế giới Những thành tích có được là dochính sách thúc đẩy xuất khẩu, tập trung các nguồn lực cho các ngành kinh tế trọngđiểm

Ngành dệt may trong những năm gần đây đã phát triển mạnh dưới sự địnhhướng của Nhà Nước Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm sau đều cao hơnnăm trước, đóng góp vào 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Từ năm

2009, dệt may đã trở thành ngành công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cảnước, thu về hàng chục tỷ ngoại tệ cho ngân sách quốc gia mỗi năm Hàng nămngành dệt may đều giải quyết cho hơn 2 triệu lao động góp phần ổn định kinh tế -

xã hội Có thể thấy ngành dệt may xứng đáng là ngành công nghiệp mũi nhọn cầntập trung phát triển của đất nước

Tuy nhiên đằng sau những kết quả rất đáng ghi nhận đó, ngành dệt may đangbộc lộ những vấn đề cần khắc phục như năng suất lao động chưa cao, vốn đầu tưchưa được sử dụng hiệu quả Trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển ngành dệt may

là sự thiếu hụt về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu khiến cho nhập khẩu tăng làmcho giá tị gia tăng của ngành chưa cao Hiện nay ngành dệt may đang phụ thuộc rấtlớn vào nguồn nhập khẩu xơ, sợi, nguyên phụ liệu, hóa chất từ nước khác Nguyênnhân chính của tình trạng này do ngành công nghiệp hỗ trợ của nước ta còn yếukém, chưa phát triển tương xứng với ngành dệt may

Thời gian phấn đấu trở thành nước công nghiệp của Việt Nam vào năm 2020không còn xa Mục tiêu của nước ta khi đó là phát triển các ngành công nghiệp đặcbiệt là ngành dệt may hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới, từng bướcthoát khỏi phụ thuộc vào gia công, nâng cao giá trị cho sản phẩm, phát triển thànhngành công nghiệp mũi nhọn, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Tuynhiên để thực hiện được mục tiêu đó, ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và ngành

Trang 7

công nghiệp hỗ trợ dệt may nói riêng cần phải được hỗ trợ, nghiên cứu thực trạng

và đưa ra một số giải pháp sẽ giúp tìm ra hướng phát triển

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, em đã lựa chọn đề tài “Phát triển

công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020” để nghiên cứu

cho khóa luận này

2 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

- Làm rõ, hệ thống hóa các lý luận có ảnh hưởng tới sự phát triển của ngànhcông nghiệp hỗ trợ dệt may

- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt mayViệt Nam hiện nay

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may choChính Phủ và các doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu một số ngành công nghiệp hỗ trợ dệt maychính: sản xuất nguyên liệu: bông, trồng dâu nuôi tằm, xơ sợi tổng hợp, phụ liệu, cơkhí, hóa chất

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, dự báo,…sửdụng để phân tích số liệu tổng hợp được qua các năm và đưa ra xu hướng phát triểntiếp theo của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may

- Phương pháp hỏi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà kinh tế tronglĩnh vực dệt may của Bộ Công Thương, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các doanhnghiệp thuộc tập đoàn Dệt may Việt Nam

5 Kết cấu của khóa luận.

Khóa luận được bố cục theo 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ dệt may.

Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam đến năm 2020.

Trang 8

Do đề tài nghiên cứu còn khá mới mẻ, thời gian nghiên cứu ngắn và kiếnthức của người nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp từ thầy cô và các bạn để đề tài đượchoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Thị Thu Trang đã nhiệt tình giúp

đỡ, đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thành được khóa luận này

Trang 9

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY

1.1 Công nghiệp hỗ trợ.

1.1.1 Định nghĩa.

Công nghiệp hỗ trợ (Supporting industries) là một khái niệm khá mới ởĐông Á, xuất hiện cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nướcĐông Nam Á (ASEAN) mà chủ yếu là hoạt động lắp ráp (Assembly plants) giữanhững năm 80 của thế kỷ trước và chỉ chính thức được sử dụng một cách rộng rãi ởĐông Á vào những năm 1990 “Công nghiệp hỗ trợ” trong tiếng Nhật là “Suso-noSan-gyou” trong đó “Suso-no” nghĩa là “chân núi” và “San-gyou” nghĩa là “đỉnhnúi” Như vậy có thể hiểu rằng người Nhật quan niệm nếu quy trình sản xuất là mộtngọn núi thì ngành công nghiệp hỗ trợ là chân núi còn đỉnh núi là ngành côngnghiệp lắp ráp Chân núi là toàn bộ những ngành sử dụng kỹ thuật gia công (đúc,dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì )gia công các loại vật liệu kim loại, gỗ, cao su, các loại vật liệu tổng hợp nhằm chếtạo ra các loại linh kiện, phụ tùng cho lắp ráp

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp

Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/

Quan hệ giữa ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành lắp ráp có thể được mô tảnhư hình trên Cùng một phần chân núi (sản xuất linh kiện, phụ tùng) nếu muốn sản

Trang 10

xuất sản phẩm gì chỉ cần thay đổi phần đỉnh núi (công nghiệp lắp ráp) Như vậy cóthể thấy công nghiệp hỗ trợ bao trùm rất nhiều ngành khác nhau từ sản xuất xe máy,

ô tô, dệt may tới các ngành điện tử, cơ khí khác

Ý thức được vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ, một số quốcgia đã xây dựng khung lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ từ khá sớm Nhật Bản

là quốc gia đầu tiên đã đưa ra được một khái niệm chính thức về công nghiệp hỗtrợ: “ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụtùng và các sản phẩm đầu vào khác…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện

tử)” (Japan Overseas Enterprises Association, 1994, Study on supporting industries,

Tokyo) Khái niệm này được Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật BảnMITI (sau đổi tên thành METI vào năm 2001) giới thiệu tới các quốc gia châu Átrong khuôn khổ của kế hoạch phát triển Châu Á mới (New AID Plan) vào năm1993

Thái lan cũng đưa ra định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ: “các doanh nghiệpsản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các

ngành công nghiệp” (Ratana E., 1999, The role of small and medium supporting industries in Japan and Thailand, IDE APEC, working paper series 98199, Tokyo),

do đó nó không bao gồm các ngành sản xuất nguyên liệu cơ bản như sắt, thép,nguyên vật liệu thô

Định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ của nước Mỹ, một quốc gia có nền côngnghiệp phát triển bậc nhất thế giới lại được nhìn nhận dưới góc độ rộng hơn rấtnhiều: “là những ngành cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất racác sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường” (US Department of Energy,

2005, Supporting Industries: Industries of the future, fiscal year 2004 annual

Report, Washington, D.C ) Qua cách định nghĩa này có thể thấy nước Mỹ đã nhìnnhận ngành CNHT rất rộng, không chỉ là việc sản xuất linh kiện, phụ tùng như cácquốc gia Đông Á mà còn bao gồm cả các hoạt động kho bãi, hậu cần, phân phối vàbảo hiểm Đây là một cách định nghĩa khá hiện đại so với các quốc gia khác

Trang 11

Hình 1.2: Sơ đồ mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ.

Nguồn: VDF, 2007, Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, NXB Laođộng xã hội, trang 38

Ở Việt Nam, khái niệm về CNHT được quan tâm tới tương đối muộn Trướcnăm 1986 trong thời kì kế hoạch hóa tập trung, chúng ta chú ý tới phát triển côngnghiệp nặng theo mô hình tích hợp chiều dọc Tất cả các bộ phận của một sản phẩmhoàn chỉnh được doanh nghiệp tự sản xuất và hoàn thiện cho tới khâu cuối cùng Do

đó ngành CNHT không được nhìn nhận đúng đắn như một ngành riêng phục vụ nhucầu của tất cả các ngành lắp ráp khác Cho tới khi khái niệm CNHT được phổ biếnrộng rãi tới các quốc gia châu Á vào đầu thập kỉ 90 thì Việt Nam vẫn chưa mấy chú

ý tới hay đúng hơn là chưa đủ điều kiện do thời kì đó chúng ta còn bận quan tâm tớinhững vấn đề cấp bách khác sau đổi mới như cải cách kinh tế và xóa đói giảmnghèo Khi nền kinh tế dần đi vào quỹ đạo phát triển, Việt Nam đã thu hút được mộtlượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì khi đó sự yếu kém của ngànhcông nghiệp hỗ trợ đã thực sự được lộ rõ Một trong những khó khăn lớn nhất khiếncác nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi đầu tư vào Việt Nam đó là sự thiếu hụt cácnhà cung cấp các yếu tố đầu vào hay chính là việc ở Việt Nam thời điểm đó hầu nhưchưa có doanh nghiệp CNHT nào đủ khả năng cung cấp linh kiện và phụ tùng

Trang 12

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam,Chính phủ nước ta đã cùng kí với Chính phủ Nhật Bản bản “Sáng kiến chung ViệtNam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003-2005) trong đó hạng mục đầu tiên được nhắctới trong số 44 hạng mục của chiến lược xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài là việcphát triển, thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT.

Ngày 31/07/2007, Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã ban hànhquyết định số 34/2007/QĐ - BCN phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗtrợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” nhưng lại không đưa ra định nghĩa vềCNHT mà chỉ nêu ra các ngành cần phát triển CNHT bao gồm dệt may, da giày,điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí và chế tạo Ngày 24/02/2011, Thủtướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 12/2011/QĐ-TTg “về chính sách pháttriển một số ngành công nghiệp hỗ trợ” trong đó có giải thích thuật ngữ về ngànhCNHT “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện,bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sảnphẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” Như vậy là phải rấtlâu sau các nước trên thế giới, Việt Nam mới đưa ra được khái niệm về ngànhCNHT của riêng mình Khái niệm này khá giống với định nghĩa của các nước Đông

Á và Thái Lan khi chỉ xác định CNHT là ngành sản xuất linh kiện và phụ tùng chocác ngành lắp ráp Việc đưa ra định nghĩa này rất phù hợp với thực tiễn phát triểncủa đất nước ta khi mà các doanh nghiệp FDI đều chủ yếu hoạt động trong lĩnh vựcgia công, lắp ráp và tỉ lệ nội địa hóa rất thấp Đây là một bước đi cần thiết của chínhphủ nhằm nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm cũng như đẩy mạnh pháttriển công nghiệp nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành một nước côngnghiệp hiện đại vào năm 2020 Trong văn bản này cũng đề cập tới khái niệm “côngnghiệp hỗ trợ” chứ không sử dụng thuật ngữ “công nghiệp phụ trơ” như thườngđược dùng ở nước ta trước đây nhằm tránh quan điểm hiểu nhầm rằng đây là ngành

“phụ”, không quan trọng

1.1.2 Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ.

1.1.2.1 Các sản phẩm CNHT thường được sản xuất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

Trang 13

Các doanh nghiệp SMEs có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển củacác ngành công nghiệp lắp ráp nói riêng và sự phát triển bền vững của nền kinh tếnói chung Các công ty này đều có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp, trình độ côngnghệ ở mức vừa phải thích hợp sản xuất các sản phẩm đơn giản cho các công ty lớnthực hiện việc lắp ráp hoàn thiện sản phẩm Một số đặc điểm của SMEs phù hợp vớisản xuất các sản phẩm CNHT:

- Quy mô nhỏ nên dễ dàng trong việc thay đổi công nghệ sản xuất, có thể kếthợp nhiều phương pháp sản xuất, sản xuất trong những điều kiện thiếu thốn

- Nhạy cảm với những biến động của thị trường, có khả năng nhanh chóngthay đổi chủng loại mặt hàng

- Có khả năng thâm nhập vào những thị trường ngách Đây là những thịtrường có dung lượng thị trường nhỏ, nhiều biến động về cung cầu, thị hiếu nênkhông thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn Tuy nhiên đây lại là thị trường tiềm năngcho các SMEs với năng lực sản xuất thấp, dễ dàng gia nhập và rút lui khỏi thịtrường để tham gia vào các thị trường khác khi có biến động

1.1.2.2 CNHT có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

Công nghiệp hỗ trợ phát triển mới thu hút được FDI, đặc biệt là trong cácngành sản xuất máy móc Hiện nay nguồn nhân công giá rẻ là lợi thế lớn nhất củacác quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên tỷ trọng chi phí nhân côngchiếm rất ít trong toàn bộ chi phí sản xuất công nghiệp Một phần lớn chi phí sảnxuất của các ngành công nghiệp nằm trong chi phí cho các loại máy móc nguyênphụ liệu Do đó nếu ngành CNHT kém phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kémhấp dẫn Tuy nhiên cũng có trường hợp FDI có rồi mới giúp cho ngành CNHT pháttriển Trong cả hai trường hợp này đều thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa FDI vàCNHT Mối quan hệ này có thể được thể hiện như sau (Nguyễn Công Liêm &

Nguyễn Mạnh Hà, 2007, “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội, số 19):

- Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, thị trường nội địa đã có một số doanhnghiệp cung cấp sản phẩm CNHT cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước Khi cóFDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước sẽ được tham gia vào mạng lưới sản xuấtcủa các doanh nghiệp FDI Thông qua quá trình hợp tác kinh doanh giữa các doanh

Trang 14

nghiệp, các công nghệ mới sẽ được các doanh nghiệp FDI chuyển giao cho doanhnghiệp CNHT trong nước Tuy nhiên để có được sự chuyển giao về công nghệ từcác doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước cần phải tỏ ra có khảnăng cạnh tranh về sản phẩm nguyên phụ liệu với hàng nhập khẩu Nếu không đápứng được điều kiện này, sự hợp tác giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp CNHTtrong nước sẽ không xảy ra và quá trình liên kết giữa các doanh nghiệp sẽ không thểthực hiện được.

- Giai đoạn 2: Khi FDI tăng lên, nhu cầu về sản phẩm CNHT sẽ tăng lên Khi

đó các doanh nghiệp CNHT mới sẽ được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu nguyênphụ liệu cho các doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp này sẽ tạo ra mối liên kết vớidoanh nghiệp FDI và được chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI

- Giai đoạn 3: Sau một khoảng thời gian hoạt động, doanh nghiệp FDI đã tạo

ra thị trường tiêu thụ đủ lớn cho ngành CNHT Khi nhận thấy ngành CNHT trongnước đã đủ lớn mạnh, các SMEs nước ngoài sẽ chủ động tìm tới thị trường trongnước để đầu tư Các SMEs này có thể là doanh nghiệp độc lập với doanh nghiệpFDI hay là các công ty có mối quan hệ lâu dài và được doanh nghiệp FDI khuyếnkhích đầu tư

Như vậy có thể khẳng định FDI chỉ phát triển khi: Chính phủ đưa ra cácchính sách nhằm phát triển CNHT trong nước (như giai đoạn 1 và 2) hoặc ChínhPhủ tạo ra môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp FDI, tạo điều kiện đểdoanh nghiệp FDI phát triển (như giai đoạn 3)

1.1.2.3 CNHT là ngành đòi hỏi đầu tư lớn, trình độ công nghệ cao.

Ngành công nghiệp hỗ trợ được chúng ta quan tâm tới khá muộn Ngay cảkhi đã biết tới khái niệm ngành CNHT thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chorằng đây là ngành công nghiệp “phụ” Thực tế hoàn toàn khác, CNHT là ngành đòihỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao Lao động trong ngành CNHT không nhiềunhưng cần có trình độ kỹ thuật cao để có thể vận hành các thiết bị máy móc tiêntiến Tất cả những yêu cầu này đều thiếu ở các quốc gia đang phát triển như nước ta

Do đó để phát triển ngành CNHT ở nước ta cần có sự nỗ lực rất lớn cũng như sựgiúp đỡ về công nghệ, con người của các quốc gia phát triển trong khu vực nhưNhật Bản, Hàn Quốc

Trang 15

1.1.2.4 CNHT có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành công nghiệp lắp ráp.

Ngành CNHT có thị trường tiêu thụ chính là ngành công nghiệp lắp ráp vàhoàn thiện sản phẩm Như mô tả trong phần định nghĩa, CNHT là ngành côngnghiệp “chân núi” còn các ngành công nghiệp lắp ráp là phần “đỉnh núi” Một sảnphẩm của ngành CNHT có thể phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp lắp ráp khácnhau như điện tử, ô tô, xe máy Với cùng một đầu vào là các linh kiện, phụ tùng, tùythuộc vào dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp lắp ráp có thể sản xuất ra các loạisản phẩm khác nhau Ngành công nghiệp lắp ráp là thị trường tiệu thụ cho CNHT

và CNHT chính là “nguồn sống” của ngành lắp ráp Thực tế ở một quốc gia cóngành điện tử phát triển như Nhật Bản với rất nhiều doanh nghiệp nổi tiếng nhưPanasonic, Sony, Sharp nhưng các doanh nghiệp lắp ráp này chỉ chiếm một phần rấtnhỏ khoảng 1% còn lại tới 96% là các doanh nghiệp CNHT Các doanh nghiệpCNHT hình thành một mạng lưới vệ tinh xung quanh các doanh nghiệp lắp ráp cónhiệm vụ chuyên cung cấp linh kiện, phụ tùng cho các doanh nghiệp hoàn thiện sảnphẩm

1.1.2.5 CNHT có tác động tới nhiều ngành kinh tế khác nhau.

Sản phẩm của ngành CNHT rất đa dạng và phong phú Các sản phẩm dongành CNHT sản xuất có liên quan tới nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế Chẳng hạnngành CNHT dệt may sản xuất ra các loại tơ, sợi, thuốc nhuộm, hóa chất nên có liênquan tới các ngành như nông nghiệp, hóa chất, cơ khí chế tạo máy Do đó sự pháttriển của ngành CNHT cũng tác động rất lớn tới nhiều ngành kinh tế khác nhau.Nếu như phát triển ngành CNHT sẽ có tác động “lan tỏa” tới sự phát triển của cácngành sản xuất khác cũng như tạo sự phát triển chung cho cả nền kinh tế

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ.

Một là, thị trường tiêu thụ của ngành công nghiệp hỗ trợ Mỗi ngành công

nghiệp đều phát triển theo một chuỗi giá trị riêng Tuy nhiên các ngành này đềuđược hình thành từ sự liên kết giữa hai khu vực: khu vực thượng nguồn (upstream)

và khu vực hạ nguồn (downstream) Trong đó khu vực thượng nguồn chính là cácngành CNHT và chúng cung cấp các linh kiện, phụ tùng lắp ráp cho khu vực hạ

Trang 16

nguồn là các ngành công nghiệp chính yếu ngành CNHT chỉ có thể phát triển đượckhi đầu ra phải đủ lớn hay nói cách khác nhu cầu về linh kiện, phụ tùng phải đủ lớn.Lợi thế lớn của ngành CNHT là lợi thế về quy mô sản xuất lớn dẫn tới giá thànhgiảm Nếu như nhu cầu về CNHT không đủ lớn sẽ khiến cho giá thành của ngànhCNHT cao và các nhà sản xuất sẽ lựa chọn nguồn cung nhập khẩu thay thế.

Hai là, tiến bộ khoa học kỹ thuật Ngày nay sự đổi mới về khoa học kỹ thuật

diễn ra từng ngày từng giờ và có khả năng to lớn trong việc tăng năng suất Việcphát minh ra các loại vật liệu mới cũng như các chi tiết mới có thể giúp phát triểncác ngành công nghiệp cũng như tạo ra các ngành mới CNHT có vai trò dẫn dắt cácngành công nghiệp hạ nguồn trong sự phát triển của mình cũng như chịu sự chi phốitrong việc sản xuất các chi tiết, linh kiện mới theo sự nghiên cứu phát triển các sảnphẩm mới của ngành này

Ba là, nguồn lực tài chính Như đã phân tích ở trên, CNHT là ngành đòi hỏi

nguồn lực tài chính mạnh mẽ Mặt khác, CNHT là ngành có thời gian thu hồi vốnlâu, đầu tư công nghệ phức tạp Do đó doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nàyđòi hỏi các nhà đầu tư phải có nguồn lực tài chính dồi dào Ở các quốc gia đangphát triển tình trạng thiếu vốn khiến cho việc thu hút FDI là một giải pháp quantrọng

Bốn là, mức độ bảo hộ thực tế Mức độ bảo hộ thực tế là tỷ lệ % giữa thuế

quan danh nghĩa với phần giá trị gia tăng nội địa Tỷ lệ này cho biết mức độ bảo hộthực tế của một ngành sản xuất trong nước Tỷ lệ này quyết định một phần tới mứcgiá bán cao hay thấp của sản phẩm cuối cùng

Năm là, quan hệ liên kết trong khu vực và toàn cầu, sức ảnh hưởng của các tập đoàn đa quốc gia Trong xu thế toàn cầu hóa, các ngành sản xuất không còn

chịu bó hẹp trong một quốc gia mà có xu hướng liên kết trong một chuỗi giá trị toàncầu Điều này cho phép mở rộng thị trường tiêu thụ cho ngành CNHT trong nướccũng như chịu sức ép từ ngành CNHT quốc tế Trong xu thế đó, các tập đoàn đaquốc gia trở nên có vai trò hết sức to lớn Các tập đoàn này với lợi thế về quy môlớn, nguồn lực tài chính hùng mạnh, sở hữu nhiều bí quyết công nghệ và quy trìnhsản xuất tiên tiến Vai trò to lớn của các tập đoàn đa quốc gia này khiến cho việc thuhút được các tập đoàn này đầu tư vào một quốc gia sẽ làm thay đổi to lớn một hoặc

Trang 17

thậm chí nhiều ngành công nghiệp đối với những quốc gia đang phát triển như ViệtNam.

Sáu là, các chính sách của Chính phủ có liên quan Bất cứ một ngành công

nghiệp nào muốn phát triển được đều cần đến sự quan tâm phát triển của Chính phủthông qua các chính sách Việc tạo ra khung chính sách ổn định về đầu tư cũng nhưsoạn thảo các văn bản pháp lý khuyến khích CNHT phát triển sẽ là chất xúc tác kéocác doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp FDI yên tâm đầu tư phát triển lâu dài

1.2 Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may.

1.2.1 Khái niệm.

Dệt may là ngành có truyền thống của Việt Nam Từ xa xưa người dân ViệtNam đã biết kéo sợi, dệt vải để may quần áo Hiện nay dệt may đã trở thành mộtngành hết sức quan trọng của nền kinh tế Sản phẩm của ngành dệt may đáp ứng cácnhu cầu sinh hoạt hàng ngày như quần áo, ga gối, chăn màn, rèm cửa,…Không chỉ

có vậy, các sản phẩm của ngành dệt may còn được sử dụng trong các lĩnh vực khácnhư vải lót đường, thi công đê điều, vật liệu chống thấm,…có thể nói dệt may làngành có thị trường phục vụ khá rộng và không thể thiếu trong nền kinh tế nước ta

Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may là ngành cung cấp các linh kiện, phụ tùngcho ngành dệt may Do đó muốn hiểu về ngành CNHT dệt may cần làm rõ quy trìnhsản xuất một sản phẩm dệt may hoàn chỉnh

Trang 18

Hình 1.3: Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may

Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp

Sản xuất bông

Sx xơ sợi tổng hợp

tự động

Công khí cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động

Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động

Công nghệ thiết kế thời trang

Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển

tự độngSản phẩm phụ Công nghệ dệt may Công nghệ phụ trợ

Trang 19

Qua bảng trên ta có thể thấy quá trình hoàn thiện một sản phẩm dệt mayhoàn chỉnh trải qua 6 bước: sản xuất xơ, sợi > kéo sợi > dệt vải > nhuộm, in > cắtmay > phân phối hàng may Trong các công đoạn này thì 4 công đoạn đầu tiênchính là các bước hỗ trợ cho ngành dệt may.

Như đã đề cập ở phần trên, quyết định số 12/2011/QĐ - TTg là văn bản đầutiên có đưa ra khái niệm về ngành CNHT tuy nhiên trong văn bản này chưa đề cậptới định nghĩa về CNHT cho ngành dệt may Do đó cho tới thời điểm này khái niệm

về CNHT dệt may chưa hề tồn tại trên bất kì một văn bản chính thức nào do NhàNước ban hành Trong phạm vi tìm hiểu của cá nhân cũng như dựa trên định nghĩa

về CNHT trong quyết định số 12/2011/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ có thểđưa ra định nghĩa về ngành CNHT dệt may như sau “CNHT dệt may là ngành sảnxuất vật liệu, phụ liệu, linh kiện, phụ kiện để cung cấp cho ngành dệt may”

1.2.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may.

1.2.2.1 Sản xuất nguyên liệu.

a, Ngành bông sợi.

Nghề trồng bông, dệt sợi xuất hiện ở Ấn Độ từ thời tiền sử từ hàng nghìnnăm trước Bằng chứng về sợi bông hóa thạch được tìm thấy tại địa điểm khảo cổMohenjo-Daro bên bờ sông Indus thuộc Ấn Độ Từ Ấn Độ nghề trồng bông, dệt sợiđược lan truyền tới vùng Lưỡng Hà rồi sang các nước khác Việc buôn bán sợi đượcxác định vào thời Alexander Đại Đế tại Roma vào khoảng thế kỷ thứ IV trước côngnguyên Bước vào thế kỷ XX, sợi bông đã trở thành thứ sợi tự nhiên quan trọng củathế giới

Ở nước ta, nghề trồng bông đã có lịch sử khoảng trên 2.000 năm Từ thờiPháp thuộc, sản lượng bông sản xuất ra đã đủ phục vụ nhu cầu trong nước Sangđầu thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu bông sang Nhật Bản, Hồng Kông

Kể từ khi đất nước bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, ngành bông sợi đã trở thànhmột trong những ngành trọng tâm của nền kinh tế Theo quyết định số 1255/QĐ -BNV của Bộ Nội Vụ ký ngày 27/10/2010, Hiệp hội Bông sợi Việt Nam đã đượcthành lập trên cơ sở sáp nhập Hiệp hội Bông vải Việt Nam và Hiệp hội Sợi ViệtNam Đây được coi là bước đi quan trọng và được sự ủng hộ của cả hai hiệp hội

Trang 20

trên với kỳ vọng việc sáp nhập sẽ mang lại cho ngành bông sợi những bước pháttriển mới trong thời gian tới.

b, Ngành trồng dâu, nuôi tằm.

Ngành sản xuất nguyên liệu là ngành cung cấp các nguyên liệu tự nhiên nhưbông len , tơ sợi để xe tơ, chỉ Ngành này thường phát triển ở các quốc gia có điềukiện khí hậu thuận lợi cho phát triển cây bông, đay và nghề trồng dâu nuôi tằm.Theo phỏng đoán của các nhà lịch sử, nghề trồng dâu nuôi tằm xuất hiện đầu tiên ởTrung Quốc cách đây khoảng 4.000 - 5.000 năm vào khoảng năm 2.200 trước Côngnguyên triều vua Châu Vương Vào thời điểm đó người dân Trung Quốc đã biếtnuôi tằm và thuần hóa giống tằm để làm ra tơ lụa phục vụ riêng cho triều đình Vì lí

do này mà bí mật về nghề trồng dâu nuôi tằm đã được người Trung Quốc giữ kíntrong khoảng hơn 1.000 năm Theo con đường tơ lụa, nghề trồng dâu nuôi tằm đượctruyền bá sang Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ

Tại Việt Nam, nghề trồng dâu nuồi tằm đã hình thành được khoảng 2.000năm và đã đạt đến trình độ khá cao Từ miền Bắc tới miền Nam đã hình thànhnhững vùng ươm tơ, dệt lụa nổi tiếng như Lĩnh Bưởi, Lương The, Nhiễu Hồng Đô(Thanh Hóa), Lụa Hạ (Hà Tĩnh), Tân Châu (An Giang)…Theo các nhà lịch sử,người có công truyền dạy nghề trồng dâu nuôi tằm cho người dân là công chúaThiều Hoa, con vua Hùng Vương thứ 6 (theo sở Khoa học và công nghệ HảiDương, 2009)

1.2.2.2 Ngành kéo sợi.

Ngành kéo sợi sử dụng các phương pháp hóa dầu để biến các nguyên liệu thôtrở thành các loại nguyên liệu phục vụ dệt may như chỉ, sợi, vải và nhiều nhất là sợitổng hợp Nếu các nguyên liệu thô có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật hay động vậtnhư bông, len sẽ cho ra sợi tự nhiên Ngược lại tơ sợi được sản xuất từ các loại chấtdẻo tổng hợp như nilon là tơ sợi nhân tạo

1.2.2.3 Ngành cơ khí.

Ngành cơ khí dệt may là ngành cung cấp các loại máy móc cho ngành dệtmay như máy kéo sợi, máy may và các loại khí đốt tự nhiên để vận hành máy móc,hóa dầu để sản xuất sợi Trong quá trình cơ khí hóa ngành dệt may, ngành cơ khíđóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, tiết kiệm nhân công, thời

Trang 21

gian và chuyên môn hóa quy trình dệt may Đặc biệt hiện nay xuất hiện xu hướngmới trong việc sản xuất loại vải kĩ thuật từ polypropylene và polyester có ứng dụngrất lớn trong các ngành giao thông, thủy lợi và môi trường Quy trình sản xuất loạivải kĩ thuật này đòi hỏi các loại máy móc hiện đại nên mới chỉ đang phát triển ở cácquốc gia có ngành dệt may phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc.

1.2.2.4 Ngành dệt vải.

Nghề dệt vải có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước và là một trong nhữngnghề thủ công có truyền thống lâu đời nhất Qua các dấu vết trên đồ gốm, hình dánghoa văn trên đồ đồng có thể nhận định tới thời Hùng Vương nghề dệt đã phát triển.Theo các nhà nghiên cứu vùng bờ bãi phía bắc Sông Hồng, quê hương của Hai BàTrưng là một trong những trung tâm của nghề ươm tơ, dệt vải và rất có thể cái tên

“Trưng Trắc, Trưng Nhị” được bắt nguồn từ cách gọi “Trứng chắc, trứng nhì” củangười nuôi tằm Làng Cổ Đô (Ba Vì) có nghề dệt lụa nổi tiếng, tương truyền do

công chúa Ngọc Hoa con gái vua Hùng truyền dạy ( NXB Khoa học xã hội, Thời đại Hùng Vương, lịch sử kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, 1976, trang 110) Theo

các thư tịch cổ của Trung Quốc (Hán thư, Nam phương dị vật chí) tới thời Bắcthuộc người Việt đã biết trồng bông, đay, gai để dệt vải ( Trần Quốc Vượng & Hà

Văn Tấn, 1960, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, NXB Giáo dục) Tới thế kỷ

thứ XVIII - XIX, ở nước ta đã hình thành các trung tâm dệt lớn với nhiều loại sảnphẩm đặc sắc như La Khê, Vạn Phúc, Bưởi, Nghi Tàm Nhiều sản phẩm dệt nổitiếng và rất được ưa chuộng cả trong và ngoài nước như the, lụa, lĩnh, đũi, gấm,vóc, lượt,…

Ngành dệt vải công nghiệp sử dụng các nguyên liệu là xơ và sợi để sản xuất

ra các loại vải chính là vải dệt thoi, vải dệt kim và vải không dệt Vải dệt thoi đượchình thành từ hai bộ sợi dọc và sợi ngang trong đó sợi dọc là sợi được căng theochiều dài của vải Vải dệt kim được đan bằng tay hoặc bằng máy bởi sự liên kết một

hệ các vòng sợi với nhau Các vòng sợi (mắt sợi) được liên kết với nhau nhờ kimdệt giữ vòng sợi cũ trong khi một vòng sợi mới được hình thành ở phía trước vòngsợi cũ, sau đó hai vòng sợi được lồng với nhau để tạo thành tấm vải Như vậy vảidệt kim khác vải dệt thoi ở điểm chỉ cần một sợi đơn cũng có thể hình thành đượctấm vải Vải không dệt là loại vải tương đối mới được cả nhà sản xuất và người tiêu

Trang 22

dùng ưa thích do dễ dàng sản xuất và giá thành rẻ Vải không dệt là hỗn hợp nhiềuloại xơ trong đó có một loại xơ đặc biệt có tính chất như chất kết dính Ở công đoạncuối cùng khi hỗn hợp xơ được ép thành tấm có chiều dài mong muốn, toàn bộ hỗnhợp sau đó được ép nóng Lúc này các sợi xơ đặc biệt sẽ tan chảy từng phần và kếtdính các sợi xơ với nhau và giữ nguyên hình dạng của tấm vải khi toàn bộ hỗn hợpnày nguội.

1.2.2.5 Ngành nhuộm, in.

Nghề nhuộm vải có lịch sử lâu đời Ở Trung Quốc, Ấn Độ, người dân đã biếtdùng các loại thảo mộc để nhuộm từ xa xưa Năm 1856, thuốc nhuộm tổng hợp rađời đã hình thành nên những xưởng nhuộm thủ công đầu tiên ở châu Âu Cuối thế

kỷ thứ XIX, những máy nhuộm thế hệ đầu tiên ra đời đã khởi đầu cho ngành côngnghiệp nhuộm, in Ở Việt Nam nghề nhuộm cũng đã có từ lâu đời Năm 1899 nước

ta có xưởng nhuộm đầu tiên của nhà máy Dệt Nam Định do thực dân Pháp xâydựng Sau đó một số xưởng nhuộm nhỏ do người Việt được xây dựng như Tô Châu,Sơn Nam, Cự Doanh, len Hải Phòng Sau 1960, một số nhà máy dệt trong nước nhưDệt 8/3, Dệt kim Đông Xuân, Dệt Thắng Lợi, Dệt Phong Phú, Dệt Việt Thắng, DệtĐông Á, Dệt Phước Long, Dệt Long An,…đều xây dựng các xưởng nhuộm riêng

Nhuộm, in là một khâu rất quan trong trong ngành dệt may Nhuộm là quátrình gia công vật liệu dệt trắng thành có màu, tuỳ theo dạng vật liệu (xơ, sợi hayvải) và bản chất (xơ thiên nhiên hay xơ tổng hợp) mà dùng loại thuốc nhuộm thíchhợp Kỹ thuật nhuộm có hai phương pháp: (1) Nhuộm giai đoạn, thực hiện từng mẻtheo các hình thức: vật liệu dệt tĩnh, dung dịch nhuộm chuyển động; vật liệu dệtchuyển động, dung dịch nhuộm tĩnh; cả vật liệu dệt và dung dịch nhuộm cùngchuyển động và (2) Nhuộm liên tục thực hiện khi vải luôn chuyển động trong quátrình gia công Ngành này đòi hỏi một loạt các công đoạn sản xuất nước các sảnphẩm vải qua các quy trình: nấu, tẩy, làm bóng, giặt nhuộm, in hoa và xử lý hoàntất Các công đoạn này sử dụng rất nhiều các loại hóa chất, thuốc nhuộm, chất trợ,

…để tạo ra các loại chất liệu, màu sắc khác nhau cho sản phẩm Do thị hiếu thẩm

mỹ trong ngành thời trang liên tục thay đổi nên ngành này hết sức cần thiết chocông nghiệp dệt may Hàng năm ngành dệt may tạo ra hàng triệu tấn sản phẩm từ

Trang 23

các loại chỉ khâu, vải màn, vải thành phẩm, khăn các loại,… và tất cả đều có nhucầu về sử dụng thuốc nhuộm.

1.3 Vai trò của CNHT đối với sự phát triển ngành dệt may nói riêng và kinh tế xã hội Việt Nam nói chung.

1.3.1 Nâng cao giá trị và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp dệt may.

Các sản phẩm CNHT dệt may rất đa dạng và phong phú về chủng loại, từ câykim, sợi chỉ cho tới các loại máy may, dệt hiện đại Các sản phẩm có giá trị rất nhỏnhư cái cúc, cái khóa nhưng với quy mô sản xuất hàng loạt lớn của các doanhnghiệp dệt may thì tổng giá trị mà doanh nghiệp phải bỏ ra không hề nhỏ Việc tựchủ được nguồn cung các sản phẩm này với số lượng lớn và ổn định sẽ giúp doanhnghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất rất lớn Tuy nhiên hiện nay trong nước cácdoanh nghiệp dệt may chưa thể tìm thấy nguồn cung ổn định ở trong nước mà hầuhết đều nhập khẩu Việc nhập khẩu hầu hết mọi thứ từ cây kim, sợi chỉ cho tới cácloại máy móc với các loại chi phí không hề rẻ như vận chuyển, bảo hiểm,kho bãi,…

và các rủi ro trong quá trình vận chuyển khiến cho chi phí sản xuất tăng cao và giátrị gia tăng tạo ra là rất nhỏ Điều này cũng vô hình chung biến Việt Nam với lợi thếduy nhất về nguồn nhân công giá rẻ trở thành điểm gia công hàng hóa cho thế giớitrong chuỗi giá trị toàn cầu CNHT phát triển sẽ giúp doanh nghiệp dệt may tự chủđược nguồn nguyên phụ liệu trong nước, qua đó giảm chi phí nhập khẩu Thêm vào

đó với nguồn nguyên phụ liệu được đảm bảo, các doanh nghiệp sẽ tập trung vào cáckhâu như thiết kế, marketing, phân phối, bán hàng,… Đây là các công đoạn giúpcho doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình Hiện nay cácdoanh nghiệp dệt may trong nước chủ yếu sản xuất theo phương thức gia công, lợinhuận kinh tế thấp chỉ chiếm 10 - 15% giá trị sản phẩm Nếu tự chủ được nguồnnguyên phụ liệu các doanh nghiệp có thể mở rộng các phương thức sản xuất có giátrị cao như FOB, ODM

Mặt khác việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu cũng khiến choquá trình sản xuất ngành dệt may mất tính chủ động Hiện nay ngành dệt may chủyếu nhập khẩu các loại nguyên, phụ liệu may Phương pháp vận chuyển được sửdụng chủ yếu là tàu biển do giá thành rẻ hơn các phương thức khác rất nhiều Tuynhiên nhược điểm của phương thức vận tải này là thời gian vận chuyển kéo dài và

Trang 24

nhiều rủi ro trong quá trình vận tải mà người nhập khẩu phải gánh chịu Với nhữngđơn hàng dệt may lớn cần hoàn thành trong thời gian ngắn, việc phải chờ đợi nguồnhàng sẽ khiến cho doanh nghiệp dệt may bỏ lỡ những cơ hội lớn với những nguồnlợi nhuận không nhỏ Điều này cũng khiến cho các đối tác trở nên kém tin tưởngvào năng lực sản xuất của doanh nghiệp dệt may Việt Nam và sẽ khiến cho các cơhội mở rộng bạn hàng của chúng ta thấp hơn rất nhiều các doanh nghiệp ở các quốcgia khác.

1.3.2 Khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu máy móc, nguyên liệu góp phần cân đối cán cân xuất nhập khẩu.

Đặc điểm của các doanh nghiệp CNHT đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Hơn thế nữa các sản phẩm hỗ trợ dệt may rất phong phú về chủng loại nên thu hútđược nhiều đối tượng tham gia từ các hộ gia đình, các làng nghề sản xuất các sảnphẩm đơn giản không đòi hỏi nguồn vốn lớn cho tới các doanh nghiệp lớn với máymóc trang bị hiện đại Hiện nay ở Việt Nam các nguồn lực trong dân còn rất lớncùng với nguồn tài nguyên phong phú, lực lượng lao động dồi dào giá rẻ, nếu biếtcách kêu gọi sự tham gia từ phía người dân vào lĩnh vực sản xuất này thì lợi íchkinh tế và xã hội thu được không hề nhỏ.Việc phát triển ngành CNHT sẽ tạo thêmnhiều việc làm cho người lao động ở cả hai ngành CNHT và các ngành sản xuất lắpráp CNHT cũng là một ngành rất có tiềm năng phát triển ở nước ta nên sẽ mang lạinhiều lợi ích kinh tế nếu như các nhà đầu tư trong nước tham gia vào lĩnh vực này

Mặt khác việc phát triển ngành CNHT trong nước giúp tận dụng nguồn tàinguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất trong nước, hạn chế xuất khẩu nguyênliệu thô Thêm vào đó, phát triển được ngành CNHT trong nước giúp giảm nhậpkhẩu máy móc thiết bị và nguyên, phụ liệu sẽ tiết kiệm được nguồn ngân sách rấtlớn cho Nhà Nước và góp phần cân đối cán cân xuất nhập khẩu Đồng thời với việchạn chế nhập khẩu, lượng ngoại tệ tiết kiệm được từ hoạt động này cũng giúp chocán cân thanh toán quốc gia được cân bằng, giúp ổn định nguồn ngoại tệ trongnước Hàng năm, việc các doanh nghiệp thiếu nguồn ngoại tệ phục vụ mục đíchnhập khẩu và tìm kiếm ở các kênh phi chính thức khiến cho thị trường tài chínhbiến động bất thường không theo sự điều tiết của Nhà Nước Việc ổn định đượcnguồn cung ngoại tệ nhờ hạn chế nhập khẩu từ hoạt động phát triển các ngành công

Trang 25

nghiệp trong nước như CNHT sẽ giúp thị trường tài chính ổn định và tạo tiền đề chocác chính sách phát triển kinh tế trong thời gian dài.

1.3.3 Phát huy “sức mạnh lan tỏa” cho hệ thống công nghiệp Việt Nam.

Mỗi ngành công nghiệp trong nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ mật thiếtvới nhau Sự phát triển của ngành này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cácngành khác và ngược lại Chẳng hạn, ngành may phát triển sẽ khiến cho nhu cầu vềnguyên, phụ liệu may tăng cao giúp cho ngành trồng dâu, nuôi tằm phát triển, haynhu cầu về máy móc trang thiết bị đầu vào của ngành dệt may là cơ hội cho ngành

cơ khí Ngành cơ khí phát triển lại là ngành có thể cung cấp máy móc cho nhiềungành công nghiệp như khai khoáng, xây dựng,…Và các ngành này phát triển sẽkéo theo sự phát triển của các ngành cung cấp sản phẩm đầu vào cho chúng pháttriển Cứ như vậy quá trình lan tỏa sự phát triển mở rộng ra toàn nền kinh tế

Ngành CNHT là ngành có khả năng cung cấp sản phẩm cho rất nhiều ngànhcông nghiệp khác nhau CNHT phát triển sẽ gia tăng nguồn cung linh kiện, phụ tùngcho nhiều ngành công nghiệp Các doanh nghiệp khi đó sẽ có được nguồn cung đầuvào ổn định và chất lượng Với những lợi thế đó, các ngành công nghiệp sẽ giảmbớt tỷ lệ nhập khẩu, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm Cùng với đó đểtận dụng nguồn nguyên liệu đầu vào sẵn có này, các doanh nghiệp dần từ bỏ hìnhthức gia công, lắp ráp đơn thuần mà chuyển sang việc tự sản xuất nhằm thu đượcnhiều lợi nhuận hơn Xu thế đó sẽ thúc đẩy các ngành này phát triển

1.3.4 Tạo thêm nhiều việc làm góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và

ổn định xã hội.

Dệt may là ngành có vai trò quan trọng trong việc giải quyết một lượng lớnlao động Theo số liệu của Tổng cục thống kê trong báo cáo điều tra lao động vàviệc làm tính tới 01/07/2010 cả nước có 50,8 triệu người chiếm 58,5% tổng dân sốtrong độ tuổi lao động trong đó có 1,3 triệu người đang thất nghiệp Hiện nay ngànhdệt may đang giải quyết cho khoảng 2 triệu lao động (theo trang diễn đàn doanhnghiệp, 2012) và dự kiến theo quy hoạch phát triển ngành dệt may giai đoạn 2010-

2020 sẽ tăng lên 5 triệu lao động vào năm 2020 Hàng năm có khoảng 1,3 triệungười tham gia vào thị trường lao động Việt Nam khiến cho việc giải quyết nhu cầu

về việc làm trở nên khó khăn khi mà số việc làm tăng thêm thấp hơn nhiều Việc

Trang 26

ngành CNHT dệt may phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho ngành này cũngnhư cho ngành dệt may Không những vậy CNHT phát triển cũng góp phần thúcđẩy các ngành công nghiệp lắp ráp phát triển qua đó tạo thêm nhiều việc làm cho xãhội

1.3.5 Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp dệt may.

Việc phát triển CNHT và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệkhá mật thiết với nhau CNHT phát triển sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nướcngoài trong việc đầu tư vào các ngành công nghiệp trong nước Một trong nhữngyêu cầu về đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đó là các ngành phụ trợ cho các ngànhcông nghiệp chính phải đủ mạnh để cung cấp nguồn nguyên liệu, linh kiện và phụtùng sẵn có trong nước cho yêu cầu sản xuất của ngành công nghiệp chính Nếu cácngành phụ trợ không phát triển các nhà đầu tư buộc phải nhập khẩu và không thểtận dụng các nguồn lực sẵn có của nước nhận đầu tư Thực trạng này đang xảy ravới các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam khi mà ngành CNHT không phát triểnkhiến cho việc sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài chỉ dừng ở mức độ gia công đểtận dụng ưu thế về giá nhân công rẻ của nước ta Điều này ảnh hưởng tới những kếhoạch đầu tư lâu dài của các nhà đầu tư Hiện nay lợi thế về giá nhân công rẻ, môitrường chính trị ổn định đã không còn là những thuận lợi về dài hạn cho các nhà đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam so với các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ TạiTrung Quốc, Chính phủ nước này đã cho xây dựng những khu công nghiệp tậptrung cho các nhà đầu tư vào ngành nhuộm, dệt, may mặc Tại các khu công nghiệpnày nhà đầu tư nước ngoài được hưởng những chính sách hết sức ưu đãi như hệthống xử lý nước thải tập trung cho các doanh nghiệp nhuộm, dệt may giúp chủ đầu

tư tiết kiệm chi phí xử lý nước thải Ngoài ra hai yếu tố rất quan trọng cấu thành nênchi phí sản xuất của ngành dệt may là giá điện và giá nước cũng khiến cho các nhàđầu tư so sánh cân nhắc khi lựa chọn nước đầu tư Hiện nay nguồn cung cấp điện ởtrong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Do thiếu điện, ngành điện lực thườngxuyên phải tổ chức cắt điện luân phiên ở các đô thị Thậm chí vào những lúc caođiểm, một số khu công nghiệp cũng bị cắt điện luân phiên khiến cho việc sản xuất

bị đình trệ, chi phí phải bỏ ra là rất lớn

Trang 27

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam.

1.4.1 Quy mô thị trường.

Đối với bất kỳ một ngành sản xuất nào, dung lượng thị trường là yếu tố hếtsức quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát triển của ngành đó Đặc biệt ngànhCNHT dệt may là ngành đòi hỏi thị trường tiêu thụ phải rất lớn nếu không ngànhnày sẽ không thể phát triển CNHT dệt may là ngành đòi hỏi đầu tư ban đầu rất lớncho máy móc, trang thiết bị sản xuất do các loại máy móc sử dụng trong ngành nàyđều hết sức hiện đại Do chi phí đầu tư ban đầu cho tài sản cố định lớn nên điểm hòavốn của ngành CNHT dệt may khá cao Do đó ngành CNHT cần phải sản xuất với

số lượng lớn mới đảm bảo khả năng hoàn vốn Nếu như thị trường tiêu thụ củaCNHT dệt may nhỏ sẽ làm cho số lượng sản xuất các sản phẩm phụ trợ dệt may ítlàm cho giá thành một đơn vị sản phẩm cao Các sản phẩm được sản xuất với giáthành cao hơn giá thành nhập khẩu sẽ không thể cạnh tranh trên chính thị trườngcủa nước mình

1.4.2 Tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Do tính chất thường xuyên thay đổi và cải tiến, khoa học kỹ thuật và côngnghệ có vai trò quan trọng đối với bất cứ ngành công nghiệp nào Vai trò này càngđược khẳng định đối với ngành CNHT dệt may do ngành này phải sử dụng các loạimáy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến Môt mặt, sự cải tiến khoa học kỹthuật tạo ra ảnh hưởng dẫn dắt khi CNHT tạo ra các loại nguyên, nhiên liệu mớigiúp nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm cuối cùng Mặt khác việc đổimới về công nghệ trong các ngành công nghiệp chính cũng tạo ra yêu cầu đòi hỏingành CNHT phải luôn luôn nắm bắt khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của ngành sản xuất chính

Thêm vào đó với sự phát triển của công nghệ thông tin, quy trình sản xuấtcủa các doanh nghiệp đang được kết nối với nhau Dell là một doanh nghiệp sảnxuất máy tính đã rất thành công với mô hình áp dụng mạng liên kết doanh nghiệp.Quy trinh sản xuất của Dell và các nhà cung cấp được liên kết với nhau trong mạngkết nối chung Do đó khi có bất cứ một sự thay đổi nào trong quy trình sản xuất sẽđược tự động thông tin tới các nhà cung cấp thông qua hệ thống internet Điều này

Trang 28

giúp cho các nhà cung cấp kịp thời cung ứng cho Dell giúp cho quá trình sản xuấtluôn được diễn ra trôi chảy Mặt khác hệ thống này cũng giúp cho lượng hàng tồnkho trong Dell hầu như bằng không do quy trình sản xuất luôn diễn ra đồng bộ vớiquá trình cung ứng đầu vào nên không xảy ra tình trạng thừa nguyên liệu giúp giảmmột lượng lớn chi phí hàng tồn kho trong doanh nghiệp Trong các ngành côngnghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp hỗ trợ có vai trò rất quan trọng trong việc cungcấp nguyên phụ liệu kịp thời Ngành dệt may là ngành đòi hỏi rất nhiều nguyên phụliệu trong quá trình sản xuất Các loại nguyên phụ liệu này rất đa dạng về chủng loạinên ngành dệt may bắt buộc phải tìm kiếm nguồn cung cấp từ nhiều nhà sản xuấtkhác nhau Nếu như quy trình liên kết giữa doanh nghiệp dệt may và doanh nghiệpCNHT không được phối hợp nhịp nhàng, chỉ cần thiếu một phần chi tiết rất nhỏ từnhà cung cấp phụ liệu cũng có thể khiến cho quy trình sản xuất của doanh nghiệpdệt may bị đình trệ Do đó các doanh nghiệp CNHT cần đóng vai trò như những vệtinh liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp dệt may trong quá trình cung cấp sản phẩmđầu vào Để làm được điều đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trở thành lợi thếcạnh tranh và yếu tố sống còn đối với ngành CNHT.

1.4.3 Nguồn lực tài chính.

Các doanh nghiệp muốn tham gia vào ngành CNHT thường gặp bất lợi lớn

về nguồn lực tài chính Đặc điểm của ngành này là đòi hỏi vốn đầu tư lớn và thờigian hoàn vốn thường lâu hơn các ngành khác Đây là trở ngại lớn đối với cácdoanh nghiệp có quy mô nhỏ với nguồn lực tài chính không quá lớn như các doanhnghiệp tư nhân Do đó đối tượng hết sức quan trọng cần hướng tới để thu hút đầu tưvào lĩnh vực này là các nhà đầu tư nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia Các tậpđoàn này với lợi thế về tiềm lực tài chính dồi dào, khoa học công nghệ sản xuất hiệnđại cũng như có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực CNHT ở các quốc gia khác sẽgiúp cho ngành CNHT nước ta phát triển nếu được khuyến khích đầu tư một cáchhợp lý Trong sáng kiến chung Việt - Nhật được kí kết giữa Thủ tướng Chính phủhai nước nhằm nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Namđiều đầu tiên và hết sức quan trọng được nhắc tới đó là phát triển ngành CNHT.Việc phát triển CNHT có tác động hai chiều đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Trang 29

Việt Nam, phát triển CNHT thu hút FDI và FDI giúp cho CNHT phát triển Đó làmối quan hệ tương hỗ lẫn nhau.

1.4.4 Cơ chế chính sách của Chính phủ có liên quan.

Với bất cứ một ngành công nghiệp nào, nếu được chính phủ quan tâm đúngmức sẽ giúp cho ngành công nghiệp đó phát triển Sự quan tâm của Chính phủ ởđây thể hiện thông qua hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và thông thoáng tạo điều kiệncho nhà đầu tư muốn tham gia vào lĩnh vực CNHT Ngoài ra Chính phủ cần có các

ưu đãi khác cho nhà đầu tư như ưu đãi về thuế, cơ sở hạ tầng, khuyến khích ngànhcông nghiệp chính phát triển tạo thị trường ổn định cho ngành CNHT Thời kì đầusau đổi mới chúng ta chỉ tập trung khai thác lợi thế giá lao động rẻ nên thiên vềhướng sản xuất gia công Việc chưa chú ý tới ngành CNHT với rất ít những chínhsách khuyến khích cho nhà đầu tư khiến cho ngành này chưa thể phát triển Vớimục tiêu phát triển ngành công nghiệp theo chiều sâu nhằm hiện thực hóa mục tiêutrở thành nước công nghiệp vào năm 2020, hiện nay Chính phủ đang rất quan tâmtới ngành CNHT và đặc biệt ưu đãi các nhà đầu tư trong lĩnh vực này Đây là mộtthuận lợi lớn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

1.5 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số quốc gia trên thế giới.

1.5.1 Trung Quốc.

Trung Quốc là nước có truyền thống dệt may từ hàng ngàn năm nay Trongnhiều năm trở lại đây ngành dệt may Trung Quốc luôn đóng vai trò quan trọng trongnền kinh tế quốc dân và ngành dệt may thế giới Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu dệtmay của Trung Quốc đạt 206,53 tỷ USD (theo báo Tuổi trẻ online, 2011) và tiếp tụcgiữ vai trò là quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới Để có được những thànhtựu đó Trung Quốc đã rất thành công trong việc phát triển ngành CNHT dệt mayvới các chính sách phát triển bao gồm:

- Chỉ trong vòng 2 năm 1998 và 1999, Chính phủ Trung Quốc đã mạnh dạnthực thi chính sách hiện đại hóa ngành dệt may với việc loại bỏ 9 triệu cọc sợi cũ và

hỗ trợ cho các doanh nghiệp 3 triệu nhân dân tệ và cho vay lãi suất ưu đãi 2 triệu

nhân dân tệ với mỗi 10.000 cọc sợi cũ bị loại bỏ (Aimin Chen, 2002, The structure

of Chinese industry and the impact from China's WTO entry).

Trang 30

- Quy hoạch các công ty sản xuất hàng dệt may về khu vực duyên hải lànhững vùng có truyền thống về dệt may nhằm tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, kinhnghiệm sản xuất và đội ngũ lao động có trình độ cao cũng như lợi thế và quy môsản xuất.

- Ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng đầu tiên làm nền tảng cho quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây có thể coi là quyết sách mang tính cáchmạng của Chính phủ Trung Quốc so với mô hình công nghiệp hóa cổ điển Songsong với đó, Chính phủ Trung Quốc cũng dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiênphong phú và lợi thế lao động giá rẻ để thu hút đầu tư nước ngoài Chính phủ TrungQuốc cũng tận dụng tối đa nguồn lực từ lực lượng Hoa Kiều tới hàng chục triệungười sinh sống trên khắp thế giới luôn hướng về Trung Hoa đại lục

1.5.2 Đài Loan

Ở Đài Loan, dệt là một trong những ngành công nghiệp truyền thống đã được

ra đời từ rất sớm Ngành dệt được hình thành từ khi người những người Đại Lụcđầu tiên di cư sang vùng đất này và mang theo cả những chiếc máy dệt và côngnghệ dệt Sau đó nghề dệt được truyền cho những người Đài Loan và trở nên rấtphổ biến Tới những năm 1960 và 1970 của thế kỷ trước, ngành dệt ở Đài Loan đãđạt được tốc độ tăng trưởng cao Bước sang những năm đầu thập niên 80, phần lớnsản phẩm dệt may của Đài Loan chủ yếu phục vụ xuất khẩu Cho tới nay, Đài Loan

đã trở thành một cường quốc về xuất khẩu sản phẩm dệt may Sản phẩm dệt maycủa nước này có thị phần cao trên thế giới và có khả năng cạnh tranh với các quốcgia khác Để có được sự phát triển của ngành dệt may như vậy, Chính phủ Đài Loancũng thực hiện rất nhiều chính sách để phát triển ngành CNHT cho ngành này

Thời kỳ đầu, để bảo hộ cho ngành sản xuất nguyên phụ liệu trong nước,Chính Phủ Đài Loan đã áp dụng chính sách “những hỗ trợ ban đầu” gồm các biệnpháp: áp dụng các biện pháp thuế quan và hạn ngạch nhằm hạn chế việc nhập khẩusợi và thành phẩm, hạn chế việc xây dựng thêm các nhà máy mới và kiểm soát việctiếp cận nguồn nguyên phụ liệu Chính phủ trực tiếp cung cấp bông thô cho các nhàmáy sợi và thu mua toàn bộ xơ sợi do các nhà máy này sản xuất để cung cấp chocác nhà máy dệt Tiếp đó, để khuyến khích các nhà máy đầu tư mở rộng sản xuất,Chính phủ sử dụng chính sách tín dụng cho vay với mức lãi suất thấp, thông qua

Trang 31

một cơ quan đại diện của một doanh nghiệp kỹ thuật Mỹ tại địa phương để xem xétcác yêu cầu vay vốn của từng nhà máy Nhờ có các biện pháp này của Chính phủ, từnăm 1952, xuất khẩu dệt may của Đài Loan bắt đầu tăng.

Mặt khác, Chính phủ Đài Loan thực hiện việc đa dạng hóa các sản phẩm dệtbằng cách khuyển khích các doanh nghiệp chuyển sang sử dụng thêm các loại sợitổng hợp thay cho các loại sợi từ bông Đến năm 1954, ngành công nghiệp hóa chấtcủa Đài Loan đã có thể sản xuất tơ xenlulo Năm 1957, liên doanh sản xuất vớinước ngoài đầu tiên được thành lập Đây là liên doanh giữa một số doanh nghiệptrong nước với một doanh nghiệp của Mỹ trong đó doanh nghiệp Mỹ chỉ đóng vaitrò lập kế hoạch, cung cấp máy móc thiết bị và đào tạo công nhân Tới năm 1962,dưới sự tài trợ của Chính phủ, liên doanh này tiếp tục hợp tác với Nhật Bản để muacông nghệ sản xuất nilon Tới những năm cuối thập kỷ 60, 70, các doanh nghiệp tưnhân bắt đầu tham gia vào ngành sản xuất tơ sợi tổng hợp Tuy nhiên để nắm bắtđược công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp này thay vì liên doanh với các doanhnghiệp nước ngoài đã chọn hình thức mua giấy phép Chính phủ Đài Loan lúc nàylại đóng vai trò trung gian nhằm tìm kiếm các doanh nghiệp nước ngoài có côngnghệ hiện đại để hợp tác với doanh nghiệp trong nước Với những chính sách này,ngành sản xuất sợi tổng hợp của Đài Loan phát triển nhanh chóng để trở thành nướcsản xuất loại sản phẩm này lớn thứ tư trên thế giới vào năm 1981

Trong quá trình phát triển của ngành dệt may, Chính phủ Đài Loan chú trọnghướng tới xuất khẩu, dần từ bỏ phương thức sản xuất thay thế nhập khẩu truyềnthống Đài Loan cũng áp dụng nhiều chính sách bảo hộ cho ngành sản xuất trongnước Những năm 1960, công ty sản xuất máy khâu Singer của Mỹ muốn xây dựngmột nhà máy chế tạo tại Đài Loan Chính phủ đã chấp nhận cho công ty này sảnxuất tại đây với điều kiện Singer phải mua hơn 80% những bộ phận rời rạc ở trongnước trong vòng một năm Để đáp ứng yêu cầu về chất lượng các bộ phận được sảnxuất nội địa mà công ty phải thu mua, Singer buộc phải chuyển giao công nghệ chocác doanh nghiệp sản xuất phụ tùng trong nước Ngành công nghiệp sản xuất phụtùng của Đài Loan nhờ vậy mà được nâng cấp về công nghệ đáng kể Một trườnghợp khác cũng là một doanh nghiệp Mỹ là công ty hóa chất và chiết xuất quốc gia

Mỹ đề nghị với Chính phủ Đài Loan cho phép công ty này xây dựng một nhà máy

Trang 32

sản xuất polyetylen và được bán sản phẩm trong thị trường nội địa Đài Loan vốnđang được Chính phủ bảo hộ trước hàng nhập khẩu Chính phủ Đài Loan đã miễnthuế cho công ty này năm năm và cho phép công ty được bán sản phẩm trên thịtrường nội địa Đổi lại, sau năm năm đó công ty này phải chuyển sang hình thứcliên doanh với 50% cổ phần thuộc về công ty Đài Loan Những chính sách mà ĐàiLoan thực hiện ban đầu nhằm bảo vệ cho nền sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuấtkhẩu Sau đó các chính sách này nhằm buộc các doanh nghiệp nước ngoài muốnthâm nhập vào thị trường Đài Loan phải mang theo công nghệ sản xuất hiện đại tới

và chuyển giao các công nghệ này cho các doanh nghiệp Đài Loan

Sau này khi các hàng rào thuế quan được cắt giảm, Chính phủ Đài Loan tiếptục sử dụng các biện pháp phi thuế quan nhằm hỗ trợ cho các nhà sản xuất trongnước

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

DỆT MAY VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam.

2.1.1 Lịch sử hình thành.

Ngành dệt may Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời Từhàng ngàn năm trước người dân nước ta đã biết trồng dâu, nuôi tằm, trồng cây bông,đay, gai để kéo sợi, dệt vải may quần áo phục vụ nhu cầu sinh hoạt Cho tới tậnngày nay những làng nghề truyền thống về dệt từ xa xưa vẫn còn tồn tại như khẳngđịnh cho truyền thống lịch sử lâu đời của ngành dệt may như lụa Vạn Phúc, khănPhùng Xá (Hà Tây), dệt làng Mẹo (Thái Bình), thổ cẩm Mai Châu (Hòa Bình),…Tuy nhiên các làng nghề này mới chỉ dừng lại ở mức phục vụ sinh hoạt hàng ngàychứ chưa đi vào sản xuất công nghiệp

Cho tới tận cuối thế kỉ XIX, ngành công nghiệp dệt may của nước ta mới đượcmanh nha hình thành Những cơ sở sản xuất dệt may được hình thành với quy môsản xuất nhỏ như xí nghiệp bông vải Bắc Kỳ, xí nghiệp tơ lụa Bắc Kỳ, xí nghiệp tơtằm Delignon do người Pháp đầu tư và một vài xí nghiệp của tư nhân rất nhỏ ở cácthành phố lớn là nền móng đầu tiên của ngành dệt may nước ta Tuy nhiên phươngthức sản xuất chủ yếu được áp dụng thời kì đó là thủ công nên ngành công nghiệpdệt may vẫn chưa có vị trí đáng kể

Sau khi giải phóng miền Bắc năm 1954, Chính phủ có chủ trương phát triểnngành dệt may thành ngành mũi nhọn nên đã thành lập nhiều cơ sở dệt may với sựgiúp đỡ về máy móc từ Trung Quốc và các nước Đông Á cùng với việc tổ chức lạicác xí nghiệp của Pháp để lại Với chủ trương đó, ngành dệt may đã đáp ứng đượcnhu cầu của người dân trong nước ngoài ra hàng năm ngành dệt may còn xuất khẩuđược hàng trăm triệu sản phẩm sang các nước Đông Âu để đổi lấy các loại hàng hóathiết yếu khác cho nhu cầu trong nước Ngành dệt may khi đó đã trở thành điểm tựacho nền kinh tế non trẻ trong thời điểm khó khăn nhất khi miền Bắc phải sản xuất

để hỗ trợ miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước

Năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, ngành dệt maymiền bắc đã tiếp nhận thêm nhiều cơ sở sản xuất của miền Nam với các loại máymóc tiên tiến Tận dụng điều đó ngành dệt may đã sản xuất được các sản phẩm đa

Trang 34

dạng hơn như từ chỗ chỉ sản xuất được bông thuần chủng ngành dệt may đã sảnxuất được bông pha tổng hợp, từ sản xuất sản phẩm cấp thấp đã tạo ra nhiều sảnphẩm cấp cao, đa dạng về chủng loại.

Cho tới nay, dù gặp nhiều khó khăn nhưng ngày dệt may vẫn luôn khẳng địnhđược vị trí quan trọng trong nền kinh tế Ngành dệt may trong những năm gần đâyluôn là ngành xuất khẩu thu về nhiều ngoại tệ nhất cho quốc gia và hứa hẹn trởthành ngành công nghiệp trụ cột cho nền kinh tế trong nhiều năm tới

2.1.2 Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam.

Trong nhiều năm trở lại đây, ngành dệt may đã trở thành một trong nhữngngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế Đặc biệt từ năm 2009 dệt may đã vượtqua ngành dầu khí để trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong cácngành kinh tế Ngành dệt may đã đạt được nhiều thành tựu và xứng đáng trở thànhngành kinh tế mũi nhọn với nhiều thành tích đáng khích lệ trong cả phát triển kinh

tế và nâng cao chất lượng đời sống xã hội

2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu.

Trong vòng 5 năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may liên tụctăng Năm 2009 với ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giớikhiến cho ngành dệt may gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu Tuy nhiên với nhiều

nỗ lực trong sản xuất, kim ngạch xuất khẩu trong năm 2009 của ngành dệt may vẫnđạt 9,08 tỷ USD, giảm nhẹ khoảng 0,6% so với năm 2008 Thành tích này củangành dệt may rất đáng ghi nhận trong bối cảnh nhiều ngành kinh tế bị đình trệ,xuất khẩu giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Tiếp tục phát huynhững nỗ lực đó, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của ngành đã tăng trưởng trở lại.Bước sang năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của ngành tăng nhanh lên 15,8 tỷ USD,tăng so với năm 2010 khoảng 41% Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5năm trở lại đây

Trang 35

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam qua các năm 1995-2011.

Nguồn: http://www.vietnamtextile.org.vn/vi/trang-chu.aspx, 37A

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngành dệt may thế giới chịu những tácđộng năng nề, kim ngạch toàn ngành giảm sâu 12-15% Mặc dù vậy, ngành dệt maynước ta vẫn đứng vững Bước sang năm 2010 với những tín hiệu phục hồi về kinh

tế, ngành dệt may đã có bước tăng trưởng ngoạn mục qua đó vươn lên lọt vào top 5quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, về đích sớm 4 năm so với kế hoạch Không những vậy, ngành dệt may còn đóng góp lớn trong tổng giá trị xuấtkhẩu của cả nước

Bảng 2.1: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu cảnước

Trang 36

Kể từ khi vượt qua dầu mỏ để trở thành ngành xuất khẩu nhiều nhất cho nềnkinh tế vào năm 2009, ngành dệt may vẫn tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng.Trong 3 năm qua giá trị xuất khẩu cũng như tỷ trọng trong giá trị xuất khẩu cả nướccủa ngành dệt may tăng nhanh và luôn luôn duy trì được vị trí mũi nhọn trong nềnkinh tế Đặc biệt, trong nhiều năm qua ngành dệt may đã trở thành ngành xuất siêugiúp thu về nhiều ngoại tệ cho ngành phục vụ đổi mới công nghệ, tái đầu tư sảnxuất Điển hình như trong năm 2011, ngành dệt may xuất siêu đạt 6,5 tỷ USD, tăng

1 tỷ USD so với năm 2010 Bước sang năm 2012, ngành dệt may phấn đấu đạt kimngạch xuất khẩu 15 tỷ USD

2.1.2.2 Thị trường.

Trong nhiều năm qua, Mỹ, Nhật Bản và EU là những thị trường chủ lực củadệt may Việt Nam Xuất khẩu dệt may hàng năm vào 3 thị trường này chiếm 80%kim ngạch xuất khẩu toàn ngành Đây là những thị trường mà ngành dệt may cótruyền thống và đã định vị được vị trí Năm 2011, xuất khẩu sang thị trường Mỹtăng 13%, thị trường EU tăng 25% và thị trường Nhật Bản tăng 43%

Hình 2.2 : Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011

Nguồn: http://www.vietnamtextile.org.vn/vi/trang-chu.aspx, 37B

Trong số các thị trường này, Mỹ là thị trường lớn nhất của ngành dệt maytrong nhiều năm qua Tại Mỹ, hàng dệt may của Việt Nam đứng thứ 5 (theo BộCông Thương, 2011) về thị phần xuất khẩu Tại EU, Việt Nam là nước xuất khẩu

Trang 37

hàng dệt may lớn thứ 10 vào thị trường này sau các nước Trung Quốc, Ấn Độ,Srilanka,…

Bên cạnh những thị trường truyền thống, các doanh nghiệp dệt may cũng tậndụng tốt các cơ hội mà Hiệp định tự do thương mại (FTA) mang lại để đẩy mạnhxuất khẩu sang một số thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada,Trung Đông và giảm sự phụ thuộc vào các thị trường chính, chẳng hạn xuất khẩusang thị trường Hàn Quốc đã tăng gấp đôi, đạt kim ngạch 904 triệu USD Tuy nhiênhiện nay EU đang cho phép Bangladesh, Campuchia và sắp tới là Mianmar xuấtkhẩu vào thị trường này với thuế suất bằng 0% nên trong thời gian tới sản phẩm dệtmay của nước ta sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các quốc gia này Bên cạnh

đó, cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu cũng khiến cho nhu cầu của thị trườngnày giảm xuống Do đó hiện nay ngành dệt may đang chuyển hướng sang tập trungkhai thác một số thị trường mới như Hàn Quốc, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông,Nga, Đông Âu Cùng với đó, ngành dệt may cũng đang thay đổi quan điểm đối vớithị trường Trung Quốc, ngoài việc coi đây là nguồn cung cấp nguyên phụ liệu dệtmay chủ yếu ngành đang mạnh dạn xem Trung Quốc như một thị trường tiềm năngcần khai thác trong thời gian tới Cùng với các biện pháp tìm kiếm thị trường mới,ngành dệt may cũng đang cố gắng giảm dần hình thức gia công và chuyển sang cáchình thức sản xuất khác như FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm), ODM (tựthiết kế, sản xuất và bán hàng) Các hình thức sản xuất này có thể tăng thêm giá trịcho sản phẩm ngành dệt may cũng như tăng tỷ lệ nội địa hóa, khuyến khích pháttriển ngành CNHT trong nước

Mặt khác, Việt Nam với dân số khoảng 86 triệu dân thực sự là một thị trườngtiềm năng cho ngành dệt may khai thác Những năm trước đây do thu nhập ngườidân còn thấp, nhu cầu về sản phẩm thời trang chưa cao nên sản phẩm ngành dệtmay chủ yếu phục vụ mục đích xuất khẩu Tuy nhiên vài năm trở lại đây, đời sốngngười dân trong nước được cải thiện đáng kể dẫn tới nhu cầu hưởng thụ cuộc sốngtăng lên không ngừng, mà một trong những nhu cầu đó là mặc đẹp Trong bối cảnhthị trường nước ngoài gặp nhiều khó khăn và bất ổn, một số doanh nghiệp vẫn tiếptục giữ vững thị trường xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh khai thác thị trường trongnước như một cơ hội đầy tiềm năng Hiện tại một số doanh nghiệp đang dần định vị

Trang 38

được sản phẩm trong lòng người tiêu dùng như Việt Tiến (thời trang công sở), TháiTuấn (lụa), An Phước (thời trang công sở cao cấp), Made in Vietnam,…Một sốdoanh nghiệp đã xác định khai thác thị trường trong nước theo một chiến lược lâudài có hiệu quả như Nhà Bè xác định sản xuất theo 3 dòng sản phẩm chính: dòngsản phẩm trung bình phục vụ thị trường nông thôn và hai dòng sản phẩm trung bìnhcao và cao cấp chủ yếu phục vụ thị trường thành thị Các doanh nghiệp khác tậptrung đầu tư về chất lượng, mẫu mã, thiết kế, kênh phân phối, thương hiệu đã dầntạo được chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng VINATEX cho biết doanh thu củatập đoàn này đạt 35.673,2 tỉ đồng, tăng 20% so với năm 2010 (theo Trang Thông tin

dữ liệu chứng khoán tài chính kinh tế Việt Nam, Lào và Campuchia, 2012) Hiệnnay hệ thống siêu thị hàng dệt may của VINATEX là Vinatex Mart đã có mặt trên

24 tỉnh, thành phố trên cả nước với số lượng 60 siêu thị Một số nhãn hiệu củadoanh nghiệp trong nước như Sanciaro, Manhattan, Vee Sandy, Sanding, Vera,…

đã có thể cạnh tranh được với những thương hiệu có tiếng của nước ngoài nhưEsprit, Scada, Mango, Bosnia,…trên thị trường nội địa

2.1.2.3 Lao động

Hiện nay dệt may là ngành có số lượng lao động đông nhất trong tất cả cácngành công nghiệp Riêng trong năm 2011, ngành dệt may đã tạo công ăn việc làmcho hơn 2 triệu lao động (theo báo Diễn đàn doanh nghiệp, 2012) Theo kế hoạchtới năm 2015 ngành dệt may dự tính sẽ giải quyết việc làm cho khoảng hơn 2, 7triệu lao động và tới năm 2020 sẽ là khoảng 3 triệu lao động Đặc điểm của laođộng trong ngành dệt may là lao động nữ chiếm tới khoảng 80% Với đặc điểm đaphần là lao động nữ nên năng suất lao động chỉ cao nhất trong độ tuổi từ 25 đến 35tuổi Mặt khác lao động nữ trong độ tuổi này lại ở lứa tuổi sinh con và nuôi con nhỏnên thường xuyên có lao động nghỉ việc trong ngành dệt may Nhiều lao động nữsau khi nghỉ chế độ thai sản vẫn chưa thể đi làm vì nhà xa hoặc không có ngườitrông con Do đó việc giải quyết bài toán lao động cho ngành dệt may là rất phứctạp Mặt khác do đặc thù các nhà máy dệt may đều đặt tại các địa phương nên phầnlớn lao động là nông dân, họ vừa phải làm việc trong nhà máy vừa phải làm việcngoài đồng ruộng vào thời điểm vào vụ cấy, gặt Vì vậy năng suất lao động trongngành chưa thực sự ổn định Hiện nay lao động trong ngành dệt may có thu nhập

Trang 39

chưa cao Ngoại trừ một số doanh nghiệp lớn có khả năng chi trả cho người laođộng mức lương khoảng 3,5 - 4,5 triệu đồng/ tháng thì đa số các doanh nghiệp chỉ

có thể trả lương cho lao động khoảng 2, 5 triệu đồng/ tháng (theo báo điện tử CôngThương, 2012) Mức lương này là chưa thể đảm bảo cuộc sống cho người lao độnggiúp họ yên tâm sản xuất Do vậy nên người lao động trong các doanh nghiệp dệtmay thường xuyên biến động Họ có xu hướng chuyển sang các doanh nghiệp lớn,lương cao Lao động trong ngành dệt may không tập trung 70% doanh nghiệp trongngành là doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lao động trong các doanh nghiệp này chưa tới

300 người Số doanh nghiệp có trên 1.000 lao động chỉ chiếm chưa tới 6% (theo báođiện tử Công Thương, 2012) Với đặc điểm phương thức sản xuất chủ yếu của cácSMEs trong ngành dệt may là gia công nên việc tuyển dụng lao động mang nặngtính cục bộ Khi doanh nghiệp ký kết được hợp đồng dệt may thì tuyển dụng ồ ạt đểsản xuất kịp tiến độ Khi đơn hàng sản xuất xong, doanh nghiệp tạm thời chưa tìmđược đơn hàng mới thì doanh nghiệp có xu hướng sa thải bớt lao động để cắt giảmchi phí Hơn thế nữa, hình thức may gia công đòi hỏi lượng lao động lớn nhưng giátrị gia tăng rất thấp Do đó nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả mức đãingộ tốt cho người lao động Khi mức lương không đủ sinh hoạt, lao động ngành dệtmay thường có xu hướng tìm kiếm các công ty có mức đãi ngộ cao hơn Tâm lýkhông ổn định này góp phần tạo nên sự chuyển dịch lao động giữa các doanhnghiệp ngành dệt may Thêm vào đó lao động ngành dệt may rất đông, phần lớn có

ý thức kỷ luật, tự giác trong sản xuất chưa tốt nên năng suất chưa cao ảnh hưởng tớichính thu nhập của họ

2.1.2.4 Giá trị gia tăng chưa cao.

Tuy ngành dệt may liên tục là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trongnền kinh tế nhưng giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu của ngành cao khiến cho giá trịgia tăng ngành tạo ra chưa được cao Thực tế kim ngạch xuất khẩu ngành dệt maynhưng năm qua luôn cao nhất trong các ngành kinh tế tuy nhiên giá trị nhập khẩunguyên phụ liệu của ngành cũng rất cao Năm 2011 kim ngạch xuất khẩu ngành dệtmay đạt mức kỷ lục 15,8 tỷ USD nhưng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu củangành cũng chiếm tới hơn 9 tỷ USD Theo tập đoàn dệt may, hiện nay tỷ lệ nội địahóa của ngành còn thấp chỉ khoảng 48%

Trang 40

Bảng 2.2: Lượng nhập khẩu bông xơ của Việt Nam qua từng năm.

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (2007), Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN ngày 31 tháng 7 năm 2007 phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN ngày 31 tháng 7 năm 2007 phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Công nghiệp
Năm: 2007
2. Kyoshiro Ichikawa (2004), Xây dựng và tăng cường công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, Cục xúc tiến ngoại thương Nhật Bản tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và tăng cường công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam
Tác giả: Kyoshiro Ichikawa
Năm: 2004
4. Th.s. Nguyễn Trung Kiên (2010), Báo cáo điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngành dâu tằm tơ ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngành dâu tằm tơ ở Việt Nam
Tác giả: Th.s. Nguyễn Trung Kiên
Năm: 2010
5. Đoàn Thị Hương Li (2008), Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
Tác giả: Đoàn Thị Hương Li
Năm: 2008
6. Trương Thanh Long (2006), Phát triển nguyên liệu dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguyên liệu dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trương Thanh Long
Năm: 2006
7. Trường đại học Ngoại thương, GS, TS. Bùi Xuân Lưu – PGS, TS. Nguyễn Hữu Khải (2007), Giáo trình kinh tế ngoại thương, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế ngoại thương
Tác giả: Trường đại học Ngoại thương, GS, TS. Bùi Xuân Lưu – PGS, TS. Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2007
9. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 36/2008/QĐ – TTg ngày 10 tháng 3 năm 2008 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 36/2008/QĐ – TTg ngày 10 tháng 3 năm 2008 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008
10. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 29/QĐ-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2010 phê duyệt Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 29/QĐ-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2010 phê duyệt Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
11. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2011
12. Nguyễn Thu Thủy (2010), Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường đại học Ngoại Thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2010
13. Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (2007), Thực trạng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, Tuần tin Kinh tế - xã hội, số 2 ngày 8/3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia
Năm: 2007
17. Trần Quốc Vượng & Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng & Hà Văn Tấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1960
18. Bùi Thị Hải Yến (2006), Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội thế giới, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội thế giới
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
3. Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1976), Thời đại Hùng Vương, lịch sử kinh tế, chính trị, xã hội Khác
14. Tổng cục thống kê (2010), Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2010 Khác
15. VDF, Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh: vai trò của Chính phủ trong xây dựng công nghiệp phụ trợ Khác
16. VDF, Triển vọng công nghiệp phụ trợ Việt Nam theo đánh giá của các doanh nghiệp Nhật Bản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp (Trang 7)
Hình 1.3: Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Hình 1.3 Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may (Trang 16)
Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam qua các năm 1995-2011. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Hình 2.1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam qua các năm 1995-2011 (Trang 33)
Bảng 2.1: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất  khẩu cả nước. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.1 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (Trang 33)
Hình 2.2 : Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 (Trang 34)
Bảng 2.2: Lượng nhập khẩu bông xơ của Việt Nam qua từng năm. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.2 Lượng nhập khẩu bông xơ của Việt Nam qua từng năm (Trang 38)
Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu bông vải của Việt Nam từ Hoa Kỳ. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.3 Kim ngạch nhập khẩu bông vải của Việt Nam từ Hoa Kỳ (Trang 39)
Bảng 2.4: Chỉ tiêu phát triển cây bông vải Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.4 Chỉ tiêu phát triển cây bông vải Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 (Trang 40)
Bảng 2.6: Diện tích dâu tằm phân chia theo vùng sinh thái - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.6 Diện tích dâu tằm phân chia theo vùng sinh thái (Trang 42)
Bảng 2.7: Các nguồn thu nhập của nông hộ trồng dâu nuôi tằm. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.7 Các nguồn thu nhập của nông hộ trồng dâu nuôi tằm (Trang 43)
Hình 2.3: Tình hình nhập khẩu sợi của Việt Nam năm 2010 và 2011. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Hình 2.3 Tình hình nhập khẩu sợi của Việt Nam năm 2010 và 2011 (Trang 44)
Bảng 2.9: Các loại thuốc nhuộm được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.9 Các loại thuốc nhuộm được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam (Trang 48)
Bảng 2.10: Các chất trợ sử dụng phổ biến trong ngành dệt may - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.10 Các chất trợ sử dụng phổ biến trong ngành dệt may (Trang 49)
Bảng 2.11: Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 2.11 Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam (Trang 51)
Bảng 3.2: Chỉ tiêu sản xuất ngành dệt may giai đoạn 2010 - 2020 - phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020
Bảng 3.2 Chỉ tiêu sản xuất ngành dệt may giai đoạn 2010 - 2020 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w