Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn sống hàng ngày gây không ít phiền hà, khó chịu cho người khác, và phá vỡ sự trong sáng của tiếng Việt, nhất
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ HẢI VÂN
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ CHATROOM
TRƯỜNG HỢP HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả những nội dung trong luận văn của tôi là có thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã viết trong cuốn luận văn này
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Mục lục ii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 GIỚI THIỆU SỰ RA ĐỜI CỦA INTERNET, CHATROOM 10
1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Internet 10
1.1.1.1 Khái niệm Internet 10
1.1.1.2 Lịch sử phát triển của Internet 11
1.1.1.3 Các giai đoạn bùng nổ của Inretnet 12
1.1.2 Sự ra đời của Chatroom 14
1.1.2.1 Khái niệm Chatroom 14
1.1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Chatroom 15
1.2 NGÔN NGỮ TRONG CHATROOOM LÀ MỘT LOẠI PHƯƠNG NGỮ XÃ HỘI 17
1.2.1 Khái niệm về phương ngữ xã hội 17
1.2.1.1 Khái niệm phương ngữ 17
1.2.1.2 Khái niệm phương ngữ xã hội 17
1.2.1.3 Cách tiếp cận phương ngữ xã hội 18
1.2.2 Biến thể ngôn ngữ 18
1.2.2.2.Phương ngữ với tư cách là biến thể ngôn ngữ 19
1.3.TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHATROOM 19
1.3.1 Đặc điểm của Tiếng Việt 19
1.3.1.1 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt 19
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.1.2 Hệ thống âm vị tiếng Việt 20
1.3.1.3 Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt 25
1.3.1.4 Đặc điểm của từ tiếng Việt ( đặc điểm ngữ nghĩa) 26
1.3.1.5 Đặc điểm quan hệ ngữ pháp Tiếng Việt 27
1.3.2 Vài nét về tiếng Việt trong chatroom 29
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT TIẾNG VIỆT SỬ DỤNG TRONG NGÔN NGỮ CHATROOM – TRƯỜNG HỢP HỌC SINH THPT 32
2.1.TỪ NGỮ SỬ DỤNG TRONG CHATROOM 32
2.1.1 Khái niệm “từ” 32
2.1.2 Khảo sát từ tiếng việt được sử dụng trong chatroom 33
2.1.2.1 Biến thể có sự thay đổi phụ âm đầu 33
2.1.2.2 Biến thể thay đổi âm chính 37
2.1.2.3 Viết hoa trong chatroom 45
2.2.NGỮ PHÁP SỬ DỤNG TRONG CHATROOM 46
2.2.1 Khái niệm ngữ pháp 46
2.2.2 Khảo sát câu theo mục đích nói 46
2.2.2.1.Sử dụng nhiều câu mệnh lệnh- cầu khiến, câu cảm thán 46
2.2.2.2 Dấu câu 48
2.2.2.3 Câu trộn mã (MIX) 49
2.3 CÁC KÍ HIỆU SỬ DỤNG TRONG CHATROOM 56
2.3.1 Khái niệm “kí hiệu” 56
CHƯƠNG 3.SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NGÔN NGỮ CHATROOM TỚI XÃ HỘI: TRƯỜNG HỢP TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 68
3.1 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾNG VIỆT CHATROOM ĐỐI VỚI TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH 68
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.1.1 Khảo sát thực tế 68
3.1.2 Nhận xét 72
3.2 THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA THẦY CÔ GIÁO VÀ HỌC SINH VỀ TIẾNG VIỆT TRONG CHATROOM 75
3.2.1 Thái độ của thầy cô giáo 75
3.2.2 Thái độ của học sinh 77
3.3 NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN CỦA NGÔN NGỮ CHATROOM 83
3.3.1 Các dạng biến thế tiếng Việt thường gặp trong chatroom 83
3.3.2.Nguyên nhân xuất hiện của tiếng Việt trong chatroom 85
3.4 TƯƠNG LAI CỦA NGÔN NGỮ CHATROOM VÀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT ĐỐI VỚI TIẾNG VIỆT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN CHATROOM 87
3.4.1 Dự đoán tương lai của ngôn ngữ chatroom 87
3.4.2 Ngôn ngữ chatroom và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt 89
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
*/ Bảng hệ thống các âm chính và sự thể hiện các âm vị làm âm chính trên chữ viết 22
*/ Bảng hệ thống âm cuối và sự thể hiện các âm vị làm âm cuối trên chữ viết 24
* Bảng 1: Sự biến đổi của một số phụ âm đầu được thể hiện nhiều trong chatroom 41 Bảng 2: Một số âm chính/phần vần có xu hướng biến đổi vần/ âm chính được
sử dụng nhiều trong chatroom 42 Bảng 3: Sự biến đổi từ từ toàn dân sang từ địa phương trong chatroom 44
* Bảng 4: Bảng thống kê một số từ ngữ tiếng Anh dùng theo lối phiên chuyển
ra tiếng Việt 53
* Bảng 5: Bảng thống kê tần số của việc khảo sát 30 cuộc thoại trên chatroom về xu hướng sử dụng từ ngữ nước ngoài 54 Bảng 6: Những biến thể chữ cái được sử dụng nhiều nhất trong chatroom 65 Bảng kết quả khảo sát thái độ xã hội đối với tiếng Việt sử dụng trên chatrom 69
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong dòng chuyển động không ngừng của cuộc sống hiện đại, xã hội phát triển nhanh chóng về mọi mặt, cùng với đó là tốc độ bùng nổ của công nghệ thông tin, sự lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng của thông tin qua mạng Internet đã, đang và sẽ đem đến nhiều thay đổi trên mọi lĩnh vực Các trang web, blog, email, chatromm ra đời, được sử dụng một cách phổ biến
và dành được sự quan tâm đặc biệt của các "cư dân mạng" Một thế giới mới xuất hiện, hấp dẫn giới trẻ với một mãnh lực hoàn toàn không khó lý giải khiến những người trẻ tuổi cần thêm một ngôn ngữ khác thứ ngôn ngữ mà họ vẫn sử dụng trong đời sống thực để giao tiếp với nhau trong thế giới ảo Xuất phát từ nhu cầu đó, ngôn ngữ trong thế giới mạng ra đời và có nhiều đổi mới
so với ngôn ngữ giao tiếp bình thường mà chúng ta vẫn sử dụng hàng ngày thông qua những sáng tạo rất riêng, rất lạ, rất “không giống ai” của giới trẻ
1.2 Việc sử dụng các biến thế ngôn ngữ ở thế hệ 9X ban đầu xuất phát
từ hai lý do rất thuyết phục: Thứ nhất, đa phần người sử dụng thuộc giới trẻ cho rằng thứ ngôn ngữ chatroom này rất tiện dụng, nó vừa nhanh lại vừa hiệu quả
Họ có thể tiết kiệm thời gian nhờ giảm thiểu thao tác gõ các phím kí tự (viết tắt, lược bớt kí tự, dùng con số thay thế một từ tiếng Anh có nghĩa tương đương trong tiếng Việt, ví dụ như số 4 = for = cho, .) mà vẫn hiểu được nhau Thứ hai, đối với giới trẻ việc sử dụng ngôn ngữ "teen" là thể hiện được
cá tính và phong cách của mình, chát bằng kiểu ngôn ngữ không giống ai sẽ thú vị hơn, trẻ trung hơn và khiến mình trở nên đặc biệt Chính từ hai lý do này mà kiểu ngôn ngữ ấy có cơ sở tồn tại và biến đổi từng ngày đến chóng mặt dưới nhiều dạng hình thù khác nhau mà chúng ta khó lòng theo kịp
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.Chưa bao giờ ngôn ngữ của giới trẻ lại có nhiều biến thể như hiện nay Chỉ cần lướt qua vài trang blog (nhật kí điện tử) hay những “chatroom” (nơi tán gẫu) của giới trẻ là có thể nhận ra được sự phát triển “tự do” của ngôn ngữ đến thế nào Nếu như khoảng năm 2007 trở về trước, chúng ta giật mình khi bắt gặp trong kho ngôn ngữ của “teener” các kí tự từ vựng “giản dị”, phổ biến như: iu (yêu), bjt (biết), dzui ze (vui vẻ), iếu (yếu), bao h (bao giờ), ljnk (tên Linh), ac ac (thể hiện sự ngạc nhiên), ank (ảnh), kaj (cái) … thì hôm nay, khi mà các bậc phụ huynh và những người trưởng thành còn chưa kịp làm quen và chấp nhận được những từ ấy, thì trong từ điển của “teener” chúng đã trở nên “lỗi thời”, “lạc hậu” bởi đó dường như là ngôn ngữ của thế hệ 8X đã già nua và không còn chỗ đứng trong xã hội 9X Họ khẳng định sự khác biệt của thế hệ mình bằng cách “sáng chế” ra những mã ngôn ngữ cấp cao hơn mà người trong nghề thường gọi là “mật mã 9X” hay ngôn ngữ @ Version 2 Kiểu như…nA^u Na(/m rO^\i Ho^Ng Ga(p a^/Y.,…>_<… NhO*/ qUa/ Tro*\I lUo^N…>_<… h0^m nA\o rAnh? Mi\Nh dI cHo*I na/…” hay đỉnh cao hơn như (º' ]_F_~ PvF_ ]º†|Cl]~ † PvCl]\[†|' /v\Cl† F_/v\ (Cl]\[(¬` ><Cl (Cl]\[(¬` †º†'])Cl~ ])F_]\[' ]_µ(‟ ]<† |F_]º‟ ]_º]\[(¬` ]_Cl] (†|Cl]\[(¬?
1.4 Với những từ ngữ kiểu này các “teener” thực sự đã tạo ra một sự khác biệt trong cộng đồng ngôn ngữ Tuy nhiên, sự khác lạ này liệu có nhận được sự đồng tình của xã hội và được mọi tầng lớp trong xã hội thừa nhận hay không? Câu hỏi đó vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi
Ngôn ngữ chatroom xuất hiện và được một bộ phận đông đảo người Việt
sử dụng nên tiếng Việt chung cũng bị ảnh hưởng Trước sự tác động này, chúng tôi thấy xuất hiện hai luồng ý kiến khác nhau: Một bên cho rằng ngôn ngữ chatroom làm giàu thêm vốn từ vựng của dân tộc; Một bên lại cho rằng ngôn ngữ chatroom khi đã vượt qua ranh giới của thế giới mạng, lan sang cuộc
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sống hàng ngày gây không ít phiền hà, khó chịu cho người khác, và phá vỡ sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là sự ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục tiếng Việt trong nhà trường phổ thông
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Đặc điểm
tiếng Việt trong chatroom – trường hợp học sinh Trung học phổ thông ”
làm vấn đề nghiên cứu của luận văn để có một cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ của thế hệ 9X trong chatroom Từ đó có thể thấy được những ưu điểm cũng như nhược điểm của nó và đề xuất một số giải pháp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
2 Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay, ngôn ngữ của thế hệ 9X nói chung và ngôn ngữ chat nói riêng không còn là vấn đề mới nếu không muốn nói là đã quá quen thuộc Xung quanh việc sử dụng ngôn ngữ chat có nhiều ý kiến trái chiều nhau Điểm lại lịch sử vấn đề, chúng tôi chỉ mong viện dẫn ra đây những quan điểm giúp người đọc có được một sự hình dung dễ dàng và sáng tỏ nhất về diễn đàn ngôn ngữ chatroom xuất phát từ các góc nhìn khác nhau trong thái độ của các nhà nghiên cứu đối với bộ phận ngôn ngữ này
2.1 Các ý kiến đồng tình
2.1.1 Thời gian gần đây, trên báo chí xuất hiện nhiều bài viết của các tác giả bàn luận về ngôn ngữ thế hệ @, đặc biệt là ngôn ngữ chat Một số người tỏ ra “thức thời” khi có ý kiến đồng tình với sự tồn tại của ngôn nữ này, thậm chí cho đó là một cuộc cách mạng trong ngôn ngữ Trong bài “Bắt mạch
xu hướng cư dân mạng ” tác giả dẫn lời thạc sỹ Phạm Ngọc Diệu (ĐH
Sungkonghoe, Hàn Quốc) cho biết “Đây là xu hướng tất yếu, nhưng chỉ trong
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
môi trường của thế giới mạng Sự biến đổi của ngôn ngữ có tính tất nhiên này
2.1.2 Tiến sĩ Mai Xuân Huy cho hay “về mặt lý tính, chúng ta cũng nên nhìn nhận hiện tượng này (ngôn ngữ thế hệ 9X) một cách khách quan vì
nó là một quy luật của xã hội và của cả ngôn ngữ nữa” Và lý giải “Xã hội thay đổi thì ngôn ngữ cũng biến đổi, và đến lượt mình, ngôn ngữ cũng tác động trở lại cuộc sống [40]
2.1.3 G.S - TS Nguyễn Đức Dân – được xem là người đầu tiên nêu ý
kiến nên đưa ngôn ngữ chát vào từ điển cho hay“không phải tất cả “ngôn ngữ chat” đều được đưa vào từ điển, mà chỉ một bộ phận “ngôn ngữ chat” nghiêm chỉnh sẽ được đưa vào từ điển …Có những từ ngữ chat nghiêm chỉnh không chỉ tồn tại trong thế giới online mà đang thâm nhập cả vào đời sống hàng ngày, được nhiều người chấp nhận Xã hội cũng đã dần “thích nghi” với chúng GS.TS Nguyễn Đức Dân dường như đã nhìn thấy chỗ đứng khá rõ ràng của ngôn ngữ chat trong cuộc sống ngày nay [42]
2.1.4 Theo ý kiến của PGS.TS Hoàng Anh Thi, giám đốc Trung tâm Ứng dụng ngôn ngữ học và Việt ngữ học, đại học Khoa học xã hội và nhân
văn Hà Nộit thì “ngôn ngữ luôn biến động, việc tạo ra từ ngữ hay cách nói mới là rất bình thường, không chỉ ở tiếng Việt PGS.TS Hoàng Anh Thi cho rằng không nên phổ biến ngôn ngữ chat, nhưng cũng không cần hạn chế nó Hãy để nó diễn ra tự nhiên Hiện nay gần như các nước đều có mạng và đều
có biến thể ngôn ngữ chat, như tiếng Anh và tiếng Nhật.”[43]
2.1.5 Cũng đồng quan điểm với PGS.TS Hoàng Anh Thi, trước hiện tượng những từ “lạ” của teen xuất hiện ngày một nhiều, PGS Hà Quang Năng cho rằng đó là sự “sáng tạo” làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, là một hiện tượng
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
bình thường, “dễ thương” và không nên “từ chối” Theo GS Hà Quang Năng thì “Sự biến đổi và phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có để tăng cường khả năng biểu thị của chúng; là một xu hướng làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ Từ vựng là một bộ phận cần phát triển nhanh nhất để có chức năng là tấm gương phản chiếu một cách trực tiếp đời sống xã hội, sự biến đổi
và phát triển của xã hộ [44]
2.1.6 Tiến sỹ Mai Xuân Huy thì cho rằng ngôn ngữ chat đang xâm nhập vào tiếng Việt và làm ảnh hưởng đến tiếng Việt Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định chúng ta không thể loại bỏ nó hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế
phần nào ảnh hưởng của nó Theo Tiến sĩ thì “Biện pháp để ngăn chặn loại ngôn ngữ này xâm nhập vào Tiếng Việt là chúng ta cần khoanh vùng và quy định khu vực sử dụng của nó Chẳng hạn, có thể cấm dùng ngôn ngữ “chat” trong phạm vi công cộng, trong các bài viết ở trường, trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, đài, báo Nó chỉ có thể được sử dụng trong giao tiếp giữa những người “chat” trong các chatroom trên internet”[40]
Mặc dù vẫn có những ý kiến thừa nhận sự tiện lợi, thú vị của ngôn ngữ chat và xem sự tồn tại của nó như là quy luật tự nhiên trong diễn trình phát triển của ngôn ngữ Tuy nhiên, tỉ lệ nhóm quan điểm tán đồng này là rất nhỏ
so với rất nhiều ý kiến phủ định, thậm chí phủ định gay gắt ngôn ngữ chat mà những ý kiến được chúng tôi dẫn ra dưới đây cũng chỉ phác thảo được phần nào xu hướng thắng thế trong cuộc tranh luận này
2.2 Các ý kiến phủ định
2.2.1 Nhà ngôn ngữ học Trần Chút - nguyên Chủ tịch Hội Ngôn ngữ
học TP.Hồ Chí Minh nêu ra 3 lý do khiến tiếng mẹ đẻ của chúng ta bị biến
dạng “Thường xuyên xen tiếng nước ngoài vào bài viết, lời nói; quá lạm dụng
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
từ viết tắt; dùng quá nhiều tiếng lóng” Và tỏ ra lo ngại cho tương lai của tiếng Việt khi “chính lớp trẻ - đối tượng giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt - lại đang từng ngày bị đe dọa bởi
thứ ngôn ngữ méo mó, quái dị đó.”[45]
2.2.2 Nhà báo Nguyễn Phan Chiêu Anh thì tỏ ra bất bình khi tâm sự
“lần nào tôi cũng phải khổ sở để “dịch lại” những tin nhắn và thật sự rất mệt khi đọc những tin nhắn mà 100% đều không phải là tiếng Việt, như thế này: 2
lm j mu goj hoaj hem dc zi? (Hai (chị Hai) làm gì mà gọi hoài không được vậy?) hay Thau thau bik rau, noj nhju ghia (Thôi thôi biết rồi, nói nhiều ghê) Lúc ấy, tôi thấy ngôn ngữ chat không còn dễ thương nữa, mà thật kinh khủng![46]
2.2.3 TS Hoàng Anh – một chuyên gia về ngôn ngữ, đưa ra những ví
dụ về tác động tiêu cực của ngôn ngữ chat trong học đường “Tôi từng đọc một số bài thi mà HS đánh dấu (.) thay cho chữ trong, dùng chữ "of" thay cho chữ "của” TS Hoàng Anh cho rằng “việc lạm dụng thứ ngôn ngữ này quả là một điều nguy hiểm, khi mà thứ tiếng "lai căng" này được đưa vào các ngôn ngữ chính thức như một thói quen vô thức của các bạn trẻ.”[46]
2.2.4 Một nhà ngôn ngữ học ở Viện ngôn ngữ bày tỏ quan điểm một
cách thẳng thắn “ Nếu mà nói một cách sòng phẳng thì đó là sự ô nhiễm ngôn ngữ trong tiếng Việt Ngôn ngữ @ đã đi quá giới hạn của tiếng Việt văn hóa, thậm chí tiếng Việt bình dân”.[40]
2.2.5 Nhà báo An Chi thậm chí muốn tẩy chay thứ ngôn ngữ đang bị
làm cho méo mó này một cách gay gắt “Dĩ nhiên là đối với những kẻ đã viết những câu này thì đây là của thơm, của quý để hít hít, hửi hửi chứ đối với tiếng Việt, văn Việt và người Việt thì đây chỉ là cỏ úa, hoa rữa mà thôi Vì vậy cho nên, theo chúng tôi, dù cho những cuộc chat sản sinh những câu đó có
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
riêng tư đến đâu thì xã hội, học đường và gia đình cũng phải phối hợp với nhau giúp cho những sự riêng tư như thế được sạch sẽ và lành mạnh.[47]
2.1.6 Tác giả Trịnh Thanh Thủy trong bài viết Ngôn ngữ mạng : Gió lành hay gió độc cho hay: Có những bạn chỉ trích gay gắt và tỏ ra khó chịu
với lối viết tắt, quái gở, méo mó, dị dạng, lười biếng, lủng củng, khó hiểu này
Họ bảo rằng: “lối viết này bị lạm dụng thái quá, đã làm mất đi vẻ trong sáng của tiếng Việt Chúng còn bị sai ngữ phạm, gây phản cảm, bị gọi là thùng to rỗng ruột, tha hoá, một căn bệnh của ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ chợ búa hay hội chứng "ac ac, hic hic, he he" Thậm chí một người còn gọi đây là thứ ngôn ngữ "ngoài hành tinh” thứ "tiếng Việt ngoại lai" mà hành động sử chúng khác nào chúng ta “đang hùa nhau đẩy dân tộc chúng ta từng chút một xuống hố sâu thoái trào về đạo đức và sự tiến bộ”.[50]
Tóm lại, dù trung lập, hoặc đồng tình hay bác bỏ, các nhà nghiên cứu cũng đều không thể phủ nhận sự góp mặt của ngôn ngữ chatroom trong đời sống xã hội hiện nay Và cũng thừa nhận sự tác động – phần nhiều là tác động tiêu cực của nó đối với thói quen sử dụng ngôn ngữ của thế hệ 9X mà điều đáng lo ngại đầu tiên chính là việc sử dụng tràn lan, vô tội vạ thứ ngôn ngữ này có thể gây những ảnh hưởng xấu đến việc giáo dục và sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ chatroom – trường hợp học sinh trung học phổ thông góp phần vào nghiên cứu những biến thể của tiếng Việt nói riêng, chuẩn hóa tiếng Việt trong sử dụng nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện lần lượt các nhiệm vụ sau:
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xác lập bộ tiêu chí và tiến hành khảo sát việc sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ ngày nay trên chatroom từ:
+ Bình diện ngữ âm để thấy được sự biến đối các thành phần trong cấu tạo âm tiết (phần âm đầu, vần thanh điệu) và biến đổi về mặt chữ viết và các
+ Bình diện ngữ pháp thấy được các kiểu câu thường được sử dụng và
xu hướng biến đổi các thành phần câu thường gặp
- Rút ra những nhận xét về việc sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ Việt trên chatrom
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tiếng Việt và các biến thế của nó được sử dụng trong các chatroom
- Ngoài ra, đề tài cũng khai thác tiếng Việt được thế hệ 9X sử dụng trong một số trang blog để làm cơ sở so sánh, đối chiếu làm nổi bật đối tượng nghiên cứu chính
5 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu ngôn ngữ được sử dụng trong các chatroom của các bạn trẻ Việt Nam chủ yếu thuộc lứa tuổi học sinh THPT (sinh năm 1993 – 1997) trên một số forum (diễn đàn, mạng xã hội) và các chatroom như chatroom
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Yahoo, chatroom Tran Phan, chatroom VTN, chatroom Vongola, chatroom THCS Lê Qúy Đôn, …
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp:
+ Phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích: lập bảng khảo sát, thống
kê các từ ngữ được sử dụng để hệ thống các từ ngữ thường được sử dụng trong chatroom Chú ý những từ ngữ, kí hiệu khác lạ không có trong từ điển tiếng Việt
+ Phương pháp miêu tả: miêu tả các đặc điểm biến đổi từ ngữ và xây dựng hệ thống nguyên tắc sử dụng từ ngữ trong chatroom
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: đối chiếu ngôn ngữ được sử dụng trong các chatroom với ngôn ngữ được sử dụng trên các blog, forum để thấy được sự giống nhau và khác nhau của các cách sử dụng này Từ đó, khái quát lên quy tắc sử dụng ngôn ngữ chatroom của thế hệ 9X
+ Phương pháp xã hội học: Điều tra thái độ của mọi người trong cộng đồng (các học sinh THPT, phụ huynh và các thầy cô giáo) xung quanh vấn đề
sử dụng ngôn ngữ chatroom của thế hệ 9X
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nguồn ngữ liệu, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Khảo sát tiếng Việt sử dụng trong ngôn ngữ chatroom
Chương 3: Sự ảnh hưởng của ngôn ngữ chatroom tới xã hội: Trường hợp tiếng Việt trong nhà trường phổ thông
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này chúng tôi đã cố gắng phác thảo, trình bày ngắn gọn một số vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho các chương sau Như đã trình bày ở phần phương pháp nghiên cứu, luận văn nghiên cứu phương ngữ xã hội với đơn vị là biến thể trong sử dụng Cũng vì thế mà việc phân loại đối tượng là khá phức tạp và hết sức quan trọng Đối tượng nghiên cứu này đòi hỏi phải dùng hệ phương pháp cũng như chỗ dựa lý thuyết trong ngôn ngữ xã hội học 1.1 GIỚI THIỆU SỰ RA ĐỜI CỦA INTERNET, CHATROOM
1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Internet
1.1.1.1 Khái niệm Internet
Theo từ điển điện tử Wikipedia, Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu
(packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao
thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng
cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu
Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện
tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), máy truy tìm dữ liệu (search engine),
các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, và các dịch vụ về y tế giáo dục như
là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguồn thông tin khổng lồ kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau và các tài liệu khác
trong WWW (World Wide Web) Trái với một số cách sử dụng thường ngày,
Internet và WWW không đồng nghĩa Internet là một tập hợp các mạng máy tính kết nối với nhau bằng dây đồng, cáp quang, v.v.; còn WWW, hay Web, là
một tập hợp các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink) và
các địa chỉ URL, và nó có thể được truy nhập bằng cách sử dụng Internet Các cách thức thông thường để truy cập Internet là quay số, băng rộng, không dây, vệ tinh và qua điện thoại cầm tay.[39]
1.1.1.2 Lịch sử phát triển của Internet
Thời kỳ phôi thai của Internet bắt nguồn từ việc năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ xây dựng dự án ARPANET (Advanced Research Projects Agency- ARPA) Đây là Cơ quan Dự án nghiên cứu Tiên tiến, tiền thân của cơ quan sau này được thành lập với nhiệm vụ phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia đặt trên vũ trụ Cơ quan này nghiên cứu lĩnh vực mạng, với ý đồ là
chia sẻ thông tin giữa các trung tâm nghiên cứu được chính phủ bảo trợ
Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET Cũng trong năm 1974, BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép sử dụng máy tính từ xa Năm
1976, phòng thí nghiệm của hãng AT&T phát minh ra dịch vụ truyền tệp cho mạng FTP (file transfer protocol – giao thức chuyển giao tệp tin) Năm
1978, Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những người sử dụng UNIX.Mạng USENET là 1 trong những mạng phát triển sớm nhất và thu hút nhiều người nhất Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình internet
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Năm 1981 ra đời mạng CSNET(Computer Science NETwork) cung cấp các dịch vụ mạng cho các nhà khoa học ở trường đại học mà không cần truy cập vào mạng ARPANET Năm 1982 các giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạng ARPANET Năm 1983 giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Đây cũng là năm đánh dấu là một mốc quan trọng bởi ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET
MILNET tích hợp với mạng dữ liệu quốc phòng
ARPANET trở thành 1 mạng dân sự với quy mô nhỏ hơn
Như vậy, ở thời kỳ phôi thai này, ARPANET, mạng toàn khu vực đầu
tiên và tiền thân của Internet được thiết lập tại “bốn điểm nút”là Viện nghiên
cứu Stanford, UCLA, Đại học California ở Santa Barbara và Đại học Utah Tuy nhiên, Internet còn phải trải qua 3 giai đoạn phát triển nữa mới có được
vị trí như ngày hôm nay.[39]
1.1.1.3 Các giai đoạn bùng nổ của Inretnet
Giai đoạn bùng nổ thứ nhất vào năm 1986 mạng NSFnet chính thức
được thiết lập Khi công nghệ mạng đã phát triển, nhiều mạng mới đã hình thành và đều được kết nối với ARPANET, CSNET và NSFNET, tất cả các mạng này nối với nhau và trở thành Internet Cuối cùng thì ARPANET và CSNET suy thoái, chỉ còn NSFNET là 1 mạng khá tốt trở thành mạng chính liên kết các mạng khác trên Internet Lúc này đối tượng sử dụng internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail và FTP Internet đã là 1 phương tiện đại chúng
tìm ra cách để lưu giữ và tìm kiếm các cơ sở dữ liệu Các cơ sở dữ liệu này
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phải được kết nối với các tài liệu của thư viện Đến năm 1991, Tim Berners Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu(CERN) phát minh ra World Wide Web(WWW) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra
từ năm 1985.Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin 1 cách dể dàng, nhanh chóng
Trước sự phát triển “chóng mặt” của mạng Internet, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (HyperText Mark- up Language) cùng với giao thức truyền siêu văn bản HTTP (HyperText Transfer Protocol), báo chí lúc bấy giờ không thể đứng ngoài cuộc Kết quả là những từ báo mạng điện tử ra đời theo
xu thế phát triển của mọi thời đại
Đến cuối thời kỳ này, Internet bắt đầu cung cấp dịch vụ Web Mail bởi công ty Hotmail vào tháng 7 năm 1996 Cũng trong năm đó triễn lãm Internet
1996 World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên mạng Internet
Internet bùng nổ với mạng không dây Năm 1985,Cơ quan quản lí
viễn thông của Mĩ quyết định mở cửa một số băng tần của giải phóng không dây, cho phép người sử dụng chúng mà không cần giấy phép của Chính phủ Đây là bước mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh Ban đầu các nhà cung cấp các thiết bị không dây dùng cho mạng LAN như Proxim và Symbol ở Mĩ đều phát triển các sản phẩm độc quyền, không tương thích với các sản phẩm của các công ty khác Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xác lập 1 chuẩn không dây chung
Tại Việt Nam dịch vụ Internet bắt đầu được cung cấp chính thức từ năm 1997 Đây là dấu mốc quan trọng đối với việc toàn cầu hóa thông tin của Việt Nam ra thế giới Tuy nhiên phải nói rằng, việc tham gia vào lĩnh vực này tuy muộn nhưng đã tạo ra một “cuộc cách mạng” về công nghệ thông tin tạo
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đà cho sự “thay da đổi thịt” của nền truyền thông đại chúng “đi hơi chậm” so với thế giới.[39]
Ngày nay Internet đã “thâm nhập” vào cuộc sống với nhiều tiện ích thiết thực Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu,giáo dục, văn hoá, xã hội Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet
1.1.2 Sự ra đời của Chatroom
1.1.2.1 Khái niệm Chatroom
Chatroom là từ ghép của hai từ tiếng Anh “Chat” có nghĩa là trò chuyện, tán gẫu, “room” có nghĩa là phòng Room được sử dụng ở đây với nghĩa bóng chỉ phạm vi, khu vực mà người chat có thể tham gia Để giới hạn chủ đề và số lượng thành viên tham gia, thông thường chatroom được chia thành nhiều phạm vi nhỏ dựa trên nhiều tiêu chí như cùng độ tuổi, cùng chủ đề, cùng sở thích hoặc cùng khu vực, cùng một đất nước … để các chatter tha hồ lựa chọn “phòng” mà mình muốn tham gia Chatroom là hình thức thảo luận trực tiếp trên Internet, bạn có thể thảo luận, trao đổi và nhận được câu trả lời hầu như ngay lập tức, cũng tương tự như khi bạn nói chuyện qua điện thoại
Các chatroom phổ biến tại Việt Nam như : Vietchat, Yahoo Messenger, Skype, Windows Live Messenger, chatroom Tran Phan, chatroom VTN, chatroom Vongola ….hay các trình tin nhắn khác đã quá quen thuộc trong đời sống của cư dân mạng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Chatroom
Thư điện tử hay email – là một trong những sản phẩm của Internet đã góp phần quan trọng nhất trong việc cách mạng các phương thức giao tiếp và truyền thông của con người.Với tất cả những tính đăng độc đáo và tiện dụng
mà email sở hữu, nhiều người cho rằng có lẽ con người đã đạt đến đích cuối cùng trong cuộc đua vượt qua những trở ngại của không gian và thời gian trong giao tiếp, mà xuất phát điểm là điện tín hay điện thoại vào nhiều thế kỷ trước Nhưng mọi tiện ích mà email đem lại vẫn chưa làm thỏa mãn được nhu cầu không giới hạn của con người, vì tốc độ truyền thông tin của nó vẫn chưa
đủ nhanh: người gửi vẫn sẽ phải chờ một thời gian đến khi nhận được reply (trả lời) của người nhận, nếu người này không online (trực tuyến) lúc email được gửi đi; hay nếu đó là một cuộc trao đổi dài, với nhiều email được gửi đi thì người dùng phải thực hiện quá nhiều thao tác (soạn thư, gửi, nhận) được lặp đi lặp lại cho mỗi thông điệp được gửi đi Và đó chính là lý do để một phương tiện thông tin liên lạc trên nền Internet mới, nhanh hơn, tiện lợi hơn email, xuất hiện, với tên gọi Trình nhắn tin tức thời – Instant messaging (IM)
Từ khi ra đời lần đầu tiên vào năm 1996, những chương trình IM,
mà người dùng Việt Nam quen gọi là chương trình chat, đã chứng minh được tính hữu ích của mình, và từ đó không ngừng phát triển trong chặng
đường dài 15 năm
Với nguyên lý cơ bản: IM chính là một chatroom chỉ dành cho 2 người, các chương trình IM đã bắt đầu xuất hiện trên Internet vào tháng 11-1996, bằng sự kiện hãng Mirabilis cho ra mắt ICQ – một chương trình nhắn tin tức thời miễn phí ICQ là từ viết tắt của “I seek you – tôi tìm bạn”, sử dụng một ứng dụng gọi là client (máy con) được cài đặt trên máy tính của người dùng Client sẽ kết nối với server (máy chủ) của ICQ khi người dùng chạy client và kết nối với Internet
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Năm 1997, công ty được xem như tiên phong trong lĩnh vực truyền thông trực tuyến – AOL cũng cho ra mắt chatroom và phần mềm IM của mình – AOL Instant messaging, hay AIM Hãng này sau đó đã mua lại Mirabilis và ICQ vào tháng 6-1998, và tiếp tục hoàn thiện AIM, nhanh chóng dẫn đầu thị trường IM và khiến AIM trở thành chuẩn cơ bản cho các trình IM của các đối thủ khác sau này
Các đối thủ của AIM xuất hiện không lâu sau đó Đầu tiên là MSN Messenger (hiện nay là Windows Live Messgenger), rồi đến Yahoo! Messenger và gần đây là Google Talk Thị trường tin nhắn tức thời bắt đầu chật chội và mỗi chương trình đều không ngừng cải tiến để đáp ứng nhu cầu
sử dụng IM ngày càng tăng cao của cộng đồng người dùng Internet Một nghiên cứu của comScore vào năm 2006 cho thấy tỉ lệ cư dân mạng toàn cầu
có sử dụng IM lên đến 50%
Trình tin nhắn tức thời (chatroom) đã thay đổi cách thức mà con người
ta liên lạc trong thế giới hiện đại Ngày nay, chatroom đã trở nên phổ biến và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng của nhiều người Chatroom không không chỉ là một phương tiện tán gẫu đơn thuần của những người trẻ tuổi mà ngay cả những người trưởng thành, những người thuộc các tầng lớp khác nhau cũng khai thác hiệu quả phương tiện này Các chatroom đã góp phần giúp con người thực hiện nhanh chóng và hiệu quả các giao dịch kinh tế, trao đổi thông tin, tri thức.[34]
Các tính năng của IM vẫn luôn được cải tiến hằng ngày, và lợi ích của chúng thì không cần phải bàn Người dùng ngày nay có thể sử dụng các tính năng hữu ích, hiện đại như chia sẻ file, nhạc, video hay đảm nhận luôn cả tính năng chat voice hoặc video call với cái chương trình IM phiên bản mới nhất Với IM, những cuộc trò chuyện nhanh chóng hay gọi điện xuyên quốc gia không còn là chuyện khó khăn IM giúp mọi người luôn luôn được kết nối,
bất kể khoảng cách địa lý xa xôi.[39]
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2 NGÔN NGỮ TRONG CHATROOOM LÀ MỘT LOẠI PHƯƠNG
NGỮ XÃ HỘI
1.2.1 Khái niệm về phương ngữ xã hội
1.2.1.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ (dialect) là hệ thống ngôn ngữ được dùng cho một tập
hợp người nhất định trong xã hội, thường là phân chia theo lãnh thổ Phương ngữ được chia thành phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội [18]
Phương ngữ lãnh thổ là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác Sự khác biệt giữa các phương ngữ trong một ngôn ngữ thể hiện chủ yếu ở ngữ âm, sau đó đến từ vựng, còn sự khác nhau về ngữ pháp thì ít hơn Tiếng Việt có thể gồm 3 phương ngữ chính là phương ngữ Bắc (Bắc Bộ), phương ngữ Trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Các phương ngữ tiếng Việt khác nhau chủ yếu ở mặt ngữ âm và từ vựng Phương ngữ xã hội là vấn đề lý thuyết có liên quan trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu của luận văn nên, do đó chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau
1.2.1.2 Khái niệm phương ngữ xã hội
Phương ngữ xã hội (Sociolect) là ngôn ngữ của một nhóm người nhất
định trong xã hội “Phương ngữ xã hội là hệ thống ký hiệu và quy tắc cú pháp được sử dụng trong phạm vi tập thể xã hội nhất định [9.]Theo Nguyễn Văn Khang thì sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp Với giá trị xã hội khác nhau phương ngữ trong các điều kiện xã hội khác nhau sẽ có tác động khác nhau Còn có thể gọi là phương ngữ xã hội trong các trường hợp như: tiếng lóng, biệt ngữ, tiếng nghề nghiệp… Phương ngữ xã hội khác biệt chủ yếu ở mặt từ vựng Với cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội, trong xã hội tồn tại bao nhiêu nhóm xã hội thì ngôn ngữ cũng có bấy nhiêu phương ngữ xã hội [18]
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.1.3 Cách tiếp cận phương ngữ xã hội
Một ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong lời nói dưới dạng biến thể, vấn đề đặt
ra là có bao nhiêu biến thể và người ta sử dụng các biến thể như thế nào trong giao tiếp
Có nhiều hướng tiếp cận phương ngữ xã hội học, tuỳ theo tiêu chí phân loại mà người ta đưa ra hướng tiếp cận cho phù hợp Ví dụ: Theo tiêu chí giới thì hướng tiếp cận tâm lý giới tính và cách sử dụng biến thể của giới tính Tương tự như với tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, địa bàn cư trú, trình độ văn hoá…thậm chí là cùng sở thích
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiếp cận phương ngữ xã hội học với tiêu chí phân loại là sử dụng phương tiện internet để làm công cụ gián tiếp cho việc giao tiếp Nghĩa là hướng tiếp cận theo hướng cùng sử dụng một công cụ, cùng sở thích…
1.2.2 Biến thể ngôn ngữ
Xung quanh các khái niệm biến thể, có quan niệm cho rằng biến thể là một loại biến dạng của một hằng thể và chỉ tồn tại trong mối tương quan với hằng thể đó Cách quan niệm này liên quan đến vấn đề chuẩn Cũng có cách quan niệm khác “biến thể ngôn ngữ có thể hiểu là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được biểu hiện phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau Trong trạng thái hình thức của mình với tư cách
là công cụ giao tiếp, cái gọi là ngôn ngữ như chúng ta thường gọi và biết đến chẳng hạn tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hán…chỉ tồn tại dưới dạng các biến thể Có thể là các biến thể địa lý (các phương ngữ địa lý), có thể là các biến thể xã hội (các phương ngữ xã hội) và cũng có thể là các biến thể ngôn ngữ ( biến thể ngữ âm, biến thể từ vựng hay biến thể phong cách)
Như vậy gọi là biến thể ngôn ngữ cũng có thể là phương ngữ thậm chí
là phong cách, hay một đơn vị nào đó của hệ thống ngôn ngữ như một thành
tố ngữ pháp, một yếu tố từ vựng hay một âm vị nào đó Đây là một quan niệm
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thoả đáng và tồn tại phổ biến trong giới nghiên cứu ngôn ngữ xã hội học nhiều thập kỷ qua
Ở nội dung nay, chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm là “biến” và
“biến thể” “Biến” được định nghĩa là “đại lượng biến đổi trong quá trình được nhận xét” [18] còn “biến thể: sự thể hiện cụ thể các vị trí khác nhau trong chuỗi lời nói nhưng về bản chất cùng thuộc về một đơn vị ngôn ngữ
1.2.2.2.Phương ngữ với tư cách là biến thể ngôn ngữ
Phương ngữ (dialect) còn được gọi là phương ngôn hay tiếng địa phương Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ thế giới và Việt Nam thuật ngữ
“phương ngữ” đã đề cập đến từ rất lâu
“Phương ngữ là một thuật ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với một ngôn ngữ khác [9]
Cũng có ý cho rằng “biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội hay về nghề nghiệp” [25,23]
1.3.TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHATROOM
1.3.1 Đặc điểm của Tiếng Việt
1.3.1.1 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
Âm tiết Tiếng Việt có 3 đặc điểm sau:
Thứ nhất, có tính độc lập cao : trong dòng lời nói, âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng được thể hiện khá đầy đủ, rõ ràng, được tách và ngắt thành từng khúc đoạn riêng biệt Khác với âm tiết của một số ngôn ngữ, âm tiết tiếng Việt thường không bị nhược hoá (reduction) hay mất đi
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thứ hai, có khả năng biểu thị ý nghĩa : trong tiếng Việt, âm tiết không chỉ là một đơn vị ngữ âm đơn thuần như âm tiết trong các ngôn ngữ châu Âu
mà còn là một đơn vị từ vựng và ngữ pháp chủ yếu
Thứ ba, có một cấu trúc chặt chẽ : âm tiết tiếng Việt không phải là một khối không thể chia cắt được mà là một cấu trúc Mô hình cấu trúc tổng quát của tất cả các âm tiết tiếng Việt là : Thanh điệu - âm đầu - âm đệm - âm chính
- âm cuối
1.3.1.2 Hệ thống âm vị tiếng Việt
Âm tiết của tiếng Việt không phải dính liền một khối nhưng cũng cấu trúc chặt chẽ, riêng biệt mà các nhà nghiên cứu thường gọi âm tiết tiếng Việt
có cấu trúc hai bậc được mô tả [34]
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Hệ thống các âm vị làm các bộ phận của âm tiết tiếng Việt và sự thể hiện của chúng trên chữ viết theo quan điểm của Đoàn Thiện Thuật [34]
*/ Bảng hệ thống âm đầu và sự thể hiện các âm đầu trên chữ viết quốc ngữ
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Âm vị / ʔ/ trong mọi trường hợp không thể hiện trên chữ viết, ví dụ: ăn, uống, yêu, em, ơn, an, …
- Các âm vị có một cách thể hiện
STT Âm vị Chữ viết Ví dụ
1 / b/ B bảnh bao, bạn bè, bập bênh
3 /f/ ph Phấp phơ, phơi bày, Phan Thiết
4 /v/ V vui vẻ, vồn vã, vội vàng
5 / t‟/ Th thành thật, thong thả, thắng lợi
6 /t/ T Tiền, tên gọi, tiến lên
7 /d/ Đ đẹp đẽ, đào ào, đi đầu
8 /S/ X xanh xanh, xinh xắn, xăm soi
9 / ʂ / S sinh sôi, sóng biển, Trường Sa
10 / l / L long lanh, lấp lánh, lâu đài
11 / c / ch chong chóng, buồn chán, chăm chỉ
12 / / Tr trân trọng, trang nghiêm, trên cao
13 / ɲ / nh nhanh chóng, nhốn nháo, nhà cửa
14 /χ / kh khinh bỉ, khoẻ khoắn, khách khứa
15 / h / H hạnh phúc, hân hoan, học hỏi
16
/ / R Ra, rổ rá, rõ ràng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Các âm vị có 2 cách thể hiện trở nên:
+/ Âm vị / z / có hai cách viết là d và gi
+/ Âm vị / k / viết - k khi nó ở trước các nguyên âm / i, e, ε, ie/
*/ Âm đệm và sự thể hiện các âm vị làm âm đệm trên chữ viết
Trong tiếng Việt chỉ có 2 âm đệm đó là âm đệm zêrô và âm đệm /ṷ /
Âm đệm zêrô không thể hiện trên chữ viết
Âm đệm / ṷ / viết - O khi sau nó là các nguyên âm có độ mở rộng /a, ă, ε /
- u khi sau nó là các nguyên âm còn lại Đặc biệt, âm đệm /ṷ / đi sau / k/ bao giờ cũng được ghi là u Ví dụ: quan, quê, que, quên, qua…
- Âm đệm /ṷ / không đứng sau / b, m, f, v / và hạn chế xuất hiện sau các phụ âm / n / và / t /
*/ Bảng hệ thống các âm chính và sự thể hiện các âm vị làm âm chính trên chữ viết
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tất cả các âm vị làm âm chính trong tiếng Việt đều là các nguyên âm
Có ba nguyên âm đôi và mười ba nguyên âm đơn làm âm chính được thể hiện trên chữ viết:
- Các âm vị nguyên âm có một cách viết:
3 / / a(chỉ trước nh,ch) anh, mạnh, mách, khách
4 / / o(chỉ trước ng,c) ong, tóc, trong, cóc
oo (chỉ trước ng,c) xoong, (ba) toong, phoóc
3 / uo / ua ( khi không có âm cuối) mua, cua, chua
4 / ă / a( khi có vần au,ay) đau tay, rau, cay
5 / / ưa ( khi không có âm cuối) mưa, trưa, bữa
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Một nguyên âm / ie/ được thể hiện bằng 4 cách viết
/ ie /
ye ( khi co âm đệm /w/ và có âm
cuối)
tuyên, khuyên, quyết
iê ( khi có âm đầu, có âm cuối,
không có âm đệm)
tiên tiến, biến thiên, kiên cường
ia ( khi không có âm cuối) mía, tia, chia
ya( khi có âm đệm /w/, không có
âm cuối)
Khuya
*/ Bảng hệ thống âm cuối và sự thể hiện các âm vị làm âm cuối trên chữ viết
Những âm vị làm âm cuối có một cách viết
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Những âm vị làm âm cuối có hai cách viết
1 / k / ch ( sau i, e) chính, chếch, chích, thách
C đƣợc, các, đắc, đốc
2 / ṷ / o (sau a, ε ) cao, treo, vèo, cháo
U cau, chiếu, kêu,
3 / ŋ / nh ( sau i,e ) mình, bách, khách, khênh
Ng không, trang, vùng vằng
4 / ḭ / y ( sau ă ) tay, bay, bây,
I tai, tỏi, côi, xơi
1.3.1.3 Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt
Thanh điệu (tone) là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một
âm tiêt có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị Nhƣ vậy, nếu nhƣ ngữ điệu là đặc trƣng của câu, trọng âm là đặc trƣng của từ thì thanh điệu là đặc trƣng của âm tiết [34] Thanh điệu tham gia vào việc cấu tạo
từ, làm chức năng phân biệt ý nghĩa của từ và làm dấu hiệu phân biệt từ Thanh điệu có chức năng nhƣ một âm vị, nó gắn liền với âm tiết và biểu hiện trong toàn âm tiết
Tiếng Việt có 6 thanh điệu khu biệt với nhau bởi âm điệu và âm vực đƣợc
mô tả nhƣ sơ đồ sau
Sơ đồ về 3 tiêu chí biệt cho sáu âm vị thanh điệu
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thanh điệu được thể hiện đồng thời với các âm vị khác Sự thể hiện thanh điệu ít nhiều chịu sự tác động của các âm vị khác cấu thành âm tiết Đường nét điển hình cho mỗi thanh
Âm cuối kết hợp với âm cuối tạo nên âm hưởng cơ bản của các âm tiết Bởi vậy sự kết hợp của các âm này ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố của các thanh điệu Sự xuất hiện của các thanh điệu trong các âm tiết có âm cuối
có thể được tóm tắt như trong bảng sau.[34]
Thanh điệu âm tiết Zero Huyền Ngã Hỏi Sắc Nặng
Có âm cuối vô thanh - - - - + +
Có âm cuối hữu thanh + + + + + +
1.3.1.4 Đặc điểm của từ tiếng Việt ( đặc điểm ngữ nghĩa)
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu
Từ bao giờ cũng mang ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Ý nghĩa ngữ pháp chỉ biểu hiện khi nó kết hợp với các từ khác
Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện nó được hình thành
do sự kết hợp và tác động của các nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và các nhân tố bên trong ngôn ngữ ( hệ thống cấu trúc ngữ pháp của câu )[5]
Nghĩa từ vựng: nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Các lớp từ vựng trong tiếng Việt
và các từ vay mượn
Tiếng lóng
Sơ lược về các phương ngữ
Từ vựng địa phương
Từ vựng địa phương
chuẩn hóa tiếng Việt
Hệ thống Hán Việt
Từ vay mư
ợn
1.3.1.5 Đặc điểm quan hệ ngữ pháp Tiếng Việt
Quan hệ ngữ pháp : Quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các
từ tạo ra những tổ hợp từ có khả năng được vận dụng độc lập, được xem như
là dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn, và có ít nhất một thành tố có khả năng được thay thế bằng một từ nghi vấn [36, 254]
Các kiểu quan hệ ngữ pháp
Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tuy đa dạng nhưng có thể được quy thành
ba kiểu chính là : quan hệ đẳng lập, quan hệ chính - phụ, quan hệ chủ - vị
*/ Quan hệ đẳng lập : là quan hệ giữa cá thành tố không phụ thuộc vào
nhau Trong đó chức vụ cú pháp của thành tố chỉ được xác định khi đặt toàn
bộ tổ hợp do chúng tạo nên vào một kết cấu lớp hơn Quan hệ đẳng lập bao gồm bốn kiểu nhỏ;
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Quan hệ liên hợp
- Quan hệ lựa chọn
- Quan hệ giải thích
- Quan hệ qua lại
*/ Quan hệ chính phụ : là quan hệ phục thuộc một chiều giữa một
thành tố chính với một thành tố phụ, trong đó chức vụ cú pháp của thành
tố chín chỉ được xác định khi đặt toàn bộ tổ hợp chính - phụ vào một kết cấu lớn hơn, còn chức vụ của thành tố phụ có thể được xác định không cần điều kiện ấy
Quan hệ chính phụ được chia thàn hai kiểu nhỏ ;
- Quan hệ giữa thực từ với hư từ
- Quan hệ giữa thực từ với thực từ
Quan hệ chính – phụ giữa thực từ với hư từ bao gồm :
- Quan hệ giữa danh từ với định ngữ của nó
- Quan hệ giữa động từ hay tính từ với bổ ngữ của nó
- Quan hệ giữa động từ hay tính từ với trạng ngữ của nó
*/ Quan hệ chủ -vị
Quan hệ chủ - vị là quan hệ giữa hai thành tố phụ thuộc lẫn nhau Trong đó chức vụ cú pháp của cả hai có thể xác định được mà không cần đặt
tổ hợp do chúng tạo nên vào một kết cấu lớn hơn
Có nhiều cách phân loại quan hệ chủ - vị:
- Căn cứ vào bản chất từ loại của vị ngữ, có thể phân biệt trường hợp vị ngữ là động từ với trường hợp vị ngữ là danh từ
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Căn cứ vào vị trí các thành tố, có thể phân biệt trường hợp chủ ngữ đứng trước với trường hợp chủ ngữ đứng sau vị ngữ
- Căn cứ vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố, có thể phân biệt trường hợp có ý nghĩa chủ động với trường hợp có ý nghĩa bị động
Tính tầng bậc của quan hệ ngữ pháp trong câu có thể đượ mô tả theo sơ
đồ sau:
Áo mới
:Câu có 2 từ, chứa 1 quan hệ ngữ pháp
Áo này mới
: Câu có 3 từ, chứa 2 quan hệ ngữ pháp
Áo này rất mới
: Câu có 4 từ, chứa 3 quan hệ ngữ pháp
[36, 254- 258] 1.3.2 Vài nét về tiếng Việt trong chatroom
Chatroom ra đời vì người ta không thể mất nhiều thời gian để nhận một thông điệp mà họ chờ đợi được gửi đến Chính vì sự nóng lòng này mà bất kì
ai khi sử dụng chatroom cũng cố gắng tiết kiệm thời gian để truyền thông điệp
đi Và thế là, họ bắt đầu từ việc giảm thiểu hết mức cho phép những kí tự mà
họ không nhất thiết cần phải gõ miễn là thông điệp gửi đi vẫn được người nhận hiểu đúng và thông điệp trả lời thỏa mãn điều mà họ chờ đợi Khi không vội vã nhận thông điệp mà chỉ tán gẫu đơn thuần, các chatter lại nảy sinh một
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhu cầu khác nữa cũng quan trọng không kém nhu cầu nhanh – tiết kiệm ấy
là nhu cầu tạo – nên – cái - khác – biệt Chat bằng kiểu ngôn ngữ không giống
ai sẽ thú vị hơn, đặc biệt hơn Thế rồi, cách sử dụng này lâu dần trở thành một thói quen, bắt đầu từ một vài người sau đó lan rộng ra cộng đồng mạng và trở nên phổ biến
Thực tế, những kí tự ấy xuất phát từ việc nhắn tin, sử dụng qua chat, rồi đến các diễn đàn và dần lan sang các blog cá nhân với tốc độ chóng mặt Chính vì muốn nhắn tin cho nhanh mà "i" là "j", "b" là "p”, “nhanh” được viết thành “nhah”, “những” được viết thành “nhưg” hay một cái mặt cười biểu thị cho sự vui vẻ , cái mặt cau với cái miệng ngoắc rộng và bàn tay vẫy thay cho lời chào tạm biệt hay những biểu tượng “khủng” có thể diễn
ra mọi trạng thái cảm xúc như băn khoăn , thích thú
từ đó rộng thêm nhiều sự sáng tạo khác nữa Ban đầu chỉ là cách biến đổi chữ cái học theo các web nước ngoài (số 4 là cách viết tắt cho chữ for, four từ đó suy ra các chữ khác 4ever tức forever (mãi mãi) )Và kiểu ngôn ngữ ấy ngày càng biến thể dưới nhiều dạng khác nhau Từ chỗ thu gọn, viết tắt đến mức tối thiểu, cho đến cố làm ra dài ngoằng một từ nào đó, sau đó
là viết hoa không theo quy luật, rối rắm đến mức một số teen sành điệu đôi lúc cũng phải căng mắt ra dịch mà cũng không chưa chắc hiểu hết Không chỉ bắt chước, các cư dân mang Việt Nam còn làm đa dạng ngôn ngữ @ bằng cách thay thế chữ cái trong tiếng Việt bằng con số và các kí hiệu khác có hình dáng gần giống Ngôn ngữ biến dạng dần dần, thay đổi từng chi tiết của các chữ cái Việt, thậm chí kể cả dấu câu và cách đặt dấu câu
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong tâm lý của teenner, khi tham gia vào chatroom mà vẫn sử dụng ngôn ngữ một cách bình thường như sử dụng ở ngoài đời thường thì người đó
sẽ trở nên lạc lõng, không nhập cuộc, thậm chí bị tẩy chay ra khỏi phòng chat Tiểu kết chương 1:
Trong chương 1, chúng tôi đã cố gắng trình bày những vấn đề lý thuyết liên quan trực tiếp đến đề tài, những định nghĩa, như phương ngữ; phương ngữ xã hội; cách tiếp cận phương ngữ xã hội; biến thể ngôn ngữ; phương ngữ với tư cách là biến thể ngôn ngữ; đặc điểm của tiếng Việt trên các phương diện âm vị, từ vựng, ngữ pháp, tiến hành tìm hiểu lịch sử ra đời của intetner,cũng như sự phát triển của chatroom và những đặc điểm cơ bản nhất về ngôn ngữ liên quan đến chatroom
Với mục tiêu bước đầu nghiên cứu tiếng Việt sử dụng trên chatroom, bằng phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, trọng tâm của luận văn là
từ những lý thuyết hữu ích được đưa ra làm cơ sở để thực hiện việc nghiên cứu đề tài như dự kiến ban đầu để từ đó đưa ra được một quy tắc cơ bản của tiếng Việt sử dụng trong chatroom
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT TIẾNG VIỆT SỬ DỤNG TRONG NGÔN NGỮ
CHATROOM – TRƯỜNG HỢP HỌC SINH THPT
Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu đẹp và trong sáng, như nhà văn Đặng Thai Mai đã viết: "Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay …" hay như nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu: “Sự trong sáng của ngôn ngữ là kết quả của một cuộc phấn đấu Trong và sáng dính liền nhau…” Hiện nay việc sử dụng Tiếng Việt trong ngôn ngữ chatroom là một hiện tượng ngôn ngữ được
cả xã hội quan tâm Đặc biệt là đối với học sinh Trung học phổ thông, lứa tuổi tiếp xúc nhiều với internet, các phòng chát, và được coi là các chatter nhiều phong cách teen Và thái độ của xã hội đối với hiện tượng này có nhiều quan điểm khác nhau, từ khen đến chê, từ cổ xúy hưởng ứng một cách thích thú đến xem đó là “quốc nạn” về ngôn ngữ
Phần chương 2, chúng tôi cố gắng bước đầu khảo sát tiếng Việt sử dụng trong ngôn ngữ chatroom với các cấp độ như từ ngữ, câu và văn bản
Cách chia này giúp cho chúng ta có cái nhìn cụ thể, tổng quát về tiếng Việt
trong ngôn ngữ chatroom- trường hợp học sinh trung học phổ thông
2.1.TỪ NGỮ SỬ DỤNG TRONG CHATROOM
2.1.1 Khái niệm “từ”
Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về từ
Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu [11]
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đỗ Hữu Châu có đưa ra định nghĩa: Từ của tiếng Việt là một hoặc một
số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất
định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [6]
Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ
học” đã có 34 định nghĩa khác nhau về từ Dưới đây là một số định nghĩa có trong tài liệu này
“Định nghĩa từ ngữ Việt Nam là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt
và nhỏ nhất để tạo câu [37]
“Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và vận dụng tự do để tạo nên câu” [37] Luận văn này tán đồng quan điểm của Đỗ Hữu Châu Trong quá trình khảo sát về cấp độ từ tiếng Việt sử dụng trong chatroom, chúng tôi xin được thống nhất từ với từ ngữ Bên cạnh đó, việc khảo sát chỉ đi sâu vào khảo sát hình thức, biểu hiện của từ chứ không tìm hiểu ở góc độ loại từ Hình thức có thể được hiểu là vỏ ngữ âm của từ (giống như âm tiết)
2.1.2 Khảo sát từ tiếng việt được sử dụng trong chatroom
Trong phần này chúng tôi đi tìm hiểu ở cấp độ thể hiện về mặt hình thức các từ được sử dụng Ở đây chúng tôi tạm gọi những biến đổi đó là các biến thể
2.1.2.1 Biến thể có sự thay đổi phụ âm đầu
- v thành z, d
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ:
Pemongpemo – peyeuanh: như zậy là mình đã bước sang tuổi mới rùi
Mong rằng những điều dui dẻ sẽ đến với mình, cảm ơn pạn đã tới xinh nhat mềnh ná
Langtudatinh: Minh tháy hom sinh nhat pạn có rát nhìu bạn be, chác
Ngayem < radi: OK, nHok cHiU kHO dOi vAi NgAy nuA nnha [NNL,2]
- l thành n:
Ví dụ :
Kimmi: Ah pit nà Ah dA làm kHổ eM nhìu quá, eM nen Wen Ah đj
Cobedoihon: nkưg càg cố tkỳ E Nại kàg i* a hơn