Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG THỊ MAI ĐỀ TÀI: CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG N
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ MAI
ĐỀ TÀI:
CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60 62 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN THẾ ĐẶNG
Thái Nguyên – Năm 2011
Trang 21
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của nền sản xuất xã hội, của bản thân con người và là điều kiện sinh tồn của thế giới động, thực vật trên Trái đất Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt Tuy nhiên, đất đai
là một nguồn tài nguyên hữu hạn, nó chỉ trở nên vô hạn và quý giá tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự hiểu biết và thái độ đối xử của con người đối với đất đai
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế quốc dân trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, các công trình đô thị, công trình dân cư phát triển với quy mô và tốc độ ngày càng lớn, đòi hỏi công tác quản lý đất đai phải thực hiện tiết kiệm và hiệu quả; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với người sử dụng đất, đồng thời thúc đẩy hình thành thị trường bất động sản công khai
và lành mạnh trên cơ sở kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Từ những năm đầu thập kỷ 90, Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang thu được những thành công đáng kể, đó là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh Vào những năm gần đây kinh tế nước ta có những bước tiến vượt bậc, đặc biệt là từ khi chúng ta ra nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Tổng sản phẩm trong nước bình quân tăng nhanh, chất lượng cuộc sống từng bước được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển về kinh tế là sự bùng
nổ dân số và tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, hình thành các khu đô thị, các khu công nghiệp lớn gây biến động đất đai tại các địa phương
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tốc độ đô thị hoá của tỉnh Thái Nguyên diễn ra mạnh mẽ Là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, cách Hà Nội 80km về phía Bắc, tiếp giáp với 6 tỉnh, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt nối liền với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong vùng rất thuận tiện cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hoá Không những thế Thái Nguyên còn là trung tâm văn hóa của các tỉnh miền núi phía Bắc, là nơi tập trung của rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề Trong những năm gần đây Thái Nguyên không ngừng phát triển, cơ sở hạ tầng cũng được đầu tư nâng cấp hoàn thiện dần
Trang 32
Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa đã làm đất đai khu vực biến động mạnh cả
về mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng đất Diện tích đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp, thay vào đó là các khu đô thị tăng lên Việc quản lý, sử dụng đất trở lên phức tạp hơn, việc mua bán, trao đổi, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép diễn ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước Giá cả đất đai khu đô thị trên thị trường thường tăng cao và có những biến động phức tạp Ngoài ra, sự phát triển của các khu đô thị
đã thu hút lực lượng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị gây lên sự bất ổn xã hội như: giải quyết việc làm, nhu cầu đất ở, ô nhiễm môi trường…
Quá trình đô thị hóa đã, đang và sẽ mang lại các mặt tích cực như thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội rõ rệt, đồng thời do sự phát triển của xã hội và vấn đề đô thị hóa nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, và nếu không có biện pháp quản lý một cách thích hợp thì chẳng bao lâu nữa đất nông nghiệp sẽ chẳng còn bao nhiêu Chẳng hạn như những diện tích dành để bố trí các công trình kinh tế đầu mối, các khu dân cư, các công trình cơ sở sản xuất, dịch vụ y tế, đào tạo nghiên cứu khoa học, một diện tích lớn khác đã được xây làm nhà ở, để tách hộ, để bán, để tự kinh doanh
Đứng trước những vấn đề trên, để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân sử dụng đất cũng như mong muốn tham mưu, tìm ra những giải pháp có hiệu quả nhằm khắc phục những vấn đề bức xúc nêu trên, góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý Nhà nước về đất đai; nâng cao tính khả thi của việc sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao; tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức kinh tế, cá nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình về sử dụng đất đối với Nhà nước; đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xuất phát từ những vấn đề trên và nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế
Đặng, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đến hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, giai đoạn 2006 - 2010”
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Đánh giá thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, giai đoạn 2006 – 2010
- Đánh giá ảnh hưởng của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đến
hộ gia đình
Trang 43
- Đưa ra giải pháp cho sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình đô thị hoá
1.3 Yêu cầu của đề tài nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá quá trình đô thị hoá của thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2006 – 2010
- Đánh giá ảnh hưởng của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đến
1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Là cơ hội cho bản thân
củng cố kiến thức đã học, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với tình hình chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp tại địa phương
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá
trình chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá Từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, góp phần đẩy nhanh quá trình sử dụng đất đạt hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới
Trang 54
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về các chính sách đất đai, đặc biệt là chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và đề xuất hướng hoàn thiện chính sách kèm theo các giải pháp thực hiện
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố để ngày càng văn minh, giàu đẹp, sánh vai với các thành phố lớn trong khu vực và trên cả nước; góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và hoàn thiện chính sách, phương thức chuyển đổi mục đích sử dụng đất nói riêng trên địa bàn thành phố; góp phần hạn chế, giải toả những bức xúc về khiếu kiện của công dân khi bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện các dự án trên địa bàn
* Khái niệm về chuyển mục đích sử dụng đất
Chuyển mục sử dụng đất mới được pháp luật đất đai đề cập đến từ năm 2001 (khi sửa đổi, bổ sung lần thứ 2 Luật Đất đai 1993)
Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất
cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác
Luật đất đai 2003 quy định, Nhà nước căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn; Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt mà cho phép người sử dụng đất được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác ngay trên diện tích đất mà họ đang sử dụng
Nhà nước không phải thu hồi rồi giao lại mà chỉ cần cho phép người sử dụng được thực hiện nghĩa vụ tài chính và công nhận cho họ được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác
Trang 65
* Mục đích của chuyển mục đích sử dụng đất
- Đa dạng các hình thức có được đất để sử dụng của người sử dụng
- Đơn giản thủ tục hành chính trong việc phân phối lại đất đai
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Như vậy, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng đất hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang mục đích khác Các hoạt động này đều nhằm:
+ Đáp ứng được các nhu cầu đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và ngoài nước
+ Đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở
để giải quyết mọi mối quan hệ đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó
Nhà nước thu hồi đất nhằm thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai để thực hiện quyền quyết định duy nhất của Nhà nước đối với đất đai và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quản lý đất đai
* Vai trò của chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất đóng vai trò trung tâm để phát triển kinh
tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng
* Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất:
- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
- Tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội
- Tổ chức sự nghiệp công
Trang 76
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước
Các đối tượng trên khi được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất có đầy đủ các điều kiện về hồ sơ theo quy định thể hiện nhu cầu xin giao đất, xin thuê đất, xin chuyển mục đích sử dụng đất của họ; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hay chuyển mục đích sử dụng đất
+ Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
+ Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
+ Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở [9]
- Những trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Tất cả những trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc quy định trong 5 trường hợp trên thì người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải đăng ký với văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất (Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) hoặc Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất
Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng nên sau khi chuyển mục đích sử dụng đất thì quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất có thể bị thay đổi Nguyên tắc chung là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử
Trang 82.1.2.1 Một số văn bản của Nhà nước
- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành luật đất đai 2003
- Thông tư số 01/2005/TT- BTNMT ngày 13 ngày 4 tháng 2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định của Chính phủ số 198/2004/NĐ–CP ngày 03 tháng 12 năm 2004
Trang 98
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 của Liên bộ Tài chính – Tài nguyên và Môi trường, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính Phủ
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ qui định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.2.2 Một số văn bản của UBND tỉnh Thái Nguyên
- Chỉ thị số 16/2004/CT-UB ngày 13 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc triển khai thực hiện Luật Đất đai 2003
- Quyết định số 1883/2005/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định về hạn mức đất ở khi giao đất và hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất có vườn, ao khi cấp GCN quyền
sử dụng đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh
Quyết định số 1597/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên V/v điều chỉnh cấp đổi GCN quyền sử dụng đất, GCN quyền sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định do không tách diện tích đất ở và đất vườn ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Quyết định số 326/2006/QĐ-UBND ngày 27 tháng 2 năm 2006 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy trình về thu hồi đất, quản lý quỹ đất
đã thu hồi, trình tự thủ tục xin giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSD đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Quyết định số 867/2007/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên V/v ban hành quy định về thu hồi đất, quản lý quỹ đất đã thu hồi; trình tự, thủ tục xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 05 tháng 1 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam
Trang 109
2.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới
Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới khoảng 510 triệu km2
trong đó đại dương chiếm 361 triệu km2
(chiếm 71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu km2 (chiếm 29%) Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới được phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000m2 Đất trồng trọt toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai trong đó có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là:
Đất có năng suất cao: 14%
Đất có năng suất TB: 28%
Đất có năng suất thấp: 28%
Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích khác Mặt khác dân số ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 – 85 triệu người Như vậy với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 – 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả
sử dụng đất cũng như tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết [23]
Dân số ngày một tăng cùng với những phát hiện mới về thiên nhiên, con người đã nghĩ ra nhiều phương thức sản xuất mới, nhiều ngành nghề khác nhau để kiếm sống Và quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đều xảy ra ở tất
cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ đô thị hóa cũng như diện tích đất được chuyển mục đích hàng năm Quá trình chuyển mục đích trên thế giới diễn ra sớm hơn với tốc độ mạnh mẽ hơn ở Việt Nam Đặc biệt là ở một số nước phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản vv…thì tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm quá trình chuyển mục đích sử dụng đất trong đó có đất nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, chính quá trình đô thị hoá, chuyển mục đích sử dụng đất một cách hợp lý đã giúp nền kinh tế của các nước này phát triển khá nhanh trong những năm qua Để đạt được những thành tựu đó thì công tác quản
lý đất đai ở các quốc gia này được thực hiện khá tốt Một trong những nước điển
Trang 1110
hình về công tác quản lý Nhà nước về đất đai đó là nước Pháp Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia TBCN, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của phương pháp tổ chức QLNN trong lĩnh vực đất đai khá
rõ của Cộng hòa Pháp Vấn đề này dễ lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Nước Cộng hòa Pháp có một số đặc điểm đặc trưng sau:
Về chế độ sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện nay tồn tại hai hình thức sở hữu cơ bản: SHTN về đất đai và SHNN (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Về công tác quy hoạch đô thị: Do đa số đất đai thuộc SHTN, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú ý từ rất sớm và thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, ở Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm
1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch
đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền SHTN và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan
hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng và quy hoạch lãnh thổ…
Về công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai: Mặc dù là quốc gia duy trì chế
độ SHTN về đất đai, nhưng công tác QLNN về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất quy củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đầy đủ thông tin về hiện trạng, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và SDĐ có hiệu quả,
Trang 12Tuy công nhận quyền SHTN, nhưng luật đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất (thu thuế kinh doanh BĐS; quy định mức giá thuê đất hoặc thuê bất động sản…) Quyền thu hồi đất thuộc SHTN để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi… bản chất quyền SHTN về đất đai ở Mỹ tương đương với quyền SDĐ ở Việt Nam
Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế độ sở hữu đối với đất đai khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản
lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh, để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện
để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia [2]
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 24.696 nghìn ha (chiếm 74,56% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích đất bình quân trên đầu người ở Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất thế giới Ngày nay với
Trang 1312
áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là những quá trình xói mòn, rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý, chăn thả quá mức, quá trình chua hóa, mặn hóa, hoang mạc hóa, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng… cùng với chế độ chăm bón chưa phù hợp, tỷ lệ bón phân N : P : K trên thế giới là
100 : 33 : 17, còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7 thiếu lân và kali nghiêm trọng dẫn đến diện tích đất đai nước ta nói chung ngày càng giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp Tính theo bình quân đầu người thì diện tích đất tự nhiên giảm 26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5% Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta [24]
Tình hình sử dụng đất cũng như quản lý đất đai của nước ta qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì lại có những điểm mới để phù hợp với quá trình phát triển chung Trong những năm gần đây đặc biệt là từ khi có Luật Đất đai năm 1987 thì tình hình quản lý về đất đai đã được cải thiện Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài Theo tinh thần của Luật này thì: Kinh tế nông hộ đã được khôi phục và phát triển Các hộ nông dân đã được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, khuyến khích kinh tế
tư nhân trong lĩnh vực khai thác sử dụng đất v.v Tuy nhiên Luật Đất đai 1987 được soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật; do đó
đã bộc lộ một số tồn tại sau: Việc tính thuế trong giao dịch đất đai rất khó khăn vì Nhà nước chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị; chưa quy định rõ những cơ
sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp
và phân công lại lao động trong nông thôn; chính sách tài chính đối với đất đai chưa
rõ nét, đặc biệt là giá đất; chưa có điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chính sách cũ vv…
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa phương Tuy nhiên, đất nông nghiệp đã giao cho nông dân sử dụng lâu dài nhưng công tác quản lý chưa được chặt chẽ
Sau giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 – 1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, Hiến pháp 1992 ra đời đã
Trang 1413
khắc phục được những hạn chế của Luật Đất đai 1987 và trên cơ sở của Hiến pháp
1992 thì ngày 14 tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai năm 1993 đã được Quốc hội khóa
IX thông qua
Luật Đất đai năm 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Luật này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng và hoàn thiện hơn
Trong quá trình chúng ta thực hiện Luật Đất đai 1993 đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể nhưng cùng với sự phát triển thì một số nội dung của Luật cần được thay đổi và bổ sung thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của đất nước đặt ra Ngày 26 tháng 12 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai mới – Luật Đất đai 2003 Và trong số các nội dung đổi mới mà Luật đề cập
có nội dung về chuyển mục đích sử dụng đất nói chung và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Như vậy, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới việc
sử dụng đất đúng theo mục đích cũng như hạn chế việc tự ý chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Và cho đến nay chúng ta vẫn đang thực hiện theo Luật Đất đai 2003 cùng với những văn bản dưới Luật để quản
lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách tốt nhất [4]
Và quá trình chuyển mục đích sử dụng đất luôn diễn ra ở mọi thời điểm Trước kia khi chưa có Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục chuyển mục đích thì quá trình chuyển mục đích vẫn luôn diễn ra Sau khi chúng ta xây dựng luật để quản lý cũng như bảo vệ quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng thì vấn
đề chuyển mục đích sử dụng đất vẫn chưa được quan tâm Cho đến lần sửa đổi thứ
2 (năm 2001) của Luật Đất đai 1993 thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất mới được đưa ra và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2003 Hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã kéo theo việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất cũng như chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp ngày càng tăng
Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm (Bộ Xây dựng, 1995)
Tốc độ ĐTH quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số đã làm ảnh hưởng tới nhiều vấn đề như: vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường vv… Đứng
Trang 1514
trước vấn đề đó ngày 23 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “ Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTG, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng (Bộ Xây dựng, 1999)
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những công trình nghiên cứu, hội thảo về quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các đề tài liên quan tới vấn đề này Từ đó cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc quy hoạch, định hướng cuộc sống và sử dụng quỹ đất nông nghiệp sao cho hợp lý và hiệu quả nhất
Ngày 6 tháng 9, tại TP HCM đã diễn ra hội thảo “Công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và chính sách pháp luật về sử dụng đất trong tình hình hiện nay”
Hội thảo do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường
tổ chức nhằm đóng góp những ý kiến giúp Chính phủ xây dựng dự án Luật Đất đai sửa đổi cho phù hợp, góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo ổn định xã hội và an ninh lương thực quốc gia
Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như thu hồi đất nông nghiệp, giá cả đền bù, tạo công ăn việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, tái định cư Kết quả giám sát của Quốc hội cho thấy hơn 80% đơn khiếu nại tố cáo liên quan về đất đai cần tiếp tục xem xét giải quyết
Theo ông Nguyễn Hữu Nhơn, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm qua (2001-2007) khẳng định: Có trên 500.000 ha diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp, chiếm 5% đất nông nghiệp đang sử dụng; đặc biệt, đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước
Chỉ tính trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm 125.000
ha Riêng tỉnh Đồng Tháp, công tác quy hoạch sử dụng đất từng lúc, từng nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển; tình hình quy hoạch treo còn khá phổ biến, có những dự
án kéo dài 5-7 năm không thực hiện dẫn đến đời sống của người dân trong nhiều khu quy hoạch chưa được đảm bảo
Trang 1615
Còn ông Trần Văn Kiệt - Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long cho rằng, một số nơi không cần đất nông nghiệp hoặc sản xuất không hiệu quả cần được chuyển mục đích thì không được quy hoạch
Nơi đất sản xuất nông nghiệp tốt thì lại quy hoạch chuyển mục đích, không phải để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cũng không phải mở rộng đô thị mà quy hoạch để làm sân golf dẫn đến hàng vạn nông dân mất đất sản xuất, đời sống khó khăn phải đi tha phương cầu thực, thậm chí đây là một trong những nguyên làm cho tình hình mất an ninh trật tự, tệ nạn xã hội tăng lên [4]
Cục Trồng trọt (Bộ NN PTNT) báo động về việc đất nông nghiệp đang từng ngày bị chuyển đổi mục đích sử dụng một cách thiếu quy hoạch và tùy tiện nên ngày càng bị thu hẹp một cách báo động Tổng diện tích đất lúa toàn quốc hiện nay
là trên 4,1 hécta Song từ năm 2000 - 2005, diện tích đất lúa đã giảm nghiêm trọng với hơn 302.000ha Gần 9 năm qua, đất lúa đã bị giảm trên 59.000ha Riêng tại ĐBSCL, tính toán sơ bộ cho thấy từ năm 2000 - 2007, đất lúa đã bị giảm 205.000ha (chiếm 57% đất lúa bị suy giảm toàn quốc) Tại phía Bắc, Hải Dương là tỉnh có tỉ lệ đất lúa giảm lớn nhất, bình quân 1.569ha/năm, Hưng Yên 939ha/năm, Hà Nội (cũ)
là 653ha/năm
Theo tính toán, năm 2020 dân số cả nước sẽ xấp xỉ 100 triệu người, năm
2030 sẽ có khoảng 110 triệu người Tổng nhu cầu lúa cho năm 2015 là 32,1 triệu tấn, năm 2020 là 35,2 triệu tấn và năm 2030 là 37,3 triệu tấn Tuy nhiên, tình trạng
ồ ạt chuyển đổi đất nông nghiệp đã khiến sản lượng lúa suy giảm khá lớn qua mỗi năm, trung bình giảm từ 400.000 - 500.000 tấn/năm Cục Trồng trọt báo động, với tốc độ đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì sẽ không còn lúa gạo để xuất khẩu vào năm 2020 Một số liệu đáng chú ý khác cho thấy, tại cả hai miền Nam và Bắc, số lượng các khu công nghiệp lấy từ quỹ đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang không ít và hiện chỉ lấp đầy khoảng 50%-70% số lượng doanh nghiệp hoạt động [4]
2.2.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn TP Thái Nguyên
Thành phố Thái Nguyên với tổng diện tích tự nhiên năm 2010 là 18.630,56
ha, trong đó đất nông nghiệp là 12.266,51 ha chiếm 65,8 % tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp là 5.992,86 ha chiếm 32,2%, diện tích đất chưa sử dụng là 371,19 ha chiếm 2% Qua phân tích trên ta có thể thấy diện tích đất nông nghiệp là cao nhất với 65,8% Trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ lệ khá thấp với 19,8% (3.661,23 ha) Tình hình sản xuất của người dân vẫn gặp rất nhiều khó
Trang 1716
khăn Nhiều cánh đồng vẫn còn tình trạng thiếu nước để sản xuất với nhiều nguyên nhân khác nhau như: vị trí địa lí, địa hình khó khăn không thể xây mương dẫn nước vào đồng ruộng Vì vậy, người dân chỉ trông chờ vào nguồn nước tự nhiên (nước mưa) Ngoài ra sâu bệnh cũng là một trong những vấn đề làm giảm năng suất cây trồng Đặc biệt trong những năm gần đây do diễn biến của thời tiết khá phức tạp, xuất hiện nhiều loại sâu bệnh mới làm cho tình hình sản xuất ngày một khó khăn hơn Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm khá nhanh do chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp để phục vụ các mục tiêu phát triển của thành phố hay để phù hợp với hiện trạng đất đai.[19]
Và trong từng giai đoạn của quá trình phát triển, căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước, Trung ương, địa phương thành phố Thái Nguyên đã ban hành những quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trước khi có Luật Đất đai năm 1993, do cơ chế quản lý tập trung bao cấp, vì
vậy tình trạng chung trong quản lý đất đai ngành nào do ngành ấy quản lý, không có
sự quản lý thống nhất Việc quản lý đất đai chủ yếu tập trung vào đất xây dựng, nhất là đất xây dựng các khu đô thị Quy hoạch tổng thể là chưa có, do vậy ngoài những văn bản của Trung ương, của Tổng cục về công tác quản lý đất đai, thành phố Thái Nguyên đã có những văn bản quy định về việc giao đất cho nhân dân xây dựng nhà ở, quy định về việc mua bán nhà và hoa mầu trong đô thị, đảm bảo cho việc quản lý đất trong lĩnh vực xây dựng có trật tự, ổn định Song cũng trong giai đoạn này tình trạng lấn chiếm đất tự ý làm nhà, phường, xã cấp đất cho nhân dân làm nhà ở, sử dụng đất sai mục đích, bán nhà cửa và hoa mầu không qua cấp thẩm quyền, xảy ra khá phổ biến, việc giải quyết xử lý còn chậm và chưa triệt để, còn để tồn tại kéo dài
Trong thời kỳ đổi mới, đời sống nhân dân được cải thiện nhiều, đất đai ở khu
đô thị thành vấn đề quan tâm hàng đầu trong đời sống và sản xuất Đất đai trở thành
có giá, do đó đã nảy sinh vấn đề bức xúc cần giải quyết như: Đòi đất cha ông, tự ý làm nhà, cấp đất sai thẩm quyền, tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất, các cơ quan cho cán bộ mượn đất làm nhà riêng, xây kiốt bán hàng dưới dạng hợp đồng nhiều năm, thanh lý nhà tập thể cho cán bộ công nhân viên, tự ý cơi nới, sửa chữa xây dựng
Từ năm 2003, khi Luật Đất đai năm 2003 được áp dụng, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố từng bước đi vào nền nếp Tình trạng đòi đất ông cha ở địa bàn thành phố cơ bản được khắc phục và không còn xảy ra,
Trang 1817
việc cấp đất sai thẩm quyền đã được chấm dứt, nhà ở do các cơ quan thanh lý cho các cán bộ công nhân viên chức đã và đang được xem xét, vận dụng các Nghị định của Chính phủ và của Bộ Tài nguyên và Môi trường để hợp thức thủ tục, giao quyền sử dụng đất cho nhân dân Việc khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai ngày càng hiệu quả hơn, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng đất đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; tạo điều kiện về mặt bằng cho các ngành sản xuất, kinh doanh; cải thiện điều kiện về nhà ở cho nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng đô thị thành phố Thái Nguyên
Các cấp chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Hòa theo xu hướng phát triển chung của đất nước và của tỉnh Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên đang cố gắng đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Tất cả đều được thực hiện theo định hướng chiến lược của cơ quan, ban nghành cấp trên trực tiếp chỉ đạo Vì vậy, trong những năm qua trên địa bàn thành phố trung bình mỗi năm có khoảng 52 ha đất nông nghiệp bị thu hồi và 63 ha đất nông nghiệp chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp Bộ mặt thành phố đã có nhiều thay đổi tuy nhiên việc thu hồi đất hay chuyển mục đích sử dụng đất cũng đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân mất đất Đây sẽ là một trong những vấn đề cần quan tâm và giải quyết trong thời gian tới
Trang 1918
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề về lý luận, thực tiễn của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Thực trạng và nguyên nhân của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên
- Những vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2010
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến biến động hiện trạng sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên
- Thực trạng phát triển của thành phố Thái Nguyên
3.3.2 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Hiện trạng sử dụng đất của thành phố
Trang 2019
- Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai
3.3.3 Thực trạng quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, giai đoạn 2006 – 2010
- Đánh giá thực trạng quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất
- Sự biến động đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Thực trạng quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
3.3.4 Ảnh hưởng của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đến hộ gia đình
- Ảnh hưởng của CMĐ đối với kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp
- Đánh giá sự ảnh hưởng của chuyển mục đích SDĐ nông nghiệp tới đời sống kinh tế - xã hội của nông hộ thông qua câu hỏi định tính
- Kế hoạch trong thời gian tới của các hộ dân có đất CMĐ để thực hiện dự án
- Tác động của công tác thu hồi đất đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của
thành phố
3.3.5 Đánh giá chung tác động của chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp tới sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Chuyển đất lúa sang nuôi trồng thủy sản
- Chuyển đất lúa sang trồng cây khác
- Chuyển đất lúa sang mục đích phi nông nghiệp
3.3.6 Định hướng và đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế cho những hộ mất dất nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong thời gian tới tại thành phố Thái Nguyên
- Định hướng phát triển thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới
- Một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế cho những hộ nông nghiệp
- Giải pháp từ phía Nhà nước
- Giải pháp từ phía chính quyền thành phố
- Giải pháp cho các hộ nông dân
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2120
6463.4.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong khi khảo sát, ngoài việc thu thập thông tin từ phỏng vấn, đề tài còn dùng phương pháp quan sát và ghi chép để từ đó chọn các hộ điều tra phù hợp với nội dung nghiên cứu và có tính đại diện cao cho vùng
Việc thu thập tài liệu thông tin bao gồm việc sưu tầm và thu thập những tài liệu, số liệu liên quan đã được công bố và những tài liệu, số liệu mới tại địa bàn nghiên cứu
a Tài liệu thứ cấp (tài liệu đã được công bố)
Đây là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa chọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo” Nguồn tài liệu này bao gồm:
- Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên internet
- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế, xã hội nông thôn, kinh
tế của các ngành sản xuất, đời sống của các nông hộ nông nghiệp nằm trong khu vực
bị thu hồi đất… các số liệu này thu thập từ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường và các Sở, ban, ngành có liên quan Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
b Tài liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có đất sản xuất nông nghiệp Các số liệu này được sử dụng để phân tích về tình hình hiện trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong phường, xã Tình hình mất đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tình hình chuyển đổi việc làm của các hộ do tác động của quá trình thu hồi đất Phương pháp điều tra được tiến hành như sau:
* Cơ sở chọn mẫu điều tra
Đề tài đã chọn 150 hộ thuộc diện đã bị mất đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên để điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo nhiều cấp
Trang 2221
- Phương pháp phát phiếu điều tra trực tiếp:
Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 1 thành viên hiểu biết
về nông nghiệp của gia đình, ngoài ra có sự đóng góp ý kiến của các thành viên khác trong gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Đề tài phỏng vấn thử một số hộ theo một mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu theo các nhóm thông tin sau:
+ Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, dân số, lao động + Nhóm thông tin về đặc điểm chung của hộ mất đất và nguồn sống chính của các hộ
+ Nhóm thông tin về điều kiện đất đai và sử dụng đất đai của hộ
+ Nhóm thông tin về tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ
+ Nhóm thông tin về tình hình thu nhập của hộ
+ Nhóm thông tin về nguyện vọng của người dân mất đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay
+ Các câu hỏi mở về những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp trong quá trình bị thu hồi đất, mong muốn của người nông dân về vấn đề việc làm
- Phương pháp chuyên gia
Trang 2322
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác
- Phương pháp quan sát trực tiếp:
Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của người phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó các thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực
tế, phong phú và khách quan
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm EXCEL: các tài liệu thu thập được, chúng tôi đưa vào máy tính, dùng chính phần mềm EXCEL để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt đối, số tương đối và số trung bình
- Phân tổ thống kê: để phân loại các hộ theo tiêu thức cần nghiên cứu Phân loại theo mức sống của hộ: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo Phân loại hộ gia đình theo tình hình mất đất: hộ mất đất canh tác và hộ không mất đất canh tác
a Phương pháp thống kê so sánh
Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này cho phép ta phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định đồng thời giúp cho ta phân tích được các động thái phát triển của chúng
b Phương pháp tổng hợp
Là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi
ta sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện, đầy đủ Vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận thức tổng hợp
Trang 2423
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến biến động hiện trạng sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên
4.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí, vai trò của địa bàn nghiên cứu
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I, nằm ở trung tâm vùng Trung du miền núi Đông Bắc bộ Có toạ độ địa lý: 210 đến 22027’ vĩ độ Bắc và 105025’ đến
106014’ kinh độ Đông, nằm cách trung tâm Hà Nội 80 Km về phía Đông Bắc và được bao quanh bởi 5 huyện của tỉnh Thái Nguyên:
Phía Bắc giáp: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương và huyện Đồng Hỷ
Phía Nam giáp: Thị xã Sông Công
Phía Tây giáp: Huyện Đại Từ
Phía Đông nam giáp: Huyện Phú Bình
Thành phố Thái Nguyên cách sân bay Quốc tế Nội bài 52 km về phía Bắc
Có Quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng Quốc lộ 1B đi Lạng Sơn Quốc Lộ 37 đi Bắc Giang, Tuyên Quang Thái Nguyên được xác định là đô thị động lực của vùng kinh tế trọng điểm trung du miền núi Bắc Bộ, với vai trò được khẳng định là trung tâm tổng hợp Chính trị - Kinh tế - Văn hóa - Y tế - Đào tạo - Khoa học kỹ thuật của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc; Là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ với các tỉnh đồng bằng Sông Hồng với nhiều tuyến giao thông huyết mạch ở cả đường bộ, đường sắt và đường sông giao lưu kinh tế giữa thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng với các tỉnh miền núi phía Bắc
Ngoài ra, Thái Nguyên còn có vị trí rất quan trọng, có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc nước ta (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
Trang 25Độ dốc từ 8o - 25o chiếm không đáng kể, phần lớn diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8o Loại địa hình này thích hợp với cây lúa, cây trồng hàng năm Kết quả xác định độ dốc địa hình của thành phố (đất ở, đất chuyên dùng và sông suối không phân cấp độ dốc) được thể hiện ở bảng 4.1.
Trang 2625
Bảng 4.1 Phân loại địa hình theo cấp độ dốc thành phố Thái Nguyên
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên)
4.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
* Về khí hậu: Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí
hậu vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc miền nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh giá, ít mưa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Khí hậu của thành phố Thái Nguyên chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng ấm của tỉnh
Lượng mưa trung bình từ 1.500 – 2.500 mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của thành phố Thái Nguyên là tương đối lớn Đối với tỉnh dự tính lượng mưa lên tới 6,4 tỷ m3/ năm và theo không gian lượng mưa tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) Trong đó lượng mưa của tháng 8 chiếm gần 30% tổng lượng mưa cả năm, đôi khi còn gây ra tình trạng lũ lụt lớn Vào mùa khô đặc biệt là tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% tổng lượng mưa cả năm Hướng gió chủ yếu vào mùa mưa là Đông Nam, mùa khô là Đông Bắc
Nhiệt độ trung bình năm là 23,60
C Độ ẩm trung bình năm là 82% Số giờ nắng trong năm đạt 1.628 giờ Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững,
Trang 2726
thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
* Tài nguyên đất: Thành phố Thái Nguyên có những loại đất chính là
đất phù sa được bồi hàng năm; đất phù sa không được bồi hàng năm; đất bạc màu trên nền đất phù sa cổ; đất dốc tụ bạc màu có sản phẩm Feralit; đất xám bạc màu; đất vàng nhạt trên đất cát; đất đỏ vàng trên đá sét biến chất và đất nâu vàng trên phù sa cổ
* Tài nguyên nước: Trên địa bàn thành phố có 2 nguồn nước chủ yếu phục
vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân đó là nguồn nước mặt và nguồn nước
ngầm
+ Nguồn nước mặt: Ngoài nguồn nước mưa còn có các nguồn nước do sông Công, sông Cầu, Hồ Núi Cốc cùng các khe, ngòi, suối lớn nhỏ và các hồ
ao, đầm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
+ Nguồn nước ngầm: Trên địa bàn thành phố có trữ lượng nước ngầm tương đối phong phú hiện đang được khai thác bởi nhà máy nước Túc Duyên, nhà máy nước Tích Lương; Nhà máy nước khu Gang thép Thái Nguyên và các giếng khoan, giếng đào thuộc các khu dân cư chưa được nhà máy cung cấp
* Tài nguyên khoáng sản: Thành phố có hai tuyến sông lớn chảy qua
(sông Cầu và sông Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu cho toàn thành phố Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn
4.1.2 Khái quát về kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên
Hiện nay, thành phố có 28 đơn vị hành chính gồm 18 phường, 10 xã với tổng diện tích 18.630,56 ha, dân số toàn đô thị 330.707 người; trong đó dân
số thường trú 279.710 người (Theo niên giám thống kê 2010)
Đến thời điểm này, thành phố Thái Nguyên đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ
XV cũng như đáp ứng hầu hết các tiêu chí của đô thị loại I trực thuộc Tỉnh
Trang 2827
Bảng 4.2 Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính trên địa bàn
thành phố Thái Nguyên, năm 2010
TT Tên đơn vị hành chính
(phường, xã)
Diện tích tự nhiên (ha)
Dân số trung bình (người) Ghi chú
Trang 2928
4.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
4.1.3.1 Thực trạng phát triển kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân nhiệm kỳ (2006 - 2010) đạt 14,90%
Trong đó, tốc độ tăng trưởng công nghiệp và xây dựng bình quân cả nhiệm kỳ 2006
- 2010 đạt 15,87%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân đạt 18,26% và tốc độ tăng
trưởng nông nghiệp bình quân đạt 4,55% Những năm cuối nhiệm kỳ, mặc dù chịu
tác động của suy giảm kinh tế, tài chính nhưng thành phố đã tập trung chỉ đạo quyết
liệt nhiều giải pháp đồng bộ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển Thu
nhập bình quân đầu người từ 10,2 triệu đồng/người năm 2006 tăng lên 30 triệu đồng
115,02
1
14 Trong đó:
- Công nghiệp + xây dựng % 16,0
113,37
115,50
116,25
116,90
117,35
- Dịch vụ
% 18,0
117,20
117,83
118,50
118,75
119,00
- Nông nghiệp
% 33,0 4,57 4,10 4,50 4,65 4,91 2
2 Cơ cấu kinh tế (GDP) % 100 100 100 100 100 100
449,29
449,12
448,50
448,01
% 47,00
444,96
445,57
446,28
446,65
447,37
% 4,00
55,72
55,14
44,60
44,85
44,62 3
3 GDP bình quân đầu người trđ t
30,00
610,20
818,50
219,49
225,09
230,00
55,56
44,59
42,9
42,6 8
Trang 3029
Qua bảng 4.3 ta thấy trong giai đoạn vừa qua, kinh tế của thành phố Thái Nguyên đã có mức tăng trưởng vượt bậc Cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Thái Nguyên từ năm 2006 - 2009 luôn duy trì cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn tỉnh và vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 14%, đạt kế hoạch đề ra Trong đó: Công nghiệp - Xây dựng ước đạt 1.903 tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm 2009, Dịch vụ ước đạt 1.507,5 tỷ đồng, tăng 15,53% so với năm 2009, Nông nghiệp ước đạt 134,5 tỷ đồng, tăng 4,72%
so năm 2009
Sản lượng lương thực có hạt đạt 30.780 tấn, bằng 106,1% so với kế hoạch, tăng 3,1% so với năm 2009; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt đạt 32,38 triệu đồng bằng 104,6% kế hoạch, giá trị sản phẩm trên 1 ha chè và cây ăn quả đạt 54 triệu đồng (vượt 12 triệu đồng/ha) bằng 116,6% kế hoạch
Thu ngân sách năm 2010 đạt 381,6 tỷ đồng bằng 115,6% kế hoạch tỉnh và bằng 102,3% kế hoạch thành phố, tăng 18,3% so với năm 2009
Chi ngân sách thực hiện là 329,4 tỷ đồng, bằng 84% kế hoạch tỉnh và bằng 71% kế hoạch thành phố, tăng 134 % so với năm 2009
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 4.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2006 – 2009
Công nghiệp, xây dựng (%) 48,3 49,67 48,50 48,78
Nông, Lâm và Ngư nghiệp (%) 6,7 5,14 5,98 4,34
( Nguồn: Báo cáo QH tổng thể phát triển KT-XH TP Thái Nguyên đến năm 2020)
Cơ cấu kinh tế của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2009 đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các nghành công nghiệp, dịch
vụ, thương mại, giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế của ba ngành kinh tế làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo xu hướng ưu tiên cho công nghiệp và dịch vụ cho thấy Thành phố đã từng bước đi vào khai thác lợi thế so sánh của một đô thị, một trung tâm kinh tế lớn của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Cụ thể, tỷ trọng của khu vực
Trang 3130
phi nông nghiệp tăng từ 93,3 % năm 2006 lên 95,66% năm 2009 Trong khi đó tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm tương ứng từ 6,7% xuống 4,34%
4.1.3.2 Về nông - lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển nhưng tỷ trọng trong cơ cấu kinh
tế của Thành phố ngày càng giảm, từ 5,14% năm 2007 xuống còn 4,34 năm 2009; Giá trị tăng thêm do ngành nông nghiệp tạo ra trong GDP của Thành phố tăng 6,2% / năm Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2010 đạt 173,2 tỷ đồng Tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 52%, ngành chăn nuôi chiếm 31,5%, ngành dịch vụ chiếm 16,5%
4.1.3.3 Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Thành ủy, UBND thành phố đang tập trung chỉ đạo hoàn thiện và triển khai các đề án như: Đề án phát triển cụm công nghiệp và làng nghề (giai đoạn 2007 – 2010); đề án hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Chỉ đạo các cơ quan chức năng đi sâu,
đi sát nắm tình hình và kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các đơn vị, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, đầu tư Thành phố đã
tổ chức một số cuộc gặp mặt, giao lưu giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để các doanh nghiệp thêm cơ hội xúc tiến đầu tư Tiếp tục chỉ đạo quy hoạch các cụm công nghiệp phía Bắc và phía Tây, đồng thời kiểm tra việc sử dụng đất của các doanh nghiệp để chấn chỉnh việc sử dụng đất kinh doanh trên địa bàn thành phố
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 trên địa bàn đạt 6.747,23 tỷ đồng, tăng 9,44% so với cùng kỳ; Dự ước cả năm đạt 7.486 tỷ đồng, tăng 9,06% so với năm 2009
Giá trị Sản xuất CN-TTCN địa phương năm 2010 đạt 2.415,7 tỷ đồng, tăng 11,53% so với thực hiện năm 2009, dự ước cả năm đạt 2.718 tỷ đồng, bằng 100,66% kế hoạch và tăng 12,56 so với năm 2009; trong đó: Khu vực ngoài quốc doanh đạt 2.634,9 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2009; Khu vực nhà nước địa phương đạt 83,1 tỷ đồng, tăng 102% so với năm 2009
4.1.3.4 Dân số và nguồn nhân lực
Cơ cấu dân số của thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2006-2010 được thể hiện qua bảng 4.5 Qua bảng cho thấy, dân số tăng khá nhanh tính đến năm 2010 tổng số dân của thành phố là 354.000 người Tỷ lệ Nam và Nữ ngày một chênh lệch nhiều hơn Và tỷ lệ gia tăng dân số tuy đã giảm nhưng vẫn là cao so với yêu cầu đặt
ra
Trang 32(Nguồn: UBND thành phố Thái Nguyên)
Về chất lượng lao động và năng suất lao động, trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tập trung phần lớn nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh, bao gồm đội ngũ tri thức, cán bộ quản lý của tỉnh, thành phố, cán bộ làm việc trong các trường đại học, cao đẳng, bệnh viện tỉnh, một số doanh nghiệp trung ương và địa phương… Thành phố Thái Nguyên có sẵn đội ngũ lao động lành nghề phù hợp cho phát triển trong tương lai Lao động chủ yếu là lao động đã được đào tạo, có thể thích hợp với các công việc đòi hỏi có trình độ tay nghề, nên thích nghi ngay với nền sản xuất hiện đại, tiên tiến
4.1.3.5 Các lĩnh vực khác
+ Về giáo dục: Hệ thống giáo dục và đào tạo thành phố phát triển không
ngừng Khối trường Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non tích cực đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo đạt chuẩn và trên chuẩn nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đến nay trên địa bàn đã có 60 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó:
14 trường mầm non, 32 trường tiểu học, 14 trường trung học cơ sở
+ Y tế: Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân
dân có nhiều tiến bộ Các chương trình quốc gia về y tế tiếp tục được duy trì thực hiện có hiệu quả, không để dịch bệnh lớn xảy ra Các bệnh viện trên địa bàn thành phố đã làm tốt chức năng khám, chữa bệnh cho nhân dân, phối hợp phòng, chống
Trang 3332
các loại dịch bệnh trên người và gia súc, gia cầm Hiện nay, trên địa bàn thành phố
đã có 18/28 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia
+ Thông tin tuyên truyền - văn hóa, thể thao: Các hoạt động thông tin, tuyên
truyền, văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao được quan tâm chỉ đạo Phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục phát triển sâu rộng, có hiệu quả cao, góp phần xây dựng nếp sống văn minh đô thị, nét đẹp văn hoá truyền thống, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn thành phố Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được nhân dân tích cực hưởng ứng Đề án: Phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin – thể thao từ năm 2004 đến năm 2010 được chỉ đạo thực hiện đạt kết quả tốt, đã có 24/28 xã, phường đạt chuẩn về thể dục thể thao
4.1.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển của thành phố Thái Nguyên
* Mặt mạnh: Vị trí địa lý và kinh tế - chính trị của thành phố Thái Nguyên là
một trong những lợi thế quan trọng nhất trong phát triển kinh tế - xã hội Với đầy đủ phương thức vận tải bằng đường bộ, đường thuỷ và đường sắt, có quốc lộ 3, 1B và quốc lộ 37 đi qua và hiện nay đang thi công đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu với Hà Nội và các địa phương khác Với vị trí gần vùng Hà Nội, Thành phố có nhiều điều kiện trở thành vệ tinh cho Hà Nội trong nhiều lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Đây là lợi thế lớn cho quá trình phát triển của thành phố Thái Nguyên
Trên địa bàn thành phố Thái nguyên có một số danh lam, thắng cảnh, cơ sở văn hoá và di tích lịch sử (đền thờ Đội Cấn, Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, chùa Đán, hồ núi Cốc, vùng chè Tân Cương ) đã góp phần thu hút hàng triệu khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng
Nguồn nhân lực với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất cao là một lợi thế phát triển hơn hẳn của thành phố so với nhiều địa phương khác trong vùng và cả nước
Thành phố Thái Nguyên có truyền thống phát triển công nghiệp từ rất sớm và
là nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp trung ương đóng trên địa bàn Tỉnh
Nhu cầu thị trường trong nước đối với nhiều sản phẩm của thành phố Thái Nguyên (hàng công nghiệp, nông sản chế biến, dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá ) đang tăng nhanh, là cơ hội rất lớn cho phát triển thành phố
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại và hợp tác phát triển cho thành phố
Trang 3433
Hệ thống các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị cũng được chú ý đầu tư, nâng cấp cải tạo thêm điều kiện sống cho nhân dân thành phố Tất cả các tuyến đường nội thành đã được nhựa hóa, xây dựng đồng bộ với cống thoát nước và chiếu sáng; lưới điện được cải tạo và nâng cấp; hệ thống cấp nước sạch đã phục vụ cho đời sống nhân dân trong vùng Diện tích cây xanh, thảm cỏ ngày càng được mở rộng và đang phát huy hiệu quả Nhìn chung, sau 8 năm trở thành đô thị loại II, đến nay thành phố Thái Nguyên đã trở thành đô thị loại I (tháng 10/2010), bộ mặt đô thị của thành phố đã thay đổi rõ nét và dần hình thành vóc dáng một đô thị mang bản sắc riêng của vùng trung du miền núi Bắc Bộ
* Một số tồn tại: Tốc độ đô thị hóa nhanh, công tác chuẩn bị hạ tầng đô thị
chưa đồng bộ; nguồn vốn đầu tư còn hạn chế; khu đô thị cũ tập trung đông dân cư, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái Thời gian qua, việc quy hoạch xây dựng một số khu dân cư mới, các khu tái định cư còn chưa hợp lý,
đã làm ảnh hưởng quá trình phát triển chung của đô thị
Việc giải quyết các vấn đề xã hội còn nhiều khó khăn, nhất là giải quyết công
ăn việc làm cho những người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế Đồng thời việc xây dựng quỹ nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thấp cũng là một trong những vấn đề quan trọng nhưng chưa có phương án huy động vốn đầu tư từ các nguồn ngoài ngân sách
Công tác xây dựng quỹ nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thấp cũng
là một trong những vấn đề quan trọng nhưng chưa có phương án huy động vốn đầu
tư từ các nguồn ngoài ngân sách
Các khu công nghiệp tập trung đã và đang được đầu tư, đang đưa vào sản xuất nhưng chưa được đầu tư đồng bộ Ngoài Khu công nghiệp Gang thép, chưa có được những khu có quy mô lớn, có vốn đầu tư với nước ngoài để phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng; một số cụm công nghiệp hiện nay xen kẽ trong khu dân cư
Kinh tế phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của thành phố; khả năng tích lũy cho ngân sách chưa cao; nguồn lực đầu tư cho đầu tư
và phát triển còn hạn chế
4.2 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của thành phố
Trang 3534
Bảng 4.6 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất tại TP Thái Nguyên, năm 2010
TT Mục đích sử dụng đất
Tổng DT các loại đất trong địa giới
HC
Tổng DT đất nội thị (18 phường)
Tổng diện tích đất ngoại thị (10 xã)
Ghi chú
Tổng diện tích tự nhiên 18 630,56 6 081,06 12 549,50
A Đất nông nghiệp 12 266,51 3 366,87 8 899,64
I Đất sản xuất nông nghiệp 9 021,64 2 663,86 6 357,78
1 Đất trồng cây hàng năm 5 017,50 1 389,51 3 627,99 1.1 Đất trồng lúa 3 661,23 1 045,64 2 615,59 1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 17,57 3,20 14,37 1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 1 338,70 340,67 998,03
2 Đất trồng cây lâu năm 4 004,14 2 759,79 1 244,35
IV Đất nghĩa trang, nghĩa địa 115,40 39,06 76,34
V Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1 146,24 264,24 882,00
VI Đất phi nông nghiệp khác 3,30 2,31 0,99
Trang 3635
Tổng diện tích tự nhiên thành phố Thái Nguyên là 18.630,56 ha Trong đó: Đất nội thành là 6.081,06 ha (chiếm 32,6%), đất ngoại thành là 12.549,50ha (chiếm 67,4%), đất xây dựng đô thị 2.523,67 ha gồm: 1.941,79 ha đất dân dụng (gồm: đất khu ở, đất công trình công cộng đô thị, đất cây xanh, đất giao thông nội thị) và 58,88 ha đất ngoài dân dụng (gồm: đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kho tàng, đất cơ quan hành chính, đất trường chuyên nghiệp, đất du lịch, di tích, tôn giáo, đất giao thông đối ngoại, đất quốc phòng, an ninh, đất bãi xử lý chất thải, đất nghĩa trang, nghĩa địa) Ngoài ra còn có 3.557,04 ha, các loại đất khác như: Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đất bằng chưa sử dụng, đất đồi chưa sử dụng và đất đầm, sông hồ
4.2.2 Thực trạng công tác quản lý đất đai
Trong từng giai đoạn của quá trình phát triển, căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng của Nhà nước, Trung ương, địa phương thành phố Thái Nguyên đã ban hành những quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trước khi có Luật Đất đai năm 1993, do cơ chế quản lý tập trung bao cấp, vì
vậy tình trạng chung trong quản lý đất đai ngành nào do ngành ấy quản lý, không có
sự quản lý thống nhất Việc quản lý đất đai chủ yếu tập trung vào đất xây dựng, nhất là đất xây dựng các khu đô thị Quy hoạch tổng thể là chưa có, do vậy ngoài những văn bản của Trung Ương, của Tổng cục về công tác quản lý đất đai, thành phố đã có những văn bản quy định về việc giao đất cho nhân dân xây dựng nhà ở, quy định về việc mua bán nhà và hoa mầu trong đô thị, đảm bảo cho việc quản lý đất trong lĩnh vực xây dựng có trật tự, ổn định Song cũng trong giai đoạn này tình trạng lấn chiếm đất tự ý làm nhà, phường, xã cấp đất cho nhân dân làm nhà ở, sử dụng đất sai mục đích, bán nhà cửa và hoa mầu không qua cấp thẩm quyền, xảy ra khá phổ biến, việc giải quyết xử lý còn chậm và chưa triệt để, còn để tồn tại kéo dài
Trong thời kỳ đổi mới, đời sống nhân dân được cải thiện nhiều, đất đai ở khu
đô thị thành vấn đề quan tâm hàng đầu trong đời sống và sản xuất Đất đai trở thành
có giá, do đó đã nảy sinh vấn đề bức xúc cần giải quyết như: Đòi đất cha ông, tự ý làm nhà, cấp đất sai thẩm quyền, tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất, các cơ quan cho cán bộ mượn đất làm nhà riêng, xây kiốt bán hàng dưới dạng hợp đồng nhiều năm, thanh lý nhà tập thể cho cán bộ công nhân viên, tự ý cơi nới, sửa chữa xây dựng
Từ năm 2003, khi Luật Đất đai năm 2003 được áp dụng, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố từng bước đi vào nền nếp Tình trạng
Trang 3736
đòi đất ông cha ở địa bàn thành phố cơ bản được khắc phục và không còn xảy ra, việc cấp đất sai thẩm quyền đã được chấm dứt, nhà ở do các cơ quan thanh lý cho các cán bộ công nhân viên chức đã và đang được xem xét, vận dụng các Nghị định của Chính phủ và của Bộ Tài nguyên và Môi trường để hợp thức thủ tục, giao quyền sử dụng đất cho nhân dân Việc khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai ngày càng hiệu quả hơn, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng đất đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; tạo điều kiện về mặt bằng cho các ngành sản xuất, kinh doanh; cải thiện điều kiện về nhà ở cho nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng đô thị thành phố Thái Nguyên
Các cấp chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và nhân dân thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật
4.2.2.1 Công tác quy hoạch, kế hoạch
Thành phố thường xuyên tăng cường công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; có các giải pháp đồng bộ huy động tối đa các nguồn vốn để thực hiện các công trình, dự án đã có trong kế hoạch sử dụng đất được cấp thẩm quyền phê duyệt
Thực hiện việc công bố, công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật cho các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp kịp thời, đúng tiến độ và quy định của Nhà nước góp phần thực hiện chủ trương cải cách hành chính để thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Cương quyết xử lý đối với những đối tượng sử dụng vi phạm pháp Luật Đất đai
và đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất cho thành phố Thái Nguyên
Trong 4 năm thành phố Thái Nguyên đã lập kế hoạch sử dụng đất trình HĐND thành phố thông qua và trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện đạt kết quả như sau:
Trang 3837
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2007, 2008, 2009 và 2010
+ Đất truyền dẫn NL truyền thông 1,61
+ Đất trụ sở, cơ quan hành chính sự nghiệp 0,49
+ Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 38,76
+ Đất cơ sở sản xuất kinh doanh 38,76
+ Đất truyền dẫn năng lượng, truyền thông 0,33
Trang 3938
4.2.2.2 Công tác trích đo bản đồ địa chính
- Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị phường, xã đã được đo đạc bản đồ địa chính
- Hàng năm các phường, xã của thành phố Thái Nguyên đã được đo đạc chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên Trong 5 năm từ 2006 đến 2010 đã thực hiện
đo đạc chỉnh lý hồ sơ địa chính với diện tích trên 200 ha; chỉnh lý bản đồ địa chính cho 10 phường, xã trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đáp ứng được công tác quản
lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Hiện nay thành phố đã chỉ đạo thực hiện đề án Chồng ghép Bản đồ Quy hoạch lên bản đồ Địa chính nhằm giúp cho công tác quản
lý Nhà nước đạt hiệu quả cao hơn
4.2.2.3.Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất
Thành phố Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là: 18.630,56 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 12.266,51 ha chiếm 65,84%, đất phi nông nghiệp là 5.992,86 ha chiếm 32,17%, đất chưa sử dụng là 371,19 ha chiếm 1,99% Theo số liệu thống kê trên địa bàn thành phố năm 2010 có: 57.264 hộ Qua kết quả rà soát của 28 đơn vị phường, xã còn khoảng 1.000 hộ chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất Tỷ lệ cấp giấy chứng nhận QSD đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đạt: 98,2%
Hiện nay, để triển khai thực hiện Nghị định số 88/NĐ-CP thành phố đã chỉ đạo ban hành đề án một cửa liên thông để giải quyết các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Trong 5 năm, đã giải quyết cấp đổi giấy chứng nhận cho 16.028 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 1597/QĐ-UB ngày tháng năm
2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên; đính chính cho 370 trường hợp; chuyển mục đích sử dụng đất cho 622 trường hợp
4.2.2.4 Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất
Công tác giao đất, cho thuê đất được UBND thành phố Thái Nguyên tập trung chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Trong 5 năm, thành phố đã trình UBND tỉnh Quyết định giao đất, thu hồi đất với diện tích đất 2.887.745,11m2 để thực hiện 159 dự án trong đó có các dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, cụ thể: Dự án nâng cấp và cải tạo Quốc lộ 37; Dự
án Quốc lộ 3 mới Hà Nội – Thái Nguyên; Dự án xây dựng trụ sở Đoàn ca múa dân gian Việt Bắc; Dự án Đại học Thái Nguyên; Dự án khu đô thị hồ Xương Rồng; Dự
Trang 4039
án đường Bắc Sơn; Dự án đường Phủ Liễn… và các dự án xây dựng khu dân cư góp phần thúc đẩy việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của thành phố Thái Nguyên đề ra
Thành phố Thái Nguyên còn tập trung chỉ đạo để thực hiện công tác giao đất
có thu tiền sử dụng đất để thực hiện quy hoạch các khu dân cư và thực hiện chỉ tiêu thu tiền sử dụng đất tỉnh giao Năm 2006 đã thu tiền sử dụng đất đạt 120.341,5 triệu đồng, năm 2007 thu đạt :126.939,8 triệu đồng; năm 2008 thu đạt: 99.043,6 triệu đồng; năm 2009 đạt 156.739,8 triệu đồng; năm 2010 thu đạt 182.235,6 triệu đồng Nhờ công tác thu ngân hàng năm đã đáp ứng nhu cầu chi cho phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội của thành phố
4.2.2.5 Công tác định giá đất
Xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý Nhà nước về đất đai và đặc biệt phục vụ cho công tác bồi thường, GPMB cho các dự án, và để đấu giá QSD đất Vì vậy, UBND thành phố Thái Nguyên đã thường xuyên tập trung chỉ đạo, kịp thời trình UBND tỉnh phê duyệt giá đất để thực hiện các nội dung nêu trên Về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
4.2.2.6 Công tác chuyển quyền sử dụng đất
Thành phố đã ban hành quy trình giải quyết thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo cơ chế một của liên thông; từ đó người dân chỉ phải đến bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả thuộc UBND thành phố để giải quyết các thủ tục kể cả nộp tiền thuế thu nhập, thuế trước bạ, thay vì trước đây phải đi tới 3 nơi để thực hiện một thủ tục này Trong 5 năm Đã tiếp nhận và giải quyết cho 20.229 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
4.2.2.7 Công tác đăng ký thế chấp và xoá thế chấp
Đây là nội dung quản lý Nhà nước mới được thực hiện sau Luật Đất đai năm
2003 Đáp ứng quy trình giao dịch bảo đảm cho công dân thực hiện công tác bảo lãnh tài sản để thế chấp tại các ngân hàng Trong 5 năm đã thực hiện được:
- Đã tiếp nhận và giải quyết 12.970 hồ sơ đăng ký thế chấp
- Đã tiếp nhận và giải quyết 5.862 hồ sơ đăng ký xoá thế chấp
Các hồ sơ giải quyết đều đảm bảo đúng tiến độ và quy trình của thành phố đã ban hành