1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix

141 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước theo xu hướng Công Nghiêp Hóa, Hiện đại hóa với việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì “dân giàu, nước

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -   -

NGUYỄN THỊ DÂN

CHÂU ĐỊNH HÓA (THÁI NGUYÊN) THẾ KỈ XIX

Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam

Mã số: 60 22 54

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU i

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÂU ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN 5

1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 5

1.2 Sự thay đổi về lịch sử hành chính của huyện Định Hóa qua các thời kỳ lịch sử 9

1.3 Nguồn gốc dân cư 14

Chương 2: TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ CHÂU ĐỊNH HÓA THẾ KỈ XIX 26

2.1 Tình h́ình ruộng đất ở Định Hóa thế kỷ XIX 26

2.2 Các hình thái kinh tế 36

2.2.1 Nông nghiệp 36

2.2.1.1 Ruộng nước 36

2.2.1.2 Tập quán canh tác trên nương rẫy 43

2.2.1.3 Làm vườn 49

2.2.2 Chăn nuôi 50

2.2.3 Kinh tế tự nhiên 52

2.2.4 Thủ công nghiệp 54

2.2.4.1 Sự phân bố các nghề cơ bản 55

2.2.4.2 Quy trình sản xuất 57

2.2.5 Thương nghiệp 77

Trang 3

2.2.5.1.Hệ thống chợ ở huyện Định Hóa 77

2.2.5.2 Hoạt động mua bán 80

2.2.5.3 Nét văn hóa vùng cao của chợ 81

Chương 3: TÌNH HÌNH VĂN HÓA CỦA CHÂU ĐỊNH HÓA THÊ KỈ XIX 85

3.1 Văn hóa vật chất 85

3.1.1 Nhà cửa 85

3.1.2 Trang phục 89

3.1.3 Ăn uống 93

3.2 Văn hóa xã hội 95

3.2.1 Làng bản 95

3.2.2 Dòng họ 98

3.2.3 Gia đình: 100

3.2.4 Hôn nhân: 102

3.2.5 Tục lệ trong đời sống 103

3.3 Văn hóa tinh thần 106

3.3.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 106

3.3.3 Các ngày tết và lễ hội truyền thống 119

KẾT LUẬN……… 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 129 PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mỗi mảnh đất, mỗi con người đều có cội nguồn lịch sử và quá trình vận động phát triển mà hình thành Mảnh đất và con người Định Hóa cũng thế, trải qua mấy thế kỷ khai hoang dựng nghiệp đến nay, với bao gian nan vất vả của nhiều thế hệ, người dân nơi đây đă chống chọi với thiên tai, địch họa mới

có được miền quê trù phú và thanh bình này Quá trình đó đã tôi luyện và hun đúc nên truyền thống tốt đẹp của cư dân Định Hóa, đó là truyền thống yêu nước thiết tha; luôn sáng tạo, cần cù trong lao động, anh dũng kiên cường trong đấu tranh chống kẻ thù, có tinh thần tự lực, tự cường và ý thức cộng đồng sâu sắc

Nơi đây đất rộng người thưa, núi non hiểm trở, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng Định Hóa từ xa xưa luôn là một bộ phận của Việt Nam thống nhất Đồng bào các dân tộc nơi đây có truyền thống đoàn kết, yêu nước giàu lòng nhân ái, dũng cảm trong đấu tranh chống lại các thế lực cường quyền, áp bức, đánh giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động và có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, độc đáo

Ngày nay, để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước theo xu hướng Công Nghiêp Hóa, Hiện đại hóa với việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” đó chính là sự nghiệp của toàn xã hội, toàn dân tộc trong đó có đóng góp không nhỏ của những huyện miền núi như Định Hóa vào công cuộc phát triển chung của đất nước

Bản thân tôi đang sinh sống và giảng dạy trên mảnh đất anh hùng giàu truyền thống cách mạng nơi từng là căn cứ kháng chiến và trở thành an toàn khu(ATK) trong kháng chiến chống Pháp xâm lược Mong muốn của bản thân tôi cũng như bao người dân khác muốn hiểu biết một cách sâu sắc về quê

Trang 5

hương mình Để từ đó trau dồi lòng yêu nước, yêu quê hương cho học sinh Đồng thời là nguồn tài liệu quý giá phục vụ cho công tác giảng dạy Từ những

lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Châu Định Hóa (Thái Nguyên) thế kỷ

XIX” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi được thừa hưởng rất nhiều các

kết quả nghiên cứu của những người đi trước vì chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về châu Định Hóa thế kỉ XIX Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và khía cạch khác nhau của các nhà nghiên cứu có tác phẩm nêu một cách trực tiếp hay gián tiếp, một số vấn đề đến Định Hóa, các dân tộc và văn hóa tộc người ở Thái Nguyên cùng các tộc người có liên quan Và một số tác phẩm chứa đựng một số vấn đề mang tính chất gợi mở cho nghiên cứu như:

- Phan Đại Doăn (2001), Làng bản Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa-xă hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học và Xã Hội

- Địa chí Thái Nguyên (2009), Nxb Chính trị Quốc gia

- Viện Dân tộc học (1976), Các dân tộc ít người ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội

- Viện Dân tộc học (1985), Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội

- Hoàng Ngọc La (chủ biên) (2002), Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa thông tin Thái Nguyên

- Nguyễn Quang Ngọc (1998), Biến đổi cơ cấu xă hội Việt Nam trong lịch

sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên có một số vấn đề coi như gợi mở ban

Trang 6

những vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của tác giả luận văn này

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích: Góp phần tìm hiểu về một thời kỳ lịch sử và tạo cơ sở khoa học về cư dân miền núi nói chung và phía Bắc nói riêng lâu nay còn ít người quan tâm Đồng thời việc tìm hiểu này mong muốn góp phần nêu lên một cách chân thực, khoa học về một thời kì lịch sử trong quá khứ của mảnh đất cũng như con người Thái Nguyên Ngoài ra còn góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu lí giải một số vấn đề lịch sử đấu tranh bảo vệ biên cương, bảo

vệ chính quyền quốc gia dân tộc, mối quan hệ giữa các dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển của đất nước, góp phần lí giải về cơ sở sản xuất cho những chính sách của Đảng và Nhà nước

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tình hình ruộng đất, kinh tế, đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân châu Định Hóa (tập trung nghiên cứu về văn hóa 2 dân tộc tiêu biểu Tày - Nùng)

- Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian và tư liệu nên phạm vi

nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu châu Định Hóa ở thế kỉ XIX Đây là giai đoạn lịch sử có nhiều sự kiện quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quá trình tồn tại và phát triển của huyện Định Hóa nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tư liệu chung: Đồng khánh dư địa chí, Đại nam nhất thống chí, Khâm định việt sử thông giám cương mục , Đại nam thực lục,Đất nước Việt Nam qua các đời

Nguồn tư liệu địa phương: Địa bạ tỉnh Thái Nguyên, Các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc, Hương ước

Trang 7

- Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, tổng hợp Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp liên nghành như phương pháp hồi cố, phương pháp thống kê, phương pháp điền giã, phương pháp miêu tả.Chúng tôi đặt việc nghiên cứu lịch sử châu Định Hóa (Thái Nguyên) trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc (thế kỉ XIX) để thấy được tác động, ảnh hưởng giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc

5 Đóng góp của đề tài

Dựa trên tài liệu khoa học, đề tài sẽ phân tích chỉ ra tình hình Kinh tế - Văn hóa - Xã hội của châu Định Hóa thời Nguyễn (tức huyện Định Hóa - Thái Nguyên hiện nay), cung cấp cho người đọc cái nhìn khoa học hơn về những giá trị kinh tế, văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc Định Hóa

6 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được xây dựng thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát về châu Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên

Chương 2: Tình hình ruộng đất và kinh tế của châu Định Hóa thế kỉ XIX Chương 3: Tình hình Văn hóa của châu Định Hóa thế kỉ XIX

Trang 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÂU ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Định Hóa là huyện miền núi của Tỉnh Thái Nguyên, nằm trong

phía Tây- Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc- Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; Nam- Đông Nam giáp huyện Đại Từ, Phú Lương; Huyện lỵ là thị trấn Chợ Chu, cách thành phố Thái Nguyên 50km về phía Tây Bắc Tính từ các điểm tận cùng theo hướng Đông-Tây, Nam-Bắc, chiều rộng của huyện 172km, chiều dài 93km “Định Châu châu lỵ nguyên đặt ở xã Trung Khảm, nay do phủ Tòng Hóa kiêm lý Phủ hạt phía Đông giáp xã Phủ lý (huyện Phú Lương) 46 dặm, Phía Tây giáp xã Kim Đài châu Chiêm Hóa (Tỉnh Tuyên Quang) 126 dặm, phía Nam giáp hai xã Trang Hạ Lãm và An Nghiệp Huyện Văn Lãng 46 dặm, Phía Bắc giáp Chợ Mới Trang Yên Đĩnh Châu Bạch Thông 47 dặm” [34, tr 806]

Theo “Đại Nam nhất thống chí, Trang 183”: Xưa là đất bộ Vũ Định, thời thuộc Minh gọi là huyện Tuyên Hóa Đời Lê là châu Tuyên Hóa, sau đổi thành châu Định Hóa, thuộc phủ Phú Bình, do phiên thần họ Ma nối đời cai quản

Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 322,72 km2, chiếm 14,76% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 19,3%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 47,43%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 27,43%, còn lại là diện tích đất phi nông nghiệp So vớii các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh, Định Hóa là huyện có diện tích đất tự nhiên lớn thứ ba (sau các huyện Võ Nhai, Đại Từ)

Địa hình của huyện khá phức tạp và tương đối hiểm trở, ở dạng núi thấp, đồi cao Xen giữa các núi đá vôi và đồi, núi đất là những cách đồng hẹp Hướng địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, phân làm 2 vùng:

Trang 9

vùng núi cao gồm các địa bàn các xã nằm ở phía Bắc huyện: Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vĩ, Tân Thịnh, Kim Phượng, Kim Sơn, Phúc Chu, Bảo Linh Trong vùng có các dãy núi chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có độ dốc lớn, trong đó có dãy núi đá vôi thuộc phần cuối cách cung Sông Gâm, kéo dài từ phía Bắc qua trung tâm huyện, tạo nên bức tường thành ở phía Đông thị trấn Chợ Chu và dừng lại ở xã Trung Hội Dãy núi đá vôi này có độ cao từ 200m đến 400m so với mặt nước biển, địa bàn này có nhiều rừng già, nhiều khe, suối nhỏ, ruộng canh tác ít, dân cư thưa thớt

Tiếp theo là vùng núi thấp gồm địa bàn thị trấn Chợ Chu và các xã Trung Hội, Phượng Tiến, Bộc Nhiêu….Vùng núi này có độ cao trung bình từ

50 - 200m Độ dốc nhỏ, rừng già và những cánh đồng đất đai phì nhiêu, rất thuận lợi cho sản xuất lương thực, thực phẩm Đây là vựa lúa của huyện Định Hóa Do có những cánh rừng già đại ngàn rập rạp tạo thành những bức màn che phủ đường đi lối lại và nhà cửa ở bên trong Lại có những cánh đồng đất đai màu mỡ nên vùng này rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng

và an toàn khu kháng chiến

Trong hệ thống sông suối, có ba hệ thống dòng chảy chính, sông Chợ

nguồn từ các xã phía Tây, phía Bắc huyện Định Hóa, trong đó có ba suối chính gồm suối Chao, suối Múc….Đoạn sông Chợ Chu chạy qua địa bàn xã Tân Dương là đoạn lớn nhất Sau đó, sông Chợ Chu chảy qua địa bàn xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) và hợp lưu với sông Cầu tại huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn) Sông lớn thứ hai của huyện là sông Công bắt nguồn từ xã Thanh Định chảy qua các xã Bình Yên, Sơn Phú, Bình Thành xuống huyện Đại Từ, thị xã Sông Công về Phổ Yên hợp lưu với sông Cầu tại xã Thuận Thanh

Trang 10

sông Chợ Chu Sông Đu là hệ thống sông lớn thứ ba của huyện với số lượng nhỏ hơn Hệ thống sông suối của huyện Định Hóa có thể đảm bảo nước tưới

tự nhiên cho các cánh đồng phì nhiêu trong huyện đáp ứng yêu cầu sản xuất

tự nhiên trong huyện theo nhu cầu sản xuất tự cung, tự cấp một phần lương thực thực phẩm

Về khí hậu, Định Hóa có khí hậu nhiệt đới ẩm, chia làm hai mùa nóng

và lạnh Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, tháng 8 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,1oC và có những ngày nhiệt độ lên tới 41,1oC Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 năm sau.Tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất (15,1o

C mùa lạnh có lúc nhiệt độ xuống tới 1,0oC

Định Hóa có độ ẩm khá cao, trừ tháng 1, các tháng còn lại có độ ẩm đều trên 80% Những tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 3, tháng 4 và tháng 8 và đây

là những tháng có mưa phùn, mưa ngâu, độ ẩm thường trên 80% trở lên

Ở Định Hóa có hai loại gió mùa đó là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc thổi từ hướng Đông Bắc tới, thời gian ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc trùng với mùa lạnh Mỗi khi có đợt gió mùa Đông Bắc tràn về nhiệt độ thường hạ xuống đột ngột làm cho thời tiết rất lạnh, đôi khi xuất hiện sương muối rất có hại cho sức khỏe con người và sự phát triển của cây trồng vật nuôi Gió mùa Đông Nam thổi từ hướng Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông vào gây ra mưa lớn trong mùa nóng, thời gian ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam trùng với mùa nóng

Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện Định Hóa là vào khoảng 1,655mm, lượng mưa không đều, mùa nóng lượng mưa chiếm từ 85% đến 90% lượng mưa của năm Những tháng đầu mùa khô có khi cả tháng không

có mưa gây nên tình trạng hạn hán Mùa mưa, tháng 8 mưa nhiều nhất với lượng mưa trung bình 3115mm Đặc biệt mưa lớn thường gây ra lũ lụt

Trang 11

Về giao thông, trước tháng 7 năm 1954, trên địa bàn huyện Định Hóa chỉ có khoảng 100 km đường ô tô vận tải nhỏ thì đến nay hệ thống giao thông của huyện đã được nâng cấp, hầu hết các xã đều có đường ô tô đi vào

và đường được rải nhựa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế văn hóa của huyện

Định Hóa là một huyện miền nuí, đặc điểm địa hình ở đây có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của huyện Trước đây rừng và đất rừng chiếm tới 90% diện tích đất tự nhiên nên huyện có nhiều tiềm năng về kinh tế lâm nghiệp Rừng ở Định Hóa có nhiều lâm sản quý (gỗ lát, sến, lim, nứa, vầu, cọ, các loại chim muông thú…) Nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa chủ yếu sống bằng nghề nông-lâm nghiệp Nông nghiệp là nghề chính của nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa Diện tích trồng cây lương thực có hạt của huyện tăng từ 8.033 ha (2001) lên 9.033 ha (2003) Sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 364kg (2001) lên đến 466kg (2003) Năm 2003 sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 400kg/người/năm Trong những năm gần đây, nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa đã chú trọng phát triển cây ngô Do vậy mà diện tích trồng ngô tăng 661ha (2001) lên 1.236ha (2003) Sản lượng ngô tăng từ 1.920 tấn (2001) lên 4.120 tấn (2003)

Định Hóa là huyện miền núi có nhiều tiềm năng về cây chè và sản xuất chè búp khô Năm 2003 toàn huyện có 2.415 ha cây chè (đứng thứ 3 sau huyện Đại Từ và Phú Lương) Sản lượng chè đạt 13.6440 tấn chiếm 14.55% sản lượng chè toàn tỉnh đứng thứ 3 trong các huyện, thành thị Định Hóa là huyện có nhiều tiềm năng để trồng cây ăn quả Tuy nhiên diện tích trồng cây ăn quả của huyện chỉ đạt 994 ha (2005) chiếm 4% diện tích trồng cây ăn quả toàn tỉnh

Về chăn nuôi, Định Hóa có nhiều lợi thế để phát triển nghành chăn nuôi gia súc lớn như trâu, bò và dê Nghành chăn nuôi lợn cũng phát triển, ngoài

Trang 12

Định Hóa là một huyện miền núi, không có điều kiện cho phát triển công nghiệp Do vậy mà sản xuất công nghiệp của huyện nhỏ bé và phát triển chậm Năm 2005 toàn huyện có 394 cơ sở sản xuất công nghiệp trong đó có

390 cơ sở cá thể và 4 doanh nghiệp ngoài quốc doanh Giá trị sản xuất công nghiệp toàn huyện chỉ đạt 8 tỉ 697 triệu đồng (chiếm 0,18% giá trị của tỉnh)

Do vị trí và vai trò to lớn của huyện Định Hóa vì vậy mà Định Hóa đã được sự quan tâm, đầu tư, giúp đỡ của trung ương và tỉnh Trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng của huyện đã được đầu tư xây dựng Năm 2005, 100% các xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng mạng lưới điện quốc gia Đường giao thông ô tô có thể đi đến được trung tâm các xã (13 xã có đường nhựa hoặc bê tông, 6 xã có đường rải đá, 3 xã có đường cấp phối và 2 xã còn là đường đất) Toàn huyện có 2.563 máy điện thoại cố định và điện thoại di động cũng ngày càng tăng do nhu cầu của người dân, 100% xã được trang bị máy điện thoại

Về giáo dục, y tế, nếu như trước cách mạng tháng Tám, toàn huyện chỉ

có một trường tiểu học không toàn cấp ở Chợ Chu giành riêng cho con em Quan lại, địa chủ, gia đình khá giả vào học 98% dân số trong huyện mù chữ

Cả huyện chỉ có 1bệnh xá Chợ Chu Thì đến nay Định Hóa đã có 2 trường THPT và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, tất cả các xã đều có trường tiểu học và trung học cơ sở hạ tầng tương đối khang trang Hiện nay ở tất cả các

xã đều có trạm xá, mỗi xã có từ 1-2 bác sĩ và nhiều y tá để làm nhiệm vụ chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân

1.2 Sự thay đổi về lịch sử hành chính của huyện Định Hóa qua các thời

kỳ lịch sử

Tỉnh Thái Nguyên: Thời thuộc Đường là đất châu Vũ Nga Đời Tiền Lê,

Lý là châu Thái Nguyên; năm Quang Thái 10(1397) đổi làm trấn Thái Nguyên Thời thuộc Minh đổi làm châu Thái Nguyên gồm 11 huyện Năm 1412 đổi làm

Trang 13

phủ Thái Nguyên Đầu đời Lê Thái Tổ thuộc Bắc Đạo Đời Lê Thánh Tông(1466) đặt làm Thừa Tuyên Thái Nguyên sau đổi thành thừa Tuyên Ninh Sóc, đầu đời Hồng Đức đổi thành xứ Thái Nguyên gồm 3 phủ, 8 huyện, 7châu; phủ Phú Bình: 7 huyện (Phổ Yên, Đại Từ, Tư Nông, Bình Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Lương, Văn Lãng) và 2 châu (Định Hóa, Vũ Nhai) Năm Minh Mệnh 12(1831) chia đặt tỉnh hạt, đổi là Tỉnh Thái Nguyên [35, tr 787]

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Định Hóa nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính

Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX ( các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra) được biên soạn vào giữa đời vua Gia Long (năm 1810 đến 1819), thì châu Định Hóa có 9 tổng 31 xã :

1.Định Biên Hạ 2.Quảng Nạp 3.Bằng An 4.Bộc Nhiêu

5.Sơn Đầu 6.Lang Tuyền

7- Tổng Phƣợng Vĩ Thƣợng, có 2 xã:

1.Phượng Vĩ Thượng 2.Lam Vĩ

Trang 14

1.Phượng Vĩ Trung

9- Tổng Phƣợng Vĩ Hạ, có 6 xã:

1.Phượng Vĩ Hạ 2.Linh Đàm 3.Phúc Trinh 4.Quy Triều

5.Nghĩa Trang 6.Văn La

Thời nhà Lý thuộc châu Định Biên, thời thuộc Minh là châu Tuyên Hóa, đầu đời Lê là huyện Tuyên Hóa Năm Quang Thuận thứ 7(1466) đời vua

Lê Thánh Tông đổi làm châu Định Hóa đặt thuộc phủ Phú Bình thừa tuyên Thái Nguyên Qua các triều đại không thay đổi Năm Minh Mệnh thứ 4(1823) châu Định Hóa đổi là Định Châu Năm 16 (1835) một số châu, huyện thuộc phủ Phú Bình tách sang phủ Tòng Hóa mới lập bao gồm phần đất 3 huyện ngày nay (Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa) Châu Định thuộc phủ Tòng Hóa có

Trang 15

Sau ngày khởi nghĩa giành chính quyền, châu Định Hóa đổi làm châu Ngô Quyền, cuối tháng 6/1945 đổi thành Phủ Vạn Thắng Đến ngày 25/3/1948, theo sắc lệnh số 148/SL của Chủ Tịch Chính Phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa: bỏ phủ, châu, quận, đơn vị hành chính trên cấp xã gọi là huyện, châu Định Hóa đổi làm huyện Định Hóa như ngày nay Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một số xã sát nhập với nhau hoặc điều chỉnh địa giới, do đó tên xã cũng có nhiều lần thay đổi

Ngày 17/2/1965, theo Quyết định số 46/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

xã Kim Phượng được chia làm hai xã: xã Kim Phượng gồm các xóm Quảng Cáo, Thái Chi, Ninh Na; xóm Kim Sơn gồm các xóm Nà Mò, Nghĩa Trang Qua nhiều lần thay đổi, tới nay Định Hóa có 24 đơn vị hành chính cấp xã (23

Trang 16

Bảng 1.1 : Bảng thống kê xã, xóm, thôn huyện Định Hóa năm 2009

Trang 17

1.3 Nguồn gốc dân cƣ

Lịch sử châu Định Hóa gắn liền với sự xuất hiện của con người trên đất Thái Nguyên Ngày nay, nhân dân vùng Định Hóa xưa còn lưu truyền những câu truyện truyền miệng như thuyết “Pú Lương Quân”- kể về cuộc sống nguyên thury của người Tày Qua các thuyết và qua di chỉ khảo cổ học khai quật được thì có thể thấy được sự phát triển liên tục của con người trên đất Thái Nguyên cũng như ở khu vực châu Định Hóa từ thời đồ đá cũ đến sơ kỳ thời đại kim khí

Như vậy, con người đã tụ cư ở châu Định Hóa từ rất sớm, hình thành nên bộ lạc của người Tày cổ mà sử sách gọi là bộ lạc Tây Âu Trải qua quá trình lịch sử, Định Hóa đã tiếp nhận các tộc người khác từ nhiều vùng đến sinh sống như người Việt [người Kinh] từ đồng bằng sông Hồng lên, người Hoa, người Mông, Dao, Nùng…từ Trung Quốc sang Mặc dù đến Định Hóa vào những thời điểm khác nhau nhưng đến thế kỉ XIX, hầu hết các tộc người trên đều có mặt ở vùng đất này Các sách địa chí lịch sử thời Nguyễn thường nhắc đến tộc người Tày (còn gọi là người Thổ), Nùng, và người Mán (bao gồm tộc người Dao và Mông), Người Sán Chí.Ở Định Hóa có các thành phần dân tộc như: một là Thổ (người Tày), hai là Nùng, ba là Ngạn, người Khách (người Hoa) và người Kinh chủ yếu là ngụ cư [60] Khi nghiên cứu về tình hình dân cư châu Định Hóa thế kỷ XIX, chúng tôi không bó hẹp trong dân số của các xã, huyện trước đây thuộc vùng Định Hóa mà mở rộng ra toàn tỉnh Thái Nguyên để phân tích nguồn gốc dân cư một cách khách quan và khoa học hơn Bởi lẽ, trong quá trình lịch sử, có thể một số tộc người, dòng họ vốn

cư trú ở châu Định Hóa đã chuyển sang các vùng đất khác sinh sống

Theo sách “Đồng khánh địa dư chí”: Người Thổ và người Mán là những cư dân đầu tiên sinh sống tại nơi đây Còn theo sách “Đại nam nhất

Trang 18

Bảng 1.2: Các thành phần dân tộc huyện Định Hóa

STT DÂN TỘC SỐ DÂN TỈ LỆ % GHICHÚ

Người Tày là cư dân bản địa sinh sống lâu đời và liên tục ở Định Hóa

Là cư dân có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước công nguyên Theo tác giả Đào Duy Anh trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời” thì người Tày, Nùng ở nước ta có nguồn gốc từ người Lão Man ở Trung Quốc Tác giả nhận định rằng “người Nùng ở miền Nam Trung Quốc và người Tày ở Bắc Việt Nam là hậu duệ của họ Đặc biệt

là người Lão ở Tây Nguyên bấy giờ” “Chúng ta có thể đoán rằng cư dân các châu ki mi thuộc An nam đô hộ phủ là tiền thân của đồng bào Tày, Nùng ở khu vực Việt Bắc hiện nay”.[18, tr.103]

Dân tộc Tày còn có tên gọi là “Tày Đeng” hoặc Thổ Theo Cao Bằng tạp chí nhật tập thì, “từ thời thượng cổ, họ là người dân bản địa ở đây, tên gọi là người Tày” Trải qua quá trình lịch sử, với nhiều biến động chính trị, bên cạnh một vài dòng họ Tày bản địa, lớp cư dân Tày mới đã xuất hiện Trong Cao Bằng nhật kí nhật tập, Bế Huỳnh đã chia người Thổ (người Tày) thành bốn loại là Thổ ty (con cháu công thần triều Lê được phân phong thế tập ở đây), Phụ Đạo (người Tày bản địa được triều đình phong làm phụ

Trang 19

đạo), Thổ trước (dân Tày bản địa) và Biến Thổ (người ở dưới đồng bằng hoặc đi việc vua, đi dạy học mà tới, dân tứ xứ đến buôn bán cùng con cháu

bề tôi nhà Mạc)

Hiện nay, người Tày châu Định Hóa có nhiều dòng họ có gốc Việt, theo kiểu người ta vẫn gọi là “Kinh già hóa Thổ” Với vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm chính trị của vùng nên châu Định Hóa đã tiếp nhận dòng người Kinh từ dưới xuôi lên từ rất sớm, có thể bắt đầu từ thế kỉ XI, với sự kiện vua quan nhà Lý đem quân lên dẹp “loạn” Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao Nhưng có lẽ, lúc này cư dân của châu Định Hóa hầu như chưa bị xáo trộn Phải đến thế kỉ XV, XVI, XVII, cư dân ở đây mới có biến động mạnh, dòng người Kinh từ dưới xuôi lên ở lại sinh sống, lập gia đình rất đông Một mô típ chung là chàng trai người Việt, lấy cô gái Tày, con cháu lớn dần chịu ảnh hưởng của văn hóa, phong tục tập quán người Tày do mẹ truyền dạy Lâu dần họ tự nhận mình là người Tày Hiện nay, gia phả các dòng họ đều phản ánh hiện tượng này, nhất là là 10 họ phiên thần (vốn là con cháu công thần triều Lê như các dòng họ: Bế Nguyễn, Bế Kim, Hoàng Ích, Nông Công, Nông trí, Nông Hữu ) Sau này, nhà Nguyễn đổi làm thổ

ty, bãi bỏ lệ thế tập cai quản Trong số các dòng họ Tày trên, có “ba họ phiên thần”: Bế Nguyễn, Bế Kim, Hoàng Ích gốc tích là người Thanh Hóa,

từ đời Lê di chuyển đến đó [59] Ngoài những dòng họ phiên thần trên, còn nhiều người có nguồn gốc ở miền xuôi được vua cử lên Định Hóa làm việc hoặc đi dạy học, hoặc tìm đất sinh nhai, sau ở lại làm ăn điển hình với người Tày Đặc biệt là con cháu của bề tôi nhà Mạc

Một ví dụ điển hình cho hiện tượng “Kinh già hóa thổ” là khu vực xã Phú Đình, huyện Định Hóa, Thái Nguyên, vốn là nơi tồn tại đặc thù về văn hóa và những kinh nghiệm sản xuất truyền thống, đặc biệt là nơi mà Đảng-

Trang 20

gian dài đóng đô ở đây, năm 1677, nhà Mạc bị quân nhà Lê- Trịnh đánh bại Con cháu nhà Mạc phải đổi họ và phần lớn chạy đi nơi khác sinh sống như dòng họ Ma, Mạc ở xã Phú Đình, họ Ma ở thị trấn Chợ Chu, xã Phúc Cường Một bộ phận nhỏ con cháu nhà Mạc lấy họ mẹ là họ Phạm ở lại sinh sống Lớp cư dân mới được hình thành chủ yếu là quan quân nhà Lê- Trịnh Gia phả dòng họ Hoàng ở Lam Sơn (Hồng Việt), và Nà Lữ (Hoàng Tung) ghi rõ:

“Nguồn gốc ông tổ nguyên là trí thức ở Gia Miêu trang, thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa Vào đời Lê triều, ông tổ của ta đầu tiên nhậm chức Quan trấn Vũ Định, truyền đời thế tập cai quản” Về sau, nhân vì nhà Mạc, nhà Trịnh tranh giành gây loạn, tổ tiên ta cụ Hoàng Triều Hoa, Hoàng Triều Ninh phụng mệnh vua lên Định Hóa, Cao Bằng đánh dẹp nhà Mạc, đánh xong được vua lê phong đất Những người lính tham gia chiến trận, sau này đã ở lại đã dựng nhà, lấy vợ ngườ Tày và sinh con đẻ cái Từ đó hình thành những dòng họ Tày gốc Kinh như họ Nguyễn Trọng gốc ở Thanh Hóa; họ Bùi, Đàm, Nguyễn Khánh ở Nam Định… Vì “Kinh già hóa Thổ” nên

họ thường dùng song ngữ Tày- Việt ”

Quá trình biến Thổ của tộc người Kinh diễn ra với ba nhóm là:

Một là những quan chức người Việt được cử lên cai trị miền núi hoặc quân lính lên chinh chiến, đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở miền núi sau phải lưu lại lâu dài Họ mang theo vợ con, thân thuộc đi theo, chiêu dân lập ấp…sau đã Tày hóa Một bộ phận có chức có quyền, được phong là Phiên thần (Thổ ty), cha truyền con nối cai trị địa phương

Hai là do nguyên nhân tranh chấp giữa các thế lực phong kiến, một số thể lực người Việt đã dựa vào miền núi để xây dựng lực lượng cát cứ, về sau suy vi, dư đảng phải đổi tên họ, sống hòa hợp với cư dân địa phương, tiêu biểu là thế lực nhà Mạc thế kỷ XVII Đây là giai đoạn mà hiện tượng “Kinh già hóa Thổ” diễn ra mạnh mẽ nhất

Trang 21

Ba là nhân dân miền xuôi do loạn lạc, tránh sự áp bức bóc lột nặng nề của phong kiến, hoặc đi sơ tán…lên miền núi kiếm ăn, buôn bán dạy học lâu dần trở thành một bộ phận cũng địa phương hóa Đây là lực lượng không lớn nhưng diễn ra thường xuyên

Hiện nay, các xã ở Định Hóa hiện tượng “Kinh Tày hóa Thổ” diễn ra khá đậm nét

Ngoài ra người Tày ở Định Hóa hiện nay còn có một số bộ phận có nguồn gốc từ người Nùng, Hoa…đã cố kết vào người Tày Quá trình tộc người này diễn ra liên tục Trên thực tế, sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao (vào thế kỉ XI), nhiều người thuộc tộc người Nùng đã chạy theo Nùng Trí Cao vào vùng Đặc Ma (Vân Nam, Trung Quốc) hoặc chạy trốn vào rừng hoặc đổi thành họ Nông để tránh sự truy xát của vương triều Tống Có thể từ tên gọi tộc họ đã chuyển hóa thành tộc danh để chỉ tộc người sinh sống trên địa bàn lãnh thổ họ Nùng trước kia (tức Cao Bằng, Thái Nguyên và một vài tỉnh Đông Bắc của nước ta) Sau sự biến Nùng Trí Cao, người Nùng đã hòa nhập vào cộng đồng Tày địa phương, trở thành những người Tày bản địa Bởi hai tộc người Tày- Nùng có chung nguồn gốc lịch sử, chung hệ ngôn ngữ và có văn hóa về cơ bản giống nhau, nên rất dễ diễn ra quá trình cố kết tộc người Quá trình đó có thể diễn ra một cách tự nhiên, những cũng có khi xuất phát từ những chính sách của Nhà Nước Thực tế cũng phải thừa nhận rằng sức mạnh của nền văn hóa bản địa, của tộc người có số dân đông nhất ở Định Hóa đã tạo ra sức mạnh đồng hóa mạnh mẽ trong các tộc người khác trong vùng Cộng đồng Tày Định Hóa ngày nay, không có sự phân chia thành người bản địa hay đồng hóa, họ cùng nhau xây dựng văn hóa bản địa của tộc người và quê hương

Quan hệ dòng họ, gia đình trong xã hội người Tày rất chặt chẽ và hòa

Trang 22

các công việc của họ tộc mình Gia đình của người Tày là gia đình phụ hệ, nơi lưu gữi những giá trị văn hóa dân gian đặc sắc trong lễ hội mang tính đặc sắc truyền thống như cưới xin, ma chay, sinh đẻ, hội hè, cúng bái….Đặc biệt là văn học nghệ thuật của người Tày rất phong phú như dân ca, múa rối…thể hiện khả năng sáng tạo của quần chúng

Người Tày cũng như người Nùng còn lưu gữi các giá trị văn hóa dân gian đặc sắc và trong đó mang đậm màu sắc văn hóa Tày- Nùng như lễ hội lồng tồng Lễ hội này chứa đựng nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian, thể hiện khát vọng và mong ước của con người trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc

Mặc dù vậy phong tục tập quán của người Tày vẫn còn tồn tại nhiều hủ

tục như “gặp ngày sinh thì ăn uống linh đình, hủ tục nặng nề” [21, tr.188]

Tuy nhiên với sự phát triển của kinh tế - xã hội, với những chính sách

ưu tiên của Đảng - Nhà nước, của tổ chức xã hội, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người Tày ở Định Hóa có bước khởi sắc mới, hạn chế được một phần những hủ tục lạc hậu, nếp sống mới đó từng bước du nhập vào cư dân Tày nơi đây

Bế Huỳnh khi nói về Nùng Trí Cao viết: “Hậu duệ của Nùng thị ngày nay trong tỉnh hạt không còn Duy truyền rằng, nghe nói thời chiến tranh giữa nhà

Trang 23

Trần với nhà Nguyên, có cháu tằng tôn của Nùng Trí Cao tên là Hùng Công,

từ tỉnh Vân Nam của Bắc Quốc dắt gia quyến ngầm trở về nước ta lập nghiệp

ở Định Hóa, Bảo Lạc, tức là hậu duệ của Nùng Trí Cao”[61, tr 68] Song ông

cũng nghi ngờ về vấn đề này Hiện nay dòng họ Nông ở Định Hóa vẫn truyền đời lại mình là con cháu của Nùng Trí Cao và viết thành cuốn gia phả của dòng họ Nông (họ Nùng) Rất có thể, cùng với tiến trình lịch sử tiếp diễn về sau, từ tên gọi họ đã chuyển hóa thành tộc danh để chỉ tộc người sinh sống trên địa bàn lãnh thổ họ Nùng trước kia (tức Thái Nguyên và một vài tỉnh Đông Bắc của nước ta) Như vậy vào khoảng thời gian từ thế kỷ VIII cho đến thế kỷ XI, ở châu Quảng Nguyên thời đó (tức Cao Bằng ngày nay) đã có tộc người Nùng sinh sống Sau sự biến Nùng Trí Cao, họ đã dần hòa nhập vào cộng đồng Tày địa phương, trở thành những người Tày bản địa Bởi hai tộc người Tày và Nùng có chung nguồn gốc lịch sử, chung hệ ngôn ngữ và có văn hóa về cơ bản giống nhau, nên rát dễ diễn ra quá trình cố kết tộc người

Trong khi đó ở bên kia biên giới sau ngày nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập, tộc người Nùng đã hợp nhất vào cộng đồng người Choang và tộc danh Nùng để chỉ bộ phận người Choang ở khu vực Tây và Tây Nam Quảng Tây, Trung Quốc như Bình Quả, Đô An, Mục Biên…và các vùng Đông Nam Vân Nam như Văn Sơn cùng một số vùng biên giớ Trung - Việt thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân Nam Tộc người Nùng ở Việt Nam ngày nay là bộ phận người Nùng ở bên kia biên giới nhập cư sang Ở Thái Nguyên chủ yếu là Nùng Cháo là người bản đia vốn có, còn lại đều là loại hai ba trăm năm hoặc năm sáu mươi năm trước mới từ phương Bắc di cư xuống đây, ở lẫn lộn với người Thổ, người Nùng bản địa Họ khai khẩn đất đai mà canh tác nộp thuế nên đều trở thành người Nùng bản địa [59, tr 3]

Lê Quý Đôn một tác gia Việt Nam thế kỷ XVIII, trong tác phẩm “Kiến

Trang 24

thời bấy giờ như sau: Giống người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù Châu Thái Bình, Lôi Tứ Thành và hướng Vũ thuộc Trung Quốc, họ làm nghề cày cấy, trồng trọt cùng chịu thuế khóa, lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt toc, trắng răng, có người trú ngự đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm ruộng khẩu phần, bắt họ chịu binh xuất Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên đều có giống người này

Vào thế kỉ XIX, Thái Nguyên có trên 10 nhóm hay còn gọi là nghành Nùng khác nhau Đó là Nùng Mấn, Nùng Phàn Sình, Nùng Giang, Nùng Skit, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Gửi, Nùng Khen Lài, Nùng Inh, Nùng Vảng….trong đó người Nùng Mấn và Nùng Vảng được coi là người Nùng bản địa Các nhóm khác đều mới đến di cư sang nước ta sớm nhất là cách ngày nay khoảng từ 300-400 năm, cũng có nhóm mới sang được mấy đời và ngày nay vẫn còn gữi được mối quan hệ họ hàng với người đồng tộc ở bên kia biên giới Các nhóm Nùng này đều có những nét văn hóa khác nhau, mang đặc trưng riêng biệt của nhóm ngành Nhưng sau khi vào nước ta, nhiều nhóm Nùng cư trú kề cận hay xen cài với nhau, cho nên những sắc thái văn hóa của nhóm ngành bị suy giảm và sắc thái văn hóa chung giữa các nhóm ngành ngày càng được củng cố và phát triển Đặc biệt trong quá trình lịch sử cùng nhau dựng nước mối quan hệ giưa các nhóm ngành trở nên chặt chẽ hơn đến quá trình cố kết tộc người được đẩy mạnh, tộc người Nùng đã và đang trở thành một tộc người thống

* Dân tộc Dao

Người Dao ở Định Hóa hiện nay có loại là Dao Tiền và Dao Đỏ Người Dao Tiền còn có tên gọi là San Phản, gốc ở Sơn Động tỉnh Quý Châu, Trung Quốc Cũng như nhóm Dao khác, người Dao Tiền cũng lấy câu chuyện Bình Hoàng để giải thích cho nguồn gốc của mình Tương truyền thời xưa, vị quan

Trang 25

đứng đầu tỉnh Quý Châu, có một con chó xồm có công chữa khỏi bệnh cho công chúa, vua phải gả con gái cho Con chó ấy đã mang công chúa vào ở trong hang núi, con cái sinh ra đều giống mẹ Khi lớn lên, người mẹ cho thức

ăn và bảo con trai, con gái chia nhau đi để tìm cách sinh sống Về sau, họ gặp lại nhau và lấy nhau, sinh sản đông thành một tộc người Ở cổ họ đeo sợi dây các viên tròn màu đồng mà ngày xưa vua đã ban cho công chúa Vì ở trong vùng rừng sâu, không dùng đến nên người mẹ chia cho các con Đến khi anh

em ruột lấy nhau, sinh ra con cái thường bị mắc bệnh cổ diều nên họ đeo các hạt trân châu và tiền đồng đó để hạn chế bệnh này Vì thế, họ được gọi là người Dao Tiền Người Dao Tiền tự gọi mình là Cần Giản- tức người ở rừng

Họ thường chọn những nơi rừng núi tươi tốt, có suối trong để ở Họ chặt củi, đốt cây để trồng các loại lúa mạch, rau, đậu

Người Dao Đỏ, hay còn gọi là Mán Cóc cũng có tên khác là Mường Cóc hoặc San Pản Lòi Họ cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc, vốn sống ở những vùng sơn động và thung lũng thuộc Lưỡng Quảng Họ cũng di cư đến Cao Bằng rồi lan xuống Định Hóa cách đây khoảng ba bốn trăm năm nay Họ chọn những chỗ rừng tốt, đất cao để ở và quây quần với nhau tạo thành các xóm làng [59] Cũng như người Dao Tiền, họ canh tác theo phương thức “đa canh hỏa chủng”

Trang 26

lại một vài người vài người thân tín ở đây để “chiêu an vỗ về dân chúng” Hiện nay, chưa có tài liệu thư tịch nào nói đến sự xuất hiện của người Kinh ở Định Hóa thời Lý, nhưng theo tự liệu dân gian thì Nàng Cầm - vợ của Nùng Trí Cao là người Kinh, con một vị quan họ Trần trong triều Lý[62, tr.18-19] Sau này, anh ruột của bà tham gia trong cuộc tiến công của Nùng Trí Cao sang đất Tống, ông bị hy sinh trong trận đánh ở tổng Quỷ, nay vẫn còn đền thờ ở Phục Hòa Trong một thời gian ngắn, dấu ấn của người Việt ghi lại không nhiều, cư dân bản địa vẫn sống đa phần nhưng sự giao thoa văn hóa Tày- Nùng- Việt ở đây đã bắt đầu diễn ra Nhưng trong quá trình lịch sử, bộ phận người Kinh di cư lên Định Hóa ngày càng đông Họ có thể là những người dân nghèo lên miền núi kiếm ăn, cụ thể là quan quân triều đình phong kiến, hoặc thầy đồ, thầy địa lý hoặc người buôn bán Quá trình di cư của người Kinh đến châu Định Hóa diễn ra liên tục trong lịch sử, có lúc lẻ tẻ, có lúc ồ ạt Qua nhiều đời, họ đã dần hòa nhập vào cộng đồng Tày địa phương, trở thành những người Tày gốc Kinh như đã nói trong tộc người Tày

Các hộ người Tày hiện nay ở Định Hóa quê hương chủ yếu ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Hưng Yên….lên vào những năm 60 của thế kỉ XX, khi trung ương Đảng phát động phong trào nhân dân miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế- văn hóa miền núi Đặc biệt, đầu thế kỉ XXI, cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, số lượng người Kinh ở Thái Nguyên nói chung và trên vùng đất châu Định Hóa nói riêng thế kỷ XIX nói riêng đã tăng lên nhanh chóng

* Các dân tộc khác

Người Sán Dìu: Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc người Sán Dìu Theo

sự tự nhận của đồng bào, tên Sán Dìu tức là Sơn Dao; người Sán Dìu có nguồn gốc là người Dao Từ đó có thể suy ra rằng: Từ rất khixa xưa, khối người Dao bị phong kiến phương Bắc thống trị đã “bóp vụn” thành nhiều

Trang 27

nhóm nhỏ, khiến cho mỗi nhóm phiêu bạt một nơi Người Sán Dìu có thể là một trong những nhóm đó, nhưng đã sống lâu ngày bên cạch người Hán (Phương Nam) nên dần dần mất tiếng mẹ đẻ (tiếng Dao) tiếp thu một số thổ ngữ Quảng Đông Năm tháng nhạt nhòa những ký ức xa xăm, người Sán Dìu không thể nhận ra cái gốc Dao của mình nữa, nhưng cũng không chịu nhận mình là người Hán mà vẫn tự nhận là một tộc riêng biệt

Cũng có thuyết theo sự tích “Vua Cóc” Cách đây 30 năm Bùi Đình viết: “Quần cộc từ Quảng Đông di cư sang sang nước ta độ 300- 400 năm nay, họ còn có tên là Sơn Dao” Họ vào nước ta qua Quảng Ninh vào Hà Bắc

và ngược lên Thái Nguyên và Tuyên Quang Đây là một trong những dân tộc thiểu số với số lượng ít ở miền Bắc nói chung khoảng 6 vạn người ; Định Hóa nói riêng 1 %, họ sống xen kẽ cùng người Tày, Dao, Kinh Do sống xen kẽ nên cách ăn mặc của họ có nhiều nét tương đồng với người Kinh, nhưng khi nào đi làm ruộng hay đi rừng đàn ông mặc áo cánh ngắn tay và quần đùi nên được gọi là Mán Quần Cộc

Sán Chí là dân tộc định cư lâu đời ở châu Định Hóa Họ quần cư thành những khu vực riêng Người Sán Chí thì ở sâu trong xã Người Dao lại thích sống ở trên cao, khu vực đèo de Người Dao và Sán Chí đều có những giá trị văn hóa truyền thống riêng biệt họ cùng sống với các dân tộc khác trong xã trên cơ sở quần cư, giao thoa và phát triển

Tiểu kết

Châu Định Hóa là một vùng đất rộng, núi non hiểm trở, hệ thống sông thuận lợi cho sự phát triển nên hội tụ đầy đủ tài nguyên thiên nhiên của vùng đất Thái Nguyên Mặc dù ruộng đất chỉ thuộc hạng 2 và hạng 3 nhưng có hệ thống sông suối dày đặc, đảm bảo nguồn nước tưới thường xuyên nên ruộng đất của châu Định Hóa được khai phá sớm, ít bị bỏ hoang Nơi đây không chỉ

Trang 28

hiếm thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng và kết hợp với kinh

tế khai thác tự nhiên

Nhờ có những điều kiện tự nhiên thuận lợi, Định Hóa sớm trở thành nơi tập trung đông dân cư và là trung tâm chính trị, quân sự của Thái Nguyên trong quá khứ Trải qua các giai đoạn lịch sử, thành phần dân cư, dân tộc của Châu Định Hóa có nhiều xáo trộn Trước sự kiện vua Lê Thái Tổ mang quân lên đánh, dân cư địa phương hầu hết là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái, trong đó người Tày là chủ yếu Nhưng từ thế kỷ XV, đặc biệt là thế kỷXVI- XVII, trải qua những biến động chính trị, ngoài cư dân gốc còn có lớp cư dân mới, chủ yếu là người Kinh từ miền xuôi lên theo nhà Mạc và nhà Lê- Trịnh Do cùng sinh sống lâu dài trong một địa vực nhất định mà quá trình thống nhất giữa tộc người Kinh và tộc người Tày ở đây diễn ra và trở thành điển hình cho hiện tượng “Kinh già hóa Thổ” Song, dù là người bản địa hay di cư từ nơi khác đến, có phong tục và ngôn ngữ khác nhau nhưng khi

đi tới địa phương sinh sống đều thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết gắn

bó, cùng đấu tranh chống thiên tai, giặc giã, xây dựng quê hương mới ngày càng giàu đẹp hơn

Trang 29

Chương 2 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ CHÂU ĐỊNH HÓA

THẾ KỈ XIX

2.1 Tình h́ình ruộng đất ở Định Hóa thế kỷ XIX

Đối với một nước nông nghiệp, vấn đề ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa hàng đầu Từ xa xưa, khi con người minh ra nghề nông trồng lúa nước, họ cũng tìm được nguồn lương thực chính nuôi sống họ và làm cơ sở cho sự phát triển xã hội

Hiểu được tình hình ruộng đất ở nước ta trong lịch sử nói chung và châu Định Hóa nói riêng tức là hiểu được cách quản lý, phân phối, sử dụng và bảo vệ ruộng đất của tổ tiên đều thực sự cần thiết bởi từ đó chúng ta có thể rút

ra được những bài học cho ngày hôm nay Nói đến chế độ ruộng đất tức là nói đến các hình thức sở hữu, chiếm hữu và sử dụng ruộng đất khác nhau và

những biểu hiện cụ thể của nó ở các giai đoạn cụ thể [47 , tr 96]

Để có thể nắm sâu sắc hơn và để dựng lại bức tranh của huyện Định Hóa ở một giai đoạn lịch sử nhất định chúng tôi đã sử dụng nguồn địa bạ Gia Long 4 (1805) và địa bạ Minh Mệnh 21(1840) Bởi lẽ đây là hai thời kỳ có nhiều biến động nhất ở thế kỷ XIX Ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh tế -

xã hội của châu Định Hóa trong giai đoạn này Các địa bạ có niên đại nói trên đều là bản chính hiện được lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Hà Nội Trong quá trình tiếp cận sử dụng tài liệu, chúng tôi đã so sánh với nhiều nguồn tài liệu khác nhau, cố dựng lại vài nét về diện mạo tình hình ruộng đất

ở Định Hóa thế kỉ XIX

Những số liệu tổng quát về đặc điểm của chế độ sở hữu ruộng đất ở Định Hóa

Trang 30

Bảng 2.1: THỐNG KÊ ĐỊA BẠ GIA LONG 4 (1805)

Tên thôn xã

Tổngdiệntích theo địa bạ (m.s.t.t)

Diện tích ruộng tư (m.s.t.t)

Diện tích đất

tư (m.s.t.t)

Đất công (m.s.t.t)

Trang 31

Diện tích ruộng tư (m.s.t.t)

Diện tích đất tư (m.s.t.t)

Đất công (m.s.t.t)

Điện Biên Trung

Trang 32

Ở Định Hóa một điểm đáng lưu ý là diện tích ruộng đất hoang nhiều hơn

so với diện tích ruộng canh tác (1770 là 1 mẫu 0 thước 6 tấc, chiếm 61,01% tổng diện tích) và hầu như chỉ có tư điền và tư thổ còn công nhà đất thì ít chỉ vẻn vẹn 8 sào 2 thước (0,07%) Trên cơ sở những công trình đã nghiên cứu,

Trang 33

chúng tôi thấy nổi lên những mặt chủ yếu sau: Về quy mô sử dụng ruộng đất của các xã thôn ở huyện Định Hóa ở vào các thời điểm (1805) và (1840) là thấp Xã có quy mô lớn nhất là 161 mẫu, xã có quy mô nhỏ là 40 mẫu

Bảng 2.3: BẢNG THỐNG KÊ QUY MÔ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA 25 XÃ THÔN CÓ TRONG ĐỊA BẠ GIA LONG 4 (1805 )

THÔN CÓ ĐỊA BẠ MINH MỆNH 21 (1840)

Trang 34

10 47,6

1 4,76

Qua bảng so sánh trên về sở hữu ruộng đất cho thấy Định Hóa là vùng đất đai nằm ở miền núi, địa hình chủ yếu là đồi núi, ruộng đất chỉ nằm ở những vùng thung lũng, ven sông và những sườn đồi Đất đai không màu mỡ như ở đồng bằng, đều là ruộng loại ba và là thu điền Do vậy mà diện tích đất đai sở hữu của các xã thôn là tương đối nhỏ Nếu so sánh với địa bạ Quảng Hòa (Cao Bằng) cũng ở hai thời điểm lịch sử này thì quy mô sở hữu ruộng đất của các xã thôn ở huyện Định Hóa thấp hơn so với Quảng Hòa (Cao Bằng) xã có quy mô sở hữu lớn nhất là 564 mẫu và xã thấp nhất là 32 mẫu [Địa bạ Quảng Hòa]

ĐỊA BẠ Ở HAI THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ GIA LONG 4 (1805) VÀ MINH MỆNH 21 (1840)

Trang 35

Theo “Đại Nam Nhất Thống Chí”thì ở Định Hóa dòng họ Ma nối đời cai quản khu vực này [21, tr.183] Thực tế cho thấy về bộ máy chức dịch ở Định Hóa vào hai thời điểm Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) nhìn chung là tương đối đơn giản nếu đem so sánh với địa bạ Quảng Hòa (Cao Bằng) cũng ở 2 thời điểm này Ở thời Gia Long 4 (1805) có 3 chức dịch chủ yếu là sắc mục, xã trưởng và thôn trưởng có 2 khán thủ Đến thời Minh Mệnh

Trang 36

21 (1840) thì bộ máy chức dịch này đã được tinh giảm gọn nhẹ hơn rất nhiều chỉ còn hai chức đó là lý trưởng và hương mục

Xét về quy mô sở hữu ruộng đất của các chức dịch thì nhìn chung các chức dịch ở huyện Định Hóa có quy mô sở hữu ruộng đất là tương đối ít đa số

từ 1-5 mẫu (50% thời Gia Long và 36,66% ở thời Minh Mệnh) Số chức dịch

sở hữu trên 20 mẫu rất ít ở thời Gia Long 4 (1805) không có, sang đến thời Minh Mệnh 21 (1840) thì chiếm 13,3% số chức dịch Ở Định Hóa, số chức dịch không có ruộng đất tương đối nhiều 30% ở thời Gia Long 4 (1805) là 6,66% ở thời Minh Mệnh 21(1840) Nếu so sánh với địa bạ Quảng Hòa (Cao Bằng) thì số chức dịch sở hữu trên 10 mẫu ruộng đất của Định Hóa ít hơn nhiều mà vào cùng một thời điểm lịch sử Năm 1840 Quảng Hòa (Cao Bằng)

là 40,82% thì ở Định Hóa chỉ có 16% và sang đến thời Minh Mệnh ở Cao Bằng là 38,1% thì ở Định Hóa là 29,9% nhìn chung các chức dịch này đều thuộc vào tầng lớp khá giả và nằm trong tay các dòng họ Ma, Hoàng

Từ thực tế trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng Định Hóa vốn là vùng đất đai nằm ở miền núi, địa hình chủ yếu là đồi núi, ruộng đất chủ yếu nằm ở những vùng thung lũng, ven sông và những sườn đồi Do vậy mà diện tích đất đai sở hữu của các xã thôn là tương đối nhỏ Ruộng đất nằm trong tay các chức dịch rất ít, mà chủ yếu trong tay các dòng họ lớn, đặc biệt là ở các dòng

họ Ma (Ma Đình, Ma Tiến, Ma Doãn) Qua đó ta có thể thấy được một điều đặc biệt đối với ruộng đất ở Định Hóa: hầu như ở Định Hóa không có địa chủ

mà chủ yếu là phú nông, do vậy ruộng đất không nằm trong sự quản lý của

nhà nước (Theo luật đất đai thì không có quy định ruộng đất ông cha) mà

theo tính chất cha truyền con nối vì ruộng đất ở Định Hóa xưa kia có được là

do ông cha khai phá tạo nên ruộng đất Ngày nay, tính chất sở hữu đó vẫn được duy trì tồn tại ở Định Hóa

Trang 37

Nhiều xã thôn, toàn bộ chức dịch đều là những người có sở hữu lớn về ruộng đất (Quảng Nạp, Phượng Vĩ Hạ, Tư Lập, Ôn Lương Hạ, Phú Ngự ) Hầu hết ở các xã những người có ruộng đất lớn nhất nhì đều tham gia vào hàng ngũ chức sắc này như: Ma Khánh Môn, Ma Khắc Thông ở xã Sơn Đầu,

Ma Đình Minh ở Kiều Dương, Ma Trí Điền ở xã Tư Lập, Ma Đình Triệu ở Phú Ngự Trong chế độ phong kiến các chức dịch như Chánh Tổng, Lý Trưởng ở châu Định Hóa đã sử dụng người bản địa để quản lý Họ không bóc lột người dân mà còn tạo điều kiện cho Việt Minh và cho các mạng, điều này ngược lại hoàn toàn với vùng dưới xuôi Đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống Pháp, dưới thời Lường Tam Kỳ, với những chủ trương và chính sách của mình đã lãnh đạo và giúp cho nhân dân Định Hóa không nằm dưới sự quản thúc của Pháp và không phải thu thuế Ngày nay, bộ máy chức dịch đứng đầu huyện đều nằm trong tay các dòng họ lớn của người Tày như họ

Ma, Hoàng, Lương

Bảng 2.6: Bảng danh mục các chức dịch của Định Hóa

nhiệm kì 2006-2011 STT Họ và tên Dân tộc Chức vụ Địa chỉ (xã, huyện)

Trang 38

9 Nguyễn Văn Yên Kinh Chủ tịch TT thị trấn Chợ Chu

[Theo số liệu của phòng nội vụ - huyện Định Hóa năm 2010]

Như vậy, với tình hình và chính sách sở hữu ruộng đất trên của nhân dân châu Định Hóa, đó chính là những yếu tố cần thiết tạo nên những tiền đề vững chắc cho sự lựa chọn sáng suốt của Đảng của Bác Hồ chọn làm an toàn khu ATK trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Nơi để đưa

ra những sách lược và quyết định đúng đắn mang ý nghĩa chiến lược quan trọng cho sự thành công của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc

Trang 39

2.2 Các hình thái kinh tế

Kinh tế trồng trọt của các tộc người thiểu số ở miền Bắc nước ta gồm hai loại hình chủ yếu: trồng trọt trên nương rẫy và gieo cấy trên đồng ruộng, hay nói cách khác là nương rẫy và ruộng nước Đối với nương rẫy đó chính là nguồn sống chính của các tộc người cư trú ở vùng rẻo cao và rẻo giữa Với loại hình ruộng nước gồm các tộc người sống ở vùng thấp, trong các cánh đồng, thung lũng miền núi Đối với cư dân nông nghiệp, để tồn tại và phát triển, họ đã có một bước tiến dài trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên để phát triển sản xuất, có những phát minh, cải tiến kỹ thuật về canh tác Chẳng hạn như việc phát minh các công cụ sản xuất như chiếc cày bằng sắt Bên cạch đó, cùng với sức kéo của trâu, bò trong sản xuất; kỹ thuật phối kết hợp trong sản xuất nhằm đảm bảo sự thu hoạch tối đa của sản phẩm cây trồng trên những mảnh ruộng, làm tăng giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của đất đai; kéo theo sự thay đổi cả quyền sở hữu ruộng đất và cơ cấu xã hội, lẫn hình thức tổ chức và loại hình làng bản

2.2.1 Nông nghiệp

2.2.1.1 Ruộng nước

Ruộng đất vốn là cơ sở của nền sản xuất nông nghiệp Ở Định Hóa, đất đai không mấy màu mỡ như đồng bằng và đều là ruộng loại 3 và là thu điền Song có thể thấy tính chất của nền sản xuất: Đây là một nền nông nghiệp cá thể tiểu nông (mang tính chất tư hữu) Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của cư dân nơi đây

Ở Định Hóa ruộng thường có hai loại: “Nà nặm” là loại ruộng sẵn có

nguồn nước mạch tại chỗ hay có thể thông qua hệ thống thủy lợi, thuận tiện

cho việc canh tác “Nà Lẹng” thường là những chân ruộng bậc thang cao, khô

nước, không giải quyết được nguồn nước, do vậy chờ nguồn nước mưa và khe

Trang 40

Kỹ thuật canh tác

Đối với các dân tộc ở Định Hóa thì khâu làm đất cho lúa nước được cư dân tiến hành theo những quy trình kỹ thuật khá hoàn chỉnh Sau vụ thu hoạch, trên đồng ruộng có rất nhiều rạ Khi mùa đông đến, trời lạnh, rạ khô, đồng bào hay đốt rạ Đồng bào thường cho rằng để làm cho đất thêm khô ải, thêm tro, thêm màu mỡ cho đất, bên cạch đó đốt rạ sẽ đốt cháy luôn cả trứng các loại côn trùng, sâu bọ làm hại lúa Theo thói quen cư dân thường bắt đầu cày ải qua đông và công việc kết thúc trước tết nguyên đán Tục ngữ Tày –

Nùng có câu: “Ruộng cày tháng chạp, gánh thóc khó lên vai” Người nông

dân nơi đây đều hiểu rõ giá trị của cày đất phơi ải tức là làm cho đất tốt, tăng thêm độ phì nhiêu, khi cấy lúa mau tốt, có tác dụng gieo cấy đúng thời vụ, đất được phơi khô sẽ bị tơi, gặp mưa đất ngấu nát ngay

Từ lâu, các dân tộc người ở vùng thung lũng chân núi nói chung và Định Hóa nói riêng, họ đã biết dùng sức trâu kéo, công cụ chính là cày, bừa Cày phổ biến là cày chìa vôi Chiếc bừa cổ truyền là bừa răng làm bằng gỗ hoặc tre bao gồm bừa đơn và bừa kép Có thể nói rằng chiếc bừa bằng gỗ hoặc tre tiện lợi hơn bừa răng sắt, vì ngoài làm ruộng nó còn có thể làm nương, khi vấp phải đá nếu gẫy răng nào có thể thay thế ngay Ngoài hai công

cụ trên còn có dao phát để phát cỏ bờ và cuốc để cuốc góc và những chỗ cày lỏi Tuy nhiên những công cụ trên chỉ đạt hiệu quả tại những chân ruộng khô

ở ven các thung lũng Giữa lòng thung lũng, nhiều bùn, lầy thụt họ dùng bừa

mà không cày, nếu không cày bừa được thì dùng đàn trâu, bò sục nát bùn và sau đó là cấy

Kỹ thuật thủy lợi

Trong loại hình canh tác ruộng nước, nước có thể coi là yếu tố hàng đầu thì thủy lợi sẽ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Trong quan niệm của các

tộc người thuộc ngôn ngữ Tày- Thái ở vùng Đông Bắc nước ta cho rằng: “Có

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1950), nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nguồn gốc dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1950
2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1994
3. Triều Ân (1994), Ca dao Tày- Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 4.Trần Bình (1995), Nghề đan lát của người Khơ - Mú ở Tây Bắc, Tc Dân tộc học (1),tr(50-55) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Tày- Nùng", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 4.Trần Bình (1995), "Nghề đan lát của người Khơ - Mú ở Tây Bắc
Tác giả: Triều Ân (1994), Ca dao Tày- Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 4.Trần Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
5. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày- Nùng- Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày- Nùng- Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
6. Nguyễn Sinh Cúc (1991), Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam 1976- 1990. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam 1976- 1990
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1991
7. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
8. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
9. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
10. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
11. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế- xã hội các dân tộc miền núi Phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế- xã hội các dân tộc miền núi Phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Phan Đại Doăn (2001), Làng bản Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xă hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng bản Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xă hội
Tác giả: Phan Đại Doăn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. GS Bế Viết Đẳng, PGS Khổng Diễn, PGS Phạm Quang Hoan, PGS Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Anh Ngọc (1992), Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, Viện Dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam
Tác giả: GS Bế Viết Đẳng, PGS Khổng Diễn, PGS Phạm Quang Hoan, PGS Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Anh Ngọc
Năm: 1992
14. Bùi xuân Đính (1985), Lệ làng phép nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lệ làng phép nước
Tác giả: Bùi xuân Đính
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1985
15. Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lý
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
18. Lê Mậu Hãn (chủ biên )(2000), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 3), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Lê Mậu Hãn (chủ biên )
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
19. Hoàng Nam (1992), Dân tộc Nùng ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Nùng ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1992
20. Lâm Bá Nam (1999), Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
Tác giả: Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
21. Quốc sử quán triều Nguyễn(1992), Đại Nam nhất thống chí tập IV, NxbThuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NxbThuận Hóa
Năm: 1992
22. Quốc sử quán triều Nguyễn (2000), Đại Nam thực lục, tập I, Nxb GD, HN 23. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập II, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục, "tập I, Nxb GD, HN 23. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), "Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn (2000), Đại Nam thực lục, tập I, Nxb GD, HN 23. Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2002
24. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập III, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  : Bảng thống kê xã, xóm, thôn huyện Định Hóa năm 2009 - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
Bảng 1.1 : Bảng thống kê xã, xóm, thôn huyện Định Hóa năm 2009 (Trang 16)
Bảng 1.2:  Các thành phần dân tộc huyện Định Hóa - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
Bảng 1.2 Các thành phần dân tộc huyện Định Hóa (Trang 18)
Bảng 2.1:  THỐNG KÊ ĐỊA BẠ GIA LONG 4 (1805) - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
Bảng 2.1 THỐNG KÊ ĐỊA BẠ GIA LONG 4 (1805) (Trang 30)
Hình  thức  sử  dụng  ruộng  đất  của  các  dòng  họ  ở  thời  điểm  lịch  sử  (1805) và (1840) chúng ta thấy được sự phân bố ruộng đất và mức độ sử dụng  ruộng đất của các dòng họ không đồng đều - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
nh thức sử dụng ruộng đất của các dòng họ ở thời điểm lịch sử (1805) và (1840) chúng ta thấy được sự phân bố ruộng đất và mức độ sử dụng ruộng đất của các dòng họ không đồng đều (Trang 35)
Bảng 2.6: Bảng danh mục các chức dịch của Định Hóa   nhiệm kì 2006-2011 - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
Bảng 2.6 Bảng danh mục các chức dịch của Định Hóa nhiệm kì 2006-2011 (Trang 37)
Hình 2.7  :  Các sản phẩm mua - bán - châu định hóa (thái nguyên) thế kỷ xix
Hình 2.7 : Các sản phẩm mua - bán (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w