Dưới ánh sáng của ngữ dụng học, kiểu câu có hình thức nghi vấn không chỉ được dùng để hỏi tức hành vi ngôn ngữ trực tiếp mà còn được dùng với nhiều mục đích khác như để chào, cầu khiến,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thị Vân
Thái Nguyên – 2010
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Theo ngữ pháp học truyền thống, câu có hình thức nghi vấn là một trong
bốn kiểu câu được phân loại theo mục đích: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán (câu cảm) Đây là kiểu câu được dùng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn chương
1.2 Dưới ánh sáng của ngữ dụng học, kiểu câu có hình thức nghi vấn không
chỉ được dùng để hỏi (tức hành vi ngôn ngữ trực tiếp) mà còn được dùng với nhiều mục đích khác như để chào, cầu khiến, bộc lộ thái độ,v.v (tức hành vi
ngôn ngữ gián tiếp) Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ nói đến Song, câu có hình thức nghi vấn có thể được dùng để thực hiện những hành vi ngôn ngữ nào? Đến nay vẫn chưa có một số liệu cụ thể và cũng như chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề này
1.3 Nguyễn Công Hoan là một tác giả xuất sắc trong dòng văn học hiện thực
nước nhà Ông bắt đầu cầm bút viết văn vào khoảng những năm 1920-1923 và
tự khẳng định được mình một cách mạnh mẽ và vững chắc vào khoảng những năm 1929-1931 trở đi Ngay từ những truyện ngắn đầu tay, Nguyễn Công Hoan đã chú ý lấy đề tài trong những chuyện đáng cười, đáng khinh, đáng ghét
và đáng thương trong xã hội lúc bấy giờ Và trong cả quá trình sáng tác về sau này, đó là loại đề tài hầu như duy nhất mà ông theo đuổi và ngày càng mở rộng phạm vi quan sát, đối tượng miêu tả và nội dung đả kích
Nguyễn Công Hoan đã dùng ngòi bút của mình vạch ra tất cả những sự thật đen tối của một chế độ xã hội tàn nhẫn và mục nát, chế độ thực dân phong kiến Song các tác phẩm của ông nổi tiếng và thu hút người đọc không phải chỉ vì nội dung phản ánh hiện thực mà còn vì cái tài sử dụng ngôn ngữ của nhà văn
Có thể nói câu có hình thức nghi vấn được Nguyễn Công Hoan sử dụng khá nhiều và đa dạng Nó đã góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm
và phong cách của tác giả
Trang 41.4 Cũng như trong giao tiếp nói chung, trong văn của Nguyễn Công Hoan nói
riêng, câu có hình thức nghi vấn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Chọn đề tài Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn
Công Hoan để nghiên cứu, chúng tôi muốn làm rõ thêm kiểu câu này về mặt lý
thuyết cũng như thực tiễn sử dụng
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Về tình hình nghiên cứu hành vi hỏi và câu nghi vấn
Trong giao tiếp, hỏi là một dạng hành vi ngôn ngữ rất phổ biến, một thành tố tham gia thường xuyên vào cấu trúc hội thoại Mặt khác, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những sự chuyển hoá khác nhau mà câu nghi vấn có thể thực hiện những chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng Chính vì thế mà trong ngôn ngữ học cần chú ý nghiên cứu câu nghi vấn
và hành vi hỏi Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu về câu nghi vấn và hành vi hỏi đáng chú ý như sau:
1 Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt - Câu, NXB Đại học quốc gia HN, 2008;
2 Nguyễn Thị Thìn, Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, 1994;
3 Nguyễn Thị Lương, Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, HN,1996;
4 Lê Đông, Ngữ nghĩa- Ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, HN, 1996;
5.Nguyễn Đăng Sửu, Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt, Luận án TS Ngữ Văn, HN, 2002
6 Lê Anh Xuân, Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh, Luận án TS Ngữ văn, HN, 2004
Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên, còn có thể kể đến một số bài tạp chí, một số khoá luận tốt nghiệp Đại học như:
Trang 5- Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn Ngữ số phụ, 1985;
- Cách tổ chức câu hỏi trong tiếng Kơho, Tạ Văn Thông trong Những
vấn đề ngôn ngữ phương Đông, Viện ngôn ngữ học, 1985;
- Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hoà, ngôn ngữ số 1, 1993;
- Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, 1994;
- Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỉ yếu hội thảo ngữ học trẻ, 1998;
- Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị Tuyết
Mai trong Những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học, 2001, Viện
ngôn ngữ học;
- Câu hỏi trong truyện ngắn Nam Cao, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa ngôn ngữ học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, 2005
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu về hành vi hỏi và câu nghi vấn đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc tìm hiểu câu nghi vấn được dùng với mục đích trực tiếp hoặc mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của hành vi hỏi trong khi câu nghi vấn còn nhằm diễn đạt nhiều mục đích khác nhau Đặc biệt, việc nghiên cứu về câu nghi vấn trong những tác phẩm văn học cụ thể chưa được chú ý một cách đầy đủ
2.2 Về tình hình nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn hiện thực lớn, với một khối lượng sáng tác đồ sộ, có một vị trí quan trọng trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại Từ khi xuất hiện trên văn đàn đến nay, ông luôn được sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình cũng như của nhiều thế hệ bạn đọc
Trang 6Điểm lại tình hình nghiên cứu, tư liệu của chúng tôi cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
1 Nguyễn An, Nguyễn Công Hoan (1903-1977), in trong Nhà văn của
các em , Nxb Văn học, HN, 1996;
2 Hoàng Hữu Các, Về việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công
Hoan trong nhà trường, in trong Nguyễn Công Hoan, nhà văn hiện thực lớn,
NXB Hội nhà văn, HN, 1993;
3 Nguyễn Minh Châu, Nhà văn Nguyễn Công Hoan, Văn nghệ số 40, 1985;
4 Trương Chính, Đọc Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, Tuần báo văn
nghệ số 48, 1985;
5 Phan Cự Đệ, Nguyễn Công Hoan - Trong Văn học Việt Nam
1930-1945 (tập II), Nxb Giáo dục, HN, 1961;
6 Phan Cự Đệ, Nguyễn Công Hoan - Trong Nhà văn Việt Nam
1945-1975 (tập II), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN, 1983;
7 Lê Thị Đức Hạnh, Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng, Tạp chí văn học số 6, 1970;
8 Lê Thị Đức Hạnh , Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau Cách mạng, Tạp chí văn học số 6, 1971;
9 Lê Thị Đức Hạnh, Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Tạp chí văn học, 1975;
10 Hội nhà văn, Nguyễn Công Hoan, nhà văn (1903-1977), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, HN, 1997;
11 Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Công Hoan, Từ điển văn học (tập II), Nxb Khoa học xã hội, HN, 1984;
12 Hoàng Như Mai, Có nhiều tác giả Nguyễn Công Hoan trong một
Nguyễn Công Hoan, Lời nói đầu Bóng người qua, Nxb Văn nghệ, TPHCM, 1988;
Trang 713 Nguyễn Đăng Mạnh, Đọc lại truyện ngắn trào phúng của Nguyễn
Công Hoan trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Nxb Văn học, HN, 1983
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tạp chí và khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan cùng với các tác phẩm của ông Có thể khẳng định lại một lần nữa rằng: Nguyễn Công Hoan là một nhà văn lớn Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm văn học của ông đã được giới nghiên cứu, phê bình văn học đặc biệt quan tâm song việc nghiên cứu về câu nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thì chưa thực sự được quan tâm
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về câu nghi vấn cũng như về tác giả Nguyễn Công Hoan đã và đang thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu Những công trình nghiên cứu đã công bố về Nguyễn Công Hoan phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm các tác phẩm của ông hoặc phê bình một số tác phẩm của tác giả Có những công trình chỉ chọn một tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan để tìm hiểu Có thể nói, chưa có công trình nào nghiên cứu về câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan một
cách toàn diện Chọn đề tài Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan để nghiên cứu, chúng tôi muốn làm rõ thêm kiểu câu này
về mặt lý thuyết cũng như thực tế sử dụng Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ một phần làm sáng tỏ thêm về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan, mặt khác nó có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan nói chung và câu có hình thức nghi vấn trong văn Nguyễn Công Hoan nói riêng
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kiểu câu có hình thức nghi vấn được
sử dụng trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
Có thể nghiên cứu câu có hình thức nghi vấn trong văn Nguyễn Công Hoan về nhiều phương diện, nhưng luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về đối tượng khảo sát: Luận văn giới hạn phạm vi khảo sát là cuốn
Truyện ngắn chọn lọc của Nguyễn Công Hoan - Nxb Văn học, 2005 và cuốn
tiểu thuyết Bước Đường Cùng - Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006
-Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đối tượng về 2 phương diện: cấu trúc hình thức, ngữ nghĩa và hành vi ngôn ngữ
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này người viết nhằm mục đích làm rõ thêm kiểu câu
có hình thức nghi vấn về mặt lý luận cũng như thực tiễn sử dụng, từ đó có thể giúp cho bản thân và người đọc có cái nhìn đúng đắn khi nghiên cứu và giảng dạy về kiểu câu phân loại theo mục đích nói
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết làm căn cứ lý luận cho đề tài;
- Khảo sát tư liệu, phân loại tư liệu theo từng tiêu chí;
- Miêu tả, phân tích tư liệu theo các nhóm đã phân loại;
- Tổng kết các kết quả nghiên cứu rút ra từ việc miêu tả, phân tích ngữ liệu;
- Trình bày quan điểm của người viết về đối tượng nghiên cứu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Trang 95.1 Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp nghiên cứu này dùng để khảo sát và phân loại tư liệu, cụ thể là khảo sát các câu có có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và phân loại chúng
5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu này dùng để miêu tả, phân tích tư liệu và tổng kết các kết quả nghiên cứu
5.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh, đối chiếu các tiểu loại đối tượng về tần số sử dụng và giá trị biểu đạt
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
6.1 Về mặt lý luận
- Luận văn góp phần làm rõ thêm về các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp
được thể hiện dưới hình thức hành vi hỏi Nói khác đi, câu có hình thức nghi
vấn có khả năng dùng để thực hiện những hành vi ở lời gián tiếp
- Việc nghiên cứu câu nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan còn có ý nghĩa trong việc chỉ ra những nét riêng biệt trong việc sử dụng ngôn
từ của Nguyễn Công Hoan so với các nhà văn khác Từ đó, làm rõ phong cách nhà văn
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả của luận văn sẽ giúp cho việc hiểu, giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan trong nhà trường đạt hiệu quả hơn, làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến nhà văn Nguyễn Công Hoan và câu có hình thức nghi vấn Đây cũng có thể xem như là một cơ sở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về câu nghi vấn và về tác giả Nguyễn Công Hoan
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Trang 10Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn
Công Hoan xét về mặt cấu tạo ngữ pháp
Chương 3: Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn
Công Hoan xét về phương diện dụng học
Trang 11NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày một số lý thuyết được luận văn dùng làm căn cứ
để xử lý đối tượng nghiên cứu Cụ thể đó là lý thuyết về câu và lý thuyết về ngữ dụng học
1.1 Một số vấn đề lý thuyết về câu
1.1.1 Định nghĩa câu
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có được cách định nghĩa câu nào thoả mãn tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp Có khá nhiều quan điểm khác nhau
về vấn đề nêu lên định nghĩa câu Trong đó phải kể đến định nghĩa câu của
Nguyễn Hiến Lê trong Để hiểu văn phạm Việt Nam, của Hữu Quỳnh trong
Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, của Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt
và của Uỷ ban khoa học xã hội Vấn đề định nghĩa câu phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu và giảng dạy cũng như học tập ngữ pháp Ở đây chúng tôi theo định nghĩa của tác giả Diệp Quang Ban vì đó
là cơ sở quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Diệp Quang Ban dựa vào 4 tiêu chí: hình thức, nội dung, chức năng và
lĩnh vực nghiên cứu đã nêu lên định nghĩa về câu như sau: "Câu là đơn vị của
nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt, tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" ( Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nxb Giáo dục, trang 106)
1.1.2 Vấn đề phân loại câu theo mục đích nói
Có nhiều tiêu chí để phân loại câu như: phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, phân loại câu theo mối quan hệ với hiện thực, phân loại câu theo mục
Trang 12đích nói Ở đây, xin đi sâu vào vấn đề phân loại câu theo mục đích nói vì đó là
cơ sở lý thuyết liên quan trực tiếp đến việc xử lý đề tài
Phân loại câu theo mục đích nói là cách nhìn có tính chất truyền thống
về câu trong hoạt động của nó Căn cứ vào mục đích nói, người ta phân thành
4 kiểu câu, đó là:
- Câu tường thuật (còn gọi là câu kể);
- Câu nghi vấn (còn gọi là câu hỏi);
- Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến);
- Câu cảm thán (còn gọi là câu cảm)
Có nhiều ý kiến cho rằng không nên tách câu cảm thán ra thành kiểu riêng vì 3 kiểu câu kia đều có thể cảm thán khi đưa vào chúng những mức độ tình cảm khác nhau Quan điểm này có thể thích hợp với những thứ tiếng nào
đó, còn đối với tiếng Việt, ngoài ngữ điệu, câu cảm thám còn có một bộ phận tiểu từ, phụ từ chuyên dụng, hoặc có thêm cách cấu tạo đặc thù phân biệt được với những kiểu câu khác Vì vậy không nên nhấn chìm câu cảm thán vào những kiểu câu khác
1.1.3 Sơ lƣợc về câu nghi vấn
a Khái niệm
Câu nghi vấn là loại câu thường được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó Về mặt hình thức, câu nghi vấn cũng có những dấu hiệu đặc trưng nhất định
Câu nghi vấn tiếng Việt được cấu tạo nhờ các phương tiện sau đây (trong sự đối chiếu với câu tường thuật):
- Các đại từ nghi vấn;
- Kết từ "hay" (với ý nghĩa lựa chọn);
- Các phụ từ nghi vấn;
- Các tiểu từ chuyên dụng;
Trang 13- Ngữ điệu thuần tuý (những trường hợp không có các phương tiện nêu trên)
b Phân loại câu nghi vấn
Có nhiều tiêu chí để phân loại câu nghi vấn Dựa vào các phương tiện cấu tạo câu nghi vấn, tác giả Diệp Quang Ban phân loại câu nghi vấn thành bốn kiểu nhỏ Đó là:
* Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn
Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn là câu nghi vấn được dùng để hỏi vào những thời điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa đại từ nghi vấn Do
đó, ngay cả khi câu bị tách ra khỏi tình huống nói và ngữ cảnh cũng có thể
nhận biết được điểm hỏi Có thể gọi đây là câu nghi vấn rõ trọng điểm
Những đại từ nghi vấn thường gặp là:
+ Ai: hỏi về người;
+ Gì: hỏi về vật và về tính chất (nội dung) của người, con vật, sự vật; + Nào: hỏi về tính chất (có thể hàm ý lựa chọn);
+ (Như) thế nào: hỏi về tính chất (miêu tả) của người, sự vật và về cách thức của đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ);
+ Mấy: hỏi về số lượng;
+ Bao giờ: hỏi về thời điểm;
+ Bao lâu: hỏi về thời hạn;
+ Đâu: hỏi về vị trí và phương hướng
Trong câu nghi vấn tiếng Việt, vị trí của đại từ nghi vấn là vị trí của từ
mà nó thay thế ở câu tường thuật, thường đại từ nghi vấn không được đưa lên đầu câu như ở câu nghi vấn của nhiều ngôn ngữ khác
Ví dụ: Bao giờ anh đi? (- Ngày mai tôi đi.)
* Câu nghi vấn có kết từ "hay" và câu nghi vấn có phụ từ nghi vấn
Trang 14Câu nghi vấn có kết từ "hay" dùng để hỏi có hạn chế trong khả năng trả lời, một trong những đề nghị được đưa ra Vì vậy kiểu câu nghi vấn này được
gọi là câu nghi vấn lựa chọn Nếu những khả năng đưa ra trong câu nghi vấn
đều không được lựa chọn thì phải trả lời bằng câu bác bỏ toàn bộ chúng Ví dụ,
đối với câu hỏi "Anh mua sách hay vở?", có những khả năng lựa chọn sau:
- Tôi mua sách
- Tôi mua vở
- Tôi mua cả sách lẫn vở
Và có thể bác bỏ như sau:
- Tôi không mua sách cũng chẳng mua vở
Những khả năng đưa ra trong câu nghi vấn phải có liên hệ ý với nhau, đồng thời phải khác nhau Nội dung điều được đưa ra lựa chọn là không hạn chế, miễn là đủ rõ nghĩa Cách trình bày sự lựa chọn không phải bao giờ cũng hiển ngôn một cách đầy đủ mà thường bị cắt xén, tạo nên những biến dạng khá phức tạp Biến dạng phổ biến và còn rõ nhất là trường hợp có mặt cặp phụ từ trái nghĩa và từ "hay" bị tỉnh lược làm thành những khuôn nghi vấn Trong những khuôn này, từ "hay" dễ dàng được khôi phục Các khuôn hay gặp là:
* Câu nghi vấn có tiểu từ chuyên dụng
Câu nghi vấn có tiểu từ chuyên dụng, nếu không được dùng kèm với các phương tiện khác thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi câu đứng riêng Vậy
Trang 15nên có thể gọi đây là kiểu câu nghi vấn không rõ trọng điểm
Ví dụ (1): Hôm qua anh đi Hà Nội à?
Đối với câu nghi vấn trên có thể trả lời như sau:
- Không, tôi đi Hà Nội từ tuần trước cơ (trọng điểm hỏi: hôm qua)
- Phải, tôi đi Hà Nội hôm qua (trọng điểm hỏi: hôm qua)
- Không, anh ấy đi Hà Nội (trọng điểm hỏi: anh)
- Không, tôi đi Thái Nguyên (trọng điểm hỏi: Hà Nội)
Những tiểu từ chuyên dụng thường gặp là: à, ừ, nhé, nhỉ, hả, chứ, chớ, ạ…
* Câu nghi vấn dùng ngữ điệu
Việc sử dụng ngữ điệu để phân biệt câu theo mục đích nói là rất hạn chế
vì tiếng Việt là một ngôn ngữ có nhiều thanh điệu Cách sử dụng câu nghi vấn
chỉ thuần tuý dựa vào ngữ điệu được chấp nhận rộng rãi là trong câu hỏi có ý
tương phản mở đầu bằng kết từ còn Đặc trưng ngữ điệu của kiểu câu này là sự
nâng cao giọng ở phần cuối câu
* Câu nghi vấn chính danh: Là câu chỉ có giá trị ngôn trung là hỏi để
yêu cầu một lời giải đáp Hỏi người khác hoặc hỏi chính mình để được trả lời
hoặc tự giải đáp, gọi tắt là câu hỏi
* Câu nghi vấn có giá trị ngôn trung khác: Câu hỏi chỉ là hình thức để
người nghe tự biết ra cái việc phải đáp ứng Hình thức câu nghi vấn còn có
nhiều giá trị ngôn trung khác, từ khẳng định, phủ định, bác bỏ, chối cãi, ngờ
vực đến thanh minh, hy vọng một cách mong manh, phân vân, lo lắng, cảm
thán, cầu khiến
Trang 16Một số tác giả dựa vào tiêu chí khả năng, chia câu nghi vấn thành ba
kiểu sau:
* Câu nghi vấn có lựa chọn
* Câu nghi vấn không có lựa chọn
* Câu nghi vấn giả thiết
Như vậy, câu nghi vấn là một trong những kiểu câu được phân loại theo
mục đích nói Câu nghi vấn thường chứa các từ ngữ nghi vấn như: ai, gì, nào,
tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, (có) không, (đã) chưa hoặc có
từ "hay" nối kết các vế lựa chọn Chức năng chính của câu nghi vấn là dùng để
hỏi Ngoài ra, nó cũng có những chức năng khác như dùng để cầu khiến, để
khẳng định, phủ định, đe doạ, bộc lộ tình cảm, cảm xúc Dấu hiệu để nhận biết
câu nghi vấn là các từ nghi vấn trong câu và dấu chấm hỏi được đặt ở cuối câu
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu không dùng để hỏi thì câu nghi vấn có
thể kết thúc bằng dấu chấm than, dấu chấm hoặc dấu chấm lửng
1.2 Một số vấn đề lý thuyết về ngữ dụng học
1.2.1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
a Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Trong cuộc sống, con người sử dụng rất nhiều các hành động khác nhau
để đạt được mục đích của mình Một trong những hành động có mục đích của
con người là hành động nói năng hay còn gọi là hành động nói hoặc hành vi
ngôn ngữ
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ
biên - Nxb Giáo dục, 1998) thì hành vi ngôn ngữ là "Một đoạn lời có mục đích
nhất định thực hiện trong những điều kiện nhất định được tách biệt bằng các
phương tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh thống nhất cấu âm - âm học mà
người nói, người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn
cảnh giao tiếp nào đó" Như vậy, hành vi ngôn ngữ được thực hiện khi một
Trang 17người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định Cụ thể, hành vi ngôn ngữ là hành động con người sử dụng ngôn ngữ để tạo ra một phát ngôn trong cuộc giao tiếp Hành vi ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng, nó có khả năng làm thay đổi trạng thái, tâm
lý, hành động… của người nghe, thậm chí của cả người nói
Theo Austin - nhà ngôn ngữ học người Anh, khi người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn thì trong đó phải sử dụng ba loại hành vi ngôn ngữ lớn, đó là hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm,
từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Chẳng hạn, người nói (người viết) sử dụng các yếu tố ngữ âm, từ và kết hợp các từ theo một quy tắc nhất định để nói (viết) ra một phát ngôn thể hiện
hành vi thông báo "Tôi mệt rồi!"
Hành vi mượn lời là hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào
đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính lời nói Ví dụ, khi nghe một phát ngôn sai khiến "Đóng cửa lại!", người nghe có thể có những phản ứng để thực hiện sự sai khiến đó (đứng dậy đóng cửa) hoặc tỏ thái độ bực tức, càu nhàu, khó chịu… Đó chính là hiệu quả của hành vi mượn lời Có những hiệu quả
mượn lời là đích của một hành vi ở lời (đóng cửa là hiệu quả mượn lời của
hành vi ở lời điều khiển) nhưng cũng có những hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời (như gắt gỏng, khó chịu…khi nghe lệnh)
Hành vi ở lời là những hành vi mà người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của hành vi ở lời là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa
là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Ví dụ, khi người nói (Sp1) phát ngôn: "Tôi hứa ngày mai tôi sẽ đến" thì hành
vi "hứa" đã được xác lập và thực hiện Sp1 đã bị ràng buộc vào trách nhiệm
Trang 18phải thực hiện lời hứa của mình và người nghe (Sp2) có quyền chờ đợi kết quả của lời hứa đó Như vậy hành vi "hứa" đã thay đổi tư cách pháp nhân của các nhân vật giao tiếp
Trong 3 loại hành vi ngôn ngữ trên, ngữ dụng học chủ yếu quan tâm đến hành vi ở lời Lý thuyết hành vi ở lời cũng là một trong những căn cứ mà luận văn sẽ sử dụng để nghiên cứu
b Phân loại hành vi ngôn ngữ
Có nhiều cách khác nhau để phân loại hành vi ngôn ngữ Dưới đây là một vài cách phân loại:
* Cách phân loại của Austin
Trước Austin, nhà triết học Wittgenstein đã nói tới hành vi ngôn ngữ với thuật ngữ "trò chơi ngôn ngữ" song ông cho rằng không thể phân loại được chúng Ngược lại, Austin cho rằng có thể phân loại được các hành vi ngôn ngữ Theo ông, có 5 phạm trù (5 lớp hành vi ngôn ngữ khác nhau), đó là: phán
xử, hành sử, cam kết, trình bày và ứng xử Cụ thể như sau:
1 Lớp hành vi phán xử: Đây là nhóm gồm những hành vi đưa ra những
lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc như: tính toán, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại…
2 Lớp hành vi hành sử: Đây là những hành vi đưa ra những quyết định
thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó như: ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, giới thiệu, bế mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn…
3 Lớp hành vi cam kết: Những hành vi này ràng buộc người nói vào
một chuỗi những hành động nhất định như: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, đảm bảo, thề nguyền, thông qua các quy ước…
4 Lớp hành vi trình bày: Những hành vi này được dùng để trình bày các
quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng từ như khẳng định, phủ định,
từ chối, trả lời, phản bác, nhượng bộ, báo cáo các ý kiến…
Trang 195 Lớp hành vi ứng xử: Đây là những hành vi phản ứng với cách xử sự
của người khác, đối với sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái
độ đối với hành vi hay số phận của người khác như: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, nguyền rủa, thách thức, nghi ngờ…
Cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin được xem về cơ bản là phân loại từ vựng các động từ ngữ vi tiếng Anh Cách phân loại này vẫn còn nhiều bất cập vì tiêu chí phân loại không rõ ràng, các hành vi còn bị xếp chồng chéo giữa các lớp Chẳng hạn hành vi miêu tả (describe) được xếp vào 2 lớp:
lớp hành vi phán xét và lớp hành vi bày tỏ Nó thuộc lớp hành vi phán xét vì
đó là một sự đánh giá (chính thức hoặc không chính thức) Nó thuộc lớp hành
vi bày tỏ vì đó là sự trình bày một vấn đề nào đó
* Cách phân loại của Searle
Searle đã chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin Ông đã khắc phục những hạn chế này, ông cho rằng trước hết là phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng Ông đã đưa ra cách phân loại khác dựa trên các tiêu chí rõ ràng, đó là
12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ được dùng làm tiêu chí phân loại như sau:
- Đích ở lời: là đích của các phát ngôn mà người nói hướng tới người nghe;
- Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến;
- Trạng thái tâm lý được thể hiện qua phát ngôn;
- Sức mạnh mà đích ở lời trình bày ra;
- Tính quan yếu của mối liên hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe;
- Định hướng của đích tại lời;
- Sự khác biệt trong việc thiết lập quan hệ với thành phần còn lại của diễn ngôn;
- Nội dung mệnh đề;
Trang 20- Sự khác biệt giữa những hành động luôn luôn là hành động phát ngôn với những hành động có thể thực hiện bằng lời hoặc không bằng lời;
- Thể chế xã hội;
- Động từ nói năng;
- Phong cách thực hiện hành vi ở lời
Trong 12 tiêu chí mà Searle dùng làm căn cứ để phân biệt các loại hành
vi ngôn ngữ, ông chỉ lấy 4 tiêu chí làm căn cứ chính, đó là: đích ở lời, hướng
khớp ghép, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề Từ 4 tiêu chí này, Searle đã
phân loại hành vi ngôn ngữ ra làm 5 lớp, mỗi lớp lại bao gồm một số hành vi
cụ thể Đó là các lớp:
1 Lớp hành vi tái hiện: Đích ở lời của lớp hành vi này là miêu tả lại một
sự tình đang được nói đến, trách nhiệm của người nói đối với việc mình thông báo Hướng khớp ghép là lời - hiện thực, trạng thái tâm lý là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề Các mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai logic Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: miêu tả, khẳng định, tường minh, minh hoạ…
2 Lớp hành vi điều khiển: Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm
thực hiện một hành động tương lai; hướng khớp ghép hiện thực - lời; trạng thái tâm lý là sự mong muốn của Sp1 và nội mệnh đề là hành động tương lai của Sp2 Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: ra lệnh, hỏi, yêu cầu, cho phép…
3 Lớp hành vi cam kết: Đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành
động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc; hướng khớp ghép hiện thực - lời; trạng thái tâm lý là ý định của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp1 Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: hứa hẹn, tặng, biếu…
4 Lớp hành vi biểu cảm: Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp
với hành vi ở lời; trạng thái tâm lý thay đổi tuỳ theo từng loại hành vi; nội
Trang 21dung mệnh đề là một hành động hay một tính chất nào đó của Sp1 hay của Sp2 Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: chúc mừng, cảm ơn, mong muốn, ruồng rẫy,…
5 Lớp hành vi tuyên bố: Đích ở lời là nhằm làm cho có tác dụng nội
dung của hành vi; hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực, vừa là hiện thực - lời; nội dung mệnh đề là một mệnh đề Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: tuyên bố, buộc tội…
Ngoài ra còn cách phân loại hành vi ngôn ngữ của D.Wunderlich, F.Recanati và K.Bach và R.M.Harnish Song các tác giả này về cơ bản là thống nhất với Searle về tiêu chí phân loại
c Các dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời
Như trên đã nói, trong ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời thì ngữ dụng học chủ yếu quan tâm đến hành vi ở lời
Có nhiều dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời, dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản:
* Động từ ngữ vi
Trong những động từ nói năng, có những động từ đặc biệt, đó là những động từ có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện chức năng
ở lời Những động từ này được gọi là động từ ngữ vi
" Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực hiện luôn các hành vi ở lời do chúng biểu thị" (Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn
ngữ học, tập hai, trang 97)
Ví dụ (3): Tôi khuyên anh không nên bỏ học
Trong ví dụ trên, khi người nói phát âm ra phát ngôn với động từ
"khuyên" thì đồng thời người đó cũng thực hiện luôn hành vi khuyên của mình
"Khuyên" chính là động từ ngữ vi
Trang 22Tương tự như vậy ta có hàng loạt động từ ngữ vi như: hỏi, hứa, thề, cảm
ơn, xin lỗi…được dùng với chức năng ngữ vi
Ở đây cũng cần phân biệt động từ nói năng với động từ ngữ vi Động từ nói năng là những động từ chỉ hành vi ở lời Một động từ nói năng được dùng với hiệu lực ngữ vi phải đảm bảo một số điều kiện sau:
- Chủ thể của động từ phải ở ngôi thứ nhất;
- Khách thể của động từ phải ở ngôi thứ hai;
- Động từ nói năng phải được dùng ở thời hiện tại;
- Phát ngôn không chứa các yếu tố tình thái
Chẳng hạn, trong ví dụ "Tôi khuyên anh không nên bỏ học", động từ
"khuyên" là động từ ngữ vi vì nó thoả mãn 4 điều kiện trên Còn trong các trường hợp sau, động từ "khuyên" không phải là động từ ngữ vi mà chỉ là động
từ nói năng dùng với chức năng miêu tả vì nó vi phạm một trong các điều kiện trên:
Tôi đã khuyên anh không nên bỏ học (Vi phạm điều kiện thứ 3)
Tôi khuyên nó không nên bỏ học (Vi phạm điều kiện thứ 2)
Nó khuyên anh không nên bỏ học (Vi phạm điều kiện thứ 1)
Tôi khuyên anh không nên bỏ học chứ (Vi phạm điều kiện thứ 4)
Động từ ngữ vi cho ta biết hành vi ngôn ngữ nào đang được thực hiện, đồng thời nó cũng là phương tiện giúp ta nhận ra các biểu thức ngữ vi tường minh
* Các từ ngữ chuyên dụng trong biểu thức ngữ vi
Từ ngữ chuyên dụng là những từ ngữ chuyên dùng để tổ chức kết cấu của một biểu thức ngữ vi cụ thể và là các dấu hiệu mà nhờ nó ta biết được hành vi nào đang được thực hiện Chẳng hạn, với biểu thức ngữ vi "hỏi", ta có
các từ ngữ chuyên dụng như: có….không?, đã… chưa?, có phải…hay không?,
ai, cái gì, bao giờ, mấy,…, à, ừ, nhỉ, nhé,…,chăng,…
Trang 23Ví dụ (4):
- Anh đã ăn cơm chưa?
- Ai đấy?
- Cậu có đi xem ca nhạc không?
- Bao giờ cô ấy về?
Tương tự như vậy, các từ ngữ chuyên dụng trong kết cấu cầu khiến
thường là: hãy, đi, đừng, chớ, hãy…đi, đừng… nữa, xin, làm ơn, cảm phiền
Ví dụ (5):
Hãy vào nhà đi
Đừng khóc nữa
Làm ơn cho tôi mượn quyển sách
Các từ ngữ chuyên dụng trong các biểu thức ngữ vi "khuyên" là các từ
ngữ: nên, không nên…
Ví dụ (6):
- Anh không nên làm to chuyện thêm nữa
- Chị nên bình tĩnh lại…
Ngoài ra, ta còn thấy những từ ngữ mở đầu chuyên dùng cho các biểu
thức ngữ vi "đánh giá" như: thật là, quả là… hay những từ ngữ chuyên dùng các biểu thức ngữ vi "biểu cảm" là: ôi, trời ôi, ối cha mẹ ơi…
Ví dụ (7):
Con bé ấy quả là ngoan! (Hành vi đánh giá)
Trời ôi! đẹp quá! (Hành vi biểu cảm)
Tóm lại, những từ ngữ chuyên dụng thường được sử dụng trong các biểu thức ngữ vi đặc thù Đó chính là dấu hiệu quan trọng giúp ta nhận biết người nói đang thực hiện biểu thức ngữ vi nào
* Những kiểu kết cấu ngữ pháp đặc thù cho hành vi ngôn ngữ
Trang 24Kết cấu cũng tức là kiểu câu hiểu theo ngữ pháp truyền thống Kết cấu không chỉ là những kiểu câu có mục đích nói hết sức sơ lược và khái quát như trần thuyết, hỏi, cầu khiến, cảm thán với những dấu hiệu hình thức rất chung chung mà còn bao gồm cả những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ở lời (hoặc các phạm trù hành vi ở lời) Chẳng hạn, trong tiếng Việt, thuộc kết
cấu câu cầu khiến thường không chỉ là những kiểu câu quen thuộc như: hãy…!,
đừng…!, chớ !, mà còn có các kết cấu như: làm ơn !, cảm phiền !, xin đề nghị…!, thôi!, nào!,
Ví dụ (8):
Hãy học bài đi!
Đừng làm ồn nữa!
Cảm phiền anh đưa giúp tôi!
Xin đề nghị ông xem xét lại!
Hay hành vi hỏi thường có các kết cấu như: có không?, có phải hay
không?, đã chưa?, phải chứ?,
Ví dụ (9):
Anh có đi Hà Nội không?
Cậu đã làm bài tập chưa?
Còn hành vi cảm thán lại không chỉ bao gồm kiểu từ ngữ cảm thán kết hợp với câu trần thuyết mà còn phải kể đến những kết cấu từ ngữ cảm thán kết hợp với câu hỏi (Ví dụ:Ôi! Không khí thật dễ chịu!; Trời ơi! có ai khổ như tôi không?, )
Những kết cấu đặc trưng cho biểu thức ngữ vi của hành vi đe doạ gồm: Có không thì bảo!, «ng sẽ bảo cho…cho biết tay,…(Ví dụ: Có về ngay không thì bảo!)
Các kết cấu ngữ pháp đặc thù cũng là dấu hiệu hình thức khá điển hình
để xác định hành vi ngôn ngữ của các phát ngôn
Trang 25* Ngữ điệu
Ngữ điệu cũng là một trong những dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng với những hành vi ở lời khác nhau Có nghĩa là, cùng một phát ngôn nhưng nếu người nói phát âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ tác động đến người nghe với những đích ở
lời khác nhau
Chẳng hạn, đối với phát ngôn sau: Ngày mai tôi sẽ đến Phát ngôn này
sẽ là một lời thông báo nếu người nói phát âm với một ngữ điệu bình thường
Nó sẽ là một lời hứa nếu người nói phát âm với một giọng điệu thiết tha Còn nếu phát âm với giọng nhấn mạnh, dằn từng tiếng thì nó lại trở thành lời đe doạ
Như vậy, động từ ngữ vi, các từ ngữ chuyên dụng trong biểu thức ngữ
vi, những kiểu kết cấu ngữ pháp đặc thù cho hành vi ngôn ngữ và ngữ điệu là các dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời Đây cũng là những cơ sở lý thuyết quan trọng mà luận văn sẽ sử dụng để tìm hiểu cấu tạo ngữ pháp của câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
d Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Như trên đã trình bày, hành vi ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng, nó có khả năng làm thay đổi trạng thái, tâm lý, hành động của người nghe, thậm chí của cả người nói Hành vi ngôn ngữ, xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và điều kiện sử dụng bao gồm: Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp Hai loại hành vi ngôn ngữ này có mối quan hệ gắn bó rất chặt chẽ với nhau
* Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với điều kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng Chẳng hạn, dùng một phát
Trang 26ngôn hỏi để thực hiện đích hỏi, dùng một phát ngôn thề để thực hiện đích
* Hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là hành vi ngôn ngữ được sử dụng với bề mặt của hành vi ngôn ngữ này nhưng nhằm đạt hiệu quả ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác Có nghĩa là một phát ngôn dùng hành vi ngôn ngữ này nhưng đích lại nằm ở hành vi ngôn ngữ khác Chẳng hạn, người nói có thể đưa ra một
câu hỏi nhưng không phải thực hiện đích hỏi mà thực hiện đích ở lời khác, như: để chào, để chất vấn, trách móc,v.v
Ví dụ (11): A và B hẹn nhau đi chơi nhưng B đến muộn, A đưa ra phát ngôn hỏi:
- Sao bây giờ cậu mới tới?
Ở ví dụ trên, phát ngôn của A là một câu hỏi nhưng được dùng để thực hiện đích trách móc: A trách B đến muộn Ở đây, A đã sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp và B phải dựa vào ngữ cảnh nói năng mà suy ra mà được đích ngôn trung mà A muốn diễn đạt
Ví dụ (12):
- Bác đi đâu đấy ạ?
Ví dụ này, người nói dùng phát ngôn hỏi để thực hiện đích ở lời chào
Trang 27Hành vi ngôn ngữ gián tiếp rất phong phú, cơ chế tạo nên hành vi ngôn ngữ gián tiếp cũng khá đa dạng Một hành vi ngôn ngữ gián tiếp có thể được thực hiện qua nhiều hành vi ngôn ngữ trực tiếp khác nhau Và ngược lại, một hành vi ngôn ngữ trực tiếp cũng có thể tạo ra nhiều hành vi ngôn ngữ gián tiếp khác nhau Chẳng hạn, hành vi ngôn ngữ trực tiếp hỏi có thể được dùng để
thực hiện nhiều hành vi ngôn ngữ gián tiếp khác nhau, hỏi để chào (Ví dụ: Bác
đi đâu đấy ạ?), hỏi để đề nghị (Ví dụ: Sao không mang áo vào? → đề nghị: mang áo vào đi!), hỏi để khuyên, để bộc lộ thái độ, để chất vấn, cãi, trách
cứ, phản đối, phỏng đoán … Hay hành vi ngôn ngữ gián tiếp yêu cầu có thể
được thực hiện bằng nhiều hành vi ngôn ngữ trực tiếp như: hỏi để yêu cầu (Ví dụ: Không thấy mệt à?→ yêu cầu: nghỉ ngơi đi), thông báo để yêu cầu (Ví dụ:
Tôi mệt rồi →Yêu cầu: Cho tôi nghỉ)
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp có mối quan
hệ gắn bó với nhau Có thể nói, hiệu lực của hành vi ngôn ngữ gián tiếp là cái thêm vào hiệu lực của hành vi ngôn ngữ trực tiếp Muốn nhận biết được hành
vi ngôn ngữ gián tiếp thì trước hết ta phải nhận biết được hành vi ngôn ngữ trực tiếp Nhận ra được hành vi ngôn ngữ gián tiếp là kết quả của hành động suy ý từ hành vi ngôn ngữ trực tiếp mà người nói phát ngôn Ngoài ra, ngữ cảnh và các biểu thức ngữ vi đặc thù cũng là dấu hiệu giúp nhận biết hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Nhìn chung, khi giao tiếp, người ta đòi hỏi phải có sự hồi đáp từ người đang đối thoại với mình Chính vì thế, tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi phải có sự hồi đáp Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời, người nói phải
có trách nhiệm với phát ngôn của anh ta và anh ta có quyền đòi hỏi người đối thoại với mình phải phản ứng lại bằng một hành vi ở lời tương ứng, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Trong thực tế ta thường gặp các cặp hành vi ngôn ngữ tương thích kiểu:
Trang 28Chào … chào
Hỏi trả lời
Cảm ơn… đáp lời cảm ơn
Cầu khiến… chấp nhận/từ chối…
Khi nhận ra hành vi ngôn ngữ gián tiếp, người nghe sẽ tri nhận và hồi đáp nhằm làm cho cuộc giao tiếp đạt hiệu quả cao
g Biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp
* Biểu thức ngữ vi tường minh là những biểu thức ngữ vi có chứa động
từ ngữ vi Chẳng hạn như các phát ngôn sau là những biểu thức ngữ vi tường minh:
- Tôi hứa ngày mai tôi sẽ đến nhà anh chơi (hứa là động từ ngữ vi)
- Tôi khuyên anh nên bỏ thuốc lá đi (khuyên là động từ ngữ vi)
- Tôi đề nghị ông ngồi xuống (đề nghị là động từ ngữ vi)
* Biểu thức ngữ vi nguyên cấp (còn gọi là biểu thức ngữ vi hàm ẩn) là
những biểu thức ngữ vi không chứa các động từ ngữ vi Các phát ngôn ngữ vi dưới đây thuộc biểu thức ngữ vi nguyên cấp:
- Ngày mai tôi sẽ đến nhà anh chơi
- Anh nên bỏ thuốc lá đi
- Ông ngồi xuống…
Trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ, phổ biến và thường xuyên được dùng là các phát ngôn thuộc biểu thức ngữ vi nguyên cấp Trong tiếng Việt, có những hành vi ở lời luôn được thực hiện bởi các biểu thức ngữ vi tường minh hoặc luôn được thực hiện bởi các phát ngôn ngữ vi nguyên cấp Có những hành vi ngôn ngữ vừa được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi tường minh vừa được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp Cụ thể, những hành vi ở lời được thực hiện bởi các biểu thức ngữ vi như sau:
Trang 29- Những hành vi ở lời nhất thiết phải thực hiện bằng biểu thức ngữ vi tường minh, như: tuyên (án), xin lỗi, cảm ơn, đánh cược, cam đoan…
- Những hành vi chỉ được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp,
đó là các hành vi: rủ, khoe, chửi…
- Những hành vi vừa có thể được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp, vừa có thể, khi cần thiết lại thực hiện bằng biểu thức ngữ vi tường minh, đó là các hành vi: hứa, hẹn, công bố…
1.2.2 Sơ lƣợc về ngữ cảnh
Trong giao tiếp, ngữ cảnh (còn được gọi là văn cảnh) có vai trò hết sức quan trọng Với tư cách là một nhân tố của hoạt động giao tiếp, ngữ cảnh chi phối rất lớn tới việc tạo lập và tri nhận lời nói nói chung và việc sử dụng cũng như tìm hiểu các hành vi ngôn ngữ nói riêng
a Khái niệm ngữ cảnh
Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Nói cách khác, trong hoạt động giao tiếp, trừ diễn ngôn, trừ các quy tắc mà nhờ đó ta tạo ra và tiếp nhận diễn ngôn, những cái còn lại gọi là ngữ cảnh
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb Giáo dục, 2009 gọi ngữ cảnh là văn cảnh Ngữ cảnh (văn cảnh)
là "một đoạn tương đối hoàn chỉnh của lời nói hoặc lời viết, một vùng ngôn ngữ bao quanh tác phẩm hoặc một bộ phận tác phẩm, trong đó nghĩa và ý nghĩa mỗi từ, mỗi câu được biểu lộ chính xác nhất"
Như vậy, tuỳ từng hoàn cảnh giao tiếp khác nhau mà ta có các hiểu biết tiền giả định về các phát ngôn khác nhau Có thể nói, ngữ cảnh giúp người nghe, người đọc hiểu được một cách sâu sắc các phát ngôn trong cuộc giao tiếp
Chẳng hạn, nếu đột nhiên nghe được câu: "Giờ muộn thế này mà họ
chưa ra nhỉ?", ta sẽ không hiểu câu trên là lời của ai nói với ai, đó là những
Trang 30người như thế nào và có quan hệ với nhau ra sao, câu đó được nói ở đâu, lúc
nào, họ trong câu nói chỉ ai, Vì thế không một ai có thể trả lời được những
câu hỏi trên Nhưng nếu ta đặt câu nói trên vào bối cảnh phát sinh ra nó mà
người đọc biết qua lời kể của tác giả truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) thì
ai cũng có thể trả lời được những câu hỏi trên:
- Câu nói đó là của chị Tí, người bán hàng nước Chị Tí nói với những người bạn nghèo của chị: chị em Liên, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm…
- Chị Tí nói câu đó ở phố huyện nhỏ, vào một buổi tối, trong lúc mọi người đều đang chờ khách
- Họ ở đây là mấy người phu gạo hay phu xe, mấy chú lính lệ…hay vào hàng chị uống nước chè tươi và hút thuốc lào…
Như vậy, ngữ cảnh đã giúp cho người nói (người viết) sản sinh ra lời nói thích ứng, còn người nghe (người đọc) căn cứ vào đó để lĩnh hội được lời nói một cách thấu đáo và sâu sắc nhất
b Các nhân tố thuộc ngữ cảnh
Ngữ cảnh là một tổng thể gồm 5 nhân tố sau:
* Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp
bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Các nhân vật giao tiếp có quan hệ tương tác, đóng vai người nói (người viết), vai người nghe (người đọc) Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan liên
cá nhân Quan hệ của các nhân vật giao tiếp, vị thế của họ so với nhau luôn luôn chi phối nội dung và hình thức của lời nói, câu văn
Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp còn quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp được quy định bởi vị
Trang 31thế xã hội và vị thế giao tiếp Vị thế xã hội cao - thấp, vị thế giao tiếp mạnh - yếu cũng góp nhần chi phối cuộc giao tiếp
* Hoàn cảnh giao tiếp
Trong giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là nhân tố hết sức quan trọng Hoàn cảnh giao tiếp là yếu tố cung cấp cho ta rất nhiều những tri thức tiền giả định
Hoàn cảnh giao tiếp là tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài diễn ngôn Nó chính là trường diễn ra các cuộc giao tiếp, là hiện thực, hiện tại
để quy chiếu trong giao tiếp Nói đến hoàn cảnh giao tiếp là người ta nói đến hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp
- Hoàn cảnh giao tiếp rộng: là toàn bộ những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục, tập quán của một cộng đồng ngôn ngữ, một dân tộc, quốc gia và của thế giới - trường diễn ra hoạt động giao tiếp Nó tạo nên bối cảnh văn hoá của một đơn vị ngôn ngữ, một sản phẩm ngôn ngữ
Đối với văn bản văn học, bối cảnh văn hoá cũng chính là hoàn cảnh sáng tác của cả tác phẩm Nó chi phối cả nội dung và hình thức ngôn ngữ (trong đó có từ, ngữ, câu, đoạn ) của tác phẩm
- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: là nơi chốn, thời gian phát sinh câu nói cùng với những sự việc, hiện tượng xảy ra xung quanh Hoàn cảnh giao tiếp hẹp tạo nên những tình huống của từng câu nói
Đối với giao tiếp ngôn ngữ, tình huống luôn luôn thay đổi Từ đó, quan
hệ giữa các nhân vật giao tiếp, vị thế giao tiếp, tình cảm, cảm xúc của mỗi con người cũng tuỳ tình huống mà thay đổi Tất cả sự thay đổi của tình huống đều chi phối nội dung và hình thức của câu nói
Có thể nói, ngữ cảnh nói chung và hoàn cảnh giao tiếp nói riêng có ảnh hưởng lớn tới việc tạo lập và tri nhận lời nói, đặc biệt là các hành vi ngôn ngữ
Trang 32Nhờ nó, ta hiểu đúng và sử dụng thành thạo và các hành vi ngôn ngữ sao cho đạt được hiệu quả cao
* Đề tài của diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ quy chiếu
Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để trao đổi về đối tượng nào đó Cái được nói đến chính là hiện thực, đề tài của diễn ngôn Thuộc hiện thực - đề tài của diễn ngôn có thể là những cái tồn tại diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ, ngoài diễn ngôn, những cái tâm giới con người hay chính là bản thân ngôn ngữ
Thế giới khả hữu là những dạng thức tồn tại của hiện thực, cùng với thế giới thực tại chúng ta đang sống hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn Đề tài diễn ngôn là một mảng trong thế giới khả hữu được chọn làm hệ quy chiếu cho các diễn ngôn về đề tài đó "Thế giới khả hữu không phải là một nơi chốn mà
là một cách thức có thể tồn tại hay đã từng tồn tại của thế giới Có vô số thế giới khả hữu." (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu)
* Ngữ huống giao tiếp
Tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp là các ngữ huống của cuộc giao tiếp Trong cuộc giao tiếp, ngữ huống giao tiếp có thể thay đổi
* Ngôn cảnh (còn gọi là văn cảnh)
Ngôn cảnh được hiểu là bối cảnh ngôn ngữ đứng trước hoặc sau diễn ngôn, phát ngôn được xem xét Ngôn cảnh là yếu tố trực tiếp giúp cho việc hiểu các phát ngôn được sâu sắc
Như trên đã nói, ngữ cảnh có vai trò quan trọng cả với quá trình tạo lập
và quá trình lĩnh hội lời nói Đối với người nói (người viết) và quá trình sản sinh ra lời nói, câu văn, ngữ cảnh chính là môi trường sản sinh ra lời nói, câu văn Hơn nữa, chính ngữ cảnh để lại dấu ấn trong câu Đây chính là mối quan
hệ giữa môi trường và sản phẩm tạo ra trong môi trường ấy Còn đối với người
Trang 33nghe (người đọc) và quá trình lĩnh hội lời nói, câu văn, muốn lĩnh hội chính xác, có hiệu quả lời nói, câu văn, người nghe (người đọc) cần căn cứ vào ngữ cảnh, phải gắn từ ngữ, câu với ngữ cảnh sử dụng của nó, với từng tình huống
và diễn biến cụ thể để có thể phân tích, tìm hiểu và lý giải thấu đáo, hiểu được cặn kẽ từng chi tiết về nội dung và hình thức Trong giao tiếp trực tiếp, ngữ cảnh không ngừng biến đổi, người nói phải điều chỉnh ngôn ngữ của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Ngữ cảnh cũng có vai trò quan trọng trong việc nhận diện hành vi ngôn ngữ gián tiếp Nó giúp ta hiểu được hàm ý
của câu nói, tức ý nghĩa đích thực mà người nói, người viết muốn đạt đến
1.2.3 Sơ lƣợc về hội thoại
a Khái niệm hội thoại
"Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác" (Đỗ Hữu Châu,
Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, trang 201) Mỗi tình huống giao tiếp khác nhau sẽ có những cuộc thoại khác nhau Các cuộc thoại có thể khác nhau ở các điểm sau:
- Đặc điểm thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra cuộc hội thoại Thoại trường có thể là công cộng (hội nghị, hội thảo ) hoặc riêng tư (trong phòng khách giữa chủ và khách, trong phòng ngủ giữa vợ và chồng ) Thoại trường không phải chỉ có nghĩa không gian, thời gian tuyệt đối mà gắn với khả năng can thiệp của người thứ ba đối với cuộc hội thoại đang diễn ra Thoại trường có ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc hội thoại cả về nội dung và hình thức
- Số lượng người tham gia: số lượng nhân vật hội thoại hay đối tác hội thoại thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba hoặc nhiều hơn nữa
Trang 34- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại: đặc điểm này của hội thoại rất khác nhau tuỳ theo các cuộc hội thoại Sự khác nhau này có thể phụ thuộc vào các yếu tố như tính chủ động hay thụ động của các đối tác,
sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong cuộc hội thoại
- Cuộc thoại khác nhau ở tính có đích và không có đích
- Cuộc thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức
- Vấn đề ngữ vực
b Một số đơn vị hội thoại
Theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ - Pháp, hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị của hội thoại bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Trong 5 đơn vị nói trên, ba đơn vị đầu là những đơn vị lưỡng thoại (do hai thoại nhân tạo nên), hai đơn vị sau là những đơn vị đơn thoại (do một thoại nhân nói ra) Dưới đây là một số đơn vị hội thoại được luận văn sử dụng để xử lý đối tượng nghiên cứu
* Hành vi ngôn ngữ (còn gọi là hành động phát ngôn, hành động ngôn
ngữ) là đơn vị nhỏ nhất của "ngữ pháp hội thoại", là hành động được thực hiện bằng các phát ngôn
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia làm hai nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi Những hành vi có hiệu lực ở lời là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại với nhau Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời thành một tham thoại, người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của anh ta và anh ta có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng (Ví dụ: hỏi/trả lời, cầu khiến/đáp ứng ) Còn những hành vi liên hành vi nằm trong quan hệ giữa các hành vi tạo nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại trong khi các hành vi ở lời có tính chất đối thoại
Trang 35* Cặp thoại (cặp trao đáp) là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại
do các tham thoại tạo nên Với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc hội thoại chính thức được tiến hành Căn cứ vào số lượng các tham thoại người ta phân loại cặp thoại thành: cặp thoại một tham thoại và cặp thoại hai tham thoại
Riêng ở cặp thoại hai tham thoại, tham thoại thứ nhất được gọi là tham
thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai là tham thoại hồi đáp
Ví dụ (13): Sp1: Cậu đã làm bài tập chưa?
Sp2: Tớ làm rồi
Ví dụ trên là một cặp thoại Cặp thoại này gồm hai tham thoại Trong
đó, tham thoại của Sp1 là tham thoại dẫn nhập, tham thoại của Sp2 là tham
thoại hồi đáp
* Đoạn thoại là một đoạn của cuộc thoại do một hoặc một số cặp thoại
liên kết với nhau về đề tài và về đích, có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại đạt đích Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại bao gồm: đoạn thoại mở thoại, thân cuộc thoại và đoạn thoại kết thúc Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc được nghi thức hoá và lệ thuộc rất nhiều yếu tố như: các kiểu cuộc thoại, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích thời gian và hoàn cảnh gặp gỡ, sự hiểu biết về nhau, quan hệ thân thuộc giữa những nhân vật hội thoại Đoạn mở thoại phần lớn mang tính chất đưa đẩy còn đoạn kết thoại có chức năng tổ chức kết thúc cuộc gặp gỡ
1.2.4 Lý thuyết về tiền giả định
a Khái niệm tiền giả định
"Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào nó mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình" (Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, trang 366)
b Đặc điểm của tiền giả định
Tiền giả định có một số đặc điểm sau:
Trang 36- Tiền giả định luôn luôn đúng Tuy nhiên, trong giao tiếp thông thường không phải không có những trường hợp người nói tạo ra một phát ngôn mà ý nghĩa tường minh dựa trên một tiền giả định mang tính bịa đặt Đây là một chiến lược hội thoại, chiến lược gài bẫy tiền giả định
- Tiền giả định ít lệ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp: ở các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, tiền giả định không thay đổi
- Tiền giả định phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ cấu thành phát
ngôn, phải có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh dấu nó
- Ngoài ra, tiền giả định còn có một số tính chất khác như: tính kháng phủ định, tính chất không thể khử bỏ, tính chất bất biến khi phát ngôn thay đổi
về hành vi ngôn ngữ tạo ra nó
c Phân loại tiền giả định
Tiền giả định được chia làm thành nhiều loại như:
- Tiền giả định bách khoa và tiền giả định ngôn ngữ;
- Tiền giả định ngữ dụng và tiền giả định nghĩa học;
- Tiền giả định từ vựng và tiền giả định cú pháp (tiền giả định phi từ vựng)
1.3 Tiểu kết
Chương này chúng tôi đã trình bày những cơ sở lý thuyết của luận văn
Đó là những vấn đề lý thuyết về câu, lý thuyết về ngữ dụng học Đối với lý thuyết về câu, bao gồm: định nghĩa câu, vấn đề phân loại câu theo mục đích nói và giới thiệu sơ lược về câu nghi vấn Còn ở lý thuyết về ngữ dụng học, gồm có: lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, sơ lược về ngữ cảnh, lý thuyết hội thoại và lý thuyết tiền giả định Những vấn đề lý thuyết này là tiền đề quan trọng để chúng tôi nghiên cứu về kiểu câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Qua nghiên cứu, thấy được cái tài sử dụng ngôn từ của nhà văn đã góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật cho các tác phẩm của ông
Trang 37Ngoài ra, luận văn cũng xác định các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Vì vậy, chúng tôi còn dựa vào lý thuyết về phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp của Ngữ pháp học truyền thống Song do đây là những vấn đề lý thuyết quen thuộc nên
chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn trong quá trình xử lý đề tài ở chương 2
Trang 38Chương 2 C©u cã h×nh thøc nghi vÊn trong t¸c phÈm cña
nguyÔn c«ng hoan xÐt vÒ mÆt cÊu t¹o ng÷ ph¸p
Khi tìm hiểu câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, có thể căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại như: Dựa vào cấu tạo ngữ pháp và mối quan hệ giữa các thành phần câu, dựa vào các dấu hiệu đặc thù của câu nghi vấn
2.1 Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
Theo tiêu chí này, có thể chia đối tượng ra thành các loại sau:
- Câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu đơn;
- Câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu phức;
- Câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu ghép
Theo thống kê của chúng tôi, có 1.410 trường hợp (lượt sử dụng) câu
có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Những câu có hình thức nghi vấn này có thể được cấu tạo từ câu đơn, từ câu phức hoặc từ câu ghép Trong đó, câu có hình thức nghi vấn là câu đơn được sử dụng nhiều nhất, với số lượng lên tới 785 lượt, chiếm xấp xỉ 55,7%, tiếp theo là câu ghép với 469 trường hợp, chiếm xấp xỉ 33,3% và câu có hình thức nghi vấn là câu phức được sử dụng ít nhất, chỉ với 156 trường hợp sử dụng, chiếm xấp xỉ 11,1% Dưới đây là bảng thống kê câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được phân loại dựa vào chức vụ ngữ pháp và mối quan hệ giữa các thành phần câu
Trang 39Bảng 2.1 Bảng thống kê câu có hình thức nghi vấn được phân loại dựa vào chức vụ ngữ pháp và mối quan hệ giữa các thành phần câu
đầy đủ thành phần nòng cốt
Câu đơn
bị tỉnh lược thành phần nòng cốt
Câu ghép đẳng lập
Câu ghép chính - phụ Câu
ghép chuỗi
Quan
hệ nguyên nhân- kết quả
Quan
hệ điều kiện-
hệ quả
Quan hệ đối lập
Số lượt 563 222 156 166 86 98 63 56
Tỉ lệ % 39,9 15,7 11,1 11,8 6,1 7 4,5 4
2.1.1 Câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu đơn
Trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu đơn được sử dụng với số lượng lớn Trong tổng số 1.410 lượt
sử dụng câu có hình thức nghi vấn, có tới 785 trường hợp sử dụng thuộc loại câu đơn chiếm xấp xỉ 55,7% Câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu đơn được Nguyễn Công Hoan sử dụng có thể là câu đơn đầy đủ thành phần nòng cốt cũng có thể là câu đơn bị tỉnh lược thành phần nòng cốt Trong số 785 lượt sử dụng câu có hình thức nghi vấn là câu đơn thì có 563 trường hợp là câu đơn có đầy đủ thành phần nòng cốt và 222 lượt sử dụng là câu đơn bị tỉnh lược thành phần nòng cốt
a Câu đơn đầy đủ thành phần nòng cốt
Đây là loại câu có một cụm chủ - vị, còn gọi là câu đơn hai thành phần Trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, câu có hình thức nghi vấn là câu đơn đầy đủ thành phần nòng cốt được nhà văn sử dụng khá phổ biến, như đã
Trang 40nói ở trên có 563 trường hợp sử dụng câu thuộc loại này, chiếm xấp xỉ 39,9% tổng số 1.410 câu nghi vấn được sử dụng Xin dẫn ra đây một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ (1): Nguyệt thở dài, Bắc mở bọc, lấy ra nào rượu bổ, nào sữa bò, nào vú cao su
- Con có cứng cáp không? Mợ có nhiều sữa không?
- Yên cho tôi nằm nghỉ
- Cho tôi bế con một tí, nó giống tôi hay giống mợ?
- Những đứa kia đấy ạ
- Những đứa kia là đứa nào? Anh đừng láo!
[16, 154]
Hai ví dụ trên đều có câu có hình thức nghi vấn có cấu tạo là câu đơn đầy đủ thành phần nòng cốt Ví dụ 1 là cuộc đối thoại giữa Bắc và Nguyệt
trong truyện ngắn Oẳn tà rroằn Bắc là một trong số những người yêu của
Nguyệt, là một trong số những người có thể là cha của đứa con Nguyệt vừa sinh Với mong muốn Nguyệt sinh cho mình chút con để sau này "nó chống gậy, nối dõi tông đường", Bắc đến nhà thương thăm Nguyệt khi cô vừa sinh con Trong cuộc đối thoại, có ba câu nghi vấn đều là phát ngôn của Bắc có
cấu tạo là câu đơn đầy đủ thành phần nòng cốt, đó là: “Con có cứng cáp
không?”, “Mợ có nhiều sữa không?” và “Mợ giận tôi đấy à?” Cả ba câu
đều có mô hình cấu tạo là một cụm chủ - vị duy nhất làm thành nòng cốt câu Câu thứ nhất có chủ ngữ là “con”, vị ngữ là “có cứng cáp không” Câu thứ hai
có chủ ngữ là “mợ”, vị ngữ là “có nhiều sữa không” Còn câu thứ ba có chủ