1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các biện pháp sưu tầm và tích lũy tài liệu cho bài văn nghị luận xã hội ở trung học phổ thông

113 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các biện pháp sưu tầm và tích lũy tài liệu cho bài văn nghị luận xã hội ở trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Hải Đăng
Người hướng dẫn GS.TS Lê A
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 719,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể làm tốt được kĩ năng này đòi hỏi học sinh phải biết phân tích đề, trên cơ sở đó xác định những luận điểm, luận cứ, luận chứng qua việc đặt ra hệ thống các câu hỏi…Với kiểu bài

Trang 1

NGUYỄN HẢI ĐĂNG

CÁC BIỆN PHÁP SƯU TÂM VÀ TÍCH LUỸ TÀI LIỆU

CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Ở

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2011

Trang 2

NguyÔn h¶i ®¨ng

CÁC BIỆN PHÁP SƯU TÂM VÀ TÍCH LUỸ TÀI LIỆU

CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Ở

NGUYỄN HẢI ĐĂNG

CÁC BIỆN PHÁP SƯU TÂM VÀ TÍCH LUỸ TÀI LIỆU

CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Ở

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê A

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến:

- Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên

- Quý thầy cô Khoa Giáo Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS TS

Lê A, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này

Nguyễn Hải Đăng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Đăng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: TÀI LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VĂN NÓI CHUNG VÀ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NÓI RIÊNG 8

1.1Khái niệm về văn nghị luận xã hội và tài liệu trong quá trình làm văn NLXH 8

1.1.1 Khái niệm văn nghị luận xã hội 8

1.1.2 Khái niệm tài liệu trong làm văn nghị luận xã hội 9

1.2Vị trí của việc thu thập, tích luỹ, sắp xếp và xử lý tài liệu trong quá trình làm văn NLXH 11

1.2.1 Sự cần thiết, tầm quan trọng của việc huy động kiến thức, tập hợp tài liệu 11

1.2.2 Vị trí của việc sưu tầm, tích luỹ tài liệu trong quá trình làm văn 13

1.3Thực trạng số lượng, chất lượng tài liệu, ý thức, biện pháp thu thập tài liệu của học sinh 14

1.3.1 Khảo sát thực trạng 14

1.3.2 Nhận xét kết quả khảo sát 19

1.3.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 21

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC RÈN LUYỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP THU THẬP, TÍCH LUỸ, SẮP XẾP VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU CHO HỌC SINH 24

2.1 Rèn luyện cách thu thập tài liệu cho học sinh 24

Trang 6

2.1.1 Xác định cho học sinh nguồn thu thập tài liệu khi làm kiểu bài nghị

luận xã hội 24

2.1.2 Phạm vi nội dung tài liệu 27

2.1.3 Cách ghi chép 30

2.2 Rèn luyện một số biện pháp sắp xếp tài liệu 32

2.2.1 Một số biện pháp rèn luyện khả năng sắp xếp tài liệu 32

2.2.2 Bảng sắp xếp tài liệu 34

2.3 Rèn luyện kĩ năng sử dụng tài liệu 45

2.3.1 Một số biện pháp sử dụng tài liệu trong làm văn NLXH 45

2.3.2 Một số đề NLXH để học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng tài liệu 47

CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 81

3.1 Mục đích thể nghiệm 81

3.2 Phương pháp thể nghiệm 81

3.3 Nội dung và kế hoạch thể nghiệm 81

3.3.1 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm 81

3.3.2 Thiết kế giáo án thể nghiệm 83

3.4 Kết quả thể nghiệm 97

3.4.1 Bảng thống kê kết quả thể nghiệm 97

3.4.2 Phân tích kết quả thể nghiệm 98

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh NLXH : Nghị luận xã hội NXB : Nhà xuất bản

SGK : Sách giáo khoa

SGV : Sách giáo viên

THPT : Trung học phổ thông

Trang 8

ý quyết định hướng đi cho bài viết để từ đó người viết có thể định hình được phạm vi kiến thức cần huy động, các thao tác cần sử dụng, phân phối được

khâu mà học sinh gặp nhiều khó khăn nhất Đối với kiểu bài nghị luận văn học, việc tìm ý của học sinh có phần thuận lợi hơn bởi đó đều là những tác phẩm các em đã được học ở trên lớp; từ nội dung bài học các em có thể xây dựng cho mình hệ thống ý phù hợp với yêu cầu của đề bài đưa ra Trong khi

đó, với kiểu bài nghị luận xã hội việc tìm ý cho bài viết là khó khăn hơn nhiều bởi các em không biết lấy tư liệu từ đâu để lập ý Hơn thế nữa, với cùng một hiện tượng xã hội, cùng một tư tưởng đạo đức mỗi người lại có ý kiến đánh giá không giống nhau, thậm chí là trái ngược nhau Chính sự phức tạp ấy là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc lập ý của học sinh trong kiểu bài này gặp nhiều khó khăn hơn Nói như vậy nhưng không có nghĩa là trước một vấn đề cần nghị luận học sinh muốn nói gì thì nói; việc cảm nhận, lí giải, đánh giá của mỗi cá nhân cũng phải tuân theo những quy chuẩn nhất định, mỗi ý đưa ra đều phải có lý và đủ sức thuyết phục Điều đó cho thấy để tìm ý cho kiểu bài nghị luận xã hội ngoài việc phải trang bị cho học sinh những kĩ năng

Trang 9

cơ bản để lập ý thì việc xây dựng cho học sinh ý thức cũng như thói quen sưu tầm và tích luỹ tài liệu là rất cần thiết

2 Để lập ý cho bài văn thì tài liệu là một trong những điều kiện tiên quyết nhất Trên thực tế, khi đứng trước một đề văn, để có thể lập ý cho bài viết thì trước hết học sinh phải đọc kĩ đề, xác định vấn đề trọng tâm mà bài nghị luận yêu cầu Để có thể làm tốt được kĩ năng này đòi hỏi học sinh phải biết phân tích đề, trên cơ sở đó xác định những luận điểm, luận cứ, luận chứng qua việc đặt ra hệ thống các câu hỏi…Với kiểu bài nghị luận xã hội, việc lập ý còn thông qua mô hình ý áp dụng cho từng kiểu bài( nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một tư tưởng đạo đức) Tuy nhiên, dù

có thông qua bất cứ con đường nào thì cuối cùng học sinh cũng cần đến nguồn tài liệu để lập ý cho bài viết của mình Với kiểu bài nghị luận văn học thì tài liệu để học sinh lập ý chính là nội dung các tác phẩm các em được học trên lớp, là nhũng hiểu biết về tác giả, về thời đại, về những kiến thức lí luận…Trong khi đó, với kiểu bài nghị luận xã hội thì tài liệu để học sinh lập ý lại phong phú và rộng lớn hơn nhiều Đó không chỉ là những kiến thức được học ở trên lớp mà chủ yếu là những gì các em thu nhận được từ thực tế cuộc sống bằng chính sự trải nghiệm của bản thân Nói như vậy có nghĩa là những vấn đề của đời sống xã hội chính là nguồn tài liệu chủ yếu để học sinh lập ý cho bài văn Từ đặc điểm này tạo nên đặc trưng rất riêng, mới lạ và hấp dẫn của văn NLXH, nhưng đồng thời cũng gây nên những khó khăn không nhỏ với học sinh nếu không biết cách học văn NLXH một cách có hiệu quả

3 Trên thực tế, nguồn tư liệu để lập ý cho bài văn nghị luận xã hội của học sinh lại rất nghèo nàn Đứng trước một đề văn nghị luận xã hội học sinh thường lúng túng vì không biết lấy tài liệu ở đâu để làm cơ sở cho việc lập ý Điều đó làm tâm lý đại đa số học sinh đều rất ngại khi viết kiểu bài này,và chất lượng bài viết của các em cũng không cao Sự nghèo nàn về nguồn tài

Trang 10

liệu dẫn đến hệ quả tất yếu là bài viết của học sinh thường thiếu ý, ý trùng lặp, thiếu tính thuyết phục Đó là một thực tế đáng buồn, nó không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh mà còn ảnh hưởng đến hành trang cuộc sống sau này của các em

Một trong những nguyên nhân dẫn đến nguồn tài liệu nghèo nàn của học sinh khi làm kiểu bài này chính là việc các em bàng quan với những vấn

đề của cuộc sống, các em không được giáo dục những kĩ năng sống cần thiết, không biết tự đánh giá những gì diễn ra quanh mình Chính việc không được

tự mình trải nghiệm thực tế cuộc sống nên những gì học sinh tích luỹ được là rất hạn chế Hơn thế nữa, các em thường không tạo ra cho mình thói quen thu nhận và tích luỹ thông tin

Từ thực tế ấy cho thấy để nâng cao chất lượng cho kiểu bài nghị luận

xã hội thì cần phải làm phong phú hơn nguồn tư liệu của học sinh

4 Cả giáo viên lẫn học sinh chỉ quen với làm nghị luận văn học nên đều rất lúng túng về xác định nguồn, cách tìm tài liệu cho bài văn nghị luận xã

hội Nghị luận văn học chiếm một vị trí chủ yếu trong chương trình học, trong

các kì thi của học sinh Các tác phẩm văn học được cả giáo viên và học sinh tập chung nhiều thời gian và công sức tìm hiểu, khai thác và trở thành một nguồn tài liệu chính trong các bài văn nghị luận văn học Do được trang bị hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về các tác phẩm văn học nên học sinh có thể biến những tri thức ấy trở thành nguồn tài liệu phục vụ cho các bài văn của mình một cách dễ dàng Ngược lại, NLXH thường không được giáo viên và học sinh quan tâm chú trọng vì nhiều những lí do khác nhau Nội dung nghị luận trong các bài văn NLXH là những vấn đề rộng lớn, muôn màu của đời sống xã hội nên không thể đưa vào dạy tất cả cho học sinh trong chương trình học Vì vậy, khi làm văn NLXH học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định nguồn tìm kiếm tài liệu, cách tìm tài liệu như thế nào Để giải quyết

Trang 11

được vấn đề này cần cung cấp cho học sinh phương pháp tìm kiếm, nguồn tìm kiếm tài liệu một cách có hiệu quả để từ đó các em có thể tự mình trau dồi, tích luỹ những tri thức từ thực tiễn cuộc sống bằng sự tìm tòi của chính bản thân Giải quyết được nguồn tìm kiếm, cách thức tìm kiếm tài liệu chắc chắn

sẽ là một con đường hiệu quả để học sinh học và làm văn NLXH đạt kết quả cao hơn

II Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy và học văn NLXH ở trường THPT (trong đó chú trọng đến những biện pháp sưu tầm và sử dụng tài liệu cho bài văn NLXH của học sinh)

1) Đình Cao, Lê A (1989), Giáo trình làm văn, NXBGD, Hà Nội 2) Đỗ Ngọc Thống (1996), Rèn luyện kĩ năng lập ý cho bài văn nghị luận xã hội của học sinh THPT, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội

Các tài liệu trên, đặc biệt là tài liệu (2) đi sâu vào kĩ năng lập ý (trong

đó có vấn đề sưu tầm tài liệu); song ít chú ý đến công việc sưu tầm tài liệu và lại chỉ bàn đến nghị luận văn học Tài liệu (1) có một chương nói về việc huy

Trang 12

động dẫn chứng, tập hợp tài liệu, nhưng cũng chủ yếu bàn về nghị luận văn học Tuy nhiên, qua các tài liệu trên có thể tiếp thu được nhiều bài học bổ ích

có tính chất phương pháp luận cũng như những tài liệu có tính thực tiễn

(3) Lê A (chủ biên), (2009), Thực hành làm văn,NXBGD, Hà Nội (4) Lê A, Nguyễn Thị Ngân Hoa (đồng chủ biên), (2009), Các dạng đề

và hướng dẫn làm kiểu bài nghị luận xã hội, NXBGD Việt Nam

Các tài liệu trên thiên về luyện giải một số kiểu đề chứ không trực tiếp bàn đến việc sưu tầm và xử lí tài liệu Tuy nhiên, qua hệ thống đề, bài tập đưa

ra và các dẫn chứng ta cũng có thể hình dung được các loại tài liệu cần tìm kiếm và cách sắp xếp chúng như thế nào

(5) Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), (2010), Dạy và học nghị luận xã hội,NXBGD, Hà Nội

Tài liệu trên ngoài việc cung cấp những hiểu biết chung về văn nghị luận xã hội (yêu cầu của một bài nghị luận xã hội; các dạng đề nghị luận xã hội chính và cách làm bài), thì chủ yếu là luyện tập kĩ năng lập ý thông qua hệ thống đề luyện tập

(6) Các tài liệu luyện thi: hiện nay xuất hiện khá nhiều những tài liệu luyện thi về văn NLXH, các tài liệu này chủ yếu đi vào lập dàn ý cho từng đề

cụ thể, bên cạnh đó là những bài viết cho học sinh làm tài liệu tham khảo Qua những dàn ý, bài viết có thể tìm thấy những nguồn tài liệu giúp cho việc thu thập và tích luỹ

IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1 Mục đích nghiên cứu

Luyện cho học sinh có ý thức, thói quen cũng như biết nguồn tìm kiếm, cách thức tìm kiếm và sử dụng tài liệu cho kiểu bài NLXH

Trang 13

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Điều tra thực trạng chất lượng các bài văn của học sinh về mặt nội

dung, về ý thức và khả năng thu thập tài liệu của học sinh

- Hình thành ý thức, biện pháp thu thập, sắp xếp và sử dụng tài liệu cho học sinh

- Thể nghiệm sư phạm để đánh giá giải pháp được đề xuất

V Phương pháp nghiên cứu

1 Đọc, tổng hợp tài liệu: Chúng tôi tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp

những tài liệu liên quan đến đề tài để có những kiến thức phương pháp luận cũng như những tài liệu thực tiễn phục vụ cho công tác nghiên cứu

2 Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy và

học nghị luận xã hội ở THPT; lập phiếu điều tra; nghiên cứu bài viết của học sinh

để từ đó có những đánh giá bước đầu về thực trạng dạy học văn NLXH

3 Phương pháp thể nghiệm sư phạm: Chúng tôi tiến hành soạn giáo

án thể nghiệm về các tiết dạy văn NLXH để đánh giá giải pháp được đề xuất

VI Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tài liệu trong quá trình làm văn nói chung và làm văn nghị luận xã hội nói riêng

Trong chương này, chúng tôi đi vào xác lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc giải quyết nội dung luận văn Về cơ sở lý thuyết chúng tôi tìm hiểu các nội dung: khái niệm về văn NLXH, tài liệu trong quá trình làm văn NLXH; vị trí của việc thu thập, tích luỹ, sắp xếp và sử dụng tài liệu trong quá trình làm văn NLXH Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng số lượng, chất lượng tài liệu, ý thức, biện pháp thu thập tài liệu của học sinh và bước đầu có những đánh giá về kết quả, tìm ra nguyên nhân cũng như

đề xuất những giải pháp

Trang 14

Chương 2: Tổ chức rèn luyện một số biện pháp thu thập, tích luỹ và sử dụng tài liệu cho học sinh

Trong chương này, chúng tôi chia ra thành ba mục chính và lần lượt giải quyết những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chúng tôi rèn luyện cho học sinh cách thu thập tài liệu qua việc xác định cho học sinh nguồn thu thập tài liệu; xác định phạm vi nội dung tài liệu; chỉ ra những cách ghi chép chủ yếu khi sưu tầm, tích luỹ tài liệu

Thứ hai, rèn luyện cho học sinh một số cách sắp xếp tài liệu thông qua việc qua hệ thống một số bài tập; bước đầu giúp các em tự tạo lập cho mình bảng sắp xếp các tài liệu thu thập được theo từng chủ đề

Thứ ba, rèn luyện cho học sinh biết cách sử dụng tài liệu một cách có hiệu quả thông qua việc xác lập các biện pháp sử dụng tài liệu và thực hành của học sinh qua một số dạng bài tập

Chương 3: Chúng tôi tiến hành thể nghiệm sư phạm để đánh giá những giải pháp được đề xuất

Trang 15

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TÀI LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VĂN NÓI CHUNG

VÀ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NÓI RIÊNG 1.1 Khái niệm về văn nghị luận xã hội và tài liệu trong quá trình làm văn NLXH

1.1.1 Khái niệm văn nghị luận xã hội

Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, “nghị luận” là dùng lí luận để phân

tích ý nghĩa phải trái, bàn bạc, mở rộng vấn đề Còn “xã hội” trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan

hệ khác Cũng có thể hiểu “xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người

và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ…

Từ đó có thể hiểu nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối qua hệ giữa người với người trong xã hội [32, 5]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, Lê A thì: NLXH lấy đề tài từ các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ các đúng-sai, tốt -xấu, phải-trái của vấn đề được nêu ra Nội dung ấy thường được cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một lời nhận xét khái quát nào đấy Các vấn đề đặt ra trong NLXH thường rất rộng: là những quan niệm đối nhân xử thế, cách sống hay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa con người với con người Có thể vấn đề đặt ra cũng có thể rất hẹp như: nên tập thể dục buổi sáng như thế nào; học sinh cần đi học đúng giờ…

SGK Làm văn 10 cho rằng: NLXH bàn đến mối quan hệ giữa con người với con người Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống

Trang 16

tinh thần của bản thân mình và xây dựng cho mối quan hệ trong xã hội, trong cộng đồng mỗi ngày một văn minh, tốt đẹp hơn [9]

Tựu chung lại, NLXH là dùng lí lẽ, dẫn chứng bàn bạc về các vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức để chỉ ra các mặt phải – trái, đúng –sai, tốt - xấu của những vấn đề ấy Những vấn đề tư tưởng đạo đức, hiện tượng đời sống vô cùng phong phú, đa dạng, nhưng trong khuôn khổ nhà trường THPT, với đặc thù tâm lí lứa tuổi học sinh nên vấn đề NLXH thường gần gũi với cuộc sống của giới trẻ NLXH trong nhà trường phổ thông có 3 dạng chính:

+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống

+ Nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

Trong bài văn nghị luận xã hội học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau: + Làm văn NLXH đòi hỏi người viết phải bày tỏ được quan điểm, tư tưởng của mình

+ Học sinh phải đảm bảo các kĩ năng nghị luận nói chung

+ Phải đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội

1.1.2 Khái niệm tài liệu trong làm văn nghị luận xã hội

Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê thì: tài liệu là dữ liệu, tin tức giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì [29]

Còn theo “Từ điển Hán Việt” của Đào Duy Anh thì: tài liệu là nguyên liệu để làm việc [5]

Từ những khái niệm có tính chất phương pháp luận trên có thể hiểu tài liệu trong quá trình làm văn nghị luận nói chung và văn NLXH nói riêng chính là những dữ liệu, tin tức giúp cho việc giải quyết vấn đề cần nghị luận

Mà vấn đề cần nghị luận trong đề văn NLXH thường là những hiện tượng xã hội, tư tưởng đạo đức đang được cả xã hội quan tâm hiện nay, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh

Trang 17

Tài liệu trong kiểu bài nghị luận xã hội chính là những số liệu, sự kiện, câu chuyện, những nhận xét, ý kiến, quan niệm…về các vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội Việc đưa được những tài liệu như vậy vào bài viết sẽ làm bài văn trở nên sinh động và giàu sức thuyết phục hơn

Ví dụ 1:

- Số liệu về nạn chặt phá rừng: Với điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lí của Việt Nam thì rừng tự nhiên phải chiếm tới 50% tổng diện tích lãnh thổ Tuy nhiên, hiện nay rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn che phủ khoảng 9% diện tích lãnh thổ

Thống kê của Cục kiểm lâm thì: đầu tháng 9/2010 cả nước có 1.553,68

ha rừng bị chặt phá, và 5.364,85 ha rừng bị cháy

- Số liệu về thực trạng người nhiễm và chết vì AIDS: Ở Việt Nam, tính đến năm 2008 có khoảng 135171 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 29134 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS AIDS đã cướp đi sinh mạng của 41418 người

Ví dụ 2: Khi nghị luận về lối sống đơn giản của thanh niên trong thời đại mới, trong bài viết đưa ra những câu chuyện thực tiễn thì bài viết chắc chắn sẽ sinh động và thuyết phục hơn Chẳng hạn như mẩu truyện sau:

Có ông lão hàng ngày đem cá ra chợ bán Chiều ông ở nhà chơi với

vợ con Có ông giáo sư kinh tế thấy vậy khuyên ông lão:

- Sao ông không đánh cá nhiều hơn và đem bán cho các cử hànglớn? Ông sẽ có nhiều tiền

-Thế rồi sao( ông lão hỏi)?

- Ông sẽ giàu và thành tỷ phú không chừng

- Rồi sao nữa (ông lão hỏi tiếp)?

- Ông sẽ không phải làm và có nhiều thời gian để chơi với vợ con

- Ông lão mỉm cười nói:

Trang 18

- Tôi già rồi Tôi sẽ chỉ sống bình yên như bây giờ thôi thay vì trở thành tỉ phú hay giáo sư như ông

Ví dụ 3: Trong bài viết mà học sinh có thể kết hợp đưa được những nhận xét, ý kiến, quan niệm đáng tin cậy vào thì giá trị nghị luận sẽ tăng lên đáng kể Chẳng hạn:

-“Điều quan trọng không phải chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào ?” (J Bô-ry Sen-kô)

- “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và

họ Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.”(Cô-phi An-nan)

- “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống”(Noóc- man Ku-sin)…

Dẫn chứng trong làm văn NLXH từ thực tiễn đời sống vô cùng giàu có

và sinh động, điều quan trọng là học sinh phải biết chắt lọc, kết hợp các loại dẫn chứng khác nhau để bài viết giàu sức thuyết phục hơn

1.2 Vị trí của việc thu thập, tích luỹ, sắp xếp và xử lý tài liệu trong quá trình làm văn NLXH

1.2.1 Sự cần thiết, tầm quan trọng của việc huy động kiến thức, tập hợp tài liệu

Trong “Giáo trình làm văn” các tác giả Đình Cao, Lê A khẳng định:

“Có hệ thống luận điểm như cây cột sống của bài làm rồi, cần phải có kiến thức, tài liệu cụ thể bổ sung và làm phong phú cho luận điểm, phát triển luận điểm bằng các luận cứ, luận chứng để dựng nên một dàn ý - kết cấu là toàn bộ xương của bài làm Sau khi hình thành bộ xương, kiến thức và tài liệu sẽ như tim - phổi, cơ bắp, máu thịt, là chất liệu cần thiết bồi đắp vào, để từ bộ xương này sáng tạo nên một cơ thể sống động là bài văn hoàn chỉnh [18, 179-180]

Nói như vậy có nghĩa là hệ thống luận điểm mới chỉ là những nhận

Trang 19

những kiến thức, những tài liệu cụ thể Có hệ thống luận điểm đầy đủ không

có nghĩa rằng bài viết ấy đã hay và đủ sức thuyết phục; những luận điểm ấy cần phải tiếp tục được triển khai thành những luận cứ cụ thể “Một bài văn nghị luận, dù chứa đựng một một hệ thống luận điểm đầy đặn, hoàn chỉnh vẫn

có thể là một bài làm sơ lược, khô xác, nghèo nàn vì thiếu những ý cụ thể phong phú, sinh động, sắc sảo, tức là thiếu những luận cứ, luận chứng cần

hợp, huy động tài liệu chứa đựng những kiến thức cần thiết mình đã tích luỹ được để phục vụ cho yêu cầu của bài viết

Như vậy, dù là NLVH hay NLXH thì việc huy động kiến thức, tập hợp tài liệu luôn có một tầm quan trọng đặc biệt, góp phần xây dựng luận điểm, làm cho luận điểm trở nên sinh động và thuyết phục hơn

Ví dụ: Với đề văn “An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người”

Có 2 đoạn văn nghị luận về hậu quả của tai nạn giao thông như sau:

+ Đoạn 1: Theo thống kê, năm 2002, cả nước có 13000 nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông Thống kê mới nhất của Ngân hàng Thế giới –

theo báo điện tử Vietnamnet ngày 18 tháng 4 năm 2007 – hàng năm Việt Nam

thiệt hại khoảng 850 triệu đô la do tai nạn giao thông, tổn thất kinh tế đó chiếm 0,5% tổng sản lượng quốc gia Điều đáng suy nghĩ là thanh thiếu niên

độ tuổi từ 15 đến 25 chiếm 20% dân số Việt Nam nhưng lại chiếm đến 40%

số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng

+ Đoạn 2: Theo những thống kê gần đây, Việt Nam xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông và để lại hậu quả nặng nề về người cũng như tài sản, gây tổn thất cho nền kinh tế đất nước Đáng lưu ý là số thanh niên độ tuổi từ 15 đến

25 chiếm một số lượng lớn những vụ tai nạn giao thông

So sánh 2 đoạn văn trên thì rõ ràng đoạn văn thứ nhất thuyết phục hơn hẳn đoạn văn thứ hai bởi: Trong đoạn văn thứ nhất người viết đưa được

Trang 20

những dẫn chứng cụ thể về hậu quả của tai nạn giao thông bằng những số liệu thống kê Khi đọc đoạn văn này người đọc thấy được ý kiến trở nên xác đáng, đúng đắn và thuyết phục hơn Ngược lại, đoạn văn thứ hai lại không sử dụng một dẫn chứng cụ thể nào mà chỉ dừng lại ở những nhận xét chung chung nên không tạo được sự tin tưởng của người đọc và tất yếu tính thuyết phục của đoạn nghị luận sẽ giảm đi rất nhiều

1.2.2 Vị trí của việc sưu tầm, tích luỹ tài liệu trong quá trình làm văn

Như đã trình bày, quá trình làm văn có những kĩ năng cơ bản sau: kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết; kĩ năng tìm ý và lập dàn ý; kĩ năng diễn đạt, trình bày; kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết.Vậy thì việc thu thập kiến thức, tập hợp tài liệu nằm ở quá trình nào? Theo “Giáo trình làm văn” của Đình Cao, Lê A thì: Việc huy động kiến thức, tập hợp tài liệu không phải chỉ thực hiện sau khi người làm bài xây dựng được hệ thống luận điểm hay lập xong dàn ý - kết cấu Ngay từ đầu, mới thoạt đọc đề bài và suy nghĩ

để nhận thức đề, ta đã phải liên hệ với vốn kiến thức đã có, dựa trên cái nền hiểu biết nhiều mặt của mình để phân tích, nhận hiểu đề Tiếp đó khi tạo dựng

hệ thống luận điểm, lập nên dàn ý, kết cấu, rồi dựa trên dàn ý - kết cấu mà thể hiện nội dung của bài thành lời văn cụ thể, sinh động, có sức sống ( hiện thực hoá chương trình) ta luôn phải phát huy, vận dụng vốn kiến thức và khai thác khối lượng tài liệu đã tích luỹ được Nghĩa là, việc huy động kiến thức, tập hợp tài liệu không nằm gọn trong một giai đoạn nhất định nào của quy trình tạo văn bản mà là một kĩ năng luôn luôn phải vận dụng trong suốt quá trình (

từ khâu phân tích đề cho đến khâu kiểm tra lại bài viết); đây là cái nền chung trên cơ sở đó bài văn được sáng tạo, nảy nở [18, 180]

Tuy vậy, tài liệu là cơ sở cho việc lập ý, được huy động và sử dụng chủ yếu trong quá trình tìm ý và lập dàn ý

Trang 21

1.3 Thực trạng số lƣợng, chất lƣợng tài liệu, ý thức, biện pháp thu thập tài liệu của học sinh

1.3.1 Khảo sát thực trạng

1.3.1.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát

Để nắm được thực trạng số lượng, chất lượng, ý thức, biện pháp thu thập tài liệu của học sinh chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh của 2 trường THPT Hiệp Hoà 1 và THPT Hiệp Hoà 4 (tổng số học sinh khảo sát là 93 học sinh);tại huyện Hiệp Hoà- Bắc Giang; thời gian từ tháng 9/2010 đến 5/2011

1.3.1.2 Mục đích khảo sát

Thông qua việc khảo sát đánh giá được số lượng, chất lượng, ý thức cũng như biện pháp thu thập tài liệu của học sinh, từ đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu thập, tích luỹ tài liệu cho học sinh

1.3.1.3 Nội dung khảo sát

- Về phía HS: Chúng tôi tiến hành khảo sát ý thức sưu tầm tài liệu; biện pháp sưu tầm và sử dụng tài liệu khi làm bài văn NLXH; khảo sát kết quả bài viết của học sinh

- Về phái GV: Chúng tôi khảo sát GV về nhận thức vai trò của tài liệu, những biện pháp hướng dẫn học sinh sưu tầm và sử dụng tài liệu

1.3.1.4 Phương pháp khảo sát

Chúng tôi sử dụng các phương pháp khảo sát sau:

+ Sử dụng phiếu điều tra

+ Nghiên cứu kết quả bài viết của học sinh

+ Hình thức trao đổi, phỏng vấn trực tiếp

+ Phương pháp thống kê: xử lí kết quả sau khi thu nhận được

Trang 22

Phiếu khảo sát học sinh

Câu 1: Trong làm văn em thấy khó nhất cái gì?

d) Qua kinh nghiệm của bản thân

Câu 3: Em có thường xuyên tích luỹ tư liệu hay không?

a) Không có ý thức tích luỹ

b) Không thường xuyên tích luỹ

c) Thường xuyên tích luỹ

Câu 4: Em sử dụng những biện pháp chủ yếu nào để tích luỹ tài liệu?

a) Đọc

b) Ghi nhớ

c) Ghi chép và ghi nhớ

d) Tất cả các phương án trên

Trang 23

Phiếu thăn dò ý kiến giáo viên

(Khảo sát trên 7 giáo viên của trường THPT Hiệp Hoà 1)

Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học văn NLXH xin đồng chí vui lòng cho biết ý kiến về các vấn đề sau đây.( Đánh dấu x vào những câu mà các đồng chí trả lời)

Câu 1: Đồng chí nhận thức như thế nào về vai trò của tài liệu trong dạy học văn NLXH?

a)Không quan trọng

b)Rất quan trọng

Câu 2: Đồng chí có quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh tích luỹ tài liệu hay không?

a)Không quan tâm

b)Không thường xuyên

c)Thường xuyên hướng dẫn học sinh tích luỹ tài liệu

Câu 3: Đồng chí hướng dẫn học sinh tích luỹ tài liệu như thế nào? a) Không hướng dẫn

b) Nhắc nhở học sinh về nhà đọc tài liệu một cách chung chung c) Chỉ ra nguồn thu thập, cách thức thu thập tài liệu để học sinh tự tích luỹ

Câu 4: Xin đồng chí cho biết ý kiến của mình về việc làm như thế nào

để học sinh tích luỹ được nhiều tài liệu hơn khi làm văn NLXH?

Trang 24

1.3.1.5 Kết quả khảo sát

* Về phía học sinh:

Qua điều tra phiếu thu được kết quả như sau:

Trang 25

Qua nghiên cứu bài viết của học sinh thu được kết quả:

Không tiêu biểu

Tiêu biểu

Hiệp

0 (0)

29 (61,7)

18 (38,3)

31 (65,9)

16 (34,1)

* Về phía giáo viên:

Trang 26

1.3.2 Nhận xét kết quả khảo sát

Qua kết quả khảo sát thu được có thể nhận thấy:

- Giáo viên đã bước đầu hiểu được tầm quan trọng của việc thu thập và tích luỹ tài liệu trong dạy và học văn NLXH Tuy nhiên, giáo viên chưa biết cách hướng dẫn học sinh thu thập như thế nào cho hiệu quả, chưa có những định hướng cụ thể để các em có phương pháp, cách thức thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Chính những hạn chế đó làm cho cả giáo viên và học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi dạy và học kiểu bài này

- Học sinh gặp nhiều khó khăn khi phải làm kiểu bài NLXH và kết quả bài viết của học sinh rất hạn chế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên và một trong những nguyên nhân là do số lượng, chất lượng, ý thức,biện pháp thu thập tài liệu của học sinh khi làm kiểu bài này là rất hạn chế Cụ thể:

* Về số lượng, chất lượng tài liệu:

Học sinh thường rất ngại làm kiểu bài này bởi các em không có nhiều tài liệu tham khảo ở trong tay Hơn thế nữa, nhiều vấn đề nghị luận lại rất mới

và học sinh không có bất cứ thông tin gì về vấn đề đó Không có những tài liệu tham khảo, không được tiếp cận với thông tin từ những nguồn tài liệu khác, thêm vào đó là sự bàng quan với các vấn đề của cuộc sống khiến học sinh gặp nhiều lúng túng khi đứng trước một đề văn nghị luận xã hội Học sinh không biết lấy tài liệu từ đâu để lập ý Ngay cả khi có luận điểm, do hạn chế về số lượng tài liệu nên các em cũng không thể đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ cho luận điểm ấy

Chẳng hạn như với đề bài: “Làm gì để góp phần giảm tai nạn giao thông?”

- Luận điểm 1: Tai nạn giao thông là hiện tượng phổ biến hiện nay ở nước ta

+ Số vụ tai nạn giao thông nhiều và đang ngày càng gia tăng

Trang 27

+ TNGT diễn ra hàng ngày, hàng giờ, xảy ra với mọi loại phương tiện

và với mọi đối tượng tham gia giao thông

- Luận điểm 2: Tai nạn giao thông gây ra những hậu quả nghiêm trọng + Thiệt hại lớn về người và của, để lại thương tật vĩnh viễn cho các cá nhân và hậu quả nặng nề cho cả cộng đồng

+ Gây đau đớn, mất mát cho người thân, xã hội

- Luận điểm 3: Tai nạn giao thông có nhiều nguyên nhân

+ Ý thức tham gia giao thông của người dân còn hạn chế

+ Thiếu hiểu biết về các quy định an toàn giao thông

Chất lượng những tài liệu thể hiện trong bài viết của học sinh cũng là vấn đề cần phải quan tâm Do không được trang bị những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong việc lựa chọn và tiếp nhận kiến thức từ những tài liệu nên không ít bài viết của học sinh những dẫn chứng đưa ra thiếu đi tính thuyết phục Học sinh không biết chắt lọc những thông tin từ tài liệu cũng là thực trạng khá phổ biến Trước một tài liệu có lượng thông tin quá lớn học sinh thường không biết tóm lược những thông tin nào là cơ bản Một thực tế phổ

Trang 28

biến là bài văn NLXH thường thiếu những luận chứng đủ sức thuyết phục để làm sáng tỏ cho luận điểm Mặt khác, khi đưa ra luận chứng học sinh thường không kèm theo những bình luận đánh giá xác đáng, không gắn với luận điểm

và không có tác dụng làm sáng tỏ cho luận điểm

* Về ý thức, biện pháp thu thập tài liệu:

Về cơ bản, đại đa số học sinh chưa có ý thức và biện pháp sưu tầm, tích luỹ tài liệu Việc tích luỹ của học sinh thường chỉ dừng lại ở việc nghe mà không có sự ghi chép một cách có hệ thống, điều đó làm cho những tư liệu không được lưu lại chính xác và khoa học

1.3.3 Nguyên nhân của thực trạng trên

Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới việc thu thập, tích luỹ tài liệu của học sinh còn rất hạn chế; sau đây là một vài nguyên nhân chủ yếu:

* Thứ 1: Học sinh yếu về kĩ năng làm văn: Trong làm văn nghị luận có

những kĩ năng cơ bản là: Kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề; kĩ năng lập ý và lập dàn ý; kĩ năng diễn đạt trình bày; kĩ năng kiểm tra hoàn chỉnh bài viết Từ kết quả khảo sát bài viết có thể thấy học sinh yếu ở tất cả những kĩ năng này

+ Khâu tìm hiểu, phân tích đề thường không được học sinh chú ý Học sinh thường có thói quen không đọc và phân tích kĩ đề, vì vậy có những bài viết không đi đúng trọng tâm vấn đề cần nghị luận

+ Khâu tìm ý và lập dàn ý không được học sinh chú ý Khi đọc đề các

em thường không lập dàn ý mà trực tiếp bắt tay vào viết bài, dẫn đến bài viết thường thiếu ý và hệ thống ý cũng thiếu tính lôgic Có khi đó chỉ là những dàn

ý được lập một cách hết sức sơ sài, đến khi viết bài bất chợt các em tìm ra một ý mới và đưa vào bài viết, điều này làm cho mạch tư duy bị ngắt quãng, vấn đề nghị luận thiếu đi tính thuyết phục Một khó khăn mà học sinh thường gặp phải khi tìm ý cho bài nghị luận xã hội là sự nghèo nàn về tài liệu Có

Trang 29

những đề văn, các em không có bất cứ thông tin nào về vấn đề mình đang nghị luận

+ Khâu tìm hiểu đề, phân tích đề; tìm ý và xây dựng dàn ý cho bài văn

đã yếu thì hệ quả tất yếu là khả năng diễn đạt, trình bày của các em cung bị hạn chế Học sinh không biết phải viết các gì, không biết sử dụng ngôn từ nào

là chính xác và phù hợp nhất Vì vậy các bài NLXH của học sinh thường rất thiếu chất văn, ngôn từ không làm nổi bật được yêu cầu cơ bản nhất của một bài NLXH là yếu tố tư duy và cảm xúc

+Viết xong mà không đọc lại bài cũng là một yếu tố dẫn đến bài viết của học sinh còn tồn tại rất nhiều hạn chế

* Thứ 2: Học sinh ít kinh nghiệm sống, từng trải xã hội kém Đây là điều dễ hiểu bởi học sinh do còn ít tuổi, va chạm xã hội không nhiều nên tất yếu là kinh nghiệm sống rất hạn chế Do không được chứng kiến, không được trải nghiệm với nhiều vấn đề khác nhau của đời sống xã hội nên những gì học sinh tích luỹ được rất hạn chế; vì vậy, có ảnh hưởng lớn đến khả năng đánh giá, nhìn nhận các vấn đề cuộc sống của học sinh

* Thứ 3: Học sinh bàng quan với các vấn đề xã hội Đó là một thực tế trong nhà trường phổ thông hiện nay, các em không nhận thức đúng và đầy đủ

về tầm quan trọng của những kiến thức xã hội Học sinh đến trường và về nhà chủ yếu chỉ học những tri thức từ trong sách vở mà không hướng sự chú ý của mình đến những vấn đề của cuộc sống xã hội, coi đó không phải là việc của mình, không có gì đáng phải quan tâm Các em không nhận thức được rằng chính những vấn đề ấy mới thực sự có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của mình sau này Việc bàng quan với các vấn đề của đời sống xã hội khiến học sinh không có những hiểu biết cần thiết, thậm chí dẫn đến những cách nhìn nhận, đánh giá có phần phiến diện, một chiều

Trang 30

Nói tóm lại, trong làm văn NLXH ngoài yếu tố tư duy và lập luận thì những kiến thức cơ bản về các vấn đề xã hội là vô cùng quan trọng Học sinh không thể nghị luận tốt nếu không có những tri thức cơ bản về các vấn đề

xã hội Để khắc phục những hạn chế ấy thì biện pháp hữu hiệu nhất là phải

mở rộng nguồn thu thập tài liệu cho học sinh; hướng dẫn các em biết cách ghi chép, tích luỹ và sử dụng tài liệu một cách hiệu quả và khoa học…

Trang 31

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC RÈN LUYỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP THU THẬP,

TÍCH LUỸ, SẮP XẾP VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU CHO HỌC SINH

2.1 Rèn luyện cách thu thập tài liệu cho học sinh

2.1.1 Xác định cho học sinh nguồn thu thập tài liệu khi làm kiểu bài nghị luận xã hội

Văn NLXH hướng đến những vấn đề của cuộc sống, xã hội Những vấn

đề nghị luận thường gần gũi với cuộc sống, nhưng lại vô cùng phong phú, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và cũng không dễ nắm bắt nếu không xác định đúng nguồn tài liệu để tìm kiếm Thực tế học sinh gặp nhiều khó khăn khi muốn tìm kiếm, thu thập tài liệu để phục vụ cho việc học và làm bài văn NLXH Các em không biết phải tìm tài liệu từ đâu và tìm như thế nào? Tài liệu mà các em thu nhận được chủ yếu chỉ dừng lại ở những kinh nghiệm cá nhân ít ỏi Chính vì vậy những kiến thức xã hội của học sinh thường rất hạn chế Để khắc phục tình trạng này không có cách nào khác là phải mở rộng nguồn thu thập tài liệu cho học sinh Sau đây là một vài nguồn giúp học sinh thu thập, tích luỹ tài liệu:

* Một trong những nguyên nhân dẫn đến kiến thức về các vấn đề xã hội của học sinh còn yếu là bởi các em thiếu kinh nghiệm sống, để khắc phục hạn chế này không có biện pháp nào hữu hiệu hơn là cho học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động xã hội Qua các hoạt động ấy, bằng sự trải nghiệm của chính bản thân mình học sinh tự rút ra cho mình những kinh nghiệm quý báu, tăng cường vốn hiểu biết xã hội Những hiểu biết thu nhận được qua các hoạt động không chỉ hữu ích giúp các em có nhiều thông tin hơn để làm tốt các bài văn NLXH, mà còn phục vụ thiết yếu cho cuộc sống sau này khi các em rời ghế nhà trường Học sinh được trực tiếp tham gia các hoạt động xã hội còn giúp các em phá bỏ rào cản của sự e ngại, rụt rè, mặc cảm…để trở nên tự tin,

Trang 32

năng động hơn Qua những hoạt động có ý nghĩa đó, học sinh nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống nằm ở đâu để các em sẽ luôn có cách ứng xử và hành động đúng đắn trước những vấn đề của đời sống xã hội Mục tiêu của giáo dục hiện đại là không chỉ giúp trang bị hệ thống kiến thức về các môn học, mà còn giúp học sinh hình thành nhân cách, biết ứng xử với các vấn đề luôn thay đổi của đời sống xã hội Chính những hoạt động xã hội mà các em tham gia sẽ góp phần hoàn thành mục tiêu ấy, đào tạo nên những thế hệ học sinh phát triển một cách toàn diện

Có rất nhiều các hoạt động xã hội mà học sinh đã và đang tham gia như: phong trào nhặt rác, trồng cây xanh để bảo vệ môi trường; thăm các gia đình chính sách, người già neo đơn; tham gia mitting hưởng ứng các phong trào “Tuôi trẻ học đường nói không với ma tuý và các tệ nạn xã hội”; phong trào “đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông”… Học sinh có thể tham gia những hoạt động xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau tại nhà trường, gia đình và ngoài xã hội

* Học sinh có thể thu thập tài liệu thông qua kho tàng văn học dân gian,

ca dao tục ngữ vô cùng phong phú của dân tộc

Ví dụ: + “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “lá lành đùm lá rách”… nói lên tình thần đoàn kết, tương thân tương ái

+ “Có công mài sắt có ngày nên kim” nói lên đức tính kiên trì, bền bỉ của con người thì dù có khó khăn, vất vả đến thế nào cuối cùng cũng vượt qua

và thu về thành quả xứng dáng

* Thu thập, tích luỹ tài liệu thông qua báo chí, sách vở.: Đây là nguồn thu thập tài liệu vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế học sinh ít có điều kiện để có thể đọc báo, hay những cuốn sách nằm ngoài chương trình học Vì vậy mà những gì học sinh thu nhận được từ nguồn thu này cũng không nhiều, có chăng đó chỉ là việc tình cờ đọc được một tờ báo,

Trang 33

một mẩu chuyện nào đó có liên quan đến những vấn đề thường được lấy làm vấn đề nghị luận Trong chương trình học có rất ít các tài liệu cung cấp cho học sinh những kiến thức về các vấn đề xã hội Cuốn sách nói nhiều nhất về vấn đề này là bộ sách “Giáo dục công dân”, nhưng chủ yếu cũng chỉ nói về những vấn đề tư tưởng, đạo lí với hệ thống lí thuyết là chính Điều đó cho thấy học sinh có rất ít những tư liệu từ nguồn thu thập này Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nguồn tài liệu này trong thực tiễn cuộc sống Nếu có điều kiện mở rộng nguồn thu thập này thì kho tàng tri thức về các vấn đề xã hội mà học sinh thu nhận được là rất lớn

* Nguồn thu thập tư liệu quan trọng nhất hiện nay chính là tivi, internet Đây là nguồn tài liệu chứa đựng lượng thông tin phong phú và học sinh có thể nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận Hơn thế nữa nó cũng phù hợp với xu thế thời đại và được đại đa số học sinh đón nhận Tuy vậy, nếu không xác định đúng mục đích tiếp cận, sử dụng sai mục đích thì cũng rất dễ dẫn đến những hệ quả xấu Hiện nay có không ít bạn trẻ lợi dụng việc truy cập internet với danh nghĩa

để học tập nhưng thực chất lại sử dụng với mục đích không lành mạnh Thực chất, học sinh không cần dùng quá nhiều thời gian mà vẫn có thể có được những thông tin bổ ích từ nguồn thu này nếu biết xác định đúng kênh thông tin mình cần Luôn xác định cho mình một mục đích cụ thể khi tiếp cận nguồn thu này, hướng sự chú ý đến những vấn đề mình đang quan tâm, chỉ có như vậy thì việc thu thập tài liệu của học sinh mới mang đến hiệu quả tích cực

Hiện nay, truyền hình có nhiều chương trình lý thú và bổ ích mà học sinh nên dành thời gian quan tâm theo dõi như: chương trình thời sự - một kho tri thức muôn màu về mọi vấn đề của đời sống xã hội; các chuyên mục trên kênh VTV1, VTV2, VTV3: An toàn giao thông, Dạy lái xe an toàn, Hành tinh xanh, Tiêu điểm, Một phút có trong sự thật, Người xây tổ ấm, Trái tim cho em…

Trang 34

Vấn đề đặt ra là học sinh phải biết dành thời gian hợp lý để theo dõi các chương trình, ngoài việc coi tivi, internet là phương tiện để giải trí, giải toả căng thẳng, áp lực thì học sinh cần phải biết thu nhận, chắt lọc thông tin từ những nguồn thu này

2.1.2 Phạm vi nội dung tài liệu

Những hiện tượng đời sống, tư tưởng đạo lí trong xã hội là vô cùng

phong phú và đa dạng; bất cứ vấn đề nào cũng có thể trở thành một đề văn NLXH Vì vậy tâm lí của đại đa số học sinh đều rất sợ khi phải làm kiểu bài này Vấn đề nghị luận quá rộng lớn, các em lại không biết phải lấy tư liệu từ đâu để lập ý, để đưa ra những luận chứng có sức thuyết phục Những khó khăn

ấy sẽ được khắc phục nếu học sinh xác định được phạm vi, nội dung tư liệu.( khi học sinh trả lời được câu hỏi: vấn đề nghị luận là gì? thu thập tài liệu từ đâu? vấn đề nghị luận ấy được triển khai với những nội dung gì?) Tất nhiên,

để trả lời được câu hỏi ấy với mỗi đề văn khác nhau không phải là việc dễ, nó đòi hỏi học sinh phải không ngừng tìm tòi học hỏi, tích luỹ tri thức cho mình

Cần phải thấy rằng, đề tài được lấy để đưa vào các đề văn NLXH cho học sinh là những vấn đề gần gũi với đời sống xã hội hiện tại, được cả xã hội quan tâm và phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh Phạm vi nội dung tài liệu trong làm văn NLXH chủ yếu xuất phát từ:

* Xuất phát từ kiểu loại:

- Với những đề văn nghị luận về một hiện tượng đời sống đề tài thường xoay quanh nhưng vấn đề nổi cộm trong đời sống hiện nay như: vấn đề an toàn giao thông; vấn ô nhiễm môi trường; vấn đề đấu tranh chống tình trạng chặt phá rừng; vấn đề bạo hành trong gia đình…Nộ i dung chủ yếu trong những đề văn nghị luận về một hiện tượng đời sống xoay quanh những vấn đề như:

Trang 35

+ Tìm hiểu về thực trạng của hiện tượng đời sống

+ Phân tích và bình luận nguyên nhân - hậu quả

+ Đề xuất giải pháp để khắc phục

Như vậy, với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống học sinh phải thể hiện sự hiểu biết nhiều mặt của mình về những hiện tượng xã hội Ngoài ra, các em còn phải thể hiện được tiếng nói cá nhân, lập trường, quan điểm rõ ràng.Với dạng đề này học sinh cần chia ra thành những vấn đề theo từng chủ đề

để tìm hiểu, và nội dung vấn đề xoay quanh cấu trúc của kiểu bài này

- Với những đề văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nội dung nghị luận thường được triển khai theo những nội dung chủ yếu sau:

+ Giải thích khái niệm

+ Phân tích, lí giải

+ Bình luận, đánh giá

Tuy nhiên, so với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống học sinh gặp nhiều khó khăn hơn khi làm kiểu bài này Cái khó đầu tiên là việc xác định trọng tâm vấn đề cần nghị luận, bởi trong kiểu bài này vấn đề nghị luận không thể hiện một cách rõ ràng như trong bài nghị luận về một hiện tượng đời sống; thậm chí trong một số đề làm học sinh hiêu sai vấn đề cần nghị luận, nghị luận không đúng trọng tâm vấn đề…

- Đề 1: “Phê phán thái độ thờ ơ ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”

Anh/ chị suy nghĩ thế nào về ý kiến trên?

Trong bài làm, nhiều học sinh lại chỉ chú trọng phân tích, bày tỏ ý kiến, suy nghĩ về thái độ sống thờ ơ ghẻ lạnh mà không hề có sự phân tích, lí giải khía cạnh thứ 2 của vấn đề là lòng vị tha, tình đoàn kết quan trọng như thế nào với cuộc sống

Trang 36

- Đề 2: “Những điều xấu mà người ta nói về mình chẳng khác nào chiếc cày, còn tâm hồn mình cũng như mảnh đất Chiếc cày xé rách mảnh đất nhưng sẽ làm cho đất thêm phì nhiêu”

Hãy giải thích và bình luận

Với đề văn trên tình trạng học sinh không xác định đúng vấn đề cần nghị luận là khá phổ biến Các em không xác định được trọng tâm của vấn đề cần nghị luận chính là giá trị của lời nói thẳng, nói thật

Một khó khăn nữa khi học sinh làm kiểu bài này là không biết phải lấy tài liệu từ đâu để làm cơ sở cho việc lập ý Phần lớn học sinh chỉ dựa vào kinh nghiệm ít ỏi của mình để đưa ra những luận điểm, luận cứ, luận chứng cho bài viết Việc không xác định được phạm vi, nội dung tài liệu là một khó khăn lớn với học sinh Để hạn chế điểm yếu này trước hết học sinh phải xác định đúng phạm vi, nội dung nghị luận trong các đề văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí không phải là những gì quá cao siêu mà nó gần gũi với nhận thức của học sinh Phạm vi nghị luận trong kiểu bài này thường xoay quanh những vấn đề như: về nhận thức(lí tưởng sống, quan niệm sống, mục đích sống, mục đích học tập…), về tâm hồn tích cách (lòng dũng cảm, lòng vị tha, sự trung thực, thẳng thắn…), về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…), về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…) Khác với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí nội dung tài liệu lại chủ yếu là các câu chuyện Thuận lợi của học sinh khi làm kiểu bài này là không phải nhớ quá nhiều những số liệu thục tế Tuy nhiên, những tư tưởng đạo đức lại vô cùng phong phú, mỗi người lại có sự nhìn nhận đánh giá không giống nhau, vì vậy học sinh sẽ gặp không ít khó khăn khi đánh giá vấn

đề Hơn thế nữa, nội dung nghị luận rộng đòi hỏi học sinh phải thu thập, tích luỹ một lượng tài liệu lớn, về nhiều khía cạnh khác nhau của tư tưởng đạo lí Không nhưng vậy, nội dung tư tưởng đạo lí của nhiều vấn đề lại liên quan với

Trang 37

nhau, điều đó đòi hỏi học sinh không những phải biết chia tách thành nhiều khía cạnh khác nhau để thu thập tài liệu, nhưng đồng thời cũng phải biết tìm

ra mối liên hệ giữa các tài liệu đã thu thập được

* Xuất phát từ nội dung tài liệu:

Chủ đề thường xuất hiện trong NLXH thường chủ yếu xoay quanh những vấn đề đang được cả xã hội quan tâm như:

+ Nói về lí tưởng, ước mơ, ý chí, nghị lực

+ Nói về phẩm chất tốt đẹp của con người

+ Nói về ý thức trách nhiệm, lòng vị tha

+ Nói về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên (vấn đề bảo vệ môi trường; vấn đề xử lý rác thải; vấn đề chặt phá rừng, bảo vệ tài nguyên rừng…) Và quan hệ của con người với môi trường xã hội (vấn đề HIV,AIDS; vấn đề nghiện game trong giới trẻ; vấn đề nghiện ma tuý, rượu, bia, thuốc lá…)

Có thể nói, vấn đề NLXH vô cùng rộng lớn, đa dạng, trên đây chỉ là những vấn đề lớn như là những ví dụ cụ thể Cần phải căn cứ vào tính thời sự của vấn đề trong từng thời điểm khác nhau để mở rộng vấn đề nghị luận

ta cũng có thể trực tiếp ghi lại những gì mình thu thập được nên việc ghi nhớ

là cực kì cần thiết Ghi nhớ giúp ta có thể tái hiện lại kiến thức một cách

Trang 38

tương đối đầy đủ và chính xác khi cần đến Tuy nhiên, ghi nhớ không thể thay thế được cho việc ghi chép, bởi ghi chép giúp tài liệu được lưu trữ một cách đầy đủ hơn, chính xác hơn

Với học sinh trung học phổ thông, để có thể thu thập tài liệu một cách

có hiệu quả nhất nên chú ý tới 3 hình thức ghi chép chủ yếu sau:

+ Ghi chép đầy đủ, chi tiết: là hình thức ghi chép mà học sinh không bỏ qua bất cứ nội dung gì của tài liệu; việc ghi chép như vậy thường chỉ áp dụng với những tài liệu có nội dung thông tin ngắn gọn

+ Ghi chép vắn tắt: là hình thức ghi chép trên cơ sở tóm lược nội dung của tài liệu, chỉ ghi lại những nội dung cơ bản nhất; việc ghi chép này thường được áp dụng với những tài liệu có nội dung dài

+ Ghi chép có trọng tâm: là hình thức ghi chép chỉ chú trọng ghi lại những nội dung chính cần quan tâm

Ví dụ: Hãy ghi chép lại hậu quả của tình trạng nghiện in-tơ-net trong giới trẻ hiện nay

- Ghi chép vắn tắt: Tình trạng nghiện in-tơ-net trong giới trẻ gây ra những hậu quả sau:

+ Tạo nên sự lãng phí lớn về thời gian, tiền của, sức lực

+ Tác động tiêu cực đến tinh thần, nhân cách

+ Tác động lâu dài đến sự phát triển của toàn xã hội

- Ghi chép có trọng tâm: Với ba hậu nêu trên học sinh chỉ chú trọng đi vào ghi chép, phân tích hậu quả thứ nhất: Tình trạng nghiện in-tơ-net gây lãng phí lớn về thời gian Có không ít những bạn trẻ hiện nay dành hầu hết thời gian cho in-tơ-net, các trò chơi game trên in-tơ-net mà bỏ bê việc học hành, thậm chí là nghỉ học triền miên Một ngày mới bắt đầu bằng in-tơ-net và kết thúc cũng bằng in-tơ-net đã khiến không ít bạn trẻ kiệt sức ngay trước màn hình máy tính Và để có tiền phục vụ cho việc chơi game trên in-tơ-net, các

Trang 39

bạn sẵn sàng trở thành những người xấu, nhẹ là việc lấy cắp đồ đạc của gia đình, nặng hơn có không ít bạn trẻ sa ngã vào vòng tội lỗi với những tội danh cướp của, thậm chí là giết người để có tiền phục vụ cho nhu cầu trên in-tơ-net

2.2 Rèn luyện một số biện pháp sắp xếp tài liệu

2.2.1 Một số biện pháp rèn luyện khả năng sắp xếp tài liệu

Để dễ dàng hơn cho việc sử dụng bảng tư tài liệu về các vấn đề thường được lấy làm đề văn NLXH chúng tôi chủ yếu chỉ cung cấp tài liệu từ nguồn thu qua internet, bởi đây là nguồn thu học sinh có thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận nhất Với các nguồn thu khác như: qua hoạt động thực tiễn, qua tivi, đài,qua báo chí, sách vở chúng tôi dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh cách thu thập để khi bắt gặp một thông tin nào đó từ các nguồn thu này học sinh sẽ biết cách xử lí Bảng tài liệu được sắp xếp theo từng chủ đề, với mỗi chủ đề có nhiều tài liệu có nội dung khác nhau, chúng tôi không chia tách

ra từng vấn đề nhỏ mà giữ những tài liệu trong cùng một nguồn thu Với mỗi vấn đề nghị luận, từ những nguồn thu khác nhau, có rất nhiều những tài liệu khác nhau, vì vậy chúng tôi chỉ chọn những tài liệu nào cần thiết nhất, hữu ích nhất gắn với những đề NLXH mà học sinh hay gặp Hơn thế nữa, nguồn thu thập tài liệu là vô cùng phong phú, nội dung tài liệu cũng thay đổi, vì vậy không thể cập nhật hết được trong bảng sắp xếp Sẽ là hợp lí hơn nếu học sinh

có thể sắp xếp tài liệu thành những khía cạnh cụ thể thì việc tìm kiếm khi lấy

ra sử dụng sẽ dễ dàng hơn Qua bảng sắp xếp này, hi vọng học sinh sẽ biết cách tích luỹ tài liệu khi làm văn NLXH cho mình, và từ đó không ngừng tìm tòi, tích luỹ thêm cho mình những tài liệu quý báu

Một số kiểu bài tập rèn luyện cho học sinh khả năng sưu tầm, sắp xếp tài liệu một cách có hiệu quả:

Kiểu 1: Cho học sinh một tờ báo và yêu cầu học sinh đọc, ghi chép lại những thông tin, cách sắp xếp chúng như thế nào để các em làm quen với việc

Trang 40

Kiểu 2: Cung cấp cho học sinh một số chương trình trên truyền hình

để học sinh theo dõi và tích luỹ tài liệu Từ đó học sinh cũng bước đầu biết cách trình bày, phân tích nội dung tài liệu

Kiểu 3: Yêu cầu học sinh quan sát, ghi chép tài liệu theo từng chủ để

từ những gì các em chứng kiến trong thực tế cuộc sống

Khi học sinh thu thập và tích luỹ tài liệu cần hết sức chú ý phân chia các vấn đề nghị luận thành những chủ đề cụ thể để dễ dàng hơn cho việc sắp xếp và sử dụng, đó chính là biện pháp có hiệu quả nhất để thu thập và tích luỹ tài liệu

Những hiện tượng thường được lấy làm các đề nghị luận xã hội phải có ý nghĩa sâu sắc, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội, đến cuộc sống của chính học sinh Đó có thể là những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống (vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề an tai nạn giao thông, vấn đề HIV,AIDS…), cũng có khi là nhưng ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội, đến học sinh (phong trào thanh niên tình nguyện, ủng hộ người nghèo, ủng hộ đồng bào vùng bão lũ…)

Những tư tưởng đạo lí được lấy làm đề văn yêu cầu học sinh nghị luận thường không quá xa lạ, nó gần gũi với đặc điểm lứa tuổi, tâm lí tình cảm của học sinh

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (2009), Thực hành Làm văn lớp 10, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Làm văn lớp 10
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
2. Lê A (2009), Thực hành Làm văn lớp 11, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Làm văn lớp 11
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Lê A (2009), Thực hành Làm văn lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Làm văn lớp 12
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Lê A, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2009), Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội
Tác giả: Lê A, Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Đào Duy Anh (2002), Từ điển Hán Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Dàn bài Tập làm văn 12, (Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dàn bài Tập làm văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2000
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), SGK Làm văn 12 (Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Làm văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2000
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), SGK Làm văn 12 (Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Làm văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2000
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), SGK Làm văn 10 (Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Làm văn 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
11.Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), SGK Ngữ văn 7, tập 2 (Chương trình chuẩn), NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 7
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2004
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), SGV Ngữ văn 7, tập 2 (chương trình chuẩn), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 7
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), SGK Ngữ văn 9, tập 2 (chương trình chuẩn), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), SGV Ngữ văn 9, tập 2 (chương trình chuẩn), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), SGK Ngữ văn 12, tập 1 (chương trình chuẩn), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), SGV Ngữ văn 12, tập 1 (chương trình chuẩn), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
17. Lương Duy Cán (2008), Rèn luyện kĩ năng Làm văn 11, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng Làm văn 11
Tác giả: Lương Duy Cán
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
18. Đình Cao, Lê A (1989), Làm văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đình Cao, Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
19. Đoàn Thị Thuỳ Dương (2008), Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực, Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Đoàn Thị Thuỳ Dương
Năm: 2008
22. Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
25. Phan Trọng Luận (2007), Thiết kế bài học ngữ văn 10, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả học tập của lớp thể nghiệm - các biện pháp sưu tầm và tích lũy tài liệu cho bài văn nghị luận xã hội ở trung học phổ thông
Bảng 1 Kết quả học tập của lớp thể nghiệm (Trang 104)
Bảng 2: Kết quả học tập của lớp đối chứng - các biện pháp sưu tầm và tích lũy tài liệu cho bài văn nghị luận xã hội ở trung học phổ thông
Bảng 2 Kết quả học tập của lớp đối chứng (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w