Với luận văn này, chúng tôi cố gắng khảo sát một cách có hệ thống phép so sánh trong các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân trên tinh thần tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trư
Trang 1Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu văn chương đi theo hướng phân
tích diễn ngôn Những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại ngày càng cho thấy
rõ hơn cái định đề “nói là hành động” Hoạt động của tác giả trong sáng tạo văn chương, ngày nay được hiểu như là một “hành động diễn ngôn” mang tính chủ đích cao Trong hoạt động đó, ngoài việc tạo ra một không gian tưởng tượng và
hư cấu đủ cho các nhân vật vùng vẫy, nhà văn còn phải dụng công “diễn ngôn” sao cho văn bản được tạo ra là duy nhất, không lặp lại Những hoạt động ngôn từ của tác giả, vì vậy, được coi là một thực tế diễn ngôn có dụng ý cao và độc đáo Tuy nhiên, vì viết là “để tha nhân đọc và hiểu được ý mình định gởi gắm”, cho nên dầu muốn dầu không, nhà văn vẫn phải tìm một con đường thỏa hiệp hợp lí giữa mình và bạn đọc Cách dung hòa ấy có thể đi từ hệ thống chủ đề quen thuộc; để bạn đọc dễ hình dung diễn tiến câu chuyện qua kinh nghiệm bản thân); cũng có thể là đi từ các xung đột đầy kịch tính giữa các tình huống éo le kiểu hình sự) nhưng chất văn chương thì tầm thường, nhạt nhẽo Và trong thực tế tồn tại muôn vàn cách để nhà văn đạt được một dung hòa, một thỏa hiệp như vậy
Trong văn đàn Việt Nam, có một nhà văn đã không tìm đến một “cách sống chung dễ dãi” như vậy giữa mình và bạn đọc Ông đặt ra nhiều cách dụng ngôn, bắt người đọc phải suy nghĩ và buộc cũng phải mệt mỏi gần bằng ông khi sáng tạo Người đọc được ông tôn trọng, được nâng giá trị lên khi đọc ông, và dĩ nhiên được lao động một cách sáng tạo như ông Đó là Nguyễn Tuân
1.2 Nguyễn Tuân là một trong số ít những nhà văn được chọn lọc trong chương
trình phổ thông với tư cách là một tác gia tiêu biểu với phong cách sáng tạo nghệ thuật độc đáo và có nhiều cống hiến cho văn chương Việt Nam thế kỷ 20
Trang 2Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
song mà mỗi dòng chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu hiệu riêng” [37, tr 524] Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn Nguyễn Tuân
sáng tác nhiều nhưng với thể loại kí, ông đã khẳng định được hướng đi riêng cho mình mà đến nay chưa ai có thể vượt qua được
1.3 Nguyễn Tuân luôn có ý thức khám phá và công hiến tài năng của mình cho
văn chương Đọc văn Nguyễn Tuân, ta không thể phủ nhận sự đa dạng về bút pháp trong sự xen kẽ các thao tác của các ngành nghệ thuật khác nhau Từ trước tới nay chúng ta thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Tuân ở nhiều góc độ khác nhau Song tìm hiểu và nghiên cứu về phép so sánh và hiệu quả của nó trong việc tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong kí của Nguyễn Tuân thì chưa có công trình nào thực hiện
1.4 Việc lựa chọn kí Nguyễn Tuân làm đối tượng nghiên cứu không chỉ bởi
những lí do khách quan nói trên mà còn xuất phát từ những lí do chủ quan Ngay
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường THPT, chúng tôi đã được làm quen với
Nguyễn Tuân qua tác phẩm Chữ người tử tù, trích đoạn Người lái đò sông Đà,
Tờ hoa Tác phẩm đã để lại dấu ấn trong chúng tôi bởi đó là giai điệu của cái
đẹp, cái thật mà Nguyễn Tuân đã tạo ra bằng hành trình kiếm tìm của cả cuộc đời mình Nguyễn Tuân đã vươn lên để khẳng định cái tôi của mình, một cái tôi độc đáo, tài năng Rồi những hiểu biết sau đó về Nguyễn Tuân đã tạo thêm động lực cho người viết theo đuổi đề tài này
1.5 Sau cùng, vấn đề giảng dạy văn chương trong nhà trường THPT có liên
quan khá nhiều đến văn chương Nguyễn Tuân Còn có những khó khăn cho giáo viên và học sinh về mặt tư duy trong việc cảm thụ tác phẩm của Nguyễn Tuân qua hệ thống ngôn từ Bản thân người viết là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn bậc THPT cũng đã gặp khó khăn này Luận văn mong được đóng góp một phần vào việc giải quyết những khó khăn đó
Trang 3Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phép so sánh trong kí của
Nguyễn Tuân”
2 Lịch sử nghiên cứu
Bao quát toàn bộ lịch sử nghiên cứu không phải là nhiệm vụ của luận văn này Nhưng nghiên cứu ngôn ngữ vốn là một phần việc không hoàn toàn tách rời khỏi quy trình nghiên cứu văn nghiệp chung của tác giả Cho nên, người viết đề cập khái lược lịch sử nghiên cứu về tác gia này
Nguyễn Đăng Mạnh, trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân (NXB
Văn học, 1981), đã chỉ ra cái dễ và khó trong tùy bút và đi đến khẳng định sự độc đáo trong tùy bút của Nguyễn Tuân Với Nguyễn Tuân, cái tôi trong tùy bút
là một cái tôi “với lối chơi độc tấu” nhưng lại “có duyên mặn mà” để người đọc
không nhàm chán Để có được cái duyên này, Nguyễn Tuân đã luôn bứt phá lên
trên chính mình “gan góc và bền bỉ phấn đấu” để không lặp lại chính mình
Sau cách mạng tháng Tám, cái nhìn của Nguyễn Tuân về thế giới xung quanh đã có sự thay đổi nhiều Nguyễn Tuân mở rộng lòng và túy bút của ông
“không chỉ giàu chất hiện thực mang tính thời sự cao mà còn đậm đà chất trữ tình thơ mộng” Nhà nghiên cứu Hà Văn Đức còn khẳng định rằng “chất trữ tình đậm đà được kết hợp với chất trí tuệ sắc sảo đã tạo nên một nét riêng biệt cho tùy bút Nguyễn Tuân” [34, tr 140] Và chính điều này đã góp phần tạo nên
sự tỏa sáng cho tùy bút Nguyễn Tuân – “một khối ru-bi nhiều mặt” mà mặt nào
cũng rực rỡ
Trong Nguyễn Tuân và thể tùy bút theo ý kiến của nhà nghiên cứu Vương
Trí Nhàn, tùy bút Nguyễn Tuân là sự tiếp nối tản văn của Tản Đà Nhưng không chỉ có thế, Nguyễn Tuân đã phát triển nó mà ngay Tản Đà cũng không thể ngờ
tới sự phát triển vượt bậc như vậy Viết kí, Nguyễn Tuân là người “khai sơn phá
Trang 4Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
được ghi danh là “một nhà văn chân chính, có tiềm năng sáng tạo thật sự…Ông sinh ra để viết tùy bút…là một tài năng lớn thật sự”[37, tr 149]
Đi theo một hướng nghiên cứu khác, Hoài Anh khẳng định Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa Để minh chứng cho ý kiến của
mình, tác giả đã khái quát quá trình đi tìm cái đẹp của nhà văn Theo tác giả bài viết, nếu như trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tìm kiếm cái đẹp phảng phất kiểu Liêu Trai thì sau cách mạng tháng Tám, là cái đẹp chân thực Đó là
“tiếng gió Lào, là tiếng khóc như gào thi với gió độc” Nhưng dù là trước hay sau cách mạng tháng Tám, cái đẹp mà Nguyễn Tuân kiếm tìm không phải là “cái đẹp mơ mộng, nhàn nhạt, phẳng lặng mà là cái đẹp tạo hình, góc cạnh, nhiều khi
dữ dội”[37, tr 191]
Với nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên lại có cách nhận định riêng Ông đi từ
sự khẳng định vị thế của Nguyễn Tuân “là một trong những cây đại thụ rừng đầu nguồn của văn chương Việt Nam” đến nhận xét về cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân Mai Quốc Liên khẳng định “Nguyễn Tuân là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam…là nhà thơ lại bị đóng đinh trên cây thập giá là văn xuôi” [37, tr 203] Nguyễn Tuân đi nhiều, biết rộng Trong con người ông hội tụ
đủ đầy vốn văn hóa Đông – Tây và ông lại chế biến rất văn hóa tạo nên một
Nguyễn Tuân “độc đáo vô song”…
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định sự tài năng của Nguyễn Tuân trên các phương diện sáng tác của ông Phép so sánh trong các sáng tác của Nguyễn Tuân cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập tới nhưng chỉ tập trung trong một vài sáng tác cụ thể Đó chỉ là những ý kiến đánh giá riêng lẻ, chưa thành một hệ thống Với luận văn này, chúng tôi cố gắng khảo sát một cách có hệ thống phép so sánh trong các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân trên tinh thần tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước
Trang 5Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của công trình nghiên cứu là tìm hiểu phép so sánh và hiệu quả của nó trong kí của Nguyễn Tuân
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tác phẩm ký của Nguyễn Tuân sau 1945
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu được những nét cơ bản về Nguyễn Tuân và thể kí Phân biệt thể loại
kí với một số thể loại văn học khác
- Nêu được cơ sở khoa học của phép so sánh và lực dụng học của phép so sánh này, nhất là trong sáng tác văn chương
- Khảo sát tư liệu tìm ra các dạng so sánh trong kí Nguyễn Tuân đồng thời tìm hiểu bước đầu công dụng của phép so sánh này trong thi pháp của Nguyễn Tuân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các dạng so sánh mà Nguyễn Tuân đã dùng trong kí Tư liệu được rút ra từ các bài kí trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, NXB Văn học, 2005, 3 tập)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành thống kê các ngữ liệu có chứa phép so sánh Sau đó phân loại thành các kiểu loại khác nhau theo những tiêu chí nhất định, làm cơ sở cho việc phân tích, lí giải và đánh giá
5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Trang 6Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Trên cơ sở kết quả thống kê và phân loại, chúng tôi đi phân tích chỉ ra tác dụng của phép so sánh trong các ví dụ cụ thể để thấy được tác dụng của chúng trong việc góp phần tạo ra sự hấp dẫn cho câu văn
5.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Từ việc phân tích các ví dụ cụ thể, cấu trúc của ví dụ, chúng tôi đi đến khái quát những đặc điểm cơ bản của phép so sánh trong kí của Nguyễn Tuân
6 Đóng góp của luận văn
- Đề tài của luận văn là sự tiếp nối những công trình khoa học nghiên cứu về tác gia Nguyễn Tuân Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cố gắng
tìm ra điểm mới khi đi sâu nghiên cứu “Phép so sánh trong kí của Nguyễn Tuân” – một lĩnh vực chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống
- Đề tài: Phép so sánh trong kí của Nguyễn Tuân góp phần làm rõ hơn phong
cách và đặc điểm thể loại ký của Nguyễn Tuân, đặc biệt là các tác phẩm kí được chọn để nghiên cứu trong luận văn Trong một chừng mực có thể thử lí giải tại sao so sánh lại hay được dùng trong thể kí hơn là ở các thể loại văn xuôi khác
7 Cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Cấu trúc luận văn
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trang 7Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
1.1 Phép so sánh và Cấu trúc so sánh 1.2 Thể loại kí
1.3 Giới thiệu về Nguyễn Tuân và tác phẩm 1.4 Tiểu kết
Chương 2: PHÉP SO SÁNH TRONG KÝ NGUYỄN TUÂN
2.1 Cấu trúc so sánh trong kí Nguyễn Tuân 2.2 Mô tả cấu trúc theo đặc điểm ngữ pháp 2.3 Mô tả cấu trúc so sánh theo nội dung (ngữ nghĩa) ở các vế 2.4 Tiểu kết
Chương 3: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA
PHÉP SO SÁNH TRONG KÍ NGUYỄN TUÂN
3.1 Dẫn nhập 3.2 Khai thác khả năng mở rộng các vế trong so sánh 3.3 Khai thác tương quan về nội dung giữa các vế 3.4 Nhận xét về hiệu lực so sánh trong kí Nguyễn Tuân 3.5 Tiểu kết
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Nhìn từ góc độ của phong cách học, so sánh là một phương thức phổ biến
trong mọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà
ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu có A.Ju.Xtêpannov với Phong cách học tiếng Pháp (1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Môren với Phong cách học tiếng Pháp (1970), … Những công trình này được
giới thiệu ở Việt Nam góp phần làm sáng tỏ về mặt lý thuyết và ứng dụng của phương thức so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo hình tượng nghệ thuật
Phương thức so sánh cũng sớm được các nhà ngôn ngữ học nước ta đề cập đến Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX, khi các công trình nghiên cứu về tiếng Việt xuất hiện, so sánh cũng được nhắc đến trong các bài giảng về phong cách học
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu có đề cập tới so sánh như:
Giáo trình Việt ngữ, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc; Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú, Phong cách học
Trang 9Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Trong những công trình kể trên, hầu hết các tác giả đều đưa ra sự phân
biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic (so sánh luận lí) Theo các tác giả này,
trong so sánh logic, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại
Và mục đích của so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Ví dụ:
- Bố nặng cân hơn mẹ
- Anh chạy nhanh hơn tôi
- Giá trị của (a + b) 2 bằng giá trị của (a 2 + 2ab + b 2 )
So sánh tu từ khác so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính
dị loại (không cùng loại) của sự vật Ví dụ:
- Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
(Ca dao)
- Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng, hai, chim én gặp mùa…
(Chế Lan Viên) Với sự phân biệt nói trên, những khái niệm được đưa ra trong các giáo trình phong cách học đều định nghĩa so sánh với tư cách là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa
Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm:
“So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là để cụ thể hóa những sự vật trừu tượng để người đọc dễ hiểu, dễ hình dung ra hơn.” Ở giáo trình này, tác giả chủ yếu khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh Tiếp đó, trong 99 phương tiện và biện pháp tu
từ tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã có cách nhận diện so sánh tu từ rõ ràng
và đầy đủ hơn: “So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người
Trang 10Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [30, tr 154]
Sau này, các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong giáo trình
Phong cách học tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [29, tr 190]
Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [49, tr 272]…
Như vậy, theo nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phương thức so sánh như sau:
- So sánh là việc đối chiếu ít nhất hai sự vật, hiện tượng theo một phương diện nào đó
- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại
- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng sâu
xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết được
- Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các đối tượng được so sánh và so sánh
1.1.2 Cấu trúc so sánh
1.1.2.1 Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh
Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt, hình thức đầy đủ nhất của phương thức so sánh gồm 4 yếu tố:
a Cái cần được so sánh, kí hiệu là (A)
b Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t)
Trang 11Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
d Cái được dùng làm chuẩn để so sánh, kí hiệu là (B)
Mô hình đầy đủ của một cấu trúc so sánh là: A (t) tss B
Tuy nhiên trên thực tế, tùy từng trường hợp, người viết có thể đảo trật so sánh hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình Cụ thể, ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên
4 Thêm bao nhiêu, bấy nhiêu Ví dụ:
Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
(Ca dao)
5 Cấu trúc so sánh dùng từ so sánh là, kiểu như A là B Ví dụ:
Quê hương là cầu trẻ nhỏ
Trang 12Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
(Đỗ Trung Quân)
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Hữu Đạt đã đưa ra mô hình
khái quát của phép so sánh như sau:
A – X – B
Trong mô hình trên, có thể nhận thấy sự thiếu vắng của yếu tố chỉ phương diện so sánh Điều này đã khiến cho cấu trúc so sánh mà tác giả đưa ra chỉ có 3 yếu tố Và biến thể của cấu trúc này chỉ có hai loại là:
a Yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh (YTĐSS) – (A);
Trang 13Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
b Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPD) – (x);
c Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) – (tss);
d Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) – (B);
Mô hình cấu trúc so sánh hoàn chình của tác giả là:
Đặc điểm của từng yếu tố được Nguyễn Thế Lịch quan niệm như sau:
a Yếu tố được so sánh: Về nguyên tắc, bất kì sự vật, hiện tượng gì cũng
b Yếu tố phương diện so sánh: có vai trò thể hiện thuộc tính của sự vật mà
yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị Khi trong cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện thì
Trang 14Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
yếu tố so sánh, từ đó mới có thể xác định được là đã thực hiện sự so sánh về phương diện nào
c Yếu tố quan hệ: được xem là đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh, bao gồm các từ so sánh, từ là, và cặp từ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu
Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, tựa như, như là, như thể, hồ như,…., ví dụ:
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau
(Ca dao)
Từ là trong cấu trúc so sánh có giá trị so sánh tương đương từ như, nhưng sắc thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Như có sắc thái giả định, chỉ sự tương đồng về một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan; là có sắc thái khẳng
định sự đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan Ví dụ:
Tình tôi là giọt thủy ngân
Dù nghiền chẳng nát, dù lăn vẫn tròn
(Ca dao)
Cặp từ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu, ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu
(Ca dao)
d Yếu tố so sánh: được xem là quan trọng nhất và không thể thiếu của cấu
trúc so sánh vì đó là chuẩn của so sánh, và không có chuẩn thì không thành so sánh Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả quá trình quan sát, liên tưởng của người nói Theo ông, yếu tố này có thể gồm một số cấu trúc sau đây:
- Nêu lên tên gọi được dùng làm chuẩn Ví dụ: má đào, tóc mây, mặt chữ điền, mắt lá răm, lông mày lá liễu, ngón tay búp măng, …
- Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn Ví dụ:
Trang 15Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim
(Tố Hữu)
Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương
(Ca dao)
- Thể hiện nhiều sự vật khác nhau Ví dụ:
Hồn tôi giếng ngọt trong veo Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
(Nguyễn Bính)
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
(Ca dao) Theo tác giả bài báo này, không phải cấu trúc so sánh nào cũng hội tụ đủ
cả 4 yếu tố trên Có những cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh kiểu như sau:
a Vắng yếu tố phương diện, ví dụ:
Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp mật, như đường mía lau
(Ca dao)
b Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ, ví dụ:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu)
c Vắng yếu tố được so sánh, ví dụ:
Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi
Trang 16Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Theo tác giả, chính loại cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra vô số
các thành ngữ so sánh kiểu như: cao như núi, ngọt như mía lùi, đỏ như son, vàng như nghệ … Chúng đã giúp cho người nói và nghe tri nhận dễ dàng hơn vì
phương diện so sánh đã được hiển ngôn
d Vắng yếu tố được so sánh và yếu tố phương diện, ví dụ:
- Như diều gặp gió
- x: Yếu tố phương diện so sánh
- tnss: Yếu tố biểu thị quan hệ so sánh – từ ngữ so sánh
- B: Yếu tố so sánh)
Ví dụ: Tóc trắng như vôi
(A) (x) (tnss) (B) Đây là mô hình đầy đủ Việc thêm, bớt hoặc đảo trật tự các yếu tố có trong
mô hình này sẽ tạo ra các biến thể khác nhau cho cấu trúc so sánh trong tiếng Việt
1.1.3 Các kiểu so sánh
Trang 17Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
1.1.3.1 Nhà nghiên cứu Đào Thản nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia dựa vào mục đích so sánh Theo đó, ông đã đưa ra 8 kiểu so sánh như sau:
Trang 18Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
h So sánh đặc biệt:
Đây là kiểu so sánh mà hai vế được thể hiện hoàn toàn cân đối về hình thức và nội dung Kiểu so sánh này không được dùng khi diễn đạt thuộc tính mà chỉ dùng trong diễn đạt tình huống hoặc sự kiện mà ở đó tính cân đối là điều kiện quan trọng để nhận ra có sự so sánh Ví dụ:
Cây khô xuống núi cũng khô Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo
(Ca dao) Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu so sánh đã dựa vào cả hai tiêu chí hình thức và nội dung của nó Theo đó, chúng ta có các kiểu so sánh sau:
a So sánh ngang bằng, ví dụ:
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa
ra được tính đồng nhất hay khác biệt giữa các sự vật và hiện tượng, ta có thể phân các biểu thức so sánh ra thành hai dạng chính là:
Trang 19Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
1 So sánh đồng nhất Căn cứ vào các từ so sánh và tính chất của ý nghĩa
toàn cấu trúc mang lại ta có thể chia dạng này thành 2 kiểu nhỏ là:
a So sánh tương tự: So sánh kiểu này thường dùng các từ so sánh như, như là, như thể, giá như, tựa như, tựa, kém gì, khác gì,… Ý nghĩa của toàn cấu
trúc so sánh thường mang tính giả định Ví dụ:
Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
2 So sánh dị biệt Căn cứ vào mức độ thể hiện thuộc tính giữa hai vế so
sánh và được so sánh, và các từ ngữ so sánh, có thể chia dạng này thành 2 kiểu sau đây:
a So sánh dị biệt hơn Kiểu này bao gồm:
a1 So sánh dị biệt hơn tuyệt đối: Đây là kiểu so sánh có các số từ (thứ tự) thể hiện mức độ kiểu như nhất (A), nhì (B), tam, tứ …, thứ nhất (A), thứ nhì (B)… Thông thường, trong dạng kết cấu này, A và B được xếp theo thứ tự
phân dạng đánh giá Ví dụ:
Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền
(Tục ngữ) Tuy nhiên đôi khi các từ thứ tự này chỉ mang tính tương đối hoặc có khi chỉ là một sắp xếp hình thức, có tính ước lệ Nhất là trong các dạng ngữ cố định,
Trang 20Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
a2 So sánh dị biệt tương đối: Kiểu so sánh này thường dùng các từ
so sánh như hơn,( còn) hơn,… Ví dụ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người
(Tục ngữ)
b So sánh dị biệt kém: Các từ đặc trưng cho kiểu so sánh này thường
là: thua, kém, không bằng, sao bằng, không tày, chẳng bằng, … Ví dụ:
Đêm nằm ở dưới bóng trăng Thương cha, nhớ mẹ không bằng thương em
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa kí là: “Một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút…” [20, tr.162] Ranh giới
của việc phân chia các thể loại kí nêu trên rất tương đối Các thể kí luôn chuyển hoá và xâm nhập lẫn nhau Nói theo cách khác, không có ranh giới rạch ròi giữa các thể kí mà chúng biến hoá tuỳ theo ý định sáng tác và đặc điểm, bút pháp của nhà văn Trong sáng tác, các nhà văn có thể không quan tâm đến đặc trưng của từng thể loại mà chủ yếu là vận dụng các khả năng, phương tiện của văn học để nhằm thể hiện một cách tốt nhất mục đích của mình
Trang 21Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Có người cho rằng đặc trưng của kí là tính chủ quan, chủ quan trong ghi chép người thật, việc thật Chất liệu thự tế trong đời sống được các tác giả sử dụng trực tiếp thành chất liệu sáng tác và tạo nên các tác phẩm trong văn học và
làm báo quen được gọi là kí văn học và kí báo chí Khi so sánh các đặc trưng kí
có trong một kí văn học và kí báo chí thấy rõ rằng không thể tùy tiện kết luận kí văn học là kết quả của sự xâm nhập báo chí vào văn học Trước khi có hoạt động
báo chí, trong lịch sử văn học từ nghìn xưa đã có những tác phẩm ký, như Sử kí
của Tư Mã Thiên vừa mang tính sử học lại vừa mang tính văn chương Tuy vậy, nếu nghiên cứu kĩ tiến trình văn học Việt Nam thì cũng không thể không thừa nhận sự ảnh hưởng to lớn của báo chí đến các sáng tác phẩm văn chương Tính chính luận, thời sự và tính chiến đấu cao của báo chí trong những giai đoạn lịch
sử nhất định có sức hấp dẫn riêng của nó và là nguồn sáng tạo đích thực, gây cảm hứng đầy sinh lực đối với văn học
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi hạn chế chỉ trong kí văn học Việc xác định một khái niệm đúng đắn về kí khó khăn một phần vì trong kí là một tập hợp đa dạng nhiều bút pháp và chất liệu Ngay việc các tác giả quan niệm về sáng tác của mình đôi khi cũng không hoàn toàn trùng với khung lí luận văn học
Chẳng hạn, Tây sương kí của Vương Thục Phủ thực ra là kịch, Tây du kí của Ngô Thừa Ân lại mang hình hài một tiểu thuyết, Nhật kí người điên của Lỗ Tấn thực chất là truyện ngắn, Nhật kí ở rừng của Nam Cao cũng là một truyện ngắn còn Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh thì lại là tập thơ được Chủ tịch lấy cảm
hứng từ những năm tháng bị giam cầm
Trong 150 thuật ngữ văn học, kí được Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Tên gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại…) chủ yếu là văn xuôi tự
sự, gồm các thể như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí…” [1, tr.176]
Trang 22Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
này hoàn toàn đúng cho văn chương thẩm mĩ mà không bao gồm hết các loại, vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao Đó
là chính luận Không thể xếp văn chính luận vào kí như quan niệm từ trước đến nay vì văn chính luận chủ yếu không phải nhằm thông tin thực tại mà là thông tin
về lập luận Do vậy nên xếp loại bút kí chính luận vào văn chính luận thì chính danh hơn
Như vậy, ký sẽ không bao gồm tuỳ bút và bút kí chính luận nhưng khi xem xét kí trong hệ thống Thơ – Tiểu thuyết – kịch – kí thì kí lại buộc phải bao hàm các loại văn xuôi còn lại Và nếu chấp nhận hệ thống trữ tình - tự sự - kịch thì kí hay tuỳ bút cần phải được xếp vào loại trữ tình Trong tuỳ bút có nhiều yếu
tố trữ tình, phản ánh cách nghĩ và cách cảm chủ quan của tác giả Sự việc chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tâm trạng, là cái đinh để tác giả treo lên đó bức tranh tinh thần của mình… Theo cách phân loại này, nói đến kí là nói đến thể văn tự sự, văn kể trong các tác phẩm văn chương nhằm phân biệt nó với thể văn có vần điệu, kiểu như thơ hoặc trường ca
1.2.1.2 Từ điển tiếng Việt định nghĩa kí là “thể văn tự sự viết về người thật việc thật, có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất” [38,
tr.664] Có lẽ cách quan niệm mang tính phổ thông này lại đáp ứng được những yêu cầu cơ bản nhất của chúng tôi khi đi vào phân tích các tác phẩm của Nguyễn Tuân, vì nói một cách ngắn gọn cho phép chúng ta có một hình dung khái quát (nhưng cũng đầy đủ) về thể kí
Tính xác thực là đặc trưng quan trọng nhất của kí Xét về bản chất và gốc gác, kí không nhằm thông tin thẩm mĩ mà là thông tin sự thật nhưng không vì thế
mà kí thiếu tính nghệ thuật Sở dĩ kí có tính nghệ thuật bởi vì trước hết ngay trong hiện thực cũng đã bao hàm cái thẩm mĩ đồng thời chính nhiệt tình khao khát mong biết được sự thật cũng góp phần tạo nên những quan hệ thẩm mĩ Do
Trang 23Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
đến mức cao nhất” Tuy nhiên, đã là một tác phẩm nghệ thuật, không thể không
nói đến hư cấu Tác giả ký không bao giờ chỉ dừng lại ở chỗ trình bày sự thật,
bởi vì những lí do sau: Một là, hiện thực chỉ là xuất phát điểm, là cái cớ để thông qua đó nhà văn trình bày quan niệm thẩm mĩ của mình Hai là, về bút pháp, văn
học thường sử dụng những phương thức của văn học nói chung để tạo ra một
giọng điệu phong phú, sinh động Ba là, trong thể kí văn học, cái Tôi bao giờ
cũng là cái tôi thẩm mĩ, người nghệ sĩ tái tạo hiện thực trên cơ sở những cảm xúc thẩm mĩ, trình bày những quan điểm thẩm mĩ của mình qua tác phẩm Chính bởi vậy, bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật khác, thủ pháp hư cấu vẫn thường được nhà văn sử dụng Nói cách khác, nhà văn có thể sử dụng những hình thức không xác định để trình bày cái xác định Hư cấu nghệ thuật được sử dụng trong
kí còn bởi một thực tế: tác giả không thể đồng thời chứng kiến tất cả các khía cạnh của sự việc đang xảy ra Muốn có được một bức tranh toàn cảnh của sự việc, nhà văn có thể lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau rồi chế biến theo định niệm của mình Như vậy ngay trong kí, vai trò của tưởng tượng và tư duy theo lối hình tượng vẫn phải đảm bảo ở mức cao nhất Tuy nhiên, không phải người viết ký tưởng tượng và hư cấu thế nào cũng được Về nguyên tắc, những thành phần xác định của người thật việc thật (tên tuổi, ngoại hình, địa chỉ, nguồn gốc … ) người viết phải phấn đấu thể hiện xác thực đến mức tối đa Nhà văn có thể tưởng tượng hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không xác định ( như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, nhân vật phụ…) cũng như việc sắp xếp
tổ chức hệ thống tác phẩm Tóm lại, trong tác phẩm kí văn học, nhà văn có thể
hư cấu nhưng nhìn chung có phần hạn chế và thường ở những thành phần không xác định
1.2.1.3 Sáng tác văn học dạng kí thường thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử
Trang 24Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
ví dụ sinh động trong nền văn học thế giới biểu hiện rõ rệt điều này: văn học Nga giữa thế kỷ XIX khi sự hỗn loạn xã hội với chế độ nông nô sụp đổ, quý tộc suy đồi, tầng lớp hạ lưu bị bần cùng hoá, ký trở thành một trong những thể loại chủ đạo của văn học; hoặc nước Anh đầu thế kỷ XVIII khi các tạp chí châm biếm đăng những bài phác hoạ chân dung và cảnh sinh hoạt, đã trở thành ngọn người cho sự nở rộ thể ký
Trong văn học Việt Nam, kí là một thể loại nhạy bén, linh hoạt luôn bám sát dòng chảy hiện thực vốn có nhiều biến động của đất nước suốt mấy chục năm chiến tranh Ngay trong văn xuôi trung đại, kí là một thể loại mang yếu tố trữ tình rõ nét hơn cả Đồng thời với việc ghi chép trung thực những biến cố lịch sử, tái hiện chân thực bức tranh đời sống, miêu tả sinh động cảnh sắc thiên nhiên, bao giờ các tác giả cũng ít nhiều bộc lộ quan điểm đánh giá, những suy ngẫm chủ quan và những rung động nảy sinh từ chính trái tim mình Người đọc có thể thấy được tính chất, mức độ của yếu tố trữ tình xuất hiện trong kí trung đại qua
một số tác phẩm tiêu biểu: Thanh Hư động kí của Nguyễn Phi Khanh (1384), Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (1783), Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ
(khoảng cuối thế kỷ XVIII), … Sau những tác phẩm kí bằng chữ Hán, vào những năm cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện tác phẩn ký bằng chữ quốc ngữ mà trong đó yếu tố chủ quan của người viết dần được bộc lộ đậm nét Tiêu biểu hơn cả là
Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi 1976 của Trương Vĩnh Ký
Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XX, khi nhiều tờ báo bằng chữ
quốc ngữ lần lượt ra đời như: Gia Định báo – 1865, Đại Việt công báo – 1905, Đông Dương tạp chí – 1913, Nam Phong tạp chí – 1917, An Nam tạp chí –
1922,… thể loại ký đã có điều kiện phát triển với phương tiện sáng tác và bút
pháp mới Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu như: Hương Sơn hành trình kí (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh, Mười ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ
(1919) của Phạm Quỳnh Tuy có bước thay đổi đáng kể về chữ viết nhưng giọng
Trang 25Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
biền ngẫu, bản ngã cá tính còn dè dặt, miêu tả cụ thể nhưng vẫn thiên về ngoại cảnh hơn là về tình cảm nội tâm Đây chính là bước khởi đầu về thời kì chuyển tiếp từ kí trung đại sang kí hiện đại
Từ 1930 – 1945, các thể ký văn học đã được khẳng định với những tác phẩm phóng sự về nông thôn của Ngô Tất Tố, về đời sống của phu nghèo thành thị mọi tệ nạn trộm cắp, cờ bạc… của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, về Hà Nội ba sáu phố phường của Thạch Lam và đặc biệt là qua phong cách tuỳ bút tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân Trong các thể của loại hình kí, có thể nói gây nhiều chú ý hơn cả là những bài tuỳ bút Về thể loại này, hai nhà văn Thạch Lam và
Nguyễn Tuân được coi là hai “khai quốc công thần” với vai trò tiên phong, chủ lực Và tác phẩm tuỳ bút đầu tiên có lẽ là bài Chơi thành Cổ Loa (1938) của
Nguyễn Tuân Đây là một bài tuỳ bút rất ngắn Trong khuôn khổ 4 trang sách in (từ trang 131 đến trang 134 – Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1), tác giả miêu tả cảnh rêu phong hoang phế của thành Cổ Loa, bộc lộ những hoài niệm về những tấn bi kịch trong truyền thuyết và ngậm ngùi, xót xa trước sức tàn phá của thời gian
Giọng điệu câu văn biến hoá rất linh hoạt: “Đường lối đã thuộc, dấu tích đã nhớ,
ta chỉ còn đem cặp mắt thu cái tàn đô của Cổ Loa, rồi đứng trước nếp thành cổ, nhớ lại người xưa, đem con tim khối óc mà cảm khái cuộc đời đổi thay !”
Như vậy, đến năm 1945, thể ký đã cơ bản hoàn tất quá trình thai nghén và sinh thành thể loại tuỳ bút Cùng với thơ mới, truyện ngắn, phóng sự, bút kí, tiểu thuyết, tuỳ bút là thể loại đóng góp đáng kể để làm nên một thời đại văn chương
với nhiều thành tựu rực rõ Tác giả Lê Dục Tú đã có nhận định: “Phóng sự và tuỳ bút là hai tiểu loại ký tiêu biểu làm nên những thành tựu nổi bật của ký giai đoạn 1930 – 1945” [34, tr 408]
Từ 1945 – 1975, trong văn học Việt Nam, ký giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Nhiều tác phẩm ký có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt
Trang 26Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Mĩ, thể kí thực sự là mũi nhọn xông xáo khắp các chiến trường khói lửa, các nẻo đường mưa tuôn nắng dội, len lỏi và những ngóc ngách tận cùng của đời sống :
Kí sự - Trần Đăng, Kí sự Cao Lạng – Nguyễn Huy Tưởng, Tuỳ bút kháng chiến – Nguyễn Tuân, Bất khuất – Nguyễn Đức Thuận, Sống như anh – Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, Những ngày nổi giận – Chế Lan Viên,
Kí chống Mỹ - Nguyễn Tuân, Đường lớn – Bùi Hiển, Rất nhiều ánh lửa – Hoàng Phủ Ngọc Tường… “Những tác phẩm ấy đã phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện thực đời sống bộn bề, phong phú, xứng đáng là “bộ đội tiền tiêu” của văn học nghệ thuật” [34,tr.163]
Từ sau 1975, ngoài các nhà văn đã khẳng định tên tuổi ở giai đoạn trước vẫn còn đều đặn sáng tác ( Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Ngọc…), những cây bút có tác phẩm ký tiêu biểu ở thời kì này là : Võ Văn Trực, Băng Sơn, Nguyễn Ngọc Tư… Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, kí càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đáp ứng nhu cầu hiểu biét ngày càng sâu và rộng của độc giả
Nói tóm lại, ký được hiểu là một thể loại văn học rộng lớn nhằm giữa thể loại văn xuôi hư cấu và thi ca Như vậy, kí là một thể loại văn học có hình thức
là văn xuôi tự sự, phản ánh chất liệu thực của đời sống và cho phép tác giả biểu đạt cảm xúc trực tiếp của mình trước các sự kiện mà tác phẩm đang phản ánh
1.3 Giới thiệu về Nguyễn Tuân và tác phẩm
Xuất hiện trên văn đàn vào đầu thế kỷ 20, Nguyễn Tuân là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn bậc thầy, một nhân cách văn hóa mẫu mực
Nhà văn đã cống hiến cho nước nhà một sự nghiệp văn học đồ sộ đỉnh cao là những bài tùy bút với phong cách riêng biệt không lẫn với bất cứ cây bút nào Ông cũng được coi là một trong ba nhà văn (cùng với Tố Hữu và Xuân
Trang 27Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Nguyễn Tuân sinh ngày 10/07/1910 (mất ngày 28/07/1987 tại Hà Nội), trong một gia đình nhà nho Quê ông ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (nay là phường Nhân Chính), quận Thanh Xuân, Hà Nội
Thời trẻ, Nguyễn Tuân theo gia đình làm ăn sinh sống ở nhiều nơi, trong
đó thời gian lâu nhất là ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hòa, Phú Yên, Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, Hà Tĩnh và Thanh Hóa Gia đình Nguyễn Tuân đông anh em, nhưng cuối cùng chỉ còn hai anh em Vì thế, Nguyễn Tuân được bố mẹ hỏi vợ sớm Ông lấy vợ khi chưa đầy 20 tuổi
Ông học đến bậc trung học ở thành phố Nam Định Ở đây, năm 1929, ông tham gia phong trào bãi khóa, bị đuổi học Không chịu được cảnh sống nô lệ, ông đã cùng một số thanh niên tiến bộ lúc bấy giờ rủ nhau đi trốn sang Thái Lan, nhưng ông bị bắt tại Băng Cốc và bị giải về xử tại Hà Nội và bị quản thúc ở Thanh Hóa năm 1930 Lần bị bắt thứ hai tại Hà Nội, ông bị giam tại trại tập trung ở Vụ Bản, Nho Quan năm 1941
Ở tù ra, ông làm thư kí nhà máy đèn Thanh Hóa Trong thời gian này, ông
bắt đầu viết báo, viết văn và làm phóng viên báo Đông Tây Hết hạn quản thúc,
ông ra Hà Nội tiếp tục sống bằng nghề làm báo, làm văn Ông viết nhiều cho các
báo như Đông Tây, Nhật Tân, Hà Thành Ngọ báo, Tiểu thuyết Thứ bảy, Hà Nội Tân văn, Tao đàn, Thanh nghị, Trung Bắc Chủ nhật Ngoài tên thật, ông còn dùng các bút danh Ngột Lôi Quất, Thanh Hà, Nhất Lang, Thanh Thủy, Tuân, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc Từ năm 1937, ông thật sự đi vào nghề văn và nổi tiếng với một loạt truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết Thứ bảy và Tao đàn trong
những năm 1938-1939 Những truyện ngắn này được tập hợp in trong cuốn
“Vang bóng một thời” (1940)
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi lãng mạn thời kỳ phát triển cuối cùng Hầu hết tác phẩm của ông đều tập
Trang 28Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
trung làm nổi bật cái “tôi” của tác giả, đó là cái tài hoa, khinh bạc, muốn “nổi loạn” chống lại xã hội phong kiến, thực dân
Cách mạng tháng Tám thành công, ông hòa mình vào cuộc sống nhân dân,
rũ bỏ cái “tôi”, vươn lên thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ
“Tùy bút kháng chiến” đã có cái nhìn ấm áp, tin yêu với cuộc đời mới, sự gắn bó
cảm động giữa nhà văn và quần chúng kháng chiến Trong một số truyện như
“Những con đò danh dự”, “Thắng càn”, ông đã thể hiện chân thực những người
lao động bình thường, giản dị, anh dũng trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ của
dân tộc Tùy bút “Sông Đà” viết về cuộc sống đổi thay đi lên chủ nghĩa xã hội ở
vùng Tây Bắc Những năm chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Tuân có những tùy bút viết về cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân thủ đô Hà Nội, được tập hợp trong
tác phẩm “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”
Ngoài truyện kí, ông còn viết tiểu luận, phê bình văn học, các chân dung
văn học và dịch giới thiệu văn học nước ngoài Ông viết về tiếng Việt giàu và đẹp, về Truyện Kiều, về Tú Xương, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Thạch Lam, Tolstoi, Dostoievsky, Chekhov (Nga), Lỗ Tấn (Trung Quốc)…
Với vốn hiểu biết phong phú nhiều lĩnh vực, với năng lực thẩm mĩ sắc sảo
và lối viết tài hoa, những bài viết của ông đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng độc giả Với Nguyễn Tuân, ngôn từ không chỉ là chất liệu mà còn là văn
chương và nhà văn đã có ý thức “lạ hóa” nó, để tạo dấu ấn độc đáo cho mình
đồng thời lôi cuốn người đọc
Gần 50 năm hoạt động văn học liên tục, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại, với phong cách nghệ thuật độc đáo, trình độ sử dụng tiếng Việt điêu luyện Tùy bút là sở trường và chiếm số lượng lớn nhất trong văn nghiệp của ông cũng là phần in dấu
đậm nét và phong phú hơn cả cái “tôi” độc đáo của nhà văn Tùy bút của ông
Trang 29Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
thấm đượm văn hóa Đông Tây, không chỉ thấu hiểu triết lí mà còn thấm cả đạo
lí, dù hấp thụ sâu sắc chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn thấy mình nặng nợ với đất nước, với làng xóm, thấy mình có gốc rễ từ lịch sử
Từ một cây bút tiêu biểu của văn xuôi lãng mạn tiểu tư sản thời kỳ
1939-1945, nhà văn tự nguyện đến với cách mạng, dùng ngòi bút tham gia cuộc đấu tranh của nhân dân, dân tộc Con đường nghệ thuật này của Nguyễn Tuân tiêu biểu cho một lớp văn nghệ sĩ Việt Nam vốn mang quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, đã chuyển mình trở thành văn nghệ sĩ cách mạng Toàn bộ sáng tác của ông thấm đẫm tinh thần dân tộc thiết tha, nhất là những giá trị văn hóa cổ truyền
Từ năm 1948-1958, Nguyễn Tuân là Tổng Thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam Sau đó, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I và khóa II Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996
Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Ông yêu tha thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà , những nhạc điệu của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, những nét đẹp rất riêng của Việt Nam Ở Nguyễn Tuân,
ý thức cá nhân phát triển rất cao Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính
độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là "chủ nghĩa xê dịch"
Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần
bị tù)
Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương Nguyễn Tuân
Trang 30Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
nổi tiếng là người sành ăn Với ông, ăn là một nghệ thuật, một giá trị thẩm mỹ,
một sự khám phá cái ngon mà tạo hóa đã ban cho
Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí "khổ hạnh" và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỉ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay Ông đã từng thử qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng Nhưng mãi đến đầu năm 1938, sở trường của Nguyễn Tuân mới
được phát huy và thành công xuất sắc với tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua…
Tác phẩm của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám xoay quanh ba
đề tài “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”, và “đời sống trụy lạc” Nguyễn Tuân đã tìm đến “chủ nghĩa xê dịch” trong tâm trạng bất mãn và
bế tắc, bất lực trước thời cuộc Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân
lại có dịp bày tỏ tấm lòng tha thiết gắn bó của ông đối với cảnh sắc và phong vị
của đất nước mà ông đã ghi lại bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi)
Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai , Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp trong
quá khứ còn “vang bóng một thời” Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với
những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã Tất cả
được thể hiệ thông qua những con người thuộc lớp nhà Nho tài tử - “tài hoa bất đắc chí” trước thời cuộc, tuy họ đã thua cuộc nhưng không chịu đầu hàng, không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao trong Chữ người tử tù)
Nguyễn Tuân cũng hay viết về đời sống trụy lạc Ở những tác phẩm này,
người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc Trong tình trạng
khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc,
Trang 31Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua)
Từ sau cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng Ông chân thành đem ngòi bút của mình phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc nhưng ông luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị là một nhà văn, đồng thời vẫn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng Nguyễn Tuân đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo, đầy nghệ thuật
ca ngợi quê hương, đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc
Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể
thâu tóm trong một chữ "ngông” Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của
Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác Và mọi sự vật được miêu tả
dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật
Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương
sót lại và ông gọi là Vang bóng một thời Sau Cách mạng, ông không đối lập
giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại
Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch" Vì thế ông là nhà văn của
những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, của bão, của núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội
Trang 32Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu Cả cuộc đời cầm bút, Nguyễn Tuân trung thành với lối chơi ấy Tùy bút là sở trường của Nguyễn Tuân
và tài năng của ông cũng được phát huy cao độ ở thể văn này Chỉ có thể văn xuôi tự do phóng túng này mới giúp nhà văn mặc sức phô bày những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những tài hoa, uyên bác của mình một cách tự nhiên nhất, thoải mái nhất Tên tuổi của Nguyễn Tuân tỏa sáng với thể loại tùy bút Trên cơ
sở thống kê sự nghiệp sáng tác của nhà văn chúng tôi thấy: Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự tổng cộng khoảng 1153 trang, trong khi đó tùy bút chiếm khoảng
3118 trang Với Nguyễn Tuân, ông viết gì cũng hướng tới tùy bút và nói như Trương Chính: “Truyện ngắn, truyện dài, phóng sự của ông tất cả đều là những thiên tùy bút trá hình” [35, tr 84]
Tùy bút Nguyễn Tuân mang đậm chất kí, nghĩa là ghi chép sự thật và thông tin thời sự chính xác, “một thứ bút pha du kí” Pôlêvôi đã từng nói rằng: Một bài kí sự hay quả là một bài có đủ mọi đặc trưng của thể loại báo chí thuần túy, nó hết sức cụ thể, có thể tái hiện được sự thật chân chính Những nhân vật tạo nên phải là những con người có thật trong cuộc sống hiện thực, những sự việc mô tả phải gắn chặt với địa điểm đúng như người ta thường nói: Kí có địa chỉ chính xác của nó Điều này thật có lí khi thể loại kí ở nước ngoài người ta còn gọi là “văn học báo cáo”, “văn học tư liệu – nghệ thuật” Từ việc bám sát người thật việc thật, những bài kí đều nhằm mục đích phục vụ kịp thời cho những nhu cầu hiểu biết thực tế của người đọc Vì vậy, ta có thể thấy một đặc điểm trong những bài kí của Nguyễn Tuân là thường xuyên liệt kê, thống kê, đếm và kể số lượng một cách chính xác để khẳng định tính xác thực của đối tượng phản ánh Nguyễn Tuân đưa vào các bài kí của mình những địa danh,
Trang 33Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
những sự vật, những con người “có địa chỉ”, những số liệu chính xác, tỉ mỉ, những sự kiện có thật trong cuộc sống
Nguyễn Tuân đến với kí như một định mệnh, song đó không chỉ là những trang ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe của một con người “đi để viết” một cách vô hồn, mà nó còn là nơi để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư,… về con người và cuộc sống Nói cách khác, bên cạnh việc phản ánh hiện thực, tác giả kí còn bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình một cách tự do Và ở kí Nguyễn Tuân, những suy nghĩ, cảm xúc chủ quan của tác giả là nguyên nhân
mang lại cho tác phẩm chất trữ tình đậm sắc Trong tùy bút Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, ngoài những thông tin về các trận chiến đấu cụ thể của Hà Nội thắng Mĩ, là
những cảm xúc của nhà văn về thiên nhiên, cảnh sắc, truyền thống của Hà Nội,
về tâm hồn, tính cách của con người nơi Hà thành
Đọc những tác phẩm kí của Nguyễn Tuân, gặp những câu văn giàu hình ảnh và đậm chất trữ tình, ta thấy nhà văn đã dụng tâm tái hiện không chỉ là nhịp sống mà còn là nhịp điệu tâm hồn của chính tác giả Phải thừa nhận rằng, để viết được những câu văn như thế, Nguyễn Tuân phải là người có khiếu quan sát, trí tưởng tượng và óc liên tưởng thẩm mĩ phong phú, độc đáo Bởi nếu như chỉ miêu
tả theo lối kể đơn thuần chắc chắn sẽ không thể tạo nên những lời văn vừa giàu chất thơ, lại vừa đa dạng về hình ảnh như thế
Mạch văn trong kí Nguyễn Tuân tuôn chảy theo dòng cảm xúc hết sức thoải mái, chuyện này đan xen chuyện khác, lồng chồng chéo vào nhau không theo một trình tự nào và cũng không bị hạn chế bởi không gian, thời gian Khi thì lướt rất nhanh, chỉ điểm một vài nét chấm phá, khi thì dừng lại rất lâu ở một cảnh, một sự việc rồi soi, chiếu, quan sát tỉ mỉ như muốn người đọc cùng ấn tượng và đồng khám phá với mình Có nhiều lúc Nguyễn Tuân huy động hết tất
cả các giác quan của mình để miêu tả kết hợp giữa mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi,
Trang 34Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
trí óc liên tưởng… Và chính những đặc điểm này đã thực sự làm cho kí Nguyễn Tuân có được những nét riêng biệt mà người đọc không thể nhầm lẫn
Nhận xét về phong cách Nguyễn Tuân, Phan Cự Đệ đã đưa ra những đánh
giá xác đáng: “Những trang kí của Nguyễn Tuân chứng tỏ anh là một nhà văn từng trải, lịch lãm, một cây bút thích la cà, tọc mạch, một con người tỉ mỉ, kĩ tính, đã nghiên cứu cái gì thì tìm hiểu đến từng chi tiết, con số” [15, tr 88]
Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ tài hoa, cùng vốn kiến thức uyên bác, sự am hiểu sâu sắc nền văn hóa dân tộc cũng như nền văn hóa nhân loại kết hợp với thái độ lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc, là những yếu tố tạo nên thành công của nhà văn ở thể loại kí Có thể nói, những trang kí của Nguyễn Tuân luôn
có sức cuốn hút mãnh liệt đối với ngưới đọc bởi tính xác thực, tính thời sự và chất trữ tình của nó Sự hóa thân của Nguyễn Tuân đã làm cho thể loại văn xuôi này thăng hoa Và ngược lại, kí cũng làm nên một Nguyễn Tuân có vị trí số một
mà không ai có thể thay thế được trong nền văn học Việt Nam thế kỉ 20
Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam
1.4 Tiểu kết
So sánh là một cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ kí nói riêng So sánh là một quá trình nhận thức thế giới khách quan để phát hiện và chỉ ra sự đồng nhất cũng như khác biệt về thuộc tính của các sự vật đặt cạnh nhau Trong kí Nguyễn Tuân, phép so sánh góp phần tạo nên những hình ảnh mới, những sáng tạo độc đáo cho văn học, đồng thời cũng cho thấy phong cách riêng, độc đáo của nghệ sĩ ngôn từ tài hoa Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn của Việt Nam đã ghi lại dấu
ấn đậm nét và cũng là một cây kí hàng đầu của nền văn học nước ta Với các tác
Trang 35Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
trí riêng có một không hai trong làng kí Việt Nam Để tạo ra phong cách riêng
đó, phép so sánh có đóng góp quan trọng trong việc thể hiện cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân
Trang 36Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
CHƯƠNG 2 PHÉP SO SÁNH TRONG KÍ NGUYỄN TUÂN
2.1 Cấu trúc so sánh trong kí Nguyễn Tuân
2.1.1 Mô tả
Trong 60 bài kí được khảo sát (Tuyển tập Nguyễn Tuân, 2005, NXB Văn
học), tác phẩm nào cũng sử dụng phương thức so sánh với mật độ thưa dầy khác nhau Chúng được hiện thực hóa qua 1123 trường hợp ở 15 dạng Sau đây là sự
- Anh thanh niên Mèo đẹp như tạc tượng trên gỗ (Nhật kí lên Mèo)
- Cây đèn biển cửa Tùng đỏ đỏ nháy nháy như là một người mất ngủ cay mắt
(Đò tuyến)
- Hầm bem của đài phát thanh bao giờ cũng duyên dáng hơn mọi hầm bem khác
(Bưu điện Thanh đánh Mĩ)
- Cánh tuyết tan loãng như một giấc mơ nhẹ trên miếng thủy tinh trơn tru loáng lạnh
Trang 37Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
- Trời thu thả sương sớm tựa như một buổi thả lưới bắt chim mòng, chim két
(Một đêm họp đưa ma Phụng)…
Dạng A + x + tnss + B được sử dụng 467/1123 lượt, chiếm tỉ lệ 41,6%
Với kiểu so sánh này, tác giả đưa ra một sự vật, hiện tượng cùng với một đặc tính nhất định của nó (A + x) để so sánh với một sự vật, hiện tượng khác loại (B) Cách so sánh này dẫn người đọc tới một đặc tính nhất định, thường là tồn tại hiển nhiên ở sự vật, hiện tượng so sánh (B) Người đọc sẽ hiểu được A thông qua các đặc tính của B ở từng hoàn cảnh cụ thể trong một sáng tác
- Chúng tôi nằm ép vào nhau, mà nghe mưa như tháo cống trên mái lều
(Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy)
- Có những buổi thấy mình như một con mèo rừng bỗng nhớ một mảnh giăng về sáng chênh chếch trên một đầu nhà ngoại thành
(Chuyện nghề)
- Hoa tía như kết chỉ tơ điều, đính vào những dây tua
Trang 38Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
- Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh phúc hậu như một quả trứng thiên nhiên đầy đặn
(Cô Tô)
Dạng A + tnss + B được sử dụng 381/1123 lượt, chiếm tỉ lệ 34% Với
kiểu so sánh này, tác giả đã đồng nhất hoặc tương tự hóa hai sự vật, hiện tượng khác loại (A và B), mặc dù chúng có rất nhiều đặc tính Cách so sánh mở này bắt buộc người đọc phải suy ngẫm, phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng để chọn ra đặc tính nào (hoặc những đặc tính nào) là căn bản và được xem là tương đồng ở hai sự vật, hiện tượng này, để tác giả lấy đó làm căn cứ để so sánh (Đồng sáng tạo cùng tác giả)
Trang 39Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
- Cái đêm sáo Mèo í lên ộ xuống, cái đêm xem Mèo nhảy, và đôi con mắt đăm đăm cô bé Mườ hút theo lườn dốc núi, không có ăn thua gì với cuộc đời gian truân của vợ chồng A Phủ
(Đọc và xem A Phủ)
- Đốt sáng tạo trong mê sảng, cũng như sống trong mê sản
(Đốt-x-tôi)…
Dạng tnss + B được sử dụng 137/1123 lượt, chiếm tỉ lệ 12,2% Trong cấu
trúc này, yếu tố so sánh và phương diện so sánh đã được giấu đi, trở thành khoảng trống mơ hồ Người đọc muốn biết yếu tố so sánh ở đây là ai hay là gì và tác giả dựa vào phương diện nào để làm cơ sở so sánh thì phải đoán định căn cứ vào văn cảnh cụ thể, đó là những thành phần câu, câu, đoạn… đứng trước hoặc sau nó
tnss: như B1: vàng A2: đắt Tnss: như B2: tinh hồng)
Các ví dụ khác:
- Đước mà người Cà Mau thấy rừng nó rậm rạp thẳng tắp thì gọi là nó
Trang 40Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
- Tôi cứ nghĩ Ngô Tất Tố đã như là một ông Bụt của cái Tí - một thứ Bụt hao hao giống thứ Bụt đã vỗ về cái Tấm trong cổ tích Tấm Cám (Tắt đèn)
- Nho sĩ, đồ nho chẳng khác gì những con nước thoái triều, mà Tây thì như con nước đang lên
(Thời và thơ Tú Xương)
- Truyện Thuốc cũng như các truyện khác trong tập Hò reo và Bàng hoàng, mới đọc nó như u uất bi phẫn suông, nhưng thực ra nó phát động ý thức cách mạng