1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong thời xa vắng

176 845 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thông từ vựng được chia thành các trường nghĩa trường từ vựng - ngữ nghĩa, xác lập nghiên cứu các trường từ vựng ngữ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nghĩa của các

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ THỊ THỦY

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG TỪ VỰNG

CHỈ TÌNH CẢM, THÁI ĐỘ TRONG THỜI XA VẮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thái Nguyên, 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ THỊ THỦY

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG TỪ VỰNG

CHỈ TÌNH CẢM, THÁI ĐỘ TRONG THỜI XA VẮNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VIỆT HÙNG

Thái Nguyên, 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, điều tra, kết luận trong đề tài là trung thực và chƣa từng công bố ở bất kì công trình nào khác

Vũ Thị Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Việt Hùng Em xin gửi đến thầy lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc nhất

Luận văn là kết quả của một quá trình học tập Tác giả xin gửi lời cảm

ơn đến những Thầy Cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ khóa 2009 - 2011 ĐHSP Thái Nguyên

Mặc dù tác giả đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô và bạn bè đồng nghiệp, những người quan tâm đến đề tài này

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011

Tác giả

Vũ Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……….1

2 Lịch sử vấn đề……….3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ……… 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu………6

4.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 6

5 Phương pháp nghiên cứu ………6

6 Ý nghĩa và đóng góp của luận văn……… 6

6.1 Ý nghĩa lý luận ……… 6

6.2.Ý nghĩa thực tiễn….……… 6

7 Cấu trúc luận văn ….… ……… 7

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN ………8

1.1 Vài nét về tác giả Lê Lựu và tác phẩm “Thời xa vắng”…….…… 8

1.2 Các khái niệm cơ sở ………9

1.2.1 Từ và từ tiếng Việt……….………….9

1.2.1.1 Khái niệm ……… 9

1.2.1.2 Đặc điểm ……….12

1.2.2 Sự kết hợp từ……….14

1.2.3 Nét nghĩa……….……… 17

1.2.4 Cụm từ……… 20

1.2.5 Trường nghĩa……….………22

1.2.5.1 Trường nghĩa biểu vật………23

1.2.5.2 Trường nghĩa biểu niệm……….………24

1.2.5.3 Trường nghĩa liên tưởng………25

1.2.5.4 Hiện tượng chuyển trường nghĩa……… 26

Trang 6

1.2.6 Nghĩa của từ trong hoạt động………28

1.2.6.1 Sự hiện thực nghĩa của từ ……….28

1.2.6.2 Sự chuyển nghĩa của từ……… 30

1.2.7 Nhóm từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong tiếng Việt…….32

1.2.7.1 Khái niệm.……… 32

1.2.7.2 Đặc điểm ……… ………33

a Đặc điểm ngữ pháp………33

b Đặc điểm ngữ nghĩa ……… 35

1.3 Tiểu kết ……… ……… 38

Chương 2 TRƯỜNG TỪ VỰNG CHỈ TÌNH CẢM, THÁI ĐỘ TRONG “THỜI XA VẮNG”.………40

2.1 Khái quát về từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng” 40

2.1.1 Phân loại theo từ loại………40

2.1.1.1 Danh từ - ngữ danh từ……….41

2.1.1.2 Động từ - ngữ động từ.………42

2.1.1.3 Tính từ - ngữ tính từ………44

2.1.2 Phân loại theo ngữ nghĩa.……… 47

2.1.2.1 Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ tích cực……….48

2.1.2.2 Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ tiêu cực……….50

2.1.2.3 Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ không đánh giá được theo tiêu chí [± tích cực]……….……… 53

2.1.3 Phân loại theo phong cách sử dụng.……… 57

2.2 Các nét nghĩa tiêu biểu và điển hình của từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”… ………60

2.2.1 Nét nghĩa trung tâm……… 60

2.2.2 Nét nghĩa phụ………61

2.2.3 Ẩn dụ hóa……… 63

2.2.4 Hiện tượng chuyển nghĩa……… 66

Trang 7

2.2.4.1 Các kiểu chuyển nghĩa ……… 67

a Kiểu chuyển nghĩa phổ biến……… 67

b Kiểu chuyển nghĩa cá nhân ……… 73

2.2.4.2 Các phương thức chuyển nghĩa.………79

2.3 Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”: những sáng tạo riêng của Lê Lựu ……….82

2.3.1 Từ mới……… 82

2.3.2 Nghĩa mới……….84

2.4 Tiểu kết ……… ……… 87

Chương 3 HOẠT ĐỘNG CỦA TỪ NGỮ CHỈ TÌNH CẢM, THÁI ĐỘ TRONG “THỜI XA VẮNG” ……….90

3.1 Giá trị của ngôn từ trong khắc họa tính cách nhân vật và hoàn

cảnh xuất hiện của nhân vật……… 90

3.2 Những biểu hiện của việc sử dụng ngôn từ của Lê Lựu trong khắc họa tính cách nhân vật ……… 92

3.2.1 Mật độ từ ngữ trong diễn tiến cốt truyện……… 92

3.2.2 Từ ngữ xuất hiện nổi trội……… 94

3.2.3 Sự xuất hiện nổi trội của các nét nghĩa có trong từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ ở “Thời xa vắng”……….102

3.2.4 Sự phân bố của từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ ở nhân vật Sài ……… 106

3.2.5 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ Lê Lựu, xét từ góc độ sử dụng từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ……….117

3.3 Tiểu kết ………122

KẾT LUẬN……….……… 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ, đơn vị trung tâm của toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, là chất liệu cơ bản dùng để tạo ra các thông điệp Trong hệ thống ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng không tách biệt rời nhau

mà luôn có những mối quan hệ nhất định về hình thức và cả về ý nghĩa Ngôn ngữ học hiện đại coi nghĩa và những mối quan hệ về nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất, trong đó có nghĩa và các quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng Hệ thông từ vựng được chia thành các trường nghĩa (trường từ vựng - ngữ nghĩa), xác lập nghiên cứu các trường từ vựng ngữ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ nói chung và nghĩa của từ nói riêng, đồng thời cũng giúp ích rất nhiều trong việc lựa chọn, kết hợp từ để tạo lời, phục vụ mục đích giao tiếp

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, từ chỉ tình cảm, thái độ có số lượng

khá lớn: Theo thống kê của Nguyễn Ngọc Trâm, trong Từ điển tiếng Việt,

Hoàng Phê chủ biên (2008 - Nxb Đà Nẵng) có 40000 mục từ thì có khoảng

4000 đơn vị từ vựng có nét nghĩa cơ bản là tâm lí - tình cảm, thái độ; chiếm hơn 10% Không chỉ chiếm số lượng lớn, từ chỉ tình cảm, thái độ còn thuộc lớp từ vựng cơ bản, nó biểu thị những hoạt động cơ bản của con người, đó là hoạt động tâm lí - tình cảm Ở đâu có con người, ở đó có phản ứng tâm lí - tình cảm, có quan hệ tình cảm Do đó các từ chỉ tình cảm, thái độ có tần số sử dụng cao trong giao tiếp, đặc biệt là trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong văn chương nghệ thuật Vì vậy mà nghiên cứu về nhóm từ này là việc làm cần thiết

Tuy là lớp từ vựng cơ bản song nghiên cứu về từ chỉ tình cảm trong

tiếng Việt, cho đến nay ngoài tác giả Nguyễn Ngọc Trâm với “Nhóm từ tâm lí

- tình cảm tiếng Việt” thì thực sự chưa có công trình nào đáng kể, nhất là

những nghiên cứu về nhóm từ này trong giao tiếp

Trang 9

Cùng với sự đổi thay của đất nước , văn học Việt Nam sau 1975 cũng nhanh chóng thay đổi diện mạo: từ quan niệm về nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người đến những thay đổi về phương diện nghệ thuật, với những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Nguyễn Khải, Bảo Ninh tạo nên một trào lưu mới trong văn học Hòa chung dòng chảy đó chúng ta bắt gặp Lê Lựu - một trong những cây bút đã góp phần không nhỏ vào sự thay đổi nhanh chóng bộ mặt nền văn học Việt Nam sau 1975 Những

tiểu thuyết: “Thời xa vắng” (1986); Chuyện làng Cuội (1991); Sóng ở đáy

sông (1995) lần lượt ra đời như những bức tranh sinh động, khắc họa chân

thực những tháng ngày đầu đất nước trong thời kì đổi mới Đặc biệt sự ra đời

của “Thời xa vắng” đã làm nên tên tuổi Lê Lựu Nói như Đinh Quang Tốn :

“Nếu trong số 600 hội viên Hội nhà văn Việt Nam; cứ 10 người chọn lấy một người tiêu biểu thì Lê Lựu là một trong tổng số 60 nhà văn ấy Nếu về văn

xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30 tác phẩm, thì có mặt “Thời xa vắng”

[49, tr.22] Qua đó có thể thấy trong văn học Việt Nam hiện đại Lê Lựu và

Thời xa vắng đã có một vị trí đáng kể Vì vậy nghiên cứu ngôn ngữ văn

chương của ông nói chung và ngôn ngữ trong “Thời xa vắng” nói riêng là một

việc làm ý nghĩa

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Lê Lựu

cũng như “Thời xa vắng” Những nghiên cứu này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở

phương diện nội dung tư tưởng Xét trên phương diện nghệ thuật, các ý kiến đánh giá về các sáng tác của ông còn chưa thống nhất Nhiều người có ý cho

là : “Văn Lê Lựu không chuốt, mộc quá, còn có những câu què hoặc trúc trắc,

thậm chí có câu ngữ pháp chưa chỉnh” Một số khác lại cho rằng : “Tiểu thuyết “Thời xa vắng” được xây dựng bằng giọng văn trầm tĩnh, vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú Chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục hấp dẫn của tác phẩm” [32, tr.123] Khen nhiều, chê cũng không ít, tuy

nhiên tất cả mới chỉ là những nhận xét mang tính khái quát xen vào ở một số

Trang 10

bài phê bình văn học Chưa có công trình nghiên cứu nào là thực sự đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ văn chương Lê Lựu như một đối tượng nghiên cứu Việc nghiên cứu các trường từ vựng - ngữ nghĩa trong các sáng tác của Lê

Lựu cũng như trong tiểu thuyết “Thời xa vắng” lại càng không ai nhắc đến

Vì những lẽ đó chúng tôi lựa chọn đề tài “Bước đầu nghiên cứu trường

từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”” với hy vọng kết quả

nghiên cứu sẽ giúp chúng ta nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ văn học, sự phong phú đa dạng và khả năng biểu đạt tinh tế, chính xác, linh hoạt của nhóm từ chỉ tình cảm, thái độ trong tiếng Việt, những thay đổi của nhóm từ này khi tham gia hoạt động giao tiếp Đồng thời góp phần làm rõ đặc điểm phong cách Lê Lựu cũng như những đóng góp của ông xét từ góc độ sử dụng từ ngữ

2 Lịch sử vấn đề

Lí thuyết về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ học Đức và Thụy sĩ đưa ra vào những năm 20 -30 của thế kỉ trước với tên tuổi của J Trier, L Weisgerber, Meyer “Lí thuyết trường trong buổi đầu có tham vọng quá lớn: chia hết các từ vào các trường, vạch được ranh giới triệt để giữa các trường, không chấp nhận tình trạng một từ “đi” vào một số trường trong khi từ và nghĩa chưa được sơ bộ “xử lí” một cách thích đáng, đủ để rút ra những căn cứ nhất quán cho việc phân lập các trường Về sau, lí thuyết này được vận dụng một cách “khiêm tốn” hơn, không phân trường toàn bộ vốn từ, mà chỉ nghiên cứu một vài trường nhỏ.” [ 4, tr 162] Đến H Husgen, lí thuyết trường được vận dụng vào việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ

Ở Việt Nam, lí thuyết trường du nhập muộn hơn (những năm 70) và

gắn với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu Với công trình Từ vựng

- ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1981, lần đầu tiên ở Việt Nam lí thuyết

về trường nghĩa đã được trình bày đầy đủ, hệ thống Sau này, lí thuyết trường nghĩa được các nhà Việt ngữ học như: Hoàng Phê, Nguyễn Đức Tồn, Lê

Trang 11

Quang Thiêm, Đỗ Việt Hùng… ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ nghĩa

Nghiên cứu về từ chỉ tình cảm, thái độ và nghĩa tình thái trong tiếng Việt đã đƣợc các tác giả nhƣ: Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Ngọc Trâm, Bùi Trọng Ngoãn, Nguyễn Đức Tồn, Lê Quang Thiêm, Đỗ Hữu Châu thực hiện trên các mặt: đặc điểm cấu tạo, khả năng kết hợp, ý nghĩa, giá trị biểu trƣng Những công trình tiêu biểu bao gồm: các sách nghiên cứu, những chuyên luận

về từ chỉ tâm lí - tình cảm hoặc về nghĩa tình thái là các bài nghiên cứu trên

các tạp chí Có thể kể đến nhƣ: Nguyễn Ngọc Trâm với “Nhóm từ tâm lí - tình

cảm của tiêng Việt và một số vấn đề từ vựng - ngữ nghĩa”, Nxb Khoa học Xã

hội, H, 2002; “Tìm hiểu nhóm từ biểu thị phản ứng tâm lí - tình cảm trong

tiếng Việt”, T/C Ngôn ngữ số 3, 1975; “Về một nhóm động từ thái độ mệnh đề trong tiếng Việt”, T/C Ngôn ngữ số 3, 1990; “Từ tâm lí - tình cảm tiếng Việt trong bảng phân loại các phạm trù ngữ nghĩa”, T/C Ngôn ngữ số 3, 1993

“Những đơn vị vựng biểu thị tâm lí, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt”, Vũ Đức Nghiệu, T/CKhoa học, ĐHQGHN, Khoa

học Xã hội và Nhân văn, 23, 2007 “Tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt

với việc biểu trưng tâm lí tình cảm”, Nguyễn Đức Tồn, Văn hóa dân gian số

3, 1994 “Ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng

Nga”, Nguyễn Đức Tồn, T/C Ngôn ngữ số 4, 1989 “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu, Nxb GD, H,1999 “Khảo sát động từ tình thái trong tiếng Việt”, luận án tiến sĩ của Bùi Trọng Ngoãn, 2004 “Về khái niệm tình thái”, Hoàng Tuệ, số phụ T/C Ngôn ngữ số 1, 1988 “Về đặc trưng của các kiểu loại tình thái trong thơ”, Lê Quang Thiêm, “Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á”, Nxb Khoa học Xã hội, H,1988 Trong số các công trình trên,

đáng kể nhất là “Nhóm từ tâm lí - tình cảm tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Ngọc Trâm Trong chuyên luận này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu “Nhóm

từ tâm lí - tình cảm tiếng Việt” một cách toàn diện, từ bình diện ngữ pháp đến

ngữ nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng

Trang 12

Nghiên cứu về ngôn ngữ văn chương Lê Lựu cho đến nay vẫn còn rất

ít, chúng tôi được biết và có thể kể đến : “Các hình thức thoại dẫn trong tiểu

thuyết “Đại tá không đùa”, Hoàng Thanh Huyền, 2004 “Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới”, Đỗ Hải Ninh; “Lê Lựu - Thời xa vắng”, Đinh Quang Tốn

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu trường nghĩa; nhóm từ ngữ tình cảm, thái

độ và đặc điểm ngôn ngữ văn chương của Lê Lựu, chúng tôi nhận thấy: nghiên cứu về trường nghĩa ngày càng được mở rộng, đào sâu trên cơ sở tư liệu về nhiều mặt Tuy nhiên những nghiên cứu về nhóm từ ngữ chỉ tình cảm mới chỉ dừng lại ở phạm vi khiêm tốn Đặc biệt việc nghiên cứu ngôn ngữ

trong các sáng tác của Lê Lựu nói chung và ngôn ngữ của “Thời xa vắng” nói

riêng còn rất ít Chúng tôi thiết nghĩ công việc nghiên cứu trường từ vựng chỉ sắc thái tình cảm cũng như ngôn ngữ văn chương của Lê Lựu cần phải được

mở rộng, đào sâu hơn nữa và đ ề tài này của chúng tôi là một cố gắng theo hướng đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Vận dụng những thành tựu nghiên cứu ngữ nghĩa vào việc khảo sát phân tích hoạt động của trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ tình cảm, thái độ trong

“Thời xa vắng” nhằm phát hiện ra những đặc điểm của nhóm từ ngữ chỉ tình

cảm, thái độ khi nhóm từ này tham gia vào hoạt động giao tiếp, đồng thời phát hiện những đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ của Lê Lựu, xét từ góc

3.2 Hệ thống hóa một số khái niệm liên quan đến từ, cụm từ, trường nghĩa và

nhóm từ chỉ tình cảm trong tiếng Việt

3.3 Khảo sát, phân tích các từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ được Lê Lựu sử dụng

trong tiểu thuyết “Thời xa vắng”

Trang 13

3.4.Trên cơ sở khảo sát, phân tích, luận văn chỉ ra những đặc điểm của nhóm

từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ khi nhóm này tham gia hoạt động tạo lời, và nét đặc sắc trong việc sử dụng từ chỉ tình cảm, thái độ của Lê Lựu để khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là toàn bộ các từ ngữ chỉ tình

cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ ở các mặt ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của nó

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được sử dụng trong luận văn này là phương pháp miêu tả đồng đại, phương pháp phân tích ngữ nghĩa và phân tích ngữ cảnh Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại, thủ pháp

so sánh

6 Ý nghĩa và đóng góp của luận văn

6.1.Ý nghĩa lí luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung những hiểu biết

về từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ Đây cũng là lớp từ ngữ đặc biệt quan trọng được sử dụng nhiều trong giao tiếp nói chung và trong văn bản nghệ thuật nói riêng, tạo nên giá trị đặc sắc của ngôn ngữ văn chương, trong đó có ngôn ngữ văn chương Lê Lựu

Luận văn góp phần nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa, giá trị sử dụng của một nhóm từ ngữ khi tham gia vào một văn bản cụ thể, để thấy rõ những biến đổi của nhóm từ ngữ này khi chúng tham gia hoạt động giao tiếp , đặc biệt là những biến đổi về mặt ngữ nghĩa Đồng thời phát hiện nét riêng, tài năng của

Lê Lựu trong việc sử dụng từ ngữ

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Trang 14

Nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”

sẽ góp thêm một cái nhìn khách quan về những đóng góp của Lê Lựu xét trên

phương diện sử dụng từ ngữ

Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu về ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ Lê Lựu nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng” Chương 3: Hoạt động của từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa

vắng”

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Vài nét về tác giả Lê Lựu và tác phẩm “Thời xa vắng”

Sinh ngày 12/12/1942 ở Khoái Châu Hưng Yên, Lê Lựu thuộc lớp nhà

văn quân đội, sinh ra và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, một trong những cây bút tiên phong trong quá trình đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 Về con người, Lê Lựu là người chân chất mộc mạc, Trần

Đăng Khoa, trong “ Chân dung và đối thoại” đã nhận xét: “Lê Lựu như hòn

gạch xỉ - như một tảng đá hộc Đó là một tảng đá nguyên khối, xù xì của thiên nhiên hoang dã mà đời sống hiện tại đô thị và nền văn minh thế giới không thể gọt đẽo được, cũng không thể tác động vào được Cái “chất quê kiểng đặc sệt” này là cái duyên riêng của Lê Lựu, cũng như cái Lê Lựu hơn người Tiếp xúc với anh, người ta mến ngay Mà đâu phải chỉ mến, còn mê nữa” [Theo 18, tr.325]

Đến với nghiệp văn, lúc đầu Lê Lựu là một cây bút truyện ngắn kì cựu.Truyện đầu tiên của ông trình làng vào 1974 có cái tên rất thật thà, rất

quê: “Tết làng Mụa” Tiểu thuyết đầu tiên của Lê Lựu ra đời năm 1975, có tên là “Mở rừng”, được đánh giá là cuốn tiểu thuyết vào loại khá của văn học Việt Nam những năm 70 Ngoài “Mở rừng” tiểu thuyết Lê Lựu còn có thể kể đến: “Thời xa văng” ( 1986), “Chuyện làng cuội” (1991), “Sóng ở đáy sông” (1994) Trong số này có giá trị hơn cả là “Thời xa vắng”

“Thời xa vắng” - một tiểu thuyết tiêu biểu trong đời viết văn của Lê

Lựu, tác phẩm ôm chứa một dung lượng lớn, chặng đường lịch sử 30 năm oai hùng của dân tộc, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng toàn bộ đất nước Lịch

Trang 16

sử được khái quát bằng tiểu thuyết thông qua số phận bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài : học giỏi; là niềm hy vọng, tự hào của cả gia đình và dòng họ Nhưng cũng chính niềm tự hào đó đã đặt lên vai cậu bé Sài một thứ

áp lực vô hình, lúc nào cũng phải học, phải làm theo những điều mà mọi người xung quanh cho là “tốt nhất” Lấy vợ cũng phải do cha mẹ chọn, ngủ với vợ cũng vì để tránh cái án kỉ luật làm ô nhục danh tiếng gia đình lúc đầu phải “yêu cái người khác yêu”, khi được tự do yêu đương, lại đi “yêu cái mình không có” Là một người lính vẻ ngoài thô mộc, khô khan, nhưng thực chất bên trong con người Sài lại là một người đang vùng vẫy với niềm khao khát được yêu, được sống với cảm xúc thực sự của mình

Để khắc họa thành công hình tượng những con người của một “ Thời xa

vắng” như Sài , Tính, Hương, Hà… với những diễn biến tâm lí - tình cảm

phức tạp đan xen nhiều cảm xú c vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ, hy vọng, thất vọng…., Lê Lựu đã dùng một số lượng lớn các từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ tình cảm, thái độ Những từ ngữ này, trước hết là một phương tiện miêu tả và sau đó là phương tiệ n tu từ góp phần tạo nên cái hay , nét đẹp cho ngôn ngữ

văn chương Lê Lựu nói chung và ngôn ngữ “Thời xa vắng” nói riêng

1.2 Các khái niệm cơ sở

1.2.1 Từ và từ tiếng Việt

1.2.1.1 Khái niệm từ và từ tiếng Việt

Từ là một trong số các đơn vị cơ bản nhất của ngô n ngữ Nó ở vào vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để con người tiến hành hoạt động nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ (cụm từ , câu, đoạn, văn bản) phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Với vai trò quan trọng ấy, đã từ lâu từ rất được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên có một thực tế là t rong nghiên cứu ngôn ngữ, định nghĩa về từ luôn là một trong những vấn đề phức tạp Sự phức tạp thể hiện ngay ở qua n niệm của các nhà nghi ên cứu khi cho rằng có hay

không loại đơn là “Từ” vị tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ ?

Trang 17

Thực tế nghiên cứu ngôn ngữ, không hiếm các nhà ngôn ngữ học (kể cả

F de Saussure) đã trối bỏ khái niệm từ hoặc lảng tránh việc đưa ra một khái niệm chính thức hay không đi sâu nghiên cứu nhữ ng đặc điểm cơ bản của từ

Theo Đỗ Hữu Châu : “Không ít người đã loại bỏ từ như là một đơn vị ngôn

ngữ cần thiết trong các công trình miêu tả ngôn ngữ ” Chủ nghĩa miêu tả Mĩ

cũng không coi từ mà coi các hình vị là đơn vị cơ bản khi miêu tả cấu trúc câu

và ngay cả trong ngữ pháp tạo sinh , từ vẫn tiếp tục bị xem nhẹ Theo đó “ Từ không phải là một đơn vị tồn tại độc lập mà chỉ l à kết quả cải biến của các thành tố (hình vị) của cấu trúc cú pháp”[5, tr.248]

Bên cạnh một số quan niệm có xu hướng phủ nhận s ự tồn tại của từ là những quan niệm của các nhà ngôn ngữ học coi từ là một trong những đơn vị

cơ bản của hệ thố ng ngôn ngữ “ Trong truyền thống ngôn ngữ học Nga - Xô viết, từ chưa bao giờ bị coi nhẹ Nó luôn được các nhà ngôn ngữ học lớn của Liên Xô xem là đơn v ị bậc nhất của ngôn ngữ” [5, tr.246] Nhóm các n hà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Có sự tồn tại của từ trong hệ thống ngôn ngữ nhưng đó là đơn vị mà “Thoạt nhìn khô ng thể thấy ngay được”.Và mặc dầu “chưa thấy ngay” được từ nhưng chúng ta “biết chắc chắ n

là nó tồn tại” [5, tr.248] Tuy đều khẳng định sự tồn tại của từ trong hệ thống ngôn ngữ nhưng quan niệm của các nhà nghiên cứu về vấn đề từ vẫn có

những điểm chưa thống nhất Chính sự chưa thống nhất này đã dẫn đến nhiều định nghĩa khác nhau về từ Theo Nguyễn Thiện Giáp, hiện nay có tới trên

300 định nghĩa khác nhau về từ [10, tr 61], chẳng hạn : “Từ là một tổ hợp âm

có nghĩa”; “từ là một tổ hợp các âm phản ánh khái niệm”; hoặc “từ là một đơn vị tiềm tàng khả năng trở thành câu” hay “Từ là một kí hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm”; “từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ có khả năng hoạt động độc lập để tạo câu”, “Từ là đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ nó , ngôn ngữ (với tư cách là một hệ thống tĩnh , chưa hành chức )

nghĩa được đưa ra nhưng tất cả trong số chúng không có một định nghĩa nào

Trang 18

về từ làm mọi người thỏa mãn Các định nghĩa ấy ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong các ngôn ngữ [10, tr.61]

Sự tồn tại nhiều định nghĩa khác nha u về cùng một đối tượng “từ” cho thấy đây là một vấn đề phức t ạp, không dễ xác định và giữa các đơn vị được coi là từ ở các ngôn ngữ khác nhau lại có những điểm khác nhau Người ta đồng tình với L Serba khi ông cho rằng “từ trong ngôn ngữ khác nhau sẽ khác nhau” [theo 10, tr.61] và không thể có được một khái niệm về từ nói chung Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chấp nhận định nghĩa về từ của

Nguyễn Thiện Giáp , với tư cách là định nghĩa sơ bộ như sau: “từ là đơn vị

nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [ 10, tr 61] Ở đây,

nói từ là đơn vị nhỏ nhất độc lập về ý nghĩa và hình thức , tác giả đã đặt từ trong mối quan hệ với các đơn vị khác của ngôn ngữ như cụ m từ, câu, đoạn, văn bản , xem xét từ khi nó thực hiện chức năng cấu tạo câu v à tạo lập văn bản

Giống như sự phức tạp trong định nghĩa về từ, xung quanh vấn đề từ tiếng Việt cũng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất Chúng tôi xin nêu ra những quan niệm tiêu biểu của các nhà Việt ngữ về từ tiếng Việt Đây là một công việc cần thiết để hiểu rõ hơn cũng như thấy được tầm quan trọng của loại đơn vị này trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt Những quan niệm nêu sau đây sẽ là cơ sở để chúng tôi lựa chọn một quan điểm nhất quán , tạo sự thuận lợi cho việc thống kê, phân loại từ ngữ chỉ tình cảm trong đề tài

Như đã đề cập , từ tiếng Việt là vấ n đề tồn tại nhiều tranh luận Có thể nêu ra một vài định nghĩa tiêu biểu về từ tiếng Việt như sau:

Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có

ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [ 9, tr 69]

Trang 19

Hoàng Trọng Phiến cho rằng : “Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có

nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [7, tr 141]

Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm

tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [ 4, tr.15-16]

Ta có thể nhận thấy ít nhiều có sự khác nhau trong các cách định nghĩa từ tiếng Việt của các nhà Việt Ngữ Người thì nhấn mạnh vào hình thức ngữ

âm “nó có hình thức của một âm tiết , một khối viết liền ”, người lại chú ý đến

“chức năng gọi tên ”, có người lại tập trung vào mối quan hệ thống nhất giữa

“hình thức, ý nghĩa, ngữ pháp” của từ

Rõ ràng thật khó có thể đưa ra một định nghĩa về từ tiếng Việt khiến cho tất cả mọi người đều thỏa mãn Điều này cũng dễ hiểu vì trên thực tế sự phân biệt rạch ròi giữa từ và ngữ trong tiếng Việt là không thể Nhưng cho dù không thể đưa ra một định nghĩa làm thỏa mãn tất cả mọi người thì trong cách định nghĩa về từ tiếng Việt của các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một điểm

“Từ tiếng Việt là một đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt, có

hình thức ngữ âm cố định (bền vững hoặc một khối viết liền ) và mang một ý nghĩa nhất định”

Để tạo cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, luận văn này chúng tôi chấp

nhận khái niệm về từ tiếng Việt của tác giả Đỗ Hữu Châu, theo đó: “Từ của

tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”

[ 4, tr.15-16] Vì thế khi khảo sát trường từ vựng chỉ tình cảm , thái độ trong

“Thời xa vắng”, chúng tôi không cố ý đi sâu phân biệt rạch ròi gi ữa các hiện tượng là từ và ngữ trong “Thời xa vắng ” mà coi tất cả chúng là đối tượng

nghiên cứu của đề tài

Trang 20

1.2.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

Như L Serba đã nói “Từ trong ngôn ngữ khác nhau sẽ khác nhau”

[theo 10, tr.61] Từ tiếng Việt c ũng vậy, nó cũng có những điểm khác biệt so với từ thuộc các ngôn ngữ khác” Sự khác nhau ấy được thể hiện ở các mặt : ngữ âm, ngữ pháp và cấu tạo, làm nên đặc điểm của từ tiếng Việt

Đặc điểm ngữ âm : Nói đến ngữ âm tức là nói đến hình thức âm thanh

của từ “Từ tiếng Việt có hình thức ngữ âm cố định, bất biến ở mọi vị trí , mọi quan hệ và chức năng trong câu Tính cố định bất biến về ngữ âm là điều kiện hết sức thuận lợi giúp chúng ta nhận diện được từ khá dễ dàng trong chuỗi lời nói.” [5, tr.473]

Ví dụ:

Chúng ta có từ thầy giáo Về hình thức âm thanh dù đ ứng ở vị trí nào trong câu, hay trong bất kỳ câu nào thì hình thức ngữ âm của thầy giáo cũng không thay đổi Từ thầy giáo cũng không mang trong lòng mình bất cứ dấu

vết nào của các quan hệ, các chức năng cú pháp

Đặc điểm ngữ pháp : Theo Đỗ Hữu Châu “Đặc điểm ngữ pháp của từ

là đặc điểm cấu tạo của chúng Đó là những đặc điểm xuất hiện khi từ tổ hợp với từ để tạo nên những câ u nói hiểu được, chấp nhận được đối vớ i một cộng đồng ngôn ngữ” [5, tr.475] Do cố định và bất biến , bản thân hình thức ngữ

âm của từ tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng Các từ tiếng Việt dù thuộc loại từ nào : danh từ, động từ, tính từ,…dù có cách tạo câu khác nhau thế nào đi nữa thì cũng chỉ là những âm tiết Nếu hình thức ngữ âm của tiếng Nga , Pháp… cho biết ngay từ đó thuộc loại nào , giữ chức vụ gì trong câu …thì hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt tuyệt nhiên không có một chỉ dẫn nào như th ế cả” [5, tr.476] Vì thế mà trong tiếng Việt, một hình thức ngữ âm có thể thuộc về hai, ba từ loại khác nhau

Ví dụ:

Một hình thức ngữ âm là cày có thể thuộc hai từ loại khác nhau , tùy

thuộc vào mối tương quan với các từ xung quanh nó Trong tổ hợp từ “vác

Trang 21

cày ra đồng” thì cày là danh từ nhưng nếu trong tổ hợp “ cày ruộng thay trâu”

thì cày lại là động từ Nói cách khác, ở tiếng Việt, “đặc điểm ngữ pháp của từ

không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ , trong tương quan của nó với các từ khác trong câu” [5, tr.476] Việc xác định đúng từ loại

của từ tiếng Việt khi chúng chưa tham gia tạo lập văn bản là điều rất khó Muốn làm điều này cần phải đặt từ trong ngữ cảnh xuất h iện của nó Vì thế

khi xác định từ loại của các từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”

chúng tôi dựa vào chủ yếu vào ngữ cảnh

Đặc điểm cấu tạo : “ Cấu tạo từ là những vận động trong lòng một

ngôn ngữ để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ [5, tr.480] Trong tiếng Việt, các

yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất , tức hình vị Để tạo ra các từ, tiếng Việt sử dụng các phương thức cấu tạo (cách thức ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ) sau đây:

- Từ hóa hình vị: là phương thức tác động vào bản thân một hình vị làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ Tức biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó

Ví dụ, các từ như: nhà , xe, áo người… là những từ được hình thành do từ hóa các hình vị nhà , xe, áo người … [5, tr.481] Các từ cấu tạo theo

phương thức này là từ đơn Vì hình vị trong tiếng Việt thường trùng với một

âm tiết nên đại bộ phận từ đơn trong tiếng Việt là từ đơn một âm tiết

- Ghép hình vị : là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị

có nghĩa, kết hợp chúng lại với nhau để sản sinh ra một từ mới

Ví dụ, phương thức ghép tác động và o hai hình vị xe và đạp cho từ xe

đạp [5, tr481] Những từ được cấu tạo theo phương thức này tiếng Việt gọi là

từ ghép

- Láy hình vị : là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ

Trang 22

Ví dụ, phương thức láy tác động vào hình vị xanh cho ta hình vị láy :

xanh Hình vị láy và hình vị cơ sở làm thành từ xanh xanh Các từ được tạo ra

theo phương thức láy được gọi là các từ láy [5, tr.479]

Như vậy, nếu phân loại từ tiếng Việt theo phương thức cấu tạo , ta có từ đơn, từ láy và từ ghép Bản thân những tên gọi này của từ tiếng Việt đã cho thấy đặc điểm cấu tạo của nó Đặc điểm đó có thể nói một cách ngắ n ngọn

như sau: từ tiếng Việt được cấu tạo từ một hoặc hơn một hình vị theo các

phương thức: từ hóa hình vị , láy hoặc ghép hình vị Cùng với đặc điểm ngữ

pháp, đặc điểm cấu tạo cũng là một thành phần hình thức góp phần xác định từ và xác định nghĩa của từ

1.2.2 Sự kết hợp từ

Khi tham gia hoạt động giao tiếp, các từ không thể đứng độc lập, riêng

rẽ mà chúng sẽ kết hợp với nhau để tạo lên các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, đoạn, văn bản Theo Bùi Minh Toán: “Khi nói (hay viết), đối với từ, ngoài việc lựa chọn từ thì việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu là việc thường xuyên cần tiến hành Có kết hợp các từ thì mới tạo thành các cụm từ để diễn đạt được các nội dung cụ thể hơn và cũng phức tạp hơn Đặc biệt là, có kết hợp các từ thì mới tạo được câu - đơn vị mà bắt đầu từ đó ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng thông báo.” [27, tr.192]

Sự kết hợp các từ trong ngôn ngữ diễn ra theo trật tự tuyến tính: có từ

đi trước, có từ đi sau, lần lượt theo thứ tự thời gian, chứ không thể cùng một lúc xuất hiện tất cả các từ cần tham gia trong hoạt động giao tiếp Đối với tiếng Việt, sự kết hợp các từ lại không dựa vào hình thức biến đổi của từ, vào

sự tương hợp về hình thức của các từ như trong các ngôn ngữ Ấn-Âu Ở tiếng Việt, sự kết hợp của các từ, ngoài việc biểu hiện qua thứ tự tuyến tính của chúng, thì các phương tiện cơ bản là hư từ và ngữ điệu

Khi các từ kết hợp với nhau tạo nên cụm từ và câu thì chúng hình thành các mối quan hệ ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp Vì vậy, khi kết hợp các từ ta

Trang 23

cần phải thiết lập được quan hệ ý nghĩa hợp lí và quan hệ ngữ pháp chuẩn của tiếng Việt [27, tr 192]

Muốn kết hợp được với nhau, các từ cần phải có sự tương hợp về ý nghĩa, tức là giữa chúng phải có nét nghĩa chung Sự tương hợp này có thể ở mức độ rất chặt chẽ, lúc đó gần như mỗi từ chỉ có khả năng kết hợp với một

từ duy nhất trong vốn từ vựng chung của ngôn ngữ Nếu kết hợp với từ khác, thì giữa chúng không thể hình thành quan hệ ý nghĩa, hoặc quan hệ ý nghĩa không thể chấp nhận được

Ví dụ:

Trợn chỉ có thể kết hợp ở phía sau với một từ chỉ bộ phận cơ thể là mắt (trợn mắt), mà không thể kết hợp với từ chỉ bộ phận khác của cơ thể (chân , tay, cổ, đầu ) hoặc từ chỉ sự vật khác (nhà, chó, bút ) [27, tr 193] Những

từ có khả năng kết hợp hạn chế như vậy chính là từ có nghĩa rất cụ thể, rất xác định Nghĩa của từ càng cụ thể, càng xác định thì sự kết hợp với các từ khác

càng hạn chế Lí giải trường hợp này Đỗ Việt Hùng cho rằng “chính đặc

trưng vị trí của nét nghĩa được hiện thực hóa đã quy định hoạt động ngữ pháp

không chỉ nghĩa của từ quy định khả năng kết hợp của nó mà ở một mức độ nhất định những kết hợp xung quanh lại góp phần quy định nghĩa của từ , làm biến đổi nghĩa, thu hẹp hoặc mở rộng nghĩa của từ

Như đã nói ở trên , các từ trong ngôn ngữ chỉ có thể kết hợp với nhau khi giữa chúng có sự tương hợp về nghĩa Ví dụ :

Người thợ mộc đang đóng một cái bàn gỗ

Các từ người , thợ mộc, đóng, bàn, gỗ trong câu này tương hợp với nhau, còn các từ đang và đóng; một, cái và bàn tương hợp với nhau Sở dĩ như vậy

là vì trong nghĩa của mỗi từ từng nhóm như thế có chứa những nét nghĩa cũng có mặt trong nghĩa của các từ khác Nếu giữa các từ không có sự tương hợp về nghĩa thì giữa chúng không thể hình thành một quan hệ ý nghĩa phản ánh đúng quan hệ trong thực tế khách quan

Trang 24

Sự tương hợp về ngữ nghĩa giữa các từ dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các sự vật, các đối tượng hay hoạt động, trạng thái, tính chất mà các từ gọi tên Cho nên khi sự kết hợp của các từ không phản ánh đúng các mối quan hệ như thế thì sự kết hợp cũng là sai và không chấp nhận được Xét ví dụ :

Đó là một chàng trai cao ráo

Ở đây, từ cao ráo (với nghĩa là cao và khô ráo, không ẩm thấp) chỉ dùng với các từ chỉ nơi chốn, địa điểm không gian, không dùng với từ chỉ

người Vì vậy cần tạo ra một sự kết hợp khác, chẳng hạn: Đó là một chàng

trai cao lớn [ 27, tr 192-195]

Với những phân tích ở trên , tác giả Bùi Minh Toán khẳng định, rõ ràng

sự kết hợp từ có quan hệ chặt chẽ với sự lựa chọn từ: nếu lựa chọn từ đúng thì kết hợp từ được chấp nhận, nếu chọn không đúng thì kết hợp sai Tuy nhiên từ trong ngôn ngữ có thể có nhiều nghĩa, và nghĩa của từ còn có sự chuyển hóa ngay trong quá trình giao tiếp Do đó có nhiều trường hợp nếu xét theo nghĩa gốc và tách rời khỏi hoàn cảnh giao tiếp thì một sự kết hợp từ nào đó là sai, không thể chấp nhận được nhưng nếu xét theo nghĩa chuyển hóa hay đặt trong hoàn cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp thì sự kết hợp từ đó lại có thể chấp nhận được

Ví dụ:

LUX - xà bông tắm của các ngôi sao điện ảnh thế giới

Với nghĩa gốc và tách khỏi hoạt động giao tiếp thì hai từ tắm và ngôi

sao không thể kết hợp với nhau được Nhưng từ ngôi sao đã chuyển nghĩa : ở

đây nó chỉ các diễn viên điện ảnh có tài (tài năng sáng chói như ngôi sao ), vì

vậy ngôi sao lại kết hợp được với từ tắm và đó là kết hợp đúng [27, tr 196]

Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận: “Sự kết hợp giữa các từ

là dựa trên cơ sở sự tương hợp về nghĩa của các từ và trên cơ sở mối quan hệ trong thực tế giữa các đối tượng, hoạt động, tính chất mà từ biểu thị Do đó muốn kết hợp đúng cần có sự lựa chọn các từ thích hợp Đồng thời, một sự kết hợp đúng còn phụ thuộc vào sự hiện thực hóa nghĩa của từ ( nghĩa nào

Trang 25

trong số các nghĩa của từ nhiều nghĩa được hiện thực hóa trong hoạt động giao tiếp) và sự chuyển hóa nghĩa của từ ( nghĩa chuyển hóa có thể thích hợp với sự kết hợp mà nghĩa gốc thì lại không thích hợp)”[27, tr.196 ] Điều này cũng có nghĩa trong hoạt động giao tiếp , muốn hiểu đúng nghĩa của một từ chúng ta cần phải đặt từ đó trong mối quan hệ với các từ trước và sau nó trong chuỗi lời nói Do vậy, chúng tôi sẽ xem những lí thuyết về kết hợp từ của Bùi Minh Toán như là sự hỗ trợ cần thiết khi nghiên cứu đặc điểm ngữ ng hĩa của

các từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng”

1.2.3 Nét nghĩa

“Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp Một trong những đặc điểm thể hiện sự phức tạp của ngôn ngữ là tính phân đoạn hai bậc Kết quả phân đoạn ở bậc một cho ta các tín hiệu, phân đoạn ở bậc hai cho kết quả là những đơn vị một mặt (hoặc chỉ có mặt hình thức hoặc chỉ có mặt nội dung) Phân đoạn ở bậc hai không áp dụng cho tín hiệu nói chung, mà áp dụng cho từng mặt riêng biệt của tín hiệu, tức phân tích từng mặt biểu đạt và được biểu đạt thành các thành tố tối thiểu có chức năng khu biệt Đóng góp quan trọng cho bậc phân tích này là lí luận về ngữ hình (figures) của L Hjemslev Ngữ hình là thành tố

có tính chất một mặt nhỏ nhất, cũng là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ Ngữ hình ở mặt hình thức chính là các âm vị Âm vị không có nghĩa nhưng lại có chức năng khu biệt nghĩa của hình vị và từ Ngữ hình ở mặt nội dung chính là nghĩa tố, nghĩa cơ sở, hạt nhân ngữ nghĩa, nguyên sơ ngữ nghĩa hay nét nghĩa.” [15, tr 21]

Ngữ hình nội dung hay nét nghĩa chỉ có tính một mặt Vì thế nó không được thể hiện ra bằng vỏ vật chất của từ, chúng được phân xuất một cách gián tiếp trên cơ sở đối chiếu nghĩa của các từ khác nhau nên quan niệm về nét nghĩa phần nào chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu [ 15, tr 24]

Theo Hoàng Phê: “Nét nghĩa là những yếu tố ngữ nghĩa chung cho nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ, hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm Nét nghĩa được

Trang 26

diễn đạt bằng từ ( hoặc tổ hợp từ ) Bản thân mỗi nét nghĩa (thí dụ “phụ nữ”) lại cũng có thể coi như là nghĩa và cũng có thể phân tích thành những nét nghĩa Sự phân tích có thể tiếp tục, cho đến khi đạt đến những yếu tố ngữ nghĩa cơ bản, không còn có thể phân tích được nữa ( gọi là những “nghĩa vị”)” [ theo 21, tr.32] Tuy nhiên tác giả cũng lưu ý rằng: Đó là nói trên lí thuyết, chứ trong thực tế sự phân tích này vô cùng khó khăn, phức tạp

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ chỉ những thuộc tính nào tạo nên sự đồng

nhất và đối lập về mặt ngữ nghĩa giữa các từ thì thuốc tính đó mới trở thành nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm Do đó để phát hiện ra nét nghĩa cần

phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra những nét nghĩa cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi chúng ta gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong một từ.” [4, tr 117]

Từ quan niệm về tính đồng nhất và đối lập của Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng đã so sánh các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa của một từ với mô hình phân loại nghĩa từ vựng (phân loại từ vựng - ngữ nghĩa ) trong một ngôn ngữ theo chủ đề ( khái niệm) và đi đến định nghĩa về nét nghĩa Theo so sánh này, giữa cấu trúc các nét nghĩa trong một từ và mô hình phân loại từ vựng thành các nhóm từ vựng - ngữ nghĩa có một sự tương ứng rõ rệt

“Để một từ có thể thuộc vào một nhóm nào đó, nó phải có đặc điểm,

mà dựa vào đó, ta có thể xếp nó vào nhóm đó Đặc điểm này chính là nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ

Như vậy, nét nghĩa có thể được định nghĩa là những phần nghĩa thể

hiện thuộc tính sự vật mà từ biểu thị, dựa vào đó mà từ có thể thuộc vào một trong các nhóm từ vựng - ngữ nghĩa được phân chia theo chủ đề” [15, tr 23]

“Theo đó, từ lưu giữ trong nghĩa của mình những thông tin về các nhóm từ vựng - ngữ nghĩa ở các cấp độ khác nhau mà nó thuộc vào Trong

đó, thông tin về mỗi nhóm là một nét nghĩa Lí tưởng nhất là số lượng nét

Trang 27

nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của một từ bằng đúng số nhóm từ vựng - ngữ nghĩa mà nó thuộc vào” [15, tr.23]

Với định nghĩa trên, Đỗ Việt Hùng đã đem đến một cách hiểu rõ ràng, chính xác về nét nghĩa và cũng giúp cho việc phân xuất các nét nghĩa trở nên dễ dàng hơn Vì thế, khi phân tích nghĩa của các từ chỉ tình cảm, thái độ trong

“ Thời xa vắng”, chúng tôi căn cứ trên quan điểm về nét nghĩa của Đỗ Việt

Hùng Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh rằng: “Việc phân xuất các nét nghĩa phải theo trật tự nhất định Việc thay đổi trật tự nét nghĩa có thể làm cho nghĩa của từ khác đi” Ví dụ :

trúc nghĩa biểu niệm của từ Hai đặc trưng này của nét nghĩa có ảnh hưởng

đến hoạt động ngữ pháp của từ Nói cách khác, đặc trưng bản chất và đặc

trưng vị trí quyết định khả năng kết hợp của từ trong giao tiếp [15, tr 25] Từ

điều này có thể kết luận rằng, muốn tìm hiểu nghĩa của từ ta phải xem xét chúng trong các khả năng kết hợp Bởi vậy, khi phân tích ngữ nghĩa của các

từ ngữ chỉ tình cảm , thái độ trong “ Thời xa vắng ”, chúng tôi sẽ cố gắng đặt

những từ ngữ cần xem xét trong mối quan hệ kết hợp v ới các từ trước và sau

nó, tức là trong ngữ cảnh , để tìm hiểu , phân tích đúng nghĩa của chúng Có như vậy mới thấy hết được đặc điểm ngữ nghĩa cũng như những biến đổi thú

vị của trường nghĩa này khi nó tham gia vào hoạt động tạo lập diễn ngôn

1.2.4 Cụm từ

Trong hoạt động giao tiếp, “từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có

ý nghĩa làm thành những tổ hợp từ , tức là những kiến trúc lớn hơn từ Mỗi từ trong tổ hợp từ là một thành tố Tổ hợp từ có thể là một câu , có thể là một

Trang 28

kiến trúc tương đương với câu nhưng chưa thành câu, cũng có thể là một đoạn

có nghĩa của câu Các tổ hợp chưa thành câu được gọi chung là tổ hợp từ tự

do Về nguyên tắc , tổ hợp từ tự do có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của toàn bộ phần còn lại trong tổ hợp từ này Những tổ hợp từ có

kết từ ở đầu như vậy mang tên là giới ngữ Trái lại , tổ hợp từ tự do không

chứa kết từ chỉ chức vụ ngữ pháp như vậy được gọi là cụm từ ” [1, tr.5] Nói

cách khác “ cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với

nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ

ở đầu.” [1, tr.6] Giữa các thành tố tạo nên cụm từ có thể có các kiểu quan hệ

cú pháp là: quan hệ đẳng lập , quan hệ chủ vị , quan hệ chính phụ Tương ứng với các kiểu quan hệ này ta có các loại cụm từ là : cụm đẳng lập , cụm chủ vị , cụm chính phụ Nhưng nếu căn cứ vào từ loại của thành tố chính tạo nên cụm từ là danh từ , động từ hay tính từ… thì cụm từ lại được chia thành các loại : cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ

Cụm danh từ là tổ hợp từ tự do , không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ , và thành tố chính là danh từ

Ví dụ: Hai con mèo

Cụm động từ là tổ hợp từ tự do , không có kết từ đứng đầu , có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ

Trang 29

Ngoài ra khi nghiên cứu về các kiến trúc là sự kết hợp gồm hai từ trở

lên, Diệp Quang Ban đã chỉ ra rằng : “đứng giữa hai đơn vị cụm từ và ngữ cố

định còn có một loại đơn vị chuyển tiếp được gọi là ngữ Theo đó ngữ là một cụm từ chính phụ có thành tố chính (một từ hay vài ba từ) cho sẵn và thành tố phụ thay đổi theo một khuôn ngữ pháp cố định Quan hệ ngữ pháp giữa các bộ

phận này không hoàn toàn hiển hiện trong ý thức người dùng như ở cụm từ , nhưng cũng không nấp sâu đến mức khó khăn lắm mới tìm ra được như ở một số đáng kể ngữ cố đ ịnh Người dùng chúng thường có ý thức về quan hệ ngữ pháp đó, nhưng ý thức về nó rất mơ hồ Trong hoạt động của mình nó vừa có tính chất như từ ghép , lại cũng vừa dễ rã ra như cụm từ , hoặc những yếu tố trong nó cũng có thể hoạt động tách rời và vẫn giữ nguyên nghĩa như từ rời ” [1, tr.8]

Ví dụ: Niềm vui, nỗi buồn, sự chán ghét, nỗi bực tức …đều được coi là

các ngữ

Trong phạm vi đề tài này đối tượng nghiên cứu bao gồm các từ chỉ tình cảm, thái độ và các kết hợp gồm hai từ trở lên có nội dung ý nghĩa chỉ tình

cảm, thái độ Đối với các kết hợp gồm hai từ trở lên , không phân biệt là kết

hợp tự do hay kết hợp bền vững trong luận văn này chúng tôi đều thống nhất

gọi chúng là các ngữ Và căn cứ vào từ loại của thành tố chính của các kết

hợp chúng ta sẽ có các ngữ danh từ, ngữ động từ và ngữ tính từ…

1.2.5 Trường nghĩa

Trong hệ thống ngôn ngữ , giữa các đơn vị từ vựng luôn tồn tại những mối quan hệ qua lại nhất định Một trong những mối quan hệ giữa các đơn vị từ vựng mà các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm là mối quan hệ về nghĩa Với việc thừa nhân sự tồn tại của đơn vị từ vựng trong hệ thống ngôn ngữ và tập trung làm rõ mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng , một thứ lí thuyết mới đã ra đời - lí thuyết trường nghĩa Lí thuyết trường nghĩa xuất hiện trong nghiên cứu ngôn ngữ học vào những năm 20 - 30 của thế kỉ XX, được

Trang 30

khởi xướng bởi các nhà ngôn ngữ học Đức và Thụy Sĩ Nhắc đến lí thuyết về trường nghĩa người ta nhớ ngay đến các tên tuổi như: J Trier, L Weisgerber, Meyer… Lúc đầu, lí thuyết trường có tham vọng quá lớn, chia hết các từ vào các trường, vạch ranh giới triệt để giữa các trường Về sau, lí thuyết này được vận dụng một cách “khiêm tốn” hơn, không phân trường toàn bộ vốn từ mà chỉ nghiên cứu một vài trường nhỏ ( trường từ vựng hay nhóm từ vựng ngữ nghĩa) Ngày nay , lí thuyết trường nghĩa là một trong những lí thuyết ngữ nghĩa đã và đang được vận dụng một cách rộng rãi để nghiên cứu từ vựng của rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới

Ở Việt Nam, Lí thuyết trường nghĩa du nhập muộn hơn - vào những năm 70 và gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu Với

công trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 1981, lần đầu tiên

ở Việt Nam lí thuyết về trường nghĩa đã được trình bày đầy đủ, hệ thống Sau này, lí thuyết trường nghĩa đã được các nhà Việt ngữ ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu từ vựng tiếng Việt Tại sao lí thuyết trường nghĩa lại có sức lan tỏa mạnh mẽ như vậy ? Ưu điểm của lí thuyết này là gì?

Ưu điểm của lí thuyết trường nghĩa là ở chỗ nó chẳng những giúp miêu

tả từ vựng của các ngôn ngữ một cách hệ thống mà còn cho phép dễ dàng so sánh, các ngôn ngữ , các nhóm từ với nhau , tìm ra những đặc trưng phổ quát cũng như những nét đặc thù của từng ngôn ngữ, từng nhóm từ

Khi nghiên cứu lí thuyết về trường nghĩa , các nhà ngôn ngữ học đều

thống nhất rằng: “ Trường nghĩa chính là tập hợp những từ đồng nhất với

nhau về nghĩa” Nói cách khác trường nghĩa chính là các nhóm từ vựng ngữ

nghĩa được phân chia theo chủ đề và nghiên cứu các trường từ vựng thực chất

là nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa , quan hệ ngữ nghĩa , cơ chế hoạt động của chúng [6, tr.227]

F De Saussure trong “ Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra

hai dạng quan hệ cơ bản của ngôn ngữ , là quan hệ ngang (quan hệ tuyến tính,

Trang 31

quan hệ hình tuyến ) và quan hệ dọc (quan hệ hệ hình) Tương ứng với hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là :

Trường nghĩa ngang ( trường tuyến tính)

Trường nghĩa dọc ( trường trực tuyến)

Ở trường nghĩa dọc lại được phân chia thành: trường biểu vật, trường biểu niệm và trường liên tưởng Để phục vụ cho mục đích xác lập và nghiên

cứu đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời

xa vắng”, dưới đây chúng tôi chỉ đề cập tới các trường nghĩa dọc, đó là các

trường biểu vật, trường biểu niệm và trường liên tưởng

1.2.5.1 Trường nghĩa biểu vật

Theo Đỗ Hữu Châu: “ Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật.” [4, tr 170]

Để xác lập trường nghĩa biểu vật, ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc Danh từ được chọn làm gốc phải có tính khái quát cao, gần như là

tên gọi của các phạm trù biểu vật như: Người, động vật, thực vật, vật thể,

Trên cơ sở danh từ gốc đó ta thu thập những từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với nó

Ví dụ:

Chọn từ NGƯỜI làm gốc ta có thể thu thập các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với nó, lập nên trường biểu vật NGƯỜI như sau:

1 Người nói chung xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ

2 Người nói chung xét về tuổi tác: trẻ em, thanh niên, cụ già

3 Bộ phận cơ thể người : tay, đầu, chân, mắt, bụng, tóc

4 Đặc điểm ngoại hình : cao, thấp, xinh, đẹp, xấu

Khi phân lập các trường nghĩa ta được các miền nghĩa hay các trường nhỏ Vì một từ có thể có nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau, tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó Điều này có nghĩa là có những từ chỉ số trường là một (từ đó chỉ có

thể nằm trong một và chỉ một trường mà thôi) như các từ: quắc(mắt), phưỡn

Trang 32

(bụng), Đó là những từ điển hình của trường Bên cạnh đó, cũng có những

từ đi vào hầu hết các trường biểu vật có thể có của một ngôn ngữ, như các từ :

tốt, xấu, cao, thấp Bởi thế, trong một trường biểu vật, có những từ gắn bó rất

chặt với trường ( những từ điển hình hay từ trung tâm) nhưng có những từ gắn

bó lỏng lẻo hơn ( những từ ngoại vi hay hướng biên) Căn cứ vào tính chất quan hệ giữa từ ngữ với trường, chúng ta nói các trường biểu vật có một cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những từ ngữ điển hình cho nó Ngoài cái lõi của trường các lớp từ khác mỗi lúc một đi

xa ra khỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi [5, tr 593]

1.2.5.2 Trường nghĩa biểu niệm

Trường nghĩa biểu niệm “là tập hợp các từ ngữ có chung một cấu trúc nghĩa biểu niệm.” [5, tr 593]

Để xác lập trường nghĩa biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biêu niệm gốc đó.Ví dụ:

Chọn cấu trúc biểu niệm: [ vật thể nhân tạo] [thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động] [cầm tay] làm gốc, ta có thể thu thập được các từ cùng trường biểu niệm như sau:

1.Dao, cưa, búa, rìu, liềm, hái

2.kìm, kẹp, neo, móc

3.Lưới, nơm, đó, đăng

Khi nghiên cứu về trường nghĩa, tác giả Đỗ Việt Hùng đã chỉ ra rằng: “Các từ cùng trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trường nghĩa biểu vật” [6, tr.228]

Ví dụ:

Lựa chọn cấu trúc biểu niệm [hoạt động ] [phát ra âm thanh], tác giả

xác lập được trường biểu niệm gồm các từ : hót, hí, sủa, nói Song các từ này lại thuộc về các trường biểu vật khác nhau: hót thuộc về trường biểu vật

Trang 33

CHIM, hí thuộc về trường biểu vật NGỰA, sủa thuộc về trường biểu vật CHÓ, nói thuộc về trường biểu vật NGƯỜI” [ 6, tr 228]

Do hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau, cũng

có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cận từ trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi [6, tr 288]

1.2.5.3 Trường liên tưởng

Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất có quan hệ liên tưởng với nhau

Để xác lập một trường liên tưởng, ta có thể chọn một từ bất kì làm gốc, sau đó thu thập các từ có quan hệ liên liên tưởng với từ gốc đó Ch Bally cho

rằng: “mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng” Ví dụ, từ “bò” của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liên tưởng: 1 bò cái, bò mộng, bê,

sừng, gặm cỏ 2 sự cày bừa, cái cày, cái ách 3 Những ý niệm về tính thụ

động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh, trong các thành ngữ pháp [ 5, tr

600 ]

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Các từ trong một trường liên tưởng trước hết

là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ đồng nhất và đối lập về nghĩa với những từ trung tâm Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng do sự xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh

có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân” [5, tr 65] Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh tính chất cá nhân của trường liên tưởng vì hoàn cảnh sống, lứa tuổi, trình độ văn hóa, sự từng trải của mỗi cá nhân sẽ làm cho trường liên tưởng của từng người phong phú, chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ

Và sẽ làm cho từ ngữ của họ trở nên khác biệt s o với phần còn lại của cộng đồng giao tiếp, trở nên có tâm hồn

Trang 34

Khác với trường biểu vật và trường biểu niệm, trường liên tưởng có cơ chế hoạt động rất phức tạp Một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm [5, tr.65] Như đã trình bày ở trên, muốn xác lập trường liên tưởng phải căn cứ vào mối quan hệ liên tưởng giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà các từ biểu thị Như thế là qua thực tế mà các từ ngữ trong một trường liên tưởng phát động lẫn nhau Theo Đỗ Hữu Châu: “Các từ ngữ trong một trường liên

tưởng được phát động có thể theo hai tuyến: trường ý niệm và trường ngữ

nghĩa Một từ ngữ được coi là hàm súc nếu nó có khả năng phát động cả một

trường liên tưởng” [5, tr 66]

Do những cơ chế, tính chất trên, các trường liên tưởng thường không

ổn định, nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Nhưng bù lại trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích

sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói hay viết, sự tránh né kiêng kị những từ nhất định [5, tr 603]

1.2.5.4 Hiện tượng chuyển trường nghĩa

Chuyển trường nghĩa là hiện tượng thường gặp, khi nghĩa của từ ngữ biến đổi trong quá trình phát triển Hiện tượng chuyển trường nghĩa xảy ra khi một từ ngữ thuộc trường ý niệm này được chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc các trường ý niệm khác [5, tr.68] Kết quả là làm cho khả năng tạo hình, biểu cảm của các từ ngữ tăng lên Khi sự chuyển trường đối với một từ ngữ càng mới mẻ thì năng lực gợi hình lại càng cao và ngược lại, sự chuyển trường càng thường xuyên, tiến tới cố định sẽ tạo nên các nghĩa phụ cho từ [5,

tr 69]

Trong văn bản nghệ thuật, khi dùng một từ ngữ thuộc trường ý niệm này để biểu thị sự vật thuộc một trường khác, như là một điều tất yếu, người viết thường cố gắng tìm các từ cùng trường với nhau đặt trong câu văn Ví dụ, trong câu thơ của Nguyễn Du:

Trang 35

“Lửa tâm càng dập càng nồng”

từ lửa được chuyển sang trường “con người” [5, tr 69]

Chuyển trường nghĩa thường xảy ra nhiều nhất trong các văn bản nghệ thuật Nói như vậy không có nghĩa là ngoài văn bản nghệ thuật sẽ không xảy

ra hiện tượng chuyển trường nghĩa Trên thực tế, trong Từ điển tiếng Việt

cũng có rất nhiều từ ngữ là kết quả của hiện tượng chuyển trường

Ví dụ:

Các từ: moi móc, châm chọc, châm chích, vặn, bẻ…vốn là kết

quả chuyển từ trường chỉ hoạt động vật lí sang trường chỉ hoạt động nói năng

Và hiện nay chúng ta biết đến các từ này với tư cách là những động từ nói năng Các văn bản báo chí, chính luận… cũng là nơi ta thường thấy sự xuất hiện của hiện tượng chuyển trường nghĩa.Tuy nhiên, để tăng tính hình ảnh, cụ thể và biểu cảm cho các văn bản nghệ thuật thì hiện tượng chuyển trường nghĩa đã được sử dụng trong văn bản nghệ thuật như một giải pháp phổ biến, hữu hiệu nhất

Từ lí thuyết về trường nghĩa đã trình bày ở trên chúng ta có thể khẳng định rằng để xác lập và phân lập được các trường từ vựng - ngữ nghĩa chúng

ta phải dựa vào ý nghĩa của từ Ngược lại, cũng chính nhờ có các trường, nhờ

sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm về ý nghĩa của từ.Và muốn hiểu cặn kẽ về nghĩa của từ thì một việc không thể không làm đó là đặt từ trong các trường nghĩa để xem xét mối quan

hệ ngữ nghĩa của nó Lí thuyết về trường nghĩa cũng sẽ là những cơ sở quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình xác lập trường từ vựng chỉ tình cảm , thái

độ trong “Thời xa vắng” và phân tích ngữ nghĩa , mối quan hệ ngữ nghĩa , đặc

điểm chuyển nghĩa cũng như xu hướng biến đổi ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ đặc biệt này

1.2.6 Nghĩa của từ trong hoạt động

Trang 36

Nghĩa của từ thường được hiểu “là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện khi tiếp xúc với hình thức âm thanh của từ” [15, tr.3] Là nội dung mà từ biểu thị Nghĩa của từ tồn tại ở hai trạng thái: trạng thái tĩnh (trong từ điển) và trạng thái động (trong giao tiếp)

Theo Bùi Minh Toán: “Trong hệ thống ngôn ngữ, cũng như ở trạng thái riêng rẽ cô lập, nghĩa của từ còn mang tính chất trừu tượng Từ chưa được đặt trong mối quan hệ tương ứng với một cái được biểu đạt cụ thể nào Mỗi một

từ mới chỉ là hình thức ngữ âm ứng với một cái biểu đạt còn chung chung” [27, tr 67] Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp (vào câu, vào ngôn bản) nghĩa của từ dần dần được cụ thể hóa hoặc sẽ biến đổi ở các mức độ khác nhau Đó là sự hiện thực hóa và chuyển biến ý nghĩa của từ trong giao tiếp

1.2.6.1 Sự hiện thực nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp

Hiện thực hóa nghĩa của từ được hiểu là sự cụ thể hóa nghĩa của từ ở mức độ khác nhau khi từ tham gia hoạt động giao tiếp

Có thể thấy rõ sự hiện thực hóa về nghĩa của từ trong hoạt động giao

tiếp trước hết là ở từ nhiều nghĩa Lấy một ví dụ thông thường như từ lá với

nhiều nghĩa như sau:

1) Một bộ phận của cây, thường ở trên cành hoặc ngọn cây, thường có màu xanh, có hình dáng mỏng, dẹt và có chức năng hấp thụ ánh sáng mặt trời

(lá mít, lá tre )

2) Đơn vị của những vật thể có hình dáng bề mặt mỏng giống như lá cây:

-Vật thể bằng giấy : lá thư, lá đơn, lá thiếp

-Vật thể bằng vải : lá cờ, lá buồm

3)Đơn vị bộ phận cơ thể người có hình dáng giống lá cây : lá gan lá

phổi, lá nách, lá mỡ [27, tr 68]

Đó là các nghĩa có trong từ điển của từ lá Tuy nhiên khi tham gia vào hoạt động giao tiếp từ lá chỉ hiện thực hóa một trong các nghĩa đó:

Trang 37

“Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

( Thu vịnh -Nguyễn Khuyến)

Ở đây, lá hiện thực nghĩa 1- nghĩa gốc

Đối với các từ đơn nghĩa (những từ chỉ có một nghĩa), trong hoạt động

giao tiếp, nghĩa của từ vẫn có sự hiện thực hóa cụ thể hơn Ở ngoài hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ có tính khái quát và trừu tượng: mỗi từ biểu hiện cả một lớp các sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái nói chung Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ ( kể cả nghĩa của các từ đơn nghĩa) được đặt trong mối tương quan với đối tượng cụ thể, xác định, nghĩa là được quy chiếu vào một đối tượng (sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái ) xác định trong hiện thực khách quan Sự hiện thực hóa ý nghĩa như thế của từ

được gọi là sự quy chiếu hay sự chiếu vật Nhờ thế, nghĩa của từ không còn

chung chung, trừu tượng mà trở nên cụ thể xác định Khi ấy nghĩa của từ sẽ

được mở rộng nghĩa hoặc thu hẹp

Ta hãy quan sát ví dụ sau của Bùi Minh Toán :

“Vì việc quân cấp bách, Trần Hưng Đạo đành để voi ở lại.Voi chảy

nước mắt nhìn vị chủ tướng ra đi”

“Với tư cách một từ độc lập, ở ngoài hoạt động giao tiếp, từ voi có một

nghĩa khá rộng, nhưng cũng khá trừu tượng và khái quát Nó chỉ chung cả một loài “thú lớn, sống ở vùng nhiệt đới, mũi dài thành vòi, răng nanh dài thành ngà, tai to, da rất dày, có thể nuôi để tải hàng, kéo gỗ ” (TĐTV - KHXH 1988, tr1154) Nói cách khác, nó chỉ loài voi

Nhưng trong câu văn trên, nghĩa của từ voi được hiện thực hóa theo hướng cụ thể, chiếu vật Do đó nó cũng thu hẹp nghĩa Ở đó từ voi chỉ một

con voi cụ thể, xác định: con voi của Trần Hưng Đạo Từ một danh từ chung,

nó được dùng với một nghĩa hoàn toàn xác định như một tên riêng” [27, tr.74]

Ngược lại với xu hướng thu hẹp nghĩa, là xu hướng mở rộng nghĩa của

từ khi từ được sử dụng trong hoạt động giao tiếp Có thể thấy rõ sự mở rộng

Trang 38

nghĩa như vậy khi từ được dùng trong hoạt động giao tiếp với nghĩa hoán dụ,

ở đó từ chỗ chỉ một bộ phận của một đối tượng nào đó, từ lại chỉ toàn thể đối

tượng Nhiều từ vốn chỉ bộ phận cơ thể người (chân, tay, đầu, mắt, tim )

nhưng trong hoạt động giao tiếp lại được dùng với nghĩa chỉ toàn thể một con người nào đó [27, tr 75]

Ví dụ, Nguyễn Công Trứ khi tự trào bản thân đã viết:

“Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”

Tay ở trong câu thơ này là cách nói hài hước, tự trào, có nghĩa chỉ bản

thân Nguyễn Công Trứ

1.2.6.2 Sự chuyển nghĩa của từ

Bên cạnh sự hiện thực hóa nghĩa vốn có, trong hoạt động giao tiếp, từ còn có thể biến đổi, chuyển hóa về nghĩa Theo Đỗ Hữu Châu, tác giả cuốn

Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, 2009, Nxb ĐHQG: “Từ (đơn hoặc phức) lúc

mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng,

nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi” [4, tr.146]

Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn

nữa, chúng ta quên đi, như nghĩa “ bên phải, bên trái” của từ đăm chiêu; nghĩa

“cái búa để điều khiển con voi” của từ vố; nghĩa “gánh” (hoạt động gánh) của

từ đểu; nghĩa “không tiền, không tài sản” của từ ngặt; nghĩa “ở tình thế nguy hiểm, quẫn bách có thể nguy hiểm” của từ nghèo v.v Nhưng thường thì cả

nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, khiến cho đối với người không chuyên về từ nguyên học khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của từ [4, tr 147]

Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là nghĩa sau khác hẳn với nghĩa trước Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trước kia của nó

Trang 39

Ví dụ, từ đứng có cấu trúc biểu niệm “hoạt động dời chỗ, dừng lại” vốn trái nghĩa với từ chạy Nhưng do sự chuyển nghĩa, từ đứng mang nghĩa “điều khiển máy” trong câu “ chị công nhân đứng 24 máy một ca” Ở nghĩa này từ

đứng lại đồng nghĩa với từ chạy ( chị công nhân chạy 24 máy một ca) Sự

chuyển nghĩa có thể khiến cho các từ đổi nghĩa cho nhau như trường hợp của

Từ những phân tích trên, Đỗ Hữu Châu kết luận: “Chuyển biến ý nghĩa

là sự thay đổi ý nghĩa của các từ có sẵn, thổi vào chúng những luồng sinh khí mới là biện pháp tiết kiệm sống động, giàu tính dân tộc, có tính nhân dân đậm

đà, dễ dàng được chấp nhận nhanh chóng…Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiềm năng ngôn ngữ”[4, tr.150]

Sự chuyển nghĩa của từ trong các ngôn ng ữ không phải diễn ra tùy tiện

mà theo những phương thức nhất định Trong tất cả các ngôn ngữ, hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất là ẩn dụ và hoán dụ

Theo Đỗ Hữu Châu, nếu cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x ( tức x là ý nghĩa biểu vật của chính A), thì :

Ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (biểu thị y), nếu

x và y giống nhau Ở phương thức ẩn dụ, các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác hẳn nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau của chúng [4, tr.154]

Hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x với y đi đôi

với nhau trong thực tế Trái ngược với phương thức ẩn dụ, trong trường hợp

Trang 40

hoán dụ, mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ [4, tr.155]

Ví dụ: các từ chân, mũi… trong chân (bàn), mũi (thuyền) đều là các từ chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ Còn các từ tay, chân… trong tay (vợt),

chân (sút) lại là những từ ngữ chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ

1.2.7 Đặc điểm của nhóm từ ngữ chỉ tình cảm- thái độ trong Tiếng Việt

1.2.7.1 Khái niệm

Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ là một phổ niệm ngôn ngữ, chúng tồn tại không chỉ trong tiếng Việt mà trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, biểu hiện một trong những phạm trù cơ bản nhất của đời sống con người, đó là đời sống nội tâm, những diễn biến tâm - lí tình cảm phức tạp, đa dạng Từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ là một trong những nhóm từ vựng được phân chia theo trường ý nghĩa biểu thị Trong tiếng Việt nhóm từ này tồn tại với tên gọi khác nhau: từ chỉ tâm lí - tình cảm, nhóm từ biểu thị phản ứng tâm lí - tình cảm, nhóm từ biểu thị tri giác và trạng thái tinh thần; nhóm động từ cảm nghĩ, nhóm từ ngữ chỉ tình cảm…Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở các từ ngữ chỉ tâm lí - tình cảm thuần khiết mà còn mở rộng đến những từ ngữ có nét nghĩa chỉ tâm lí tình cảm nên chúng tôi thống nhất gọi chúng là nhóm từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ hay trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cũng như trong các công

trình nghiên cứu ngữ nghĩa có liên quan không định nghĩa khái niệm nhóm từ ngữ chỉ tình cảm nói riêng cũng như các nhóm từ vựng phân chia theo ý nghĩa biểu thị nói chung Có lẽ cách phân chia này còn khá mới mẻ, chỉ mới được

đề xuất ở một số công trình nghiên cứu riêng lẻ chứ chưa phổ biến rộng rãi

Và trong khi nghiên cứu người ta không quan tâm định nghĩa nó Nhưng theo khái niệm trường nghĩa nêu trên, có thể tạm hiểu, trường từ vựng chỉ tình

cảm, thái độ là tập hợp những từ ngữ mà trong cấu trúc ngữ nghĩa có những

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
2. Đỗ Hữu châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1986
3. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
4. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
5. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập (tập 1), Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
6. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
8. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Lan Thanh (1998), Cơ sở tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Lan Thanh
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
9. Nguyễn Thiện Giáp (1996),Từ và nhận diện từ tiếng Việt. Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
10. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
11. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
12. Nguyễn Thiện Giáp (2010 ) 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: khái niệm ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb GD
13. Hoàng Văn Hành (1982), Cấu trúc về ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt, T/C NN, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc về ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1982
14. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
15. Đỗ Việt Hùng (2011), Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ (từ bình diện hệ thống đến hoạt động), Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ (từ bình diện hệ thống đến hoạt động)
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2011
16. Đinh Trọng Lạc (2008), 99 biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2008
17. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 1999
19. Đái Xuân Ninh (1985), Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb KHXH 20. Hoàng Phê (1981), Ngữ nghĩa của lời, T/C NN, số 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ tiếng Việt", Nxb KHXH 20. Hoàng Phê (1981), "Ngữ nghĩa của lời
Tác giả: Đái Xuân Ninh (1985), Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb KHXH 20. Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb KHXH 20. Hoàng Phê (1981)
Năm: 1981
23. Hoàng Phê (2007), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
24. Lí Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
Tác giả: Lí Toàn Thắng
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2. Bảng phân loại các từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng” - bước đầu nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong thời xa vắng
2.2. Bảng phân loại các từ ngữ chỉ tình cảm, thái độ trong “Thời xa vắng” (Trang 63)
2.5. Bảng thống kê các kiểu chuyển nghĩa phổ biến                           Kiểu chuyển nghĩa  Tƣ̀ ngƣ̃  Số lượng - bước đầu nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong thời xa vắng
2.5. Bảng thống kê các kiểu chuyển nghĩa phổ biến Kiểu chuyển nghĩa Tƣ̀ ngƣ̃ Số lượng (Trang 80)
2.7. Bảng thống kê số lượng và tỷ lệ các phương thức chuyển nghĩa - bước đầu nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong thời xa vắng
2.7. Bảng thống kê số lượng và tỷ lệ các phương thức chuyển nghĩa (Trang 89)
3.2. Bảng phân loại những từ ngữ có tần số xuất hiện nổi trội trong “Thời - bước đầu nghiên cứu trường từ vựng chỉ tình cảm, thái độ trong thời xa vắng
3.2. Bảng phân loại những từ ngữ có tần số xuất hiện nổi trội trong “Thời (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w